99 Năm Xâm Lấn Chân Lạp – Bùi Quý Chiến

99 Năm Xâm Lấn Chân Lạp – Bùi Quý Chiến


Lâm ấp dựng nước vào cuối thế kỷ 2. Theo các nhà khảo cổ Pháp, vùng ngày nay gọi là Phan rang thì ngày xưa là biên giới Lâm ấp – Phù nam (Funan).
Lãnh thổ vương quốc Phù nam được phỏng định từ đồng bằng sông Cửu long tới đồng bằng sông Ménam (nay thuộc Thái lan) , phía bắc tới trung lưu sông Cửu long (nay thuộc Lào), phía nam tới bán đảo Malacca.

Phù nam dựng nước vào đầu thế kỷ 1 sau công nguyên. Cường thịnh vào thế kỷ 4 và 5, Phù nam áp bức các nước lân cận phải quy phục mình gồm Lâm ấp, Chenla (Chân lạp), Chentou, bán đảo Malay.

Thời kỳ Giao Châu bị Bắc thuộc lần thứ nhất, liên quân Phù Nam – Lâm Ap nhiều lần đánh phá các quận Nhật nam, Cửu chân, Giao chỉ trong các thập niên 270 và 280.

Lược Sử Chân Lạp

Khi là chư hầu của Phù Nam, Chân Lạp là một liên hiệp lỏng lẻo gồm các lãnh chúa tự trị.

Tới thế kỷ 6, Phù nam bắt đầu suy yếu trong khi ấy Chân lạp hùng mạnh dần lên nhờ vua Bhavavarman và em là Citrasena thống nhất đất nước và đòi được độc lập.

Tới lượt Chân Lạp chinh phục Phù Nam khiến vương quốc này tan rã thành từng phần và mỗi phần sát nhập vào Lâm Ap, Xiêm, Lào, Malay và Chân Lạp.

Chân Lạp chia ra Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp. Thủy Chân Lạp là đồng bằng sông Cửu long, Lục Chân lạp là những vùng cao và rừng núi.

Cường thịnh tới thế kỷ 8 thì Chân lạp suy yếu vì các lãnh chúa thù nghịch nhau.

Năm 802 Jayavarman 1 tự xưng làm vua, thống nhất các lãnh chúa lập nên vương quốc Kambuja, khởi đầu cho Đế quốc Khmer, kinh đô tại Angkor.
Lãnh thổ đế quốc Khmer trải dài từ đồng bằng sông Ménam (nay thuộc Thái lan) tới đồng bằng sông Cửu long, phía bắc giáp Lào.

Thời kỳ hoàng kim của văn minh Khmer bắt đầu từ năm 889 tới 1434. Văn minh Khmer chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn độ. Kiến trúc Khmer đạt tới tột đỉnh là công trình xây dựng đền đài Angkor wat do vua Suryavarman 2 và Angkor Thom do vua Jayavarman 7.

Trong thế kỷ 12, đế quốc Khmer xâm phạm biên giới nước ta dưới triều Hậu Lý vài lần.

Năm 1128 đế quốc này (sử ta vẫn gọi là Chân lạp) đem 20,000 quân đánh cướp bến Ba đầu thuộc châu Nghệ an, nhưng bị Lý công Bình đánh bắt được chủ tướng. Mấy tháng sau Chân lạp đem 700 chiến thuyền cướp phá bến Đỗ gia (nay thuộc Hà tĩnh) cũng bị Dương Ổ đẩy lui.

Năm 1132 liên quân Chân Lạp – Chàm đánh phá châu Nghệ ASn nhưng bị Dương Anh Nhĩ phản công gây thiệt hại nặng.

Năm 1137 Chân lạp lại xâm phạm Nghệ an nhưng bị Lý công Bình đánh bật ra khỏi bờ biển.

Năm 1216 liên quân Chân Lạp – Chàm lại cướp phá Nghệ An nhưng bị Lý Bất Nhẫn đánh bại.

Từ thế kỷ 14, Chân Lạp bắt đầu suy yếu, thường bị Xiêm đánh phá. Năm 1434 Xiêm chiếm kinh đô Angkor, Chân Lạp phải dời đô về Nam Vang, đánh dấu sự kết liễu nền văn minh Khmer rực rỡ gần 600 năm.

