Cung Tích Biền Trả Lời Phỏng Vấn

Cung Tích Biền Trả Lời Phỏng Vấn


Mười Câu Hỏi cho Chuyên Đề Văn Chương Thiếu Nhi/Thiếu Niên
:

– Những tác phẩm thiếu nhi hoặc thiếu niên nào đã gây ấn tượng sâu đậm với bạn trong thời đi học/đang lớn? Tại sao?

Cung Tích Biền: Tôi được may mắn biết đến sách, và đọc sách rất sớm, nhờ vào tủ sách bé nhỏ của cha tôi. Nhưng không phải là sách thiếu nhi.

Không hề có một tác phẩm thiếu nhi thiếu niên nào gây ấn tượng với tôi thời tuổi nhỏ. Đơn giản, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào viết “chuyên” cho tuổi mới lớn cho tới năm tôi 19 tuổi.

Thời Pháp thuộc lên sáu tuổi tôi học trường Tiểu học Kế Xuyên, đến niên khóa sắp vào lớp Nhì một [cours moyen I ] thì gặp Việt Minh cướp chính quyền, tháng Tám 1945. Cuối năm 1946, kháng chiến chống Pháp bùng nổ.

Tôi lên tám, xã hội thời Pháp thuộc, hãy còn lạc hậu lắm. Ngày xuân, tranh Tết, treo trên tường vách thì màu vàng khè, đỏ chói mấy cha bên Tàu đánh đấm với nhau, những Lưu Bị-Quan Công-Trương Phi trong vườn đào kết nghĩa, Châu Du hộc máu mồm vì thua trí Khổng Minh…

Tuổi lên mười, các bạn cùng lứa tuổi với tôi, nếu ở vùng có quân đội Pháp, về sau gọi là vùng Quốc gia họ sẽ có nhiều sách đủ loại, để học/đọc. Phần lớn là nguồn sách đã có từ trước 1945, và từ 1948 về sau, khi các các vùng Quốc gia đã ổn định, việc in ấn tai các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sàigòn có nhiều tự do, và đường hướng giáo dục cho tuổi trẻ những điều tốt đẹp, hướng thượng để vào đời, hãy còn được xem trọng. Ngoài những tác phẩm ngắn dài, của những Tô Hoài, Trần Tiêu, Lê văn Trương… hãy còn rất nhiều báo chí “đặc chủng” dành cho thiếu niên nhi đồng. Các bạn trẻ ấy còn đọc được nhiều sách hữu ích để mở mang trí tưởng tượng, sự hiếu kỳ, cảnh trí thần tiên, qua các truyện cổ, truyện cười, thần thoại, sách trinh thám, kiếm hiệp…

Tôi thì hẻo lắm. Không được may mắn như các bạn cùng lứa tuổi sống trong vùng Quốc gia. Vì, chín năm [1945-1954], tôi sống trong vùng do Việt Minh kiểm soát.

Năm 1946, khói lửa còn chưa ác liệt của buổi đầu khởi chiến, tình hình đối kháng tư tưởng chính trị giữa các đáng phái đối nghịch chưa tới hồi chia mặt trận nổ súng với nhau, trong tủ sách của cha tôi hãy còn một ít sách, nhiều loại. Cha tôi là một nhà giáo, có làm Trợ giáo một thời tại Bồng Sơn, Bình Định. Người trong vùng gọi là Thầy Giáo Cầu, hoặc Cửu Cầu [vì có phong hàm Cửu phẩm Văn giai]. Trong tủ sách “về chiều” ấy có tập họa hình Lên Tám hai màu đen trắng của họa sĩ Mạnh Quỳnh, bản dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine [bấy giờ thường đọc theo âm Hán-Việt, La Fontaine là Lã Phụng Tiên], một mớ tập thơ các nhà thơ tiền chiến, truyện trinh thám của Thế Lữ, Phạm Cao Củng, tiểu thuyết Tự lực Văn Đoàn, của Nhất Linh, Hoàng Đạo Thạch Lam, Khái Hưng, thêm nhiều tập báo Tri Tân, Khoa Học, có Hoàng Xuân Hãn, Ngụy Như Kontum. Tôi đọc cả, được nhiều, đọc chẳng hiểu mô tê gì, vì loại sách quá tầm tuổi nhỏ. Đọc Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Hồn bướm mơ tiên, Tố Tâm… thuộc nằm lòng những thơ Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận,Thế Lữ…

Bấy giờ những thi ca, tiểu thuyết này là loại sách gối đầu giường của lớp thanh niên nam nữ tân học. Các nhà văn nhà thơ đương thời được yêu mến, tôn kính là thần tượng, là biểu tượng tinh hoa trong xã hội. Dòng nhạc ru đời, gợi nhớ, bàng bạc tình nam nữ với Giọt mưa Thu, Đêm thu của Thế Phong, Buồn tàn thu, Thiên Thai, Bến xuân, Cung đàn xưa, Trương Chi của Văn Cao…

Lúc đó bạn thường hay đọc những thể loại văn chương nào?

