Âu Thuyền Cự Lại – Trần Công Nhung

Âu Thuyền Cự Lại – Trần Công Nhung

Từ cầu Thuận An theo đường Trấn Hải Thành về cửa Tư Hiền, khoảng 8 km có thôn Cự Lại, tên nghe không xuôi tai. Nơi đây có một bến tàu khá sầm uất. Thuyền neo san sát, những chiếc thuyền lớn đánh cá ngoài khơi. Bến tàu không như thường thấy ở nhiều hải cảng. Người ta xây một đập ngăn, mặt rộng đủ cho ô tô chạy. Đập vẽ một vòng cung bên bờ phá Tam Giang, có cửa để thuyền vào. Người địa phương gọi là Âu thuyền(1). Mùa biển động ghe cá lớn nhỏ vào núp trong vòng cung đập ngăn, sóng to gió lớn mấy cũng không hề hấn gì. Tò mò tôi hỏi một bác dân chài đang kéo giây buộc thuyền:

– Đập này do dân hay nhà nước làm rứa bác?
– Xây âu thuyền trên 50 tỉ, nhà nước cho 47 tỉ còn dân đóng thêm 15 tỉ.
– Tôi thấy ghe đánh cá lớn ri có khi mô ra gần Hoàng Sa khôông? Ở đây có ai bị TQ bắt chưa?
– Đó là ghe các nơi như Quảng Nam Quảng Ngãi họ vô đậu, chớ dân chỗ ni chỉ đánh cá gần bờ thôi.
– Hỏi thêm bác, sao ở đây gọi là thôn Cự Lại?
– Trước tê chỗ ni là bến Chợ Tài, chợ đôông lắm, chừ chỉ còn chừng nớ. Cự Lại thì tên sau ni, tui biết mô?

Kế bên có một một bác dân chài tuổi cũng xấp xỉ, nghe vậy góp ý:

– Cự lại là do sự tích ri nì: Buổi xưa làng ni thường thi đua việc quan mà việc chi cũng đứng nhứt. Khi đào hồ Tịnh Tâm, đội của làng đào mau hơn hết nên vua ban cho tên làng Tài. Chợ Tài ngày xưa đông lắm, chừ chỉ một nhúm nằm nơi tề (kia kìa), còn chợ lớn trước đường cái chú thấy là chợ Cự Lại. Ngày nớ dân làng Tài cứ cho mình hơn thiên hạ, khi mô cũng tự cao tự đại, ai nói phải trái chi cũng cự lại. Người các nơi đều nể, “dân cự lại ghê thiệt”, lâu ngày làng Tài thành làng Cự Lại.
Chuyện khó tin, nhưng vấn đề tên tuổi xứ mình ngày trước rất tùy tiện, “gặp đâu xâu đấy”, chẳng mấy ai thắc mắc về nghĩa lý. Sình-Sịa-Truồi-Nong đều là những tên ý nghĩa mơ hồ. Đúng là chợ Tài nay như chợ xép, chợ “chồm hổm” bán áo quần cũ, hàng gia dụng vặt vãnh, lơ thơ vài ba người qua lại. Chợ Cự Lại trên đường cái cũng không nhộn nhịp bao nhiêu, mặc dù nhà cửa dân chúng rất khang trang, đời sống có vẻ sung túc. Nhìn xe cộ và cách ăn mặc, là biết đời sống cao. Đây là nét chung của dân vùng Thuận An (do có nhiều người vượt biển). Ngoài số người có thân nhân ở hải ngoại, đa số còn lại sống vất vả với nghề nghiệp cổ truyền xưa nay. Nuôi cá phá Tam Giang, trồng hoa màu: cà ớt rau dưa hoặc làm lúa dọc theo bờ phá. Có một nghề đặc biệt là vớt rau câu. Rau câu là một loại thủy sản đặc biệt của phá Tam Giang (nước lợ), ngoài rau câu còn cá, tôm, cua. Cá kình, cá dìa rất có giá.

Qua thôn Cự Lại vài cây số là xã Phú Diên, thấy ngoài bờ phá có một nhóm người như đang nghiên cứu thực địa, tôi tạt ra hỏi thăm về đời sống của dân địa phương.
– Thưa các anh, tôi thấy dân Thuận An nói chung, ngoài số ghe đánh cá xa bờ, còn lại đánh cá trong sông phá, vớt rong biển, trông hoa màu phụ…Có hai vấn đề tôi không hiểu lắm, nếu có thể xin các anh giải thích dùm.
– Chú cứ hỏi, có mấy anh ở xã đây sẽ giải đáp.
– Thứ nhất nuôi cá dọc bờ phá là người dân tự động hay do xã phân?
– Mỗi xã có 1 chi hội người đánh cá được phân khu vực “nuôi trồng thủy sản”. Nhưng hồ (ruộng) nuôi cá dọc theo phá là do dân tự làm, xã không kiểm soát.
– Rau câu thì sao?
– Rau câu thì xã giao hội đánh cá chia cho các gia đình, trước kia tự do khai thác nên rất tác hại đến môi sinh.
– Xin anh nói sơ về nguồn lợi rau câu.
– Rau câu phát triển nhanh vào mùa mưa, nên người dân tập trung thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 4, mùa nắng nghỉ. Xã Phú Diên có 42 gia đình trung bình mỗi xuồng vớt 5 tạ một ngày. Tháng 3/2013 cả xã được 42 tấn, khi được mùa lên 60tấn.
Thuật lại lời ông già về ý nghĩa làng Cự Lại, mấy anh xã Phú Diên cười:
– Ôông nớ nói trạng đọ. Làng giỏi là làng Kế Sung. Làng Cự Lại là dân nôốc lên và dân tứ xứ tới, tài chi! Theo gia phả tại đình làng Kế Sung, trước thời Trần vùng đất ni thuộc đất Chămpa và trở thành đất Đại Việt từ khi vua Chămpa Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Rí để làm sính lễ cầu hôn công chúa Huyền Trân. Vùng ni được “khai căn” bởi một vị quan thời Trần, nơi “khai căn” đầu tiên chính là thôn Kế Sung.
Thu thập như thế tạm đủ, tôi quay ra, lúc chạy xe dọc mương nước thấy có mấy xuồng rau câu mới vào và họ đang đưa lên bờ phơi. Tôi tìm hiểu tiếp về công dụng và giá trị kinh tế của rau câu:
– Chị cho biết, thông thường rau câu dùng để làm gì?
– Giặt thật sạch phơi khô nấu chè thạch, hay trộn gỏi với tôm ăn “choong choong” (dòn dòn) rứa đó.
– Nhà chị vớt về để bán phải khôông? Thấy đen thui dơ rứa bán răng?
– Bán thì cứ để ri phơi khô rồi cân ký, mỗi ký 3.500$, nhà thầu mua về làm sạch (rửa phơi nhiều lần) sẽ có màu trắng ngà rồi xuất đi nước ngoài.
– Chị biết bán qua nước mô khôông?
– Nghe nói thì bán đi Nhật, Đài Loan, Hong Kong…
Một đàn trâu mấy chục con gặm cỏ trên bờ mương, thấy rất hay nếu chúng đi thành đàn dưới ráng mây chiều thì đúng là hình ảnh của quê hương. Tôi đến làm quen và hỏi em chăn.
– Ngày nào cháu cũng cho trâu ăn ở đây?
– Dạ.
– Trâu nhiều ri cháu cho nó đi một hàng trên mương được khôông?
– Dạ mần chi rứa ôông?
– Ôông muốn chụp một tấm hình, rồi ôông cho tiền ăn bánh.
Thằng bé suy nghĩ mấy giây rồi nhận lời.
Tôi dặn thêm, “mai hay mốt, ôông coi chiều có mây đỏ ôông sẽ chạy tới chụp. Cháu mà thấy phía núi trời hồng hồng thì về chậm một chút chờ ôông tới nghe”.
– Rứa chừ chụp khôông đặng răng ôông?
– Chừ trời sáng quá khôông đẹp.
– Chụp hình sáng mới đẹp chớ ôông.
– Ừ, nhưng mà trâu phải chụp túi túi mới hay.
116_7045
Thằng bé tỏ vẻ nghi ngờ, tôi trấn an nó “Thiệt mà, hể trời chiều có mây đỏ là ôông chạy tới liền”. Tôi dí vào tay thằng bé tờ bạc mười nghìn cho nó tin. Hôm sau cứ khoảng 4 giờ chiều tôi lại chạy rong rong con đường dọc theo bờ phá Tam Giang ghi những hình ảnh sinh hoạt đời thường để canh chừng trời chiều. Những nơi đường men sát bờ phá (phường Phú Thuận), bàn nhậu bày dày đặc, ngay bên cạnh bảng “Cấm buôn bán”(2).
Những chỗ bờ phá ra xa thì nhà ở hoặc đất canh tác theo kiểu làm dặm, một vạt ớt, mấy luống cà, vài ba vồng rau cải, đỡ tiền chợ thế thôi. Có dịp hỏi thăm, họ sẽ thở ra than thân trách phận (không dám trách Trời – cấp trên). Gần nhà tôi trọ, có một chị chồng chết, nuôi 3 đứa con, đứa nhỏ nhất học lớp ba. Chị than vãn:
– Chú coi tui đẩy xe rác ngày 30 ngàn, con học lớp ba đầu năm đóng gần 700 ngàn. Khôông biết đóng chi mà nhiều rứa, đến 16 món tiền, nhiều nhứt 265 ngàn, ít nhứt 10 ngàn, trung bình 20, 30 chục ngàn, nhiều món thật khôông hiểu nổi…
– Tiền chi mà khôông hiểu?
– Tiền đề thi các học kỳ, hoạt động giáo dục, hoạt động văn thể mỹ…
Không nhớ hết, chị lấy tờ kê các khoản tiền cho tôi xem (hình chụp). Thực sự tôi cũng không hiểu nổi những khoản nhà trường tưởng tượng để moi tiền con trẻ một cách bất nhân như vậy. Ba khoản kê trên mà lại khác nhau thì cũng lạ. Luyện Văn Thể Mỹ mà không nằm trong “hoạt động giáo dục”? Tiền vệ sinh môi trường lại còn tiền nước nhà vệ sinh. Tiền điện sáng tiền quạt máy…Sáng tạo đến như vậy thảo nào dân mạt là phải.
– Chú ơi, tui nghe nói thời ngụy, học sinh chỉ đóng 50$ tiền phụ huynh thôi, đúng khôông chú?
– Đúng, và không có cảnh ép trẻ đi học thêm, chỉ khi thi tú tài ai muốn thì tìm thầy mà học.
– Rứa răng chừ lớp mô cũng phải học thêm, khôông học thì bị đạo đức kém.