Chân Lạp Cầu Thân Với Chúa Nguyễn 

Năm 1618, Chey Chetta 2 lên ngôi vua Chân lạp. Từ thủa thơ ấu tới khi trưởng thành, vua bị làm con tin sống ở Xiêm nên mang mối thù hận với Xiêm. Nhằm làm giảm sự áp chế của Xiêm, vua Chetta 2 cầu thân với chúa Nguyễn phúc Nguyên tục gọi là chúa Sãi.

Mặc dù đang dồn tâm sức vào cuộc nội chiến với chúa Trịnh, chúa Sãi không bỏ lỡ cơ hội bắc đầu cầu xuống đồng bằng sông Cửu long. Để mối giao hảo lâu bền, chúa Sãi gả con là công chúa Ngọc Vạn cho vua Chetta 2.
Được phong làm hoàng hậu, Ngọc Vạn được Chetta 2 yêu quý không chỉ vì đẹp mà còn vì khéo chiều chồng. Do mối quan hệ tinh thần này Chân lạp được chúa Nguyễn yểm trợ đánh thắng 2 cuộc xâm lăng của Xiêm vào năm 1621 và 1623.

Chân lạp dời đô từ Nam vang về Oudong từ năm 1616 cho tới năm 1866 mới trở lại Nam Vang.

Năm 1623 chúa Sãi sai sứ sang Oudong xin vua Chân Lạp dành ưu đãi cho người Việt đang khai khẩn tại Môi xuy (nay thuộc Bà rịa) và Đồng nai (nay thuộc Biên hòa). Ngoài ra sứ giả còn xin cho người Việt buôn bán và mở xưởng tiểu công nghệ tại Sài côn (nay là Sài gòn) và Oudong. Những điều chúa Nguyễn xin đều được Chetta 2 chấp thuận do lời xin khẩn khoản của hoàng hậu Ngọc Vạn. 

Lưu Dân

Khi chúa Nguyễn sai sứ sang Oudong xin vua Chetta 2 dành ưu đãi cho người Việt đang khẩn hoang ở Môi xuy và Đồng nai, chúa tất biết người của chúa đã tự động bỏ quê hương vào đồng bằng sông Cửu long tìm cơ hội mới. Sử ta gọi họ là lưu dân.

Lưu dân là những ai ? Chúng tôi trích đoạn sau đây trong “Nói về miền Nam” của nhà văn Sơn Nam.

“Sử gọi họ là lưu dân, những người không căn cư nhất định, sống phóng túng, nghĩa là những phần tử bất hảo, dốt nát, thiếu luân lý, bị luật lệ và phong tục lên án. Tóm lại, đám dân tứ chiếng, trốn xâu lậu thuế ấy phá hại văn hóa hoặc thuộc vào trình độ văn hóa thấp.” 

Theo ý chúng tôi , nhận định của tác giả quá tiêu cực. Trong số lưu dân phải có cả những người lương thiện ưa phiêu lưu mạo hiểm, và rất có thể thành phần này đã thuyết phục được những người bất hảo đi theo mình. Ngoài ra còn có thể bao gồm những kẻ ra đi vì không chịu nổi sự áp bức của cường hào ác bá, hoặc vì cửa nhà tan nát do bão lụt tàn phá, hoặc vì nợ nần do làm ăn thất bại .

Nhà văn Sơn Nam viết tiếp:

“Họ lo khai thác đất hoang, đương đầu với bệnh tật, cọp sấu, sóng biển. Hoàn toàn tin tưởng thiên nhiên, cải biến thiên nhiên, không sợ thiên nhiên. Vì vậy các tay anh hùng hảo hớn thích sống riêng biệt, mỗi người làm chủ một địa bàn riêng, chiếm cứ một con rạch, một cù lao… Sống trong căn chòi nhỏ bé với dụng cụ thô sơ, hầu như không có thuốc men, họ dám thi gan chịu cảnh cô độc của con phượng hoàng trên đỉnh núi, của con cú nằm vùng chờ thời.” 

Bước Đầu Can Thiệp Vào Nội Bộ Chân Lạp

Vua Chân lạp Chey Chetta 2 mất, hai người con của vua với chính phi Ngọc Vạn là To và Tou liên tiếp nối ngôi nhưng một người bị giết và một người bị chết (sử Chân lạp không nói vì sao). Quan phụ chính đưa con mình là Ang Non 1 lên làm vua.

