Con Đĩ Ngựa – Lê Văn Phúc

Con Đĩ Ngựa – Lê Văn Phúc

Chả biết ai đã có sáng kiến làm tờ báo xuân và báo xuân có từ năm nào nhưng tôi cứ đoán mò thì cũng khoảng mấy chục năm rồi! Và báo xuân càng ngày càng cải tiến cho hợp với trào lưu tiến hóa của thời đại mới. Nói cải tiến ở đây là cải tiến kỹ thuật.

Chẳng hạn như ngày xưa, muốn in một tờ báo thì phải có cả dàn thợ sắp chữ, bốc chữ từng hộc xếp lại thành câu. Mỗi dấu chấm dấu phẩy cũng đều phải lắp mới thành chữ. Rồi vỗ bản thảo, thầy cò sửa, sửa xong vỗ lại, dò cho trúng mới thôi. Còn hình ảnh thì phải đưa lại Cliché Dầu làm bản kẽm…Mọi thứ đều nhiêu khê diệu vợi, tốn nhân công, mất thời giờ và tiền bạc.

Những thứ lỉnh kỉnh ấy, ngày nay nhờ khoa học, máy vi tính, kỹ thuật tối tân nên chỉ cần một người thành thạo máy điện toán là có thể một mình một chợ, hoàn thành tờ báo dễ như ăn… ớt! Ớt đây là loại ớt không cay chứ không phải là ớt hiểm!

Hình thức, nội dung

Tờ báo xuân nào cũng có hình thức nội dung tương tự.

Về hình thức thì cần nhất cái bìa mầu làm sao cho bắt mắt, có hình thiếu nữ tươi cười bên cạnh những đóa hoa xuân; có hình ông bà ngồi giữa hoa cúc hoa mai,bánh chưng bánh tét chung quanh là đàn cháu chờ quà mừng tuổi; có hình Lăng Ông khói nhang nghi ngút, bà con khấn vái xì xụp xin quẻ xin xâm mong đầu năm phát lộc phát xồi; có hình ông đồ già bầy mực tầu giấy bản bên phố đông người qua chờ thuê viết câu đối tết.. Đại khái như rứa!

Khuôn khổ tờ báo có thể lớn hơn báo thường đôi chút cho có vẻ đặc biệt.

Về nội dung thì bao giờ cũng có Lá Thư Chủ Nhiệm, vài lời ngắn gọn về chuyện năm mới, cám ơn độc giả chiếu cố trong những năm qua – và xin tiếp tục ủng hộ trong những năm tới, nhất là độc giả dài hạn – ghi ơn thân chủ quảng cáo ( để tờ báo sống đến ngày nay) và luôn tiện có một câu thòng cám ơn văn nghệ sĩ đã đóng góp để tờ báo được phong phú, hùng hậu như vầy!

Ngay sau tình thư là Sớ Táo Quân, tấu trình Ngọc Hoàng Thượng Đế chuyện nhân gian trong năm qua với các mục liên quan đến thế giới loài người.

Xong đến các bài dính líu đến chính trị, quân sự, khoa học, kinh tế, xã hội. Độc giả chỉ cần đọc số xuân là bằng năm bằng mười đọc cáo báo khác (?!), thông suốt hết tình hình thế giới. Có thể trở thành một học giả không chừng!

Tờ báo nếu chỉ có vậy thì cũng chảù có chi gọi là hấp dẫn cho lắm. Muốn hấp dẫn, phải có mục mới lạ, kích thích để độc giả tò mò tìm đọc. Đấy là các chuyện tử vi tướng số, chiêm tinh, đoán điềm giải mộng, làm thế nào để sinh con theo ý muốn, các thứ thuốc trường sinh, thuốc bồi bổ sinh lực, bổ tì bổ vị, chuyện phòng the chăn gối, chuyện tâm tình thầm kín riêng tư (nhưng hỏi và giả nhời trên báo đấy ạ!), chuyện tìm bạn bắt bồ bốn phương, chuyện bếp núc cơm chay, chuyện cù không cười, thư tín, cám ơn bạn đọc gửi thiệp chúc tết…

Và quan trọng không kém là mỗi năm tờ báo nói đến một chủ đề tùy thuộc vào 12 con giáp, theo thứ tự: Tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.

Năm con ngựa

Năm qua là năm tị, năm ni là năm Nhâm Ngọ. Năm ngọ mà nói chuyện về ngựa thì đúng chủ đề quá dzồi còn gì nữa! Các văn nghệ sĩ đều được ông chủ nhiệm rỉ tai dặn dò là làm ơn làm phước nạp bào sơm sớm để tòa soạn kịp lên khuôn, phát hành đúng kỳ hạn trước tết.

