Nổi Đau Của Đom Đóm – Quỷ Cổ Nữ

Nổi Đau Của Đom Đóm – Quỷ Cổ Nữ

– Hai vị đã điều tra được gì rồi?

Quan Kiện liếc nhìn Satiko, rồi nói “Satiko tra cứu là chính, cô ấy sẽ nói”

Satiko gật đầu, im lặng một lát, hình như là để nghĩ xem nên nói ra sao. “Tôi đã tra cứu tài liệu về thôn Tiểu Lương của các anh; anh Tài nói đúng, tài liệu của huyện có ghi về sự kiện tráng đinh toàn thôn đồng loạt mất tích năm xưa, chứ không phải là tin đồn. Kịch múa rối bóng cũng đã từng được coi là một trong ba nét đặc sắc nhất của vùng Thiểm Nam. Vị học giả đã tặng bộ con rối kia cho nhà bảo tàng, là cha tôi”

Trong mấy phút trầm mặc, chỉ nghe thấy tiếng thở dài.

– Rõ ràng là bằng cách nào đó, cha tôi đã tìm thấy các vật ấy. Chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra về cái Trung tâm nghiên cứu này. Cô hít vào một hơi thật sâu, chỉ hơi ân hận, tại sao chúng ta đã không sớm đặt trọng tâm vào khu vực này?

Quan Kiện nói: “Đâu phải chúng ta chưa xem xét, tiền thân của nó là phòng quản lý thảo dược của Chính phủ Quốc dân Đảng, trước giải phóng 1949 đã từng có ma, nhưng nơi này lâu nay rất an toàn. Trung tâm nghiên cứu chưa từng xảy ra chuyện gì, suốt ngày đêm luôn có người làm các thí nghiệm. Cho nên chúng ta mới tập trung sự chú ý vào nơi như nhà thờ Đức Mẹ và khu nhà Giải phẫu…”

– Chúng ta đã điều tra nhưng chưa đi sâu. Được một vài người trợ giúp, chúng ta cũng đã tìm được vài tài liệu quý. Có thể dễ thấy trước hết, trung tâm nghiên cứu này do một kiến trúc sư người Anh xây dựng vào năm 1920, là một trong những trung tâm thương mại chủ yếu ở tô giới anh. Bên trong có tổ chức giao dịch, cơ quan tín dụng và ngân hàng. Vị kiến trúc sư ấy cũng thiết kế và xây dựng khu nhà Viện mỹ thuật Giang Kinh ngày nay. Thời trước gọi là “Nhà triển lãm nghệ thuật viễn đông” Cho đến đầu thập kỷ 30, vì xã hội ngày càng có nhiều biến động, nên các tổ chức thương mại tiền tệ Anh quốc đã rút đi, thì nơi này trở thành phòng điều tra về sinh vật tĩnh sinh Giang Kinh, na ná như trung tâm nghiên cứu thực vật. Nhưng anh thấy rất ngạc nhiên ở chi tiết này. Vào những năm trước và sau 1940, khu vực này và khu vực Viện mỹ thuật hiện giờ đã từng hợp nhất thành một đơn vị: Ban Kinh doanh dược phẩm tại Đông Á.

– Đã bị giặc Nhật chiếm à? Lưu Thạch Tài nghe ù cả tai, nhưng anh ta căn bản vẫn hiểu được

– Nói chính xác hơn, là bị các thương nhân Nhật Bản chiếm. Trụ sở chính của ban kinh doanh dược phẩm Đại Đông Á đặt tại Tokyo Nhật Bản, có tên là Công ty TNHH bào chế kinh doanh Dược Kota, công ty tư nhân. Ban Đại Đông Á này chỉ bán hàng ở khu vực Giang Kinh, nhưng nó lại tham gia khắp các hoạt động xuất cảng khẩu đông dược, thuốc Tây, thuốc Đông y bào chế,.