Năm 1642 Nặc ông Chân, con của Chetta 2 với thứ phi người Lào, đánh đuổi Ang Non 1 lên nối ngôi cha.

Nặc ông Chân lấy vợ Mã Lai và theo đạo Hồi của vợ. Người trong nước nổi lên chống đối nhưng bị đàn áp. Trong số chống đối có 2 người tên So và Ang Tan xin Thái Hậu Ngọc Vạn che chở. Thái hậu không ưa con ghẻ theo đạo Hồi nên khuyên bọn So và Ang Tan cầu cứu Chúa Nguyễn. Bấy giờ chúa Phúc Tần tục gọi là chúa Hiền đang ở Quảng bình yểm trợ 2 tướng Nguyễn hữu Dật và Nguyễn hữu Tiến vượt sông Gianh đánh chiếm 7 huyện của chúa Trịnh. Tuy nhiên chúa không bỏ lỡ cơ hội can thiệp vào nội bộ Chân lạp. Năm 1658, Phó tướng Nguyễn phúc Yến ở dinh Trấn biên (nay là Phú yên) được lệnh chúa Hiền đem 3,000 quân vào ổn định tình hình rối loạn ở Chân lạp. Nặc ông Chân bị đánh bại và bị bắt giải về Quảng bình. Chúa Hiền tha Nặc Chân về nước. Từ đó Chân lạp chịu làm phiên thần và tiến cống chúa Nguyễn hàng năm.

Việt Và Xiêm Cùng Can Thiệp Vào Chân Lạp

Nội bộ hoàng tộc Chân lạp thường tranh chấp nhau và chia rẽ thành 2 phe, một phe chịu ảnh hưởng của Xiêm còn phe đối lập nương tựa chúa Nguyễn.
Năm 1673, Nặc Đài lên nối ngôi cha. Không muốn thần phục chúa Nguyễn, Đài cho đắp thành lũy các nơi hiểm yếu, đóng bè nổi làm chướng ngại vật trên sông, dùng xích sắt chặn cửa sông. Biết ý đồ của Đài, đối thủ của Đài là Nặc Nộn mật báo chúa Nguyễn.

Với sự yểm trợ của quân Xiêm, Đài đem quân chiếm Sài côn và Môi xuy. Đài đắp đồn kiên cố tại Môi xuy để phòng thủ.

Chúa Hiền cử Nguyễn dương Lâm làm Thống binh đem quân sang đánh. Môi xuy thất thủ (đồn lũy này rất kiên cố, tới nay còn di tích). Quân của Đài bị thiệt hại rất nặng. Dương Lâm chiếm luôn Sài côn rồi chia 2 cánh thủy bộ tiến đánh Nam vang, phá đồn Gò Bích và Nam vang, phá hủy bè nổi và xích sắt.

Nặc Đài trốn vào rừng, sau bị nội phản giết chết. Quyền bính bây giờ về Nặc Nộn ở Oudong. Em Đài là Nặc Thu đánh chiếm Oudong, Nộn chạy về Sài côn để được chúa Nguyễn che chở.

Chúa Hiền không muốn gây hiềm khích với Xiêm nên hòa giải bằng cách phong cho Nặc Thu làm đệ nhất quốc vương, đóng đô ở Oudong và Nặc Nộn làm đệ nhị quốc vương, đóng đô ở Sài côn. Cả 2 vua đều chịu làm phiên thần và hàng năm tiến cống. Bang giao từ đó lại êm đẹp. Khi chúa Hiền mất, cả 2 vua đều sai sứ sang phúng điếu.

Di Thần Nhà Minh Xin Tị Nạn

Sau cuộc “phục Minh chống Thanh” thất bại , một số di thần nhà Minh ở Quảng đông và Quảng tây tìm đường tị nạn.

Năm 1679, Tổng binh Quảng tây là Dương ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến cùng Tổng binh Quảng đông là Trần thượng Xuyên và phó tướng Trần an Bài đem 3,000 bộ hạ cùng gia đình và 50 thuyền vào cửa Tư hiền và Đà nẵng xin làm thần dân chúa Nguyễn.