Các văn nghệ sĩ nhận được oóc đơ như thế, người nào cũng ngầm hiểu rằng phải phóng bút đi trước mùa xuân, sáng tác thơ văn theo trí tưởng tượng hơn là theo cảm xúc dõi bóng thời gian mỗi độ xuân về.

Thế là các tay thợ phải mở máy sản xuất càng sớm càng tốt cho xong nhiệm vụ để hoàn thành bổn phận công dân.

Theo đơn đặt hàng và tiêu chuẩn trên, tôi cũng nằm trong danh sách các nhà sản xuất. Viết về ngựa, chắc có nhiều người viết, nhưng lựa một tựa đề cho hấp dẫn, không trùng dụng với ai, lọt vào mắt xanh của ông chủ nhiệm thì điều ấy mới thực là khó. Tôi moi óc, nghĩ ra cái tựa Con đĩ ngựa vừa độc đáo, vừa có vẻ lạ, có vẻ…chịu chơi và lại vừa có vẻ…dâm nữa nên hy vọng lúc đọc bài này ông chủ nhiệm còn đang ngái ngủ, sẽ qua được cửa ải kiểm soát đầu tiên.

Rồi đến thân bài, tuần tự phiếm loạn về ngựa.

Mở máy: Các loài ngựa…

Ngựa không ai trông thấy bằng xương bằng thịt bao giờ, chỉ thấy trong tranh vẽ là ngựa trời tức thiên mã. Ngựa được tự động ráp thêm đôi cánh để di chuyển trên không, khỏi cần dùng động cơ xăng nhớt. Nhưng loài người khi chế tạo xe hơi lại dùng mã lực làm tiêu chuẩn cho sức máy nổ.

Ngựa không bay mà lại dính líu đến người, đầu thân hình người còn phần dưới mình ngựa, đuôi ngựa, bốn vó ngựa phụ thuộc vào ngựa, có tên nhân mã tức ngựa người. Thứ ngựa này cũng không có thực mà chỉ xuất hiện trong tử vi tây phương thôi.

Ngựa ở dưới nước, cũng có khi bước lên trên cạn là loài hải mã.

Ngựa sống xa loài người là ngựa hoang, ngựa rừng. Còn ngựa ở với người, theo chủ ra trận gọi là ngựa trận tức chiến mã. Thứ ngựa này, ngày xưa chủ tướng tử trận thì lấy da ngựa bọc thây.

Ngựa cũng có mầu da như người. Có thứ da trắng, da nâu, da đỏ, da đen, da vằn.

Ngựa sống chung với người, thường bị coi là vất vả làm thân trâu ngựa đền bù kiếp mai.

Ngựa của mấy ông Chánh Tổng, Lý Trưởng thường là ngựa nhàn hạ, để cho chủ nhân thêm vẻ quyền thế cao sang kiểu lên xe xuống ngựa, le lói với đời. Ngựa vất vả là ngựa thồ, chuyên chở đồ và người. Ngựa khổ nhất có lẽ là ngựa Dalat, vừa kéo nặng vừa lên dốc xuống đèo , trượt chân là ngã quỵ. Thời gian sau này nhờ có xe lam nên ngựa cũng đỡ bị hành.

Ngựa nuôi chuyên dùng để đánh cá ngựa gọi là ngựa đua thường thấy xuất hiện ở trường đua Phú Thọ cuối tuần. Nhiều người có máu cờ bịch, bị ngựa đá sưng đít. Nên trẻ con có câu hát đổi lời rằng:Đường vào trường đua có trăm lần thua (mới) có một lần huề.

Ngựa gần gũi với người nên khi người làm thơ soạn nhạc viết văn, nói năng hàng ngày thường nhớ đến ngựa mà đưa vào văn chương như để dàn cảnh, phụ diễn cho vai chính thêm nổi bật, cho quang cảnh thêm vẻ bi hùng tráng, cho những phút tiễn đưa biệt ly nhớ nhung từ đây thêm phần ảo não lâm ly.

Trước tiên hãy nói về thơ phú.

Ngựa trong thơ


Ngựa xuất hiện khá nhiều trong thơ nước ta. Điển hình là trong truyện Kiều, phần mở màn, chị em cô Thúy chơi hội đạp thanh – lệ là tảo mộ, hội là đạp thanh – sửa soạn ra về thì cậu công tử ở đâu lù lù dẫn tới:

… Dùng dằng nửa ở nửa về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng
Đề huề lưng túi gió trăng
Sau chân theo một vài thằng con con
Tuyết in sắc ngựa câu dòn
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời
Nẻo xa mới tỏ mặt người
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình…

Sự hiện diện của ngựa trong đoạn trên rất mờ nhạt, không được giới thiệu câu nào với chị em cô Thúy hoặc với độc giả cả. Bởi chủ đích là lăng xê nhân vật tài ba:

…Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh
Nền phú hậu, bậc tài danh
Văn chương nết đất, thông minh tính trời
Phong tư tài mạo tót vời
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa…

Ấy chỉ vì thế nên chị Thúy mới mê chàng Kim như điếu đổ, mê tít cù đèn, mới sinh chuyện để cuộc đời ba chìm bẩy nổi mười sáu cái gập ghềnh hai mươi bốn cái nhấp nhô….

Trong Tỳ Bà Hành, ngay đoạn đầu có cảnh tiễn đưa trên bến nước một đêm khuya lau lách, kẻ ở người đi dùng dằng chưa nỡ chia tay. Cũng có bóng dáng ngựa nhưng rất mờ nhạt, tượng trưng. Như chỉ để dàn cảnh cho cái tình thêm thấm thía:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa, khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti…


Ngựa được nhắc nhở, đề cao, xưng tụng phải nói đến ngựa trong Chinh Phụ Ngâm. Một tác phẩm dùng thể song thất lục bát để diễn tả nỗi nhớ nhung vời vợi của người vợ có chồng đi chinh chiến miền xa.

Ngựa xuất hiện ngay từ đoạn tướng quân lãnh ấn tiên phong theo chiếu chỉ, trong một khung cảnh y như trong xi-nê-ma, có đoàn binh mã với cờ bay trống trận lên đường.

Mầu sắc, âm thanh, cảnh trí rất linh hoạt, sống động khiến cho buổi xuất quân bừng bừng khí thế uy nghi quyết thắng. Trong khung cảnh ấy, lại có cái cảnh người vợ trẻ nơm nớp lo âu chinh chiến, nỗi u hoài cô quạnh, bổn phận chăm dắt con thơ, hầu hạ phụng dưỡng mẹ chồng. Nhưng điểm then chốt vẫn là nỗi nhớ nhung chất ngất rối bời vì phải xa chồng nên nàng cứ mường tượng ra rằng:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai…

Còn kẻ chinh phu mới lên đường, bận việc quân cơ, đâu đã có thời giờ mà nhớ nhung về người vợ trẻ đang mòn mỏi trông theo mắt đợi mắt chờ.

Đây là cảnh quân sĩ lên đường và nỗi lòng chinh phụ ngâm:

…Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
Hà Lương chia rẽ đường này
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi
Quân trước đã gần ngoài doanh liễu
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
Quân đưa chàng ruổi lên đường
Liễu dương biết thiếp đoạn truờng này chăng?


Chúng ta thấy những là chàng tuổi trẻ nhung bào rực đỏ, cưỡi bạch mã uy nghi trong quân đoàn có cờ bay phất phới, trống dục vang rền, tiền hô hậu ủng đầy khí thế chiến đấu.

Ngựa theo chủ tướng lên đường ra biên ải, coi bộ thật hiên ngang, quyết thắng.

Ngựa trong nhạc

Trong lãnh vực âm nhạc, ngựa đóng một vai trò khá độc đáo, được mô tả, nhân cách hóa và bầy tỏ tình cảm chẳng khác gì người. Chính bởi người muốn nói với người hoặc tự kể khổ mà không nói được.

Điển hình là bản nhạc Vết thù trên lưng ngựa hoang. Chả hiểu ngựa hoang loạng quạng thế nào mà để người tóm được. Chả hiểu hành động cử chỉ ra sao mà để người hiểu nhầm, giận dữ phạng những cú nên thân trên lưng thành những vết roi hằn chí tử. Bài này chỉ có cậu Elvis Phương ca là hết sẩy:

Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời
Đồng cỏ nào xanh ngát lưng trời
Ngựa phi như điên cuồng giữa cánh đồng dưới cơn giông,
vì trên lưng cong oằn những vết roi vẫn in hằn.

Cứ như mấy câu trên thì có thể hiểu là ngựa can tội dẫm nát cánh đồng cỏ xanh rờn!

Rồi ngựa phi nước đại, thoát khỏi tay người để thấy ân tình mở cửa, thấy cảnh thanh bình và quên đi những hằn sâu trên lưng nó.
Thế rồi, Elvis Phương huýt gió một đoạn, nghe rất đã. Xong cậu ca tiếp:

Ngựa hoang về đến bến sông rồi
Cởi mở lòng ra với cõi đời
Nhưng dời làm ngựa hoang chết gục
Và trên lưng nó ôi, còn nguyên những vết thù…

Té ra là ngựa thoát hiểm nhưng vì bị nện nặng quá mà hóa ra tử thương vì những vết roi của loài người.