Lúc đó? Tôi đụng phải một cuộc tiêu tán. Mất 9 năm sống trong vùng kháng chiến do Việt Minh kiểm soát. Đến tủ sách nhỏ nhoi của cha tôi, chỉ trụ được vài năm ba đầu kháng chiến, về sau thì bị tiêu hủy ráo. Văn chương thi phú có trước 1945, thời Pháp thuộc, không chỉ quốc văn mà cả sách Hán tự, Pháp ngữ, đều bị quy là sản phẩm văn hóa của chế độ Phong kiến, của đế quốc thực dân, cần triệt để tiêu trừ. Các nhà văn, học giả như Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu. Phan văn Hùm…đều bị giết. Nhất Linh, Trương Bảo Sơn, Nguyễn Gia Trí, và phần lớn khác phải đào thoát ra ngoài nước để duy trì mạng sống.

Cuộc Kháng chiến chống Pháp được toàn dân hưởng ứng, đầy hào khí tham dự vì lòng yêu nước chỉ trong ba bốn năm đầu. Khởi từ 1947, thì mọi sự phải trái về ý thức hệ chính trị đã rõ mặt, cuộc đoàn kết toàn dân bắt đầu tan rã, người người bỏ kháng chiến về thành. Thay vì một mặt chống Pháp, nay chia đôi, “Người Việt chống lại Việt Minh”.

Trong vùng Việt Minh, không còn gì, không có gì để đọc. Chiến tranh ngày càng lớn rộng ác liệt. Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sàigòn cùng hầu hết thủ phủ các tỉnh lỵ khác là thuộc vùng Quốc gia, chống Việt Minh. Ngoài mớ “thịt nạc” đó ra, phần lớn xương xẩu đồng quê đồi núi, đất khỉ ho cò gáy là thuộc vùng Việt Minh kiểm soát. Đã có ranh giới rõ ràng, và súng đạn chứng minh cho sự rạch ròi phân định này.

Đời sống trong vùng Quốc gia thì mọi sự đời vẫn an nhiên tiếp tục. Thành phố có ánh đèn điện, có trường học cho học trò tới, có tiệm sách, có nhà hát, chợ búa trù phú, hàng hóa dư thừa, sự giao lưu với thế giới bên ngoài rộng mở.

Vùng kháng chiến do Việt Minh kiểm soát thì hoàn toàn ngược lại. Bao vây. Đóng cửa. Nghèo khó. Thiếu thốn mọi bề.

Xin hãy kể lại những phương tiện sách báo vào thời điểm đọc sách thời đó: bạn mượn sách từ thư viện nhà trường, từ nơi cho mướn sách, được gia đình mua sách cho đọc, hay tự để dành tiền mua sách báo, v.v.?

Cung Tích BiềnThời đó? Câu hỏi này đưa tôi tới một trận mộng mơ. Mơ có những phương tiện sách báo, mơ có một thư viện, một tiệm sách. Không nhiều tiền để mua, thì đến nơi cho thuê sách ngắm nhìn, thú vị biết bao nhặt một quyển sách mình cần/thích, đóng ít tiền thế chân, mang sách về nhà, bật ngọn đèn đêm, say mê đọc. Gã thiếu niên cậu học trò ấy thật hạnh phúc. Hòa với ánh trăng, vườn khuya bóng lá, hoa vườn gió thoảng, tiếng tre trúc, mười tuổi tôi ở vùng quê mà, chao ơi tuổi thiếu niên nhi đồng vầy là thần tiên xiếc báo.

Nhưng có quái khỉ gì đâu. Suốt một nửa tình Quảng Nam của tôi không hề có một nhà in, một thư viện. Một vùng rộng lớn chỉ có một trường trung học, trong vùng núi Cẩm Khê nhỏ bé, chỉ học đến lớp chín, bậc trung học đệ nhất cấp. Muốn học lên chút nữa phải vào tận Quảng Ngãi, có trường Lê Khiết. Hay băng bộ đường rừng như Bùi Giáng ra tới Huế để có cái bằng tú tài.

Bị máy bay Pháp ném bom, oanh tạc hằng ngày. Lực lượng còn trong thế du kích chiến, nhưng luôn phải thường trực chống lại các cuộc tấn công lấn chiếm đất của binh lính Pháp. Vùng Việt Minh bị Pháp bao vây. Nhưng chính chính quyền Việt Minh cũng tự bao vây, đóng cửa với bên ngoài để dễ bề thống trị dân chúng bên trong. Đường làng, lòng rừng, đào đầy hầm chông, hầm trú ẩn máy bay, hầm bí mật.

Không có giấy, không có máy làm sao có nhà in. Không có sách làm gì có thư viện. Giấy trắng tốt chỉ có ở vùng “địch đóng”. Vùng kháng chiến có làm giấy nhưng giấy vàng khè không trơn láng. Kim loại làm ngòi bút mềm như chì, viết trên loại giấy nham nhở ấy một hồi, thì phải tháo ngòi bút ra, lật nghiêng mài trên nền gạch cho nhọn trở lại, tra vào, chấm mực, viết tiếp.

Không có máy in, mọi tài liệu đều in theo hình thức “thạch bản, in trao tay từng tờ. Tôi nhớ, đến những sách giáo khoa, sách toán của Giáo sư Hoàng Tụy, cũng phổ biến cho học trò bằng cách này. Giấy vàng đầy gân xác trên mặt, dày như giấy súc. Máy chữ, toàn vùng còn một cái trong nhà ông Thông phán Duy Hàn, nhưng không có giấy than. Viết tay thôi. Mực thiếu, phải pha thêm nước lá cây, trái rừng có màu tím.

Toàn một xã hội thoái hóa, mất bóng văn minh.

Bên này con sông, chỉ chèo một chiếc ghe sang bờ bên kia sông, là Thành phố Hội An, “vùng địch đóng,” là có đủ đầy trăm thứ. Nhưng, lũ vật chất vật liệu vật dụng ấy là của địch. Một ai qua bên ấy mang về là phạm tội, Việt gian, buôn lậu.

Ngay thời điểm này, cách nhau ba mươi cây số đường chim bay, nhưng các bạn cùng tuổi với tôi, có đủ sách vở, trường học, có tiệm sách, có rạp hát, mùa hè ra bãi biển, mùa đông có chăn mền ấm áp. Chúng tôi thiếu tất cả. Thiếu cả viên thuốc sốt rét, thương hàn cảm mạo, không có cả thuốc sát trùng. Mơ chi những quyển sách thiếu nhi thơm mùi giấy. Tình yêu nam nữ nơi này, đói, tặng nhau củ khoai là hạnh phúc rồi, mơ chi những dòng thư yêu đương dịu dàng trên trang giấy màu.

Tuổi thiếu niên của tôi, Miền Trung khỉ ho cò gáy đói chữ, thêm đói cơm.

Đói cơm là nói thiệt. Có mới nói chứ không bạo gan hư cấu cách văn chương. Năm 1952, một trận hạn hán hơn nửa năm trời không giọt mưa, đồng chết lúa cháy. Cây cỏ trên đồi nửa phần cháy thiêu. Sông khô cạn đến trâu bò không nước uống. Lòng con sông biến thành đường đi. Các giếng nước trong làng cạn chỉ còn một ít nước quanh hòn đá tim giếng, dùng gàu mo múc không được, phải cột cái bát thả xuống múc từng bát nước giếng như bát nước canh.

Đói, ăn hết lúa khoai củ mì dự trử, ăn sang rau trong vườn, rau rừng, đào gốc cây chuối lấy củ nấu cả nhà nhai, răng lợi xác xơ. Đói cơm thì lạt mắm. Cá tôm ếch nhái trên ruộng đồng, dòng sông, khe lạch chết toi. Có một ít mắm đầy dòi tữa, con nào con đó trắng nõn, mập ì, bò lúc nhúc chồng chất lên nhau. Thường thì gạt bỏ lớp dòi tữa. Nhưng lúc đói quá, thêm chút gì vào bụng e cũng “hồ hởi”, cha tôi “hạ quyết tâm”:

– Đổ cả bọn dòi ấy vào chảo, một ít dầu chiên dòn mà ăn.

Mọi người rùng mình. Nghe chuyện ăn dòi đã thấy dòi bọ bò lúc nhúc trong óc não mình, đã nghe dòi bò từ cần cổ lên mồm muốn ói ra. Cha lại cổ động:

– Nếu mỗi con dòi nó phồng to lên dòn rụm như con nhộng thì bọn bây có dành nhau mà ăn không? Ăn lẹ đi nào. Bọn dòi ấy ăn hết cả chất bổ béo, calcum, trong con mắm rồi. Bây giờ ta ăn dòi, rất nhiều chất dinh dưỡng.

Tuổi thơ của tôi thần tiên đến vậy.

Liệu tháng ngày ấy, có thể đọc một trang sách tuổi ngọc, tuổi xanh!

Tôi được nuôi dưỡng bởi những Trang-sách-đời, mà hàng triệu thiếu nhi khác chẳng hề gặp phải.

– Bạn nhận được những thông tin hoặc nhận xét về các tác phẩm thịnh hành/đáng đọc từ đâu: bạn bè, nhà trường, người thân, v.v.?

Cung Tích Biền: Tác phẩm? Sách vở đi chỗ khác chơi rồi.

– Bạn có thường trao đổi về những tác phẩm, hay những nhân vật mà bạn yêu thích với bạn bè? Ở lứa tuổi nào bạn bắt đầu có những trao đổi về sách báo, văn chương?

Cung Tích Biền: Tuổi nhỏ của tôi như đã nói rõ trên, chẳng có trao đổi gì. Vào thời Cộng Hòa, khởi từ 1954, tôi đã lớn. Đất nước mới. Vận hội mới. Đây là thời kỳ nhiều ân phúc cho tôi thay đổi cuộc đời.

Nhưng trăm phần lo toan khác bận rộn. Đi học trở lại sau bao năm không có trường học. Sắm sửa bộ vía thanh niên sao cho ra một thằng người. Không lẫn lộn với bò trâu gà heo một thời.

Trong cuộc lột xác ấy, chưa có chỗ “Trao đổi sách vở bạn bè cho nhau”.

– Những tác phẩm, nhà văn, hay những nhân vật ấn tượng này có làm bạn muốn trở thành một người viết? Tại sao (có hay không)?

Cung Tích Biền: Tôi đọc rất nhiều, ác lắm, là ngay tuổi nhỏ. Lên mười ba đã thuộc nằm lòng nhiều bài thơ mới của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính. Xã hội chúng ta thuở xưa, người ta yêu văn chương thơ phú lắm. Các cô dì, các mẹ, không biết chữ, chỉ nghe cánh đàn ông ngâm vịnh thơ phú mà thuộc lòng. Ru con, ngoài ca dao êm đềm, còn có nhiều đoạn thơ, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên…Thuở bé tôi đã đọc những sách người lớn, trong tủ sách của cha tôi. Chẳng hiểu ra tà ma gì, nhưng chắc nẫm, hoặc, “khách quan là có thể,” trong vô thức tiềm thức tôi, đã dung chứa một mớ nào trong thế giới chữ-nghĩa-tới-sớm ấy.

Khi trưởng thành, trong thượng vàng hạ cám qua mắt nhìn, cái đầu lưu giữ lại những gì đáng lưu giữ. Rất nhiều những tác phẩm tôi say mê, nhiều triết gia đông tây, nhà văn nhà thơ tôi quý mến. Nhưng gọi là ấn tượng, cơ nguyên-thúc-đẩy-tôi-cầm bút thì hoàn toàn không có. Chưa nói là chúng hăm dọa tôi không nên cầm bút. Viết mà không được phần nào như những-chữ-nghĩa-đã-đọc, thì không nên cầm bút.

Cái nó kích động tôi viết nhăng cuội trong suốt mấy chục năm nay, là do chính cái đời sống của tôi kéo lê theo cái thời cuộc, chỗ mệnh người vận nước mà thôi. Một kẻ bị thương tích thì chẳng thế nào không rên rỉ.

– Bạn có bao giờ đọc lại những tác phẩm ngày còn bé hay mới lớn? Cảm giác sau (những) lần đọc lại ra sao?

Cung Tích Biền: Sách cần đọc hồi còn bé mà ngoài hai mươi tuổi mới ghé mắt “thăm” thì chẳng còn lúc nào đọc lại. Cảm giác ư? Nó lạ lùng lắm. Tôi đến với sách thiếu nhi khi vợ tôi sẵn lòng đẻ ra cho tôi một lũ con. Rồi lũ con đẻ tiếp bọn cháu nội ngoại.

Đời tôi thiệt thòi nên rút kinh nghiệm. Cần thiết mua sách cho bọn con nít đọc. Trước khi cho chúng đọc, mình đọc qua, kiểu nếm thử thức ăn trước. Xem mặn nhạt, có độc hay không. Thói ham đọc nhiều. Mua thêm cho con, tôi đọc lan man, rồi đâm ra trẻ thơ, và ghiền. Tới nay tôi vẫn say mê [thích thú thật lòng] những loạt phim hoạt hình, những trò chơi dành cho tuổi mới lớn. Tôi thường ngồi với các cháu ngoại xem chung, cười chung. Quả thiệt, bảy tám mươi tuổi, nên cặp kè với bọn nhỏ, mình “trưởng thành” hơn.

– Tại sao bạn vẫn nghĩ về các tác phẩm/nhà văn này? Hoặc, tại sao bạn không còn nghĩ về họ như vậy?

Cung Tích Biền: Khi văn chương Mở-đường, Đi-tới, thì mình cần/nhớ, tha thiết đi theo.

Khi văn chương đứng lại một chỗ, mình cần vượt qua, bỏ nó lại. Còn nhiều bước chân, cần vội vