Ảnh Hưởng Của Thời Thế Trong Thơ Vũ Hoàng Chương – Trần Từ Mai

Ảnh Hưởng Của Thời Thế Trong Thơ Vũ Hoàng Chương – Trần Từ Mai

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương mở đầu tập thơ Rừng Phong (Sài Gòn: nxb Phạm Văn Tươi, 1954) bằng bài “Nguyện Cầu.” Trong bài ấy, ông đã viết:

Ta van cát bụi trên đường

Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này

Để ta tròn một kiếp say

Cao xanh liều một cánh tay níu trời.

Tới đây, trong bản in đầu tiên củaRừng Phong, ông viết:

Nói chi thua được với đời

Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu …

Sáu năm sau, khi lại in bài ấy vào thi tập Cảm Thông (Sài Gòn,1960), ông đổi lại hai câu:

Để ta tròn một kiếp say

Cao xanh liều một cánh tay níu trời

Thơ ta chẳng viết cho đời

Không vang nhịp khóc dây cười nào đâu.

Tâm hương đốt nén linh sầu

Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi…

Thi sĩ như muốn nói, thơ của ông không phải là những tiếng cười nhịp khóc viết cho thế gian (không phải loại thơ “thương vay khóc mướn”), mà chỉ là nén tâm hương của một người “nhớ Quê” đốt lên để cầu nguyện.

Trong cuốnMười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Sài Gòn : Nam Chi Tùng Thư, 1970), họa sĩ Tạ Tỵ, một người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương từ năm 1943, một người tự thú là mê thơ VHC đến độ “thuộc hết tập Mây lúc nào không hay,” gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc.”

Khởi từ mối tình đầu tan vỡ:

Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đau buồn trong nhiều năm, rồi nhìn ra một xã hội với nhiều điểm yếu kém trong một đất nước đang bị đô hộ, ông có thái độ bi quan:

Ôi lòng ta sao buồn không nguôi

Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi

Há vì cơm áo chẳng no lành

Há vì đời không ai mắt xanh

Nhớ thuở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh

Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh…

(“Túy Hậu Cuồng Ngâm” —Mây)

Ông băn khoăn về ý nghĩa của cuộc đời:

Trải mấy hoang mang tìm kiếm

Lòng sao khát mãi chưa vừa

Đôi lẽ Có Không màu nhiệm

Đêm đêm ta hỏi người xưa.

Đuốc kim cổ, đây lòng ta thành kính

Hội trầm luân cùng ý thức Huyền Vi

Mà sáu nẻo hôn mê còn chửa định

Ta về đâu? Kìa Ngươi đến làm chi?

Phải chăng muôn kiếp nặng nề

Từ Hư Không tới, lại về Không Hư

Lẽ nào mộng cả thôi ư?

Người ơi! giọt bể chứa dư tang điền.

(“Bài Ca Siêu Thoát”—Rừng Phong)

Ông từng mơ một lối sống thoát tục:

Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng

Xô về Đông hay giạt tới phương Đoài

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng

Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi

Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh

Bể vô tận xá gì phương hướng nữa

Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ

Một đôi người u uất nỗi chơ vơ

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị

Thuyền ơi thuyền, xin ghé bến hoang sơ …

(“Phương Xa”—Thơ Say)

Trong “Đào Hoa Nguyên Ký” (bài ghi chép về chuyện “Nguồn Hoa Đào”), nhà văn Đào Tiềm (365-427) đời Đông Tấn kể lại rằng: Trong niên hiệu Thái Nguyên của vua Hiếu Vũ đế (376-396), có một người đánh cá ở Vũ Lăng (nay là tên một quận của tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa) đi ngược theo dòng khe khá xa, bỗng gặp một rừng hoa đào rất đẹp mọc sát bờ. Người ấy cho thuyền tiến thêm thì thấy hết rừng đào là một ngọn núi. Núi có hang nhỏ, mờ mờ như có ánh sáng. Người ấy bèn rời thuyền, theo cửa hang tiến vào. Lúc đầu hang rất hẹp, nhưng sau mở rộng ra, sáng sủa. Vào sâu bên trong thấy có nhà cửa tề chỉnh, dân cư sống vui vẻ. Hỏi ra mới biết tổ tiên của những người ấy trốn loạn đời Tần, đưa vợ con, thân quyến tìm tới nơi hiểm trở xa xăm này, rồi không muốn trở ra nữa. Họ “không biết là có đời Hán, nói chi đến đời Ngụy, đời Tấn.”Người đánh cá được cư dântrong độngmời về nhà chơi,vui vẻthết đãi suốt mấy ngày. Khi từ biệt ra về, có người căn dặn, “Đừng kể cho người ngoài hay làm gì.” Sau khi về, người ấy đến quận trình với quan thái thú. Quan cho lệnh trở lại để tìm nhưng dấu vết đã mờ, không nhận ra đường cũ nữa.

Trong bài “Đào Nguyên Lạc Lối” (Mây, từ trang 75), thi sĩ Vũ Hoàng Chương tóm lược lại câu chuyện ấy:

Ven giải Đào nguyên buộc thuyền cửa động

Dấn bước xem trời mở cuối hang sâu

Ôi thời gian sông núi vẫn tươi màu

Thuở Tần loạn xưa kia tìm trốn tránh

Dắt díu nhau lạc vào nơi tuyệt cảnh

Mươi lăm nhà riêng chiếm một Thiên thai

Nỗi hưng vong chi xá việc bên ngoài.

Ôngao ước tới được chốn đó:

Ôi lòng ta khao khát tới Đào Nguyên.

Nhưng trên thực tế, Vũ Hoàng Chương đã không trốn được cuộc đời và việc đời. Thơ của ông vẫn bị thời thế chiphối một cách rõ nét. Vốn giàu tình cảm, thi sĩ Vũ Hoàng Chương luôn luôn tha thiết với người và với đời.

TỪ KHI CÒN TRẺ TỚI NĂM 1945 (khi Vũ Hoàng Chương được 30 tuổi)

Vũ Hoàng Chương cho biết ôngsáng tác bài “Trả ta sông núi” (năm 1944, khiông 29tuổi) là do lời yêu cầu của Thế Lữ, người đang điều khiển ban kịch Anh Vũ và cần một bài khai từ cho vở kịch “Nguyễn Thái Học” sắp được trình diễn. Tuy nhiên, sự việc ông – ngay sau khi được yêu cầu — phấn khởi thức suốt đêm, “sáng lúc nào không hay,” để hoàn tất một bài trường thi dài 120 câu với nhiều đoạn thật hứng khởi, đầy cảm động về những gương tranh đấu trong lịch sử dân tộc, cho ta thấy ông vẫn quan tâm đến đất nước, sẵn sàng góp tiếng nói trong việc tranh đấu cho nước nhà thoát cảnh bị đô hộ:

Cửa HàmTử vắng teo vết Cáo,

Bến ChươngDương cướp giáo quân thù.

TrậnĐàMạcdẫu rằng thua,

Làm Nam quỷ, chẳng làm vua Bắc đình.

Chém kiêu tướng đồn binh TâyKết,

TriềuPhúLươnggầm thét giang tân

“Phá cường địch báo hoàng ân”

Trẻ thơ giòng máu họ Trần cũng sôi.

Kìa trận đánh bèo trôi sóng dập,

Sông BạchĐằng thây lấp xương khô

Những ai qua lại bây giờ,

Nghe hơi gió thoảng còn ngờ quân reo.

hay:

Chống ngoại địch gươm mài quyết chiến,

Voi QuangTrung thẳng tiến kinh kỳ;

Phá Thanh binh trận Thanh Trì,

Sông Hồng khoảnh khắc lâm ly máu hồng.

Núi rậy sấm cho Sông lòe chớp,

Cờ TâySơn bay rợp BắcHà

Xác thù xây ngất Đống Đa

Bụi trường chinh hãy còn pha chiến bào.

Tinh thần độc lập nêu cao,

Sài lang kia, Núi Sông nào của ngươi?

Ông kết thúc bản trường thi bằng một lời kêu gọi:

Ôi! Việt sử là tranh đấu sử

Trước đến sau cầm cự nào ngơi

Tinh thần cách mạng sáng ngời

Bao người ngã, lại bao người đứng lên.

Ngày nay muốn Sông bền Núi vững

Phải làm sao cho xứng người xưa

Yêu nòi giống hiểu thời cơ

Bốn phương một ý phụng thờ Giang sơn

Đùng lo yếu, hãy chung hờn

Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài.

Chúng ta có thể nói: Thi sĩ Vũ Hoàng Chương vẫn luôn luôn quan tâm đến đất nước.

GIAI ĐOẠN 1945-1949

Các tài liệu về Vũ Hoàng Chương đều cho biết là trong giai đoạn này ông có tập Thơ Lửa, cùng làm với Đoàn Văn Cừ, gồm những bài thơ đề cao cuộc kháng chiến chống Pháp, do cơ quan Kháng Chiến Liên Khu III xuất bản, được in ở Thái Nguyên năm 1948.

Tập thơ này hiện vẫn chưa tìm ra. Chúng tôi mới sưu tầm được hai bài…

Share this post