Quan Kiện nói “Thoạt nhìn thì chẳng có gì lạ, thời nào chẳng có người làm giàu trong chiến tranh, nhưng nếu tra xét kỹ, nghĩ cho kỹ thì thấy có hai điều đáng nghi ngờ. Các tài liệu hiện có cho thấy Đại Đông Á này thực chất chỉ là “buôn nước bọt” đôi khi mới mua về một ít hàng, một trong hai khu nhà Viện Mỹ thuật hoặc Trung tâm nghiên cứu thừa sức làm kho chứa, vậy tại sao họ phải hợp nhất địa bàn của cả 2 nơi, lại chỉ để cho các nhân viên sử dụng, tổng số nhân viên của họ lên đến 300 người”

Lưu Thạch Tài nói “Thảo nào họ cần khu vực rộng thế này. Ba trăm người ở, thì sập nhà như chơi”

– Còn Ban kinh doanh dược phẩm Đại Đông Á cũng làm ăn và có thu nhập tương đương với họ, thì chỉ có 24 nhân viên.

Thạch Tài nói “Quả là kỳ quái!”

Điều kỳ quái hơn nữa là: Đại Đông Á treo biển vào tháng 4 năm 1939 nhưng đến tháng một một năm 1940 mới chính thức hoạt động. Theo tài liệu của phòng hồ sơ Giang Kinh, một năm rưỡi ấy của họ dành để “tu sửa” cơ ngơi.

– Tu sửa những một năm rưỡi? Thạch Tài đã từng làm nghề xây dựng, hoàn thiện công trình, anh chưa bao giờ nghe nói có thứ hiệu suất kém như thế này.

Quan Kiện nói: “Đối với một công ty đang hau háu kiếm tiền trong chiến tranh, thì đúng là quá dài. Tu sửa cái gì mà lâu thế?”

Satiko nói: “ Đây cũng là câu hỏi của tôi. Khi phòng hồ sơ sắp đóng cửa, tôi phát giác ra tấm ảnh này”

Ánh đèn pin rọi vào bức ảnh photo Satiko đang mở trên tay. Ảnh hơi mờ, nhưng có thể nhận ra một đám người mặc áo đuôi tôm, đội mũ đen đang cùng ngồi ăn ở ngoài vườn “Bức ảnh này lưu trữ ở phòng hồ sơ, chắc là ảnh chụp trong buổi liên hoan khánh thành tu sửa hai khu nhà. Hai anh nhìn mà xem, vị trí họ ngồi ăn chính là chỗ chúng ta hiện đang đứng!”

Thạch Tài bỗng kêu lên: “Cái đài màu trắng, trông như đá bạch ngọc hoặc đá cẩm thạch, bề mặt khá to… chứ không phải là cái giá sắt như hiện nay. Tức là họ đã dỡ bỏ cái đài bằng đá rồi thay bằng cái đài bằng sắt… Ý của anh và của cô là ông ngoại tôi năm xưa khỏe mạnh đã bị đưa đến đây làm việc tu sửa cho cái công ty này phải không?”

Rất có thể là như vậy, Satiko bỗng im lặng, thở dài.

Cảba người đều có cảm giác những con người lao khổ ngày ấy đã lành ít dữ nhiều.

Satiko nói: “Anh Kiện đừng buồn nhé…, khi mượn đọc tài liệu ở Phòng hồ sơ, tôi cũng đã nhìn thấy tên của Thi Di trong sổ mượn đọc”

Không rõ Thi Di còn cách sự thật bao xa?

Quan Kiện nói “Cảm ơn anh Thạch Tài đã cho chúng tôi biết chi tiết quan trọng về ông ngoại của anh. Chúng tôi ít ra cũng hiểu rằng khu nhà Trung tâm nghiên cứu này có một quãng lịch sử không hề đơn giản. Chắc hẳn Công ty Đại Đông Á ấy đến đây tu sửa đại quy mô như thế không thể chỉ đơn giản là cải tạo cái đài bằng đá… Muốn lần ra điều bí ẩn, thì phải bắt đầu từ chính khu nhà này”.

Chương 53

Ba Du Sinh đã giải quyết xong các công việc trong ngày, đêm khuya yên tĩnh, anh lại quan sát các di vật mà nữ tu sĩ họ Sái để lại. Anh đang cầm trên tay cuốn “Kinh thánh” bìa đen.