Chúa Hiền họp bàn với các quan có nên nhận bọn này hay không? Chúa ngại bọn này có thể trở thành mối họa cho chúa sau này. Nhưng nếu không nhận kẻ cùng đường cầu cứu mình thì chúa không nỡ. Sau khi nghe các quan bàn cãi, chúa quyết định cho họ vào đồng bằng sông Cửu long để cùng lưu dân khẩn hoang. Chúa cũng xin vua Chân lạp giúp đỡ bọn này.

Dương ngạn Địch và Hoàng Tiến đem bộ hạ và gia đình vào Mỹ tho khai hoang và mở chợ buôn bán.

Trần thượng Xuyên và Trần an Bài chia nhau lập nghiệp tại Ban lân (nay là Biên hòa) và Đông phố (nay là Gia định). Nhóm này chuyên về thương mại và tiểu công nghệ, nông nghiệp chỉ là phụ. Nhờ thương mại của nhóm này, nông sản của lưu dân được phân phối và trao đổi. Ngoài nông sản, lưu dân còn lâm và ngư sản cũng nhờ thương nghiệp xuất khẩu. Sản phẩm tiểu công nghệ của nhóm này cũng giúp đời sống lưu dân được cải thiện.

Điều lo xa của chúa Hiền về mối họa do bọn di thần nhà Minh gây ra suýt trở thành sự thật.

Năm 1688, đời chúa Phúc Trăn, phó tướng Hoàng Tiến giết chủ tướng Dương ngạn Địch rồi tự xưng là Phấn dũng Hổ oai tướng quân. Tiến cho quân đi cướp bóc dân bản xứ. Tham vọng trở thành một lãnh chúa, Tiến mộ thêm lính, đúc súng, đóng chiến thuyền.

Tuy được chúa Hiền phong đệ nhất quốc vương, Nặc Thu ngờ hành động của Tiến là âm mưu của chúa Phúc Trăn, liền tăng cường phòng thủ và chấm dứt việc nạp cống.

Chúa sai Mai vạn Long đem quân sang khôi phục uy quyền của chúa. Vạn Long lập kế giết được Hoàng Tiến nhưng bị Nặc Thu dùng mỹ nhân kế khiến Vạn Long hoãn binh. Chúa biết tin liền bãi chức Vạn Long và cử Nguyễn hữu Hào thay thế. Hữu Hào thuyết phục được Nặc Thu tiếp tục thần phục và nạp cống như trước.

Hai Huyện Việt Nam Đầu Tiên Trên Đất Chân Lạp 

Người Việt và Tàu lập nghiệp trên đất Chân lạp quy tụ từng cộng đồng dưới sự cai trị lỏng lẻo của các quan lại Chân lạp. Dân bản xứ và di dân sống hòa đồng vì đời sống vùng đồng bằng sông Cửu long bấy giờ dễ dàng, không gây tranh chấp.

Sau khi ngưng chiến với chúa Trịnh, các chúa Nguyễn rảnh tay thực hiện chính sách thực dân trên đất Chân Lạp.

Đệ nhị vương Nặc Nộn mất, chúa chấm dứt phong vương ở Sài Côn.

Năm 1689, chúa Phúc Chu cử Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh sang Sài Côn tổ chức chính quyền. Hữu Cảnh lập xứ Đồng Nai thành huyện Phước Long và lập dinh Trấn Biên (nay là Biên hòa); lập xứ Sài côn thành huyện Tân Bình và lập dinh Phiên Trấn (nay là Gia Dịnh). Hai huyện Phước long và Tân bình thống thuộc phủ Gia Dịnh.

Mỗi dinh có quan Lưu thủ đứng đầu, một quan Cai bạ coi ngân khố và một quan Ký lục coi về hình án. Về quân sự, mỗi dinh có một lực lượng thủy bộ gồm các đơn vị cơ, đội, thuyền.

Trần thượng Xuyên được phép lập xã Thanh hà ở dinh Trấn biên và xã Minh hương ở dinh Phiên trấn.

Người Tàu theo Dương Ngạn Dịch ở Mỹ Tho được tự trị dưới quyền giám sát của Trần Thượng Xuyên (thay thế Ngạn Địch bị Hoàng Tiến giết).

Bấy giờ phủ Gia định rộng ngàn dặm với 40,000 hộ dân. Hữu Cảnh mộ thêm dân từ Bố chính tới Phú yên vào, chia thành xã ấp để khai khẩn những vùng còn hoang vu. Theo nhà văn Sơn nam, những người ở hai huyện Phước long và Tân bình sau này phân tán đi làm ăn các nơi đều tự hào là dân hai huyện.