Tôi tìm lời “hạ sốt” cho chị hàng xóm rồi rút lui. Đấy chỉ mới là vấn đề giáo dục, còn biết bao nhiêu chuyện khác, đụng vô là bung ra trăm thứ than trời trách đất…
Hai hôm sau, lúc 4 giờ chiều thấy mây muốn nhuốm hồng, tôi chạy xe ra ngay bờ đập phá Tam Giang. Bầy trâu vẫn còn gặm cỏ, hôm nay lại có thêm một đứa chăn, chúng thấy tôi, đưa tay vẫy. Tôi ngoắc chúng lại rồi nói qua kịch bản “chiều về”.
– Khi mây chuyển sang màu đỏ một đứa dẫn đầu cho trâu đi chậm chậm, đứa thứ hai cỡi lưng trâu đi cách con sau cùng chừng 5 con. Cần nhất trâu đi từ từ và thẳng một hàng. Như rứa được khôông?
– Dạ được.
– Chừ ôông cho mỗi đứa 20 ngàn ăn phở. Ôông sẽ lui lại đàng kia đứng chụp. Khi ôông đưa cao tay ra dấu là mấy đứa cho trâu lên bờ, nhớ là một hàng thôi nghe. Khi khoát tay tới là cho trâu đi.
Hai đứa nhỏ vui vẻ cầm tiền rồi về với đàn trâu. Tôi ngồi đợi trời chiều. Nắng dịu dần chuyển sang màu hồng, rồi đỏ đậm từ trên cao xuống dần. Tôi ra dấu cho hai đứa chăn trâu, chỉ mấy phút là ráng chiều rực lên làm nền cho đàn trâu chậm rãi bước trên bờ phá Tam Giang. Một tấm ảnh quê hương bình thường thôi, nhưng là tấm ảnh tôi mơ ước lâu ngày. Một độc giả ở San Diego, chị Diệu Thu cũng cùng sở thích, order một tấm size 1m20 x 0m,50. Chị sẽ bày ảnh trên đầu Piano để thêm phần hứng thú mỗi khi đánh bản Chiều về của Phạm Duy. ___________________________
(1) Âu có nghĩa như chậu tròn đồ gia dụng. Chữ âu như trong thơ của vua Trần Nhân Tông (Đền Trần Thái Bình QHQOK tập 17)
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
(2) Chuyện luật pháp ở VN xem ra không giống bất cứ nơi nào trên hành tinh này. Luật mà không luật, không luật mà luật. Đây là một hình thức siêu tự do. Mới đây trên tờ Luật Pháp tường thuật chuyện một người “không có mặt tại hiện trường mà vẫn bị kết tội “chống phá người thi hành công vụ” vui thật.(Pháp Luật thứ ba ngày 5/7/14)

Share this post