Sinh hiểu rằng, cũng như Thi Di, bà Sái bị hại bởi vì hung thủ cảm thấy bất an về những con người này. Bà Sái từng chứng kiến ông Yasuzaki Hitoshi bị giết, điều tra cho thấy ông Yamaa Tsuneteru ngày trước từng nhiều lần đến nhà thờ này, và đã tặng một pho tượng Đức Mẹ, chứng tỏ rất có thể cái chết của bà có liên quan đến cái chết của ông Yasuzaki Hitoshi và ông Yamaa Tsuneteru. Bởi thế Sinh quyết định đi sâu vào các tình tiết này, đặc biệt đưa các di vật của bà Sái về trụ sở để nghiên cứu.

Bà Sái sống giản dị, cần kiệm, toàn bộ các vật dụng xếp lại chỉ choán hết non nửa cái mặt bàn. Sinh đã xem các thư tín, vài cuốn sổ ghi chép, bây giờ anh mở cuốn Kinh Thánh in thống nhất quốc tế này. Kinh thánh bao gồm phần Tân Ước và Cựu Ước, in song ngữ tiếng Hebrew (ngôn ngữ cổ, vùng Trung Đông) và tiếng Trung Quốc. Sinh giở lướt các trang, thấy ngoài phần ruột với những dòng chữ bé bằng con kiến ra còn có vài dòng ghi thêm, đại khái là những điều tâm đắc của bà Sái.

Có lẽ dùng để đánh dấu trang đang đọc. Sinh hơi ngờ ngợ, bèn tiếp tục dở xem. Ở giữa chương 4 “Tân ước – Phúc âm thánh John” lại có một cây Thánh giá.

Tại sao?

Sinh đọc kỹ nội dung của hai đoạn kinh thánh, nhận thấy có một điểm giống nhau rất lạ những từ: “Giếng Jacob” xuất hiện ở hai đoạn kinh thánh này đều bị bà Sái dùng bút khoanh tròn.

Có ý nghĩa gì đây? Sinh cố đào sâu suy ngẫm

Anh nghĩ rất lâu. Rồi dần dần sáng tỏ: thánh giá vốn là một trong những “pháp bảo” của đạo Cơ đốc để trấn áp ma quỷ, anh nhớ rất rõ khi khám nghiệm hiện trường ở nhà thờ ấy, phía sân sau có một cái giếng!

Sinh không nén được nữa, anh đi đến ngay nhà thờ Đức Mẹ, vào thẳng nơi có cái giếng. Giếng tròn, sâu đến sáu bảy mét. Bên thành giếng còn có cả chiếc ròng rọc cũ kỹ để thả gầu kéo nước, mặc dù nhà thờ vẫn có nước máy. Sau khi bà Sái qua đời, có một tín đồ thường đến giáo đường cầu nguyện nói rằng bà Sái thường nhấn mạnh tiết kiệm, bà vẫn dùng nước giếng là chính. Sinh thả thùng xuống múc nước, quay ròng rọc kéo lên, rồi xách thùng nước đổ vào cái bể to ở trước cửa nhà bếp.

Thùng nước nặng đến năm sáu mươi cân, quay ròng rọc kéo lên hơi tốn sức, xách nó trút vào bể thì càng nặng nhọc. Bà Sái tuổi đã cao, không thể tự múc nước đổ cho đầy bể.

Đúng thế, Sinh liên lạc đối chiếu hồ sơ ngay, quả nhiên có một người thường xuyên đến làm việc theo giờ, giúp bà dọn dẹp… Hồ sơ có ghi rõ cả số điện thoại của người ấy.

– Cô nhớ lại xem, gần đây bà Sái có nói gì về cái Giếng không?

Cô gái làm thuê bị thức dậy nghe điện, nghĩ ngợi một lát rồi nói “Không thấy bà ấy nói gì. Nhưng mấy hôm trước đó em ra giếng múc nước, thì bà ấy từ giếng quay trở vào, tay nắm một cây thập tự rất to… Xưa nay chỉ thấy bà Sái đeo hoặc cầm cây thập tự bé xíu. Em chưa nhìn thấy cây thập tự to lần nào…”

Sinh quay trở vào nhà thờ, anh phát giác thấy trong gian nhà phụ xếp nhiều thứ lặt vặt, có một cây thánh giá bằng đồng đen cao khoảng một mét.

Anh cầm cây thánh giá ra đặt vào miệng giếng, thấy nó vừa khéo khớp với miệng giếng. Anh vội gọi điện về sở nói rõ yêu cầu của mình. Một nhóm kỹ thuật viên và chiến sĩ cảnh sát lập tức đến ngay. Họ xác định thành giếng có những vết đồng để lại, chứng tỏ bà xơ Sái đã dùng cây thánh giá này đặt vào miệng giếng.