Bài này ngụ ý gì không biết, nhưng chỉ biết là ngựa không cầu cứu được ai, không ai chỉ đường mách lối cho vào bệnh viện chữa trị cả.

Một nhận xét nhỏ là loài người ác thiệt đấy chứ! Ngựa chạy vào đồng cỏ có hại gì đâu mà bị trừng phạt nặng đến như thế? Tác giả còn có ý gì khác nữa chăng?

Ngựa theo chinh nhân, ta thấy trong Hòn vọng phu I:

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
quan với quân lên đường
đoàn ngựa xe cuối cùng
vừa ruổi theo lối sông…

Rồi trong Hòn vọng phu III, tả cảnh người chinh phu về, cũng có bóng ngựa phi bụi mù chân trời tím:

Đường chiều mịt mù cát bay tỏa bước ngựa phi
đường trường nếp tàn y
hùng cường vẫn còn bay trong gió…


Theo bài hát này, chúng ta hiểu là ngựa và chủ trở về bình an vô sự. Bởi nếu chủ tướng đến nợ nước thì ngựa cũng bị lột xác đề da ngựa bọc thây!

Ngựa được thoải mái vui vẻ sánh vai cùng người, có thể kể đến trong bản nhạc Ngựa phi đường xa:

Ngựa phi, ngựa phi đường xa
Tiến lên đường cát trắng, trắng xóa
Tiến lên đường nắng chói lóa lóa
Cánh đồng lúa in cát chân trời mây, mây xanh bao la.
Ngựa phi ngoài xa thật mau
Lúc nguy nàn ta yêu thương nhau
Giống tiên rồng hết sức phấn đấu
Nhìn mây nước ta hát vang lừng trong nắng đào…


Phụ đề và phụ diễn là tiếng hí của Hoài Trung cất lên không thua gì tiếng hí chính gốc o-ri-gin của ngựa. Nghe đã thật ý chứ lị!
Nhưng ngựa được diễn tả, được đề cao nhất có lẽ là trong nhạc phẩm Đại phá quân Thanh của Hoàng thi Thơ.

Bằng dòng nhạc mạnh mẽ dồn dập hòa theo những lời ca hùng hồn sống động, nhạc sĩ đã tạo nên được một bức tranh tuyệt vời với những nét kiêu hùng của đoàn quân bách thắng. Chúng ta hãy nghe tiếng vó ngựa cùng tiếng trống hồi chuông khi vượt núi băng rừng trực chỉ Thăng Long:

Này bập bùng nhịp trống, bồi hồi giọng chuông, vó ngựa hùng anh, vó ngựa dồn nhanh, vó ngựa tàn canh, vó ngựa lừng vang rung rinh kinh thành.

Nhằm Lục Đầu mà tiến, nhìn về Lạc Giang, hướng về Hải Dương, Bắc Bình Đại Vương chiếm Hà Hồi nhanh, đánh Ngọc Hồi luôn, quân Thanh tan tành…

Tôi nghĩ nhạc sĩ Hoàng thi Thơ tất phải hãnh diện lắm về chiến tích vẻ vang của tiền nhân nên mới có cảm xúc dạt dào để viết nên nhạc phẩm tuyệt vời ấy.

Ngựa trong dân gian

Ngựa có vóc dáng rất đẹp, hùng dũng, uy nghi, phong cách đàng hoàng đứng đắn, làm việc chăm chỉ đâu ra đó, không nề hà không chấp nhất. Ngựa thông minh, hiểu tiếng người mà người không hiểu tiếng ngựa cho nên người hay lôi ngựa ra bêu xấu, đổ thừa, đổ vạ để che lấp cái xấu của mình đi.

Kìa xem như khắp con ngựa, có chỗ nào loài người tha cho đâu! Ai có bộ mặt hơi ngoại khổ, hơi dài một tí thôi là bị gán cho là mặt ngựa. Ai có bộ răng hơi dài, hơi thô thì được gọi ngay là răng ngựa. Ai nói năng bộp chộp, ngay đơ cán cuốc, không dấu diếm kiêng nể thì bị cho là nói thẳng như ruột ngựa cho dù chưa ai có dịp coi bộ ruột ngựa thẳng thế nào? Loài người muốn tự vệ thì dùng dao búa, gậy gộc, súng đạn. Không có những thứ ấy trong tay thì học võ để tự vệ. Ngựa không có những phương tiện ấy, chỉ còn cú đá hậu làm chuẩn để phòng thân. Thế mà cũng bị loài người cảnh giác với nhau là phải coi chừng mồm chó, vó ngựa. Không ai chịu hiểu rằng, chỉ khi nào chó ngựa bị khiêu khích, tấn công thì họ bất đắc dĩ mới phải xử dụng đến thế võ gia truyền!