Mạc Cửu, Đầu Cầu Miền Tây

Không thuộc thành phần di thần nhà Minh , Mạc Cửu cũng quê Quảng đông nhưng là một thanh niên ưa phiêu lưu mạo hiểm và có đầu óc kinh doanh và chính trị.

Năm 1675, Mạc Cửu tới Chân Lạp thấy ở Mang Khảm gần Sài mạt hội tụ những tay giang hồ gồm người Tàu, Việt, Mã Lai và người bản xứ. Bọn này sống ngoài pháp luật, chuyên buôn lậu và cướp biển. Mạc Cửu vận động xin được vua phong chức Ốc Nha và mở sòng bài ở Mang Khảm để thu thuế cho nhà vua.

Sau một thời gian Cửu trở nên giàu có nên bỏ tiền ra mộ lưu dân các nơi về khai hoang lập ấp . Từ Mang khảm – được đổi tên là Phương thành – tới Cà Mâu, Cửu Lập được 7 xã: Hương Uc, Trũng Kế, Cần Một, Gíá Khê, Cà Mâu, Phú quốc và xã phố chợ Phương Thành.

Năm 1714, Mạc Cửu thân tới Huế xin qui phục chúa Phúc Chu và dâng 7 xã. Chúa chấp nhận, đổi tên là Hà Tiên và phong Mạc Cửu chức tổng binh Hà Tiên.

Năm 1735 Mạc Cửu mất, chúa Nguyễn cho con là Thiên Tứ nối nghiệp và phong chức Đô đốc Hà tiên. Chúa còn cho phép Thiên Tứ mở xưởng đúc tiền và được cấp 3 chiến thuyền để phòng vệ bờ biển.

Nối chí cha, Thiên Tứ một mặt kinh doanh, một mặt gia tăng khẩn hoang, lập được 4 huyện: Long xuyên (nay thuộc Cà mâu), Kiên giang (nay thuộc Rạch giá), Trấn Giang (nay thuộc Cần thơ) và Trấn Di (nay thuộc Bạc liêu).

Chiếm Trọn Miền Đông 

Vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh, miền Đông gồm 3 tỉnh Gia Dịnh, Biên Hòa và Định Tường. Huyện Tân bình của Nguyễn Hữu Cảnh là hạt nhân phát triển thành tỉnh Gia Dịnh, huyện Phước Long phát triển thành tỉnh Biên hòa.

Ở Mỹ tho, Dương ngạn Địch mở chợ và khai hoang lan rộng sang cả đất thuộc tỉnh Bến tre ngày nay. Sau khi Ngạn Địch bị Hoàng Tiến giết và Tiến bị Mai Vạn Long giết, chúa Nguyễn giao cho Trần Thượng Xuyên kiêm quản lý cả Mỹ Tho.

Năm 1731 và năm sau, Thượng Xuyên được lệnh chúa Phúc Chú đem quân vượt sông Tiền Giang chiếm Long Hồ (nay là Vĩnh Long), sát nhập vào Mỹ tho thành châu Định viễn và dinh Long hồ (sau này châu và dinh này phát triển thành tỉnh Định tường).

Tuy nhiên dinh Long Hồ bị ngăn cách với dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và dinh Phiên trấn (Gia Dịnh) bởi 2 phủ của Chân Lạp là Tầm Bôn (nay là Tân an) và Lôi  Lạp (nay là Gò Công).

Năm 1750, vua Chân lạp là Nặc Nguyên  theo Xiêm làm phản và thông sứ với chúa Trịnh ngoài Bắc để cùng tấn công chúa Nguyễn. Nguyễn cư Trinh được chúa Phúc Khoát cử đi đánh. Các xứ Lôi lạp, Tầm bôn, Cầu nam và Nam vang lần lượt xin hàng.

Nặc Nguyên chạy trốn ra đảo Phú quốc, nhờ Mạc thiên Tứ xin chúa Nguyễn cho về nước và xin dâng đất Tầm bôn và Lôi lạp để chuộc tội.