Để làm gì?

Cây thập tự áp trên giếng để trừ tà ma, chứng tỏ dưới giếng có tà ma!

Chương 54

Sau khi chia tay với Lưu Thạch Tài, Quan Kiện và Satiko quay vào khu nhà Trung tâm nghiên cứu. Quan Kiện nói: “Anh ngày càng cảm thấy có những sự việc tưởng như rất ngẫu nhiên, thực ra thì ngược lại” ví dụ tại sao ông Yamaa Tsuneteru lại bị hại ở viện Mỹ thuật mà trước kia là trụ sở của dược phẩm Đại Đông Á? Còn ông ta thì vốn học ngành Y, y dược gắn liền với nhau, liệu ông ta có liên quan gì đến Đại Đông Á không? Ông ta có liên hệ gì với nhà thờ Đức Mẹ ở gần ngay đây? Ông ta là chiến hữu của ông nội em, cha em đi tìm dấu chân của ông nội em, rồi cha em bị hại ngay ở nhà thờ, cây thập tự của nhà thờ và cái giá sắt trong Trung tâm nghiên cứu xuất hiện trong “cuốn sách bí mật” của một tráng đinh đã từng “tu sửa” khu nhà cho Công ty Đại Đông Á năm xưa, bà xơ họ Sái thì bị giết ngay ở nhà thờ mình đã tu bao năm. Thi Di và Phương Bình thì đều làm việc tại Trung tâm nghiên cứu này… Vậy thì, hình như Trung tâm nghiên cứu, viện mỹ thuật và nhà thờ Đức Mẹ là một khối thống nhất đầy kinh sợ và ngập ngụa tử khí. Ông Yamaa Tsuneteru, ông nội em, Thi Di… đều bị bóng đen kinh dị này bao phủ!”

Satiko trầm ngâm một hồi, rồi hỏi: “Anh nói là phải bắt đầu từ khu nhà… nói cụ thể hơn được không?”

– Anh chưa biết nên tìm cái gì, nhưng anh cho rằng chúng ta cần bắt đầu tìm kiếm từ địa đạo… vì Đại Đông Á hồi đó có cả 2 khu Trung Tâm nghiên cứu và viện Mỹ thuật, thì rất có thể địa đạo nối liền hai nơi sẽ cho chúng ta những dấu vết gì đó.

Satiko gật đầu: “Cũng có lý đấy. Nhưng địa đạo ấy dài đến trăm mét…”

– Cứ đi với anh!

Hai người đi xuống tuyến hành lang dưới đất. Quan Kiện đã chuẩn bị tâm lý, anh gạt bỏ cơn đau bất chợt kéo đến, xăm xăm bước về phía trước. Đi gần đến đầu đằng kia (Viện mỹ thuật), anh hỏi: “Satiko có thấy gì đặc biệt không?”

– Em chưa nhận ra điều gì đặc biệt. Chỉ thấy có hơi nhiều công tơ điện. Thực ra chẳng rõ có phải công tơ điện không, chỉ nhìn thấy giống công tơ điện đặt trong các hộp nho nhỏ…

– Đúng thế, trông rất giống các hộp công tơ điện và có lẽ có nhiều cái đúng là công tơ. Nhưng anh nhận ra rằng bên Trung tâm nghiên cứu có rất ít những cái hộp tương tự, chứ không nhiều như bên này. Trước kia anh đã nhìn thấy, nhưng anh chẳng nghĩ ngợi gì, nay lại cho rằng rất có thể trong đó chứa những cái gì đó thú vị… vừa nói anh vừa lần lượt mở các nắp hộp ra.

– Trong hộp đúng là thiết bị giống như công tơ điện. Satiko đếm thử, hơn chục cái to, đích xác là công tơ điện, có một loạt hộp nhỏ cùng kích cỡ, gồm 24 cái, treo thành 4 hàng từ trên xuống dưới, mỗi hàng sáu cái. Điều kỳ lạ là ở giữa phần nền đều có một thứ trông tựa như cầu dao điện, nhưng không viết chữ “Đóng, mở” mà đánh số từ 0 đến 9, tức là có một0 nấc để lựa chọn.