Ai có chút địa vị tiền bạc thì được coi là kẻ lên xe xuống ngựa. Ai theo vết cũ không chịu sửa đổi, hàm ý xấu thì bị gọi là ngựa quen đường cũ.

Ngựa phi thì bờm dựng lên tung bay trong gió coi bộ rất đẹp, còn đuôi ngựa cũng bay theo. Ý hẳn đuôi ngựa coi bộ cũng hấp dẫn lắm nên con gái trẻ thường túm tóc cột lại, gọi là kiểu tóc đuôi ngựa.

Nói một cách trung dung chi đạo chả dám bênh phe nào thì tuy loài người lắm khi đổ vấy đổ vá cho ngựa những điều dựng đứng để che lấp cái lỗi của mình đi, nhưng người cũng phải minh danh nhìn nhận rằng loài chó, loài ngựa là những giống vật còn giữ được cái tình đặc biệt với người.

Nên mới có câu khuyển mã chi tình…

Một chút về con đĩ ngựa

Sự gán ghép mô tả trên tương đối cũng nhẹ nhàng, không có chi đáng phiền trách. Nhưng những điều sau đây thì không thể nào tha thứ được vì xúc phạm đến danh dự, uy tín sẵn có của dòng giống ngựa.
Như đã thưa trước, ngựa là loài đứng đắn. Thế mà con gái nào hơi lả lướt một tí là bị gán ngay cho con ấy nó ngựa lắm! Nói rõ hơn thì gọi một cách trắng trợn là đĩ ngựa. Xưa nay có ai thấy ngựa đĩ hồi nào đâu? Thế mà bị dựng đứng chuyện lên như thế có chết con nhà người ta không cơ chứ!

Chê bai bới xấu người nào, muốn hạ sát ván, bảo đứa con gái đó là con đĩ ngựa thì không còn gì đau đớn cho bằng.
Phần tôi vốn thích sưu khảo nghiên kíu thì lại thấy con đĩ ngựa hình như còn một ý nghĩa hơi khác. Cứ theo như tinh nghĩa của chữ này thì thứ gái đĩ tính ấy phải còn trẻ, vừa khỏe vừa vâm vừa sếch-xi vừa chịu chơi nữa cơ! Có được những điều kiện ấy khó lắm chứ đâu phải là dễ?

Lại theo như thống kê của Viện…Ga-Lăng – chi nhánh bán chính thức của Viện Ga-Lúp – thì có tới…78,9%(?) những người được hỏi ý kiến đồng ý rằng danh xưng con đĩ ngựa là có ý cổ võ cho thuốc bổ thận, khuyến khích cường dương chứ chẳng phải chơi đâu!

Thiềng thử ra, dưới con mắt các nhà đạo đức thì con đĩ ngựa tuy hơi có ý chê một tí để làm duyên, nhưng với đại đa số thì phải hiểu ngầm đó là điều ước mơ vàø ngợi khen kịch liệt!!!

Nếu quả y như rứa thì tôi đây cũng ước ao sang năm Nhâm Ngọ có được một con ngựa kiểu đó để rong chơi cuối trời quên lãng…
Chẳng cũng là một lạc thú ở đời? Chẳng cũng sướng ư?

Cung chúc tân xuân

Bạn đọc thân mến,

Có nhẽ cũng đã hơn chục xuân qua, bi chừ Cai tôi mới trở lại với Văn Nghệ Tiền Phong. Trong thời gian xa cách ấy, Cai tôi vẫn theo dõi các sinh hoạt của bạn bè, độc giả trên trang báo nhà.

Phần tôi cũng đã qua nhiều nghề ngỗng, lang bạt nhiều nơi nếm cơm thiên hạ khắp bốn phương trời. Nói chung cuộc đời lúc nào cũng đượm nét thăng trầm.

Nhưng tựu trung thì mọi chuyện coi như nhờ ăn hiền ở lành nên được Phật, Chúa, A-La độ trì qua cơn sóng gió.

Để hôm nay lại được cơ hội tâm sự vơi đầy cùng độc giả.

Vậy xin nhờ trang báo này nhân dịp khai xuân, kính chúc bạn đọc một năm mới an khang thịnh vượng, cầu được ước nên và gia đình yên vui hạnh phúc.

 

Share this post