Chúa Nguyễn không thuận, muốn Cư Trinh đánh đuổi tới khi giết được Nặc Nguyên. Cư Trinh dâng sớ trình bày rằng nhận đất Tầm Bôn và Lôi Lạp để củng cố các dinh đang phát triển có lợi hơn là đuổi đánh đến cùng. Chúa nghe hợp lý, cho Nặc Nguyên về nước và nhận Tầm Bôn và Lôi Lạp.

Tầm Bôn (Tân An) sát nhập vào dinh Phiên Trấn (Gia Dịnh) và Lôi Lạp (Gò Công) sát nhập vào dinh Long Hồ (Định Tường).

Từ đây dinh Trấn Biên và Phiên Trấn nối liền với dinh Long Hồ thành miền Đông; sau này trở thành 3 tỉnh: Biên Hòa, Gia Dịnh và Định Tường.

Chiếm Trọn Miền Tây 

Miền Tây là vùng hữu ngạn sông Hậu Giang. Miền này chúa Nguyễn đã có 7 xã do Mạc Cửu lập nên từ Hà Tiên tới Cà Mâu và 4 huyện do Mạc Thiên Tứ mở rộng từ 7 xã của cha. Trong số huyện này có Trấn Giang là hạt nhân phát triển thành Cần Thơ sau này.

Nặc Nguyên chết, nội bộ tranh nhau nối ngôi. Xiêm không can thiệp vì đang phải đối phó với cuộc xâm lăng của Miến Diện. Chúa Phúc Khoát được độc quyền giải quyết cuộc rối loạn ở Chân Lạp. Chú của Nguyên là Nặc Nhuận nhờ Mạc thiên Tích xin chúa Phúc Khoát phong cho mình làm vua, Nhuận dâng đất Trà Vang (nay là Trà Vinh và Bến Tre) và Ba Thắc (nay là Sóc Trăng và Bạc Liêu) để đền ơn.

Nặc Nhuận bị con rể là Hinh giết chết để đoạt ngôi. Nặc Tôn là cháu Nặc Nhuận sang Hà Tiên nhờ Thiên Tích cầu cứu chúa Nguyễn.

Chúa Phúc Khoát giao cho Trương Phúc Du cùng Thiên Tích hội ý nhau giải quyết.

Phúc Du tiến quân sang Nam Vang, Hinh bị đánh bại phải bỏ chạy vào rừng nhưng bị nội phản giết chết.

Thiên Tích đưa Nặc Tôn về Nam Vang, chúa Phúc Khoát phong cho Tôn làm Phiên Vương.

Năm 1757, Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long đền ơn chúa Nguyễn. Thiên Tích cũng được Tôn trả ơn 5 phủ: Hương Uc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh (nhưng tới đời vua Tự Dức, 5 phủ này được trả lại Chân Lạp).
Tầm Phong Long là vùng chiến lược của Chân Lạp; hình tam giác với một đỉnh là dãy núi Thất Sơn, một đỉnh là Tân Châu và một đỉnh là Trà Vinh. Vùng này bao gồm sông Tiền và sông Hậu do Chân Lạp khai thác đã lâu đời.
Kể từ 1658, là năm chúa Phúc Tần can thiệp lần đầu tiên vào Chân Lạp cho tới 1750 là năm chúa Phúc Khoát chiếm trọn miền Đông, thời gian dài 92 năm. Nhưng chúa Phúc Khoát chỉ mất 7 năm (1750-1757) chiếm trọn miền Tây. Chúa chia miền Tây ra 5 đạo: Đông Khẩu đạo (nay là Sa Déc), Tân Châu đạo, Châu Dốc đạo, Kiên giang đạo và Long xuyên đạo.

Chiếm miền Tây được dễ dàng là do sẵn có đầu cầu Hà Tiên, nhất là do nội bộ Chân Lạp rối loạn vì anh em và chú cháu tranh nhau ngôi vua.

-Tham khảo
– Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn.
– Việt Sử Xứ Đàng Trong của Phan Khoang.
– Nói Về Miền Nam của Sơn Nam.- Tìm hiểu đất Hậu giang của Sơn Nam.
– Tập san sử địa số 19-20 năm 1970 của Đại Học Sư Phạm Sài Gòn.
– Tân An Ngày Xưa của Đào Văn Hội.
– The Columbia Electronic Encyclopedia.- Wikipedia: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2n_L%E1%BA%A1p

Share this post