– Có lẽ là đồ cổ. Viện Mỹ thuật hay Trung tâm nghiên cứu mà phải dùng cái của nợ này à? Dây điện mới đương nhiên vẫn có thể dùng công tơ cũ, nhưng những 24 cái thì hơi nhiều thì phải? và đáng ngờ nhất là những chữ số kia. Tác dụng của cầu dao chẳng qua là đóng ngắt điện, sao phải dùng chữ số? Quan Kiện lẩm bẩm

Anh thử gạt cái thanh trượt.

Chẳng thấy có phản ứng gì.

Anh soi đèn pin quan sát kỹ những cái cầu dao, rồi bỗng “à…” một tiếng “Quái dị thật. Em nhìn này, các chữ số tiếng Trung Quốc in đủ kiểu chữ, chữ Tống Thể, chữ Lệ Thư, chữ Khải Thư, chữ kiểu thời Ngụy… Bốn kiểu cả thảy, cứ 6 cầu dao thì dùng một kiểu chữ, nhưng 6 cầu dao lại bố trí xen lẫn các cầu dao khác, hỗn loạn… Tuy nhiên vẫn có quy luật: cứ 4 cầu dao cạnh nhau thì dùng 4 thể chữ, điều này nói lên cái gì nhỉ?”

– Rất có thể là một loại ám hiệu.

– Có một khả năng là, mật mã sáu chữ số thành một nhóm, cả thảy có 4 nhóm, nếu gạt cầu dao cùng nhóm kiểu chữ về một chữ số tương ứng, thì mật mã sẽ có hiệu lực.

Satiko nói: “Nhưng chúng ta không có được chút đầu mối nào, nếu cứ tiếp tục nghĩ thì cũng vô ích thôi”

– Thì ít ra cũng nên thử xem sao. Không có đầu mối cụ thể nhưng chúng ta có đường hướng tư duy khái quát: mọi câu đố đều nằm trong một chỉnh thể, những cái chết của Thi Di, Yamaa Tsuneteru, bà xơ họ Sái, Trung tâm nghiên cứu, Viện mỹ thuật, nhà thờ Đức Mẹ… đều liên quan đến nhau. Nếu đúng là ở đây có mật mã, và mật mã có thể mở ra một điều bí mật thì bí mật ấy cũng là một bộ phận của toàn thể.

ĐỌC THÊM
Hoa tường vi đêm đầu tiên

Trước ngày em đến

Nhện Chờ Mối Ai

Bạch Dạ Hành

Bây giờ & mãi mãi

– Hay lắm! Ý anh nói là mật mã cũng nằm trong chuỗi các sự kiện, nằm trong chỉnh thể mà anh nói… Hình như Satiko đã hơi hơi hiểu ra. Quan Kiện cảm thấy mỗi lúc một sáng sủa hơn “hoặc nên nói là chúng ta cần 6 chữ số. Một nhóm chữ số đặc biệt”.

Số mộ của ông Yamaa Tsuneteru!

– Có lẽ thế! 0349 15 có nhớ con số này không? Số mộ này chẳng liên quan gì đến các ngôi mộ lân cận, ông Yamaa Tsuneteru đã phải tốn tiền để mua được số mộ ấy nhằm truyền đạt thông tin này! Quan Kiện có phần xúc động.

– Anh đừng vội khẳng định, phải thử xem sao đã…

Quan Kiện chọn ngẫu nhiên thể chữ Khải, rồi lần lượt gạt các cầu dao về các chữ số 0,3,4,9, 1,5. Sao chẳng thấy xảy ra hiện tượng gì nhỉ? Anh nghệch ra một lúc rồi vỗ trán. “Mình ngu quá! Ngày xưa viết và in sách đều là từ phải sang trái, bây giờ thử đảo lại xem sao”

Khi anh gạt đến chữ số 5, bên trái, thì mặt nền dưới chân bỗng rung chuyển, nền tụt xuống, phát ra tiếng vang inh tai. Nhập đúng mật mã, thì cầu dao đóng mạch, một ô thang máy mỗi chiều rộng đến 2 mét xuất hiện!

Satiko chao đi suýt ngã vì nó bất ngờ tụt xuống, hai người xô vào nhau. Cũng may, tốc độ nó khá chậm nên họ vẫn không đến nỗi nào. Thang máy đang từ từ dừng lại. Xung quanh người họ là vách và dây cáp, một trong 4 mặt vách có một cửa nhỏ. Khi thang máy dừng hẳn, cánh cửa đó tự động gạt sang một bên. Họ bước vào một hành lang hẹp, dài chừng 5 mét, cuối hành lang lại có một cái cửa.

Sau cửa sẽ là gì?

Quan Kiện nói: “Vậy là đã biết những người lao dịch của thôn Tiểu Lương năm xưa đã “tu sửa” những gì trong hơn một năm trời”

Nhưng một cơn đau dữ dội đã đến với Quan Kiện khiến anh sắp ngã lăn ra.

Chưa biết chừng dưới này là nguồn gốc gây ra những cơn đau khiến anh phải khốn đốn trong các lần thí nghiệm ở hành lang phía trên cũng nên.

– Anh làm sao thế? Hay là chúng ta quay lên để nghỉ đã, Satiko quan tâm hỏi.

– Mong sao chỉ là đau trong chốc lát. Quan Kiện nghiến răng tay lia đèn pin 4 phía.

Tường bên trái hành lang có 24 cái hộp gỗ, chắc bên trong có cầu dao để đưa thang máy đi lên. Vậy là muốn đi lên thì phải có người khác đóng cầu dao hộ, hoặc tự mình phải thật nhanh chân, đóng cầu dao và kịp chạy vào cửa thang máy trong tích tắc. Tóm lại là, xuống không dễ, lên cũng khó. Sau cái cửa kia là những bí mật gì đây?

Trên cửa đúc liền một ổ khóa to hình tròn, đẩy cửa thì bất động, hai người đương nhiên bất lực trước ổ khóa.

Quan Kiện lại đóng cầu dao, nhanh chóng nhảy vào thang máy đang từ từ khởi động. Họ dần dần trồi lên phía hành lang ngầm.

Nhưng họ không ngờ rằng, trên mặt đất có một họng súng đang nâng cao dần theo tầm của họ dâng lên. Rồi họng súng ấy ngắm vào giữa trán Yasuzaki Satiko.

Chương 55

Ông Yamaa Yuuzi trở về phòng làm việc, nhìn màn đêm ngoài cửa sổ, ông lặng lẽ thở dài. Ông là con người chỉ khi nào có một mình, ông mới bộc lộ tâm trạng. Lúc này ông thấy khóe mắt mình hơi ươn ướt. Mọi quyết định là ở ông. Nhưng ông vẫn không dám tin đợt thí nghiệm mang tính thăm dò lại kết thúc như thế này. Không tìm ra hung thủ đã sát hại cha ông, còn nhà xác thì lại nhận thêm vài thi thể của người vô tội.

Thật là tội lỗi!

Tại sao mình lại có cảm giác tội lỗi nặng nề như thế này?

Đây cũng là một nguyên nhân khiến ông vội dừng ngay thí nghiệm. Không phải là không có thu hoạch gì nhưng còn xa mới đạt tới mục đích của ông, tuy nhiên ông không thể tiếp tục ích kỷ như thế này, ông quy cái chết của Phương Bình và của tu sĩ họ Sái là tại mình tổ chức thí nghiệm, mặc dù ông biết cách nghĩ này là không khoa học, không logic.

Bây giờ nên làm gì đây?

Ông thậm chí đã hẹn gặp bác sĩ tâm lý người Nhật Bản. Nhưng có những chuyện bác sĩ tâm lý cũng phải bó tay.

Ông cầm điện thoại xem giờ, một giờ 21 phút sáng! Do dự một lát , ông vẫn bấm số máy của nhà báo Nhật Bản Inouse “Khuya thế này rồi, tôi làm phiền ông quá!’

Giọng ông Inouse Hiroshi rõ ràng là ngái ngủ, nhưng rất lịch sự “Tiến sĩ Yamaa gọi điện, thì tôi phải nghe chứ! Chắc ông đang có việc rất quan trọng?”

Ông Yamaa lại hơi do dự, rồi nói: “Việc này… tôi muốn nói chuyện với ông và cả ông Kurumada nữa”

– Được ạ, nhưng…. ông Kurumada đang ngủ ở phòng ông ấy!

– Không sao, Máy của tôi có thể đàm thoại ba bên.

– Ông chờ một chút nhé. Ông Kurumada thức dậy, cũng đang lơ mơ. Ông Yamaa nói: “Vừa qua chúng ta sang Giang Kinh giao lưu nghiên cứu khoa học, hai vị đã rất nhiệt tình, tôi hết sức cảm kích”

– Ông khách khí quá – Kurumada nói – Chúng tôi được gặp và tiếp đãi bạn đồng hương, chúng tôi rất mừng, huống chi chúng tôi vốn rất ngưỡng mộ kính trọng lệnh tôn (tôn xưng cha của người đối thoại)

– Có người nói phụ thân tôi năm xưa đã trở thành cánh tả, có đúng thế không? Ông luôn có ý để cho đối phương nói thoải mái đã, nhưng lần này ông đã ngắt lời ông Kurumada.

– Không nên nói vậy. Lệnh tôn luôn luôn là một nghệ sĩ rất có tâm, nhạy cảm dễ mềm lòng, thông cảm với kẻ yếu, nhưng lập trường chính trị thì không rõ ràng. Ông Inouse Hitoshi nói.

Ông Yamaa im lặng một lúc, rồi nói “Tôi có một việc rất gấp, muốn bàn với hai ông… tôi nghĩ, nó là chuyện kinh thiên động địa, cho nên phải cần hai vị tiền bối…” Bỗng nhiên ông thấy có một vật cứng lạnh tì vào sau gáy. Ông lắc người định vùng ra. Một mũi dao găm sắc nhọn đang dí vào gáy ông. Phía sau ông là nòng súng. “Hãy nói là mình đã đổi ý, mai sẽ tính sau, rồi chào lịch sự và dập máy.” Một giọng nói rất khẽ ngay bên tai ông.

Chính là Kikuchi Yuji!

Ông Yamaa không biết nên nói sao.

– Này ông Yamaa , có việc quan trọng à? Nhà báo Kurumada lấy làm lạ vì ông Yamaa bỗng ngừng lời, bèn hỏi.

– À… việc này rất hệ trọng, cho nên tôi cần suy nghĩ thêm đã. Bây giờ quá khuya chẳng thể nói dăm câu ba điều mà được. Chi bằng để đến mai, chúng ta sẽ tìm một nơi yên tĩnh để trò chuyện. Ông Yamaa Yuuzi đang bối rối mà vẫn đường hoàng, khiến cho Kikuchi Yuji phải nể phục.

– Nhưng mà… Kurumada càng lấy làm lạ.

– Chúc ngủ ngon! Ông Yamaa tắt máy.

– Giơ tay lên, từ từ quay người lại! Kikuchi Yuji ra lệnh, khuôn mặt dài dài đầy sát khí. Ông Yamaa làm theo, rồi chầm chậm lắc đầu: “Kikuchi Yuji, anh là… thế nào vậy?

– Ở nhà hàng Hoa Lãng, ông Inouse Hitoshi đã nhắc ông điều gì, đã quên rồi chắc? Bây giờ đã đến lúc ông phải cho tôi biết tung tích các tác phẩm gốm sứ ấy!

– Thì ra… anh là đồ sâu mọt! Anh chính là kẻ trộm cắp mà ông Inouse Hitoshi đã nhắc đến!

– Đó chỉ là một nghề nghiệp rủi ro cao và thu nhập cũng cao mà thôi.

– Thế mà anh lại làm chủ nhiệm hành chính trong phòng thí nghiệm của tôi những ba năm trời!

– Nhẫn nại là phẩm chất cao nhất trong nghiệp vụ của chúng tôi. Tôi thừa hiểu rằng ông không thể để cho các đồ sứ ấy thất lạc ra ngoài, không chấp nhận lệnh tôn của ông chết oan. Nhưng nên nhớ rằng ông cụ mất đã 5 năm, và ông cũng đã rất nhẫn nại!

– Nhưng tôi vẫn chưa có được thu hoạch gì, anh cũng đã biết rồi! Ông Yamaa kinh ngạc nhìn Kikuchi Yuji.

– Ông khéo giả vờ đến mấy cũng không lừa nổi tôi đâu. Sau khi Phương Bình chết, ông đã bất chợt cho mọi người nghỉ một ngày, ông là người quá ham làm việc, dù vừa uống rượu cũng vẫn cứ đi làm, có lần bị trúng phong nhẹ, ông vẫn quyết rời bệnh viện về làm thí nghiệm…. Nhưng hôm nọ thì ông mất hút, kể từ hôm ấy ông cực kỳ thận trọng, lúc nào cũng vừa đi vừa ngoái lại, tất nhiên chẳng ai có thể bám theo ông. Nhưng tôi biết chắc ông đã có chuyện muốn giấu nhẹm, chuyện đó ở ngay khu nhà này. Tôi tin ở nhân cách của ông, ông không thể phạm tội gì cả, tôi đoán rằng điều duy nhất khiến ông phải dấu nhẹm là ông đã phát giác ra những đồ sứ kia!

– Vớ vẩn quá! Không có nổi một manh mối gì về vụ án, thì tôi biết đi đâu mà tìm đồ sứ? Ông Yamaa rất kinh ngạc.

– Điều này thì ông phải cho tôi biết! Nhà nghề chúng tôi đã từng phán đoán về tung tích của các đồ sứ bị cướp ấy. Năm xưa lệnh tôn đã đem các tác phẩm cực kỳ quý giá ấy từ bảo tàng Tokyo nghiêm mật đến Giang Kinh này, chúng tôi đã rất hứng khởi, cánh đạo chích bám theo đến tận Giang Kinh không chỉ có mình tôi! Rất có thể lệnh tôn đã nghe đồn đại, bèn cất giấu kỹ, và đã nói lại với ông. Có người thậm chí đã đoán rằng chính ông là kẻ chủ mưu giết cha vì lúc sinh thời lệnh tôn đã từng bàn với luật sư, định sửa lại di chúc rằng: “Sau khi ông mất, toàn bộ các tác phẩm gốm sứ sẽ hiến cho các tổ chức từ thiện”, ông sẽ không được gì hết…

– Nếu anh coi các tin đồn bố láo đó là thật, thì anh cũng sẽ như tôi hiện nay, chẳng được gì hết! Ông Yamaa dường như đang mắng Kikuchi Yuji.

– Tôi không muốn phí lời nữa, tôi tin ở trực giác của mình. Tôi cho ông ba mươi giây suy nghĩ. Nếu ông không chịu nói… đằng nào thì tôi cũng đã để lộ mình, ông lại chẳng còn tác dụng gì đối với tôi nữa, ngày mai người ta sẽ thấy xác ông ở đây. Cuộc thí nghiệm khốn kiếp của ông đã công cốc, lại còn khiến cho mấy người phải mất mạng, mọi người đều hiểu ông rất đau khổ, thậm chí đã tính chuyện đi khám bác sỹ tâm lý. Tiếc rằng bác sỹ tâm lý chưa kịp đến cứu giúp, thì ông đã quyên sinh vì bị lương tâm cắn rứt ghê gớm. Ông hãy suy nghĩ và quyết định đi!

Trong căn phòng làm việc yên tĩnh có thể nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường.

Họng súng của Kikuchi Yuji dần dần tiến gần thái dương của ông Yamaa Yuuzi. Tay của Kikuchi Yuji đeo găng.

– Được, tôi cho anh biết chúng đang ở đâu. Anh phải bảo đảm, anh được nó, còn tôi thì được an toàn. Ông Yamaa đành buông xuôi, chịu thua

– Ông nên biết quy tắc của dân nhà nghề bọn tôi: Đam mê nhất là những tác phẩm nghệ thuật vượt trên cả tính mạng như thế, chứ không cần lấy mạng của ai. Không vì bất đắc dĩ thì không giết người.

– Tôi cần anh phải bảo đảm chắc chắn đã.

– Tôi xin bảo đảm bằng nhân cách của mình.

Tuy chẳng rõ Kikuchi Yuji bảo đảm đáng tin được mấy phần, nhưng ông Yamaa vẫn gật đầu: “Anh đã đoán đúng, những đồ sứ ấy đang nằm ngay trong khu nhà này. Nhưng vẫn cần tôi dẫn anh đến.”

Kikuchi Yuji hơi do dự, rồi nói: “Được! chớ có giở ngón gì!” Kikuchi Yuji đưa ra một chiếc còng, ông Yamaa đã biến thành tù binh.

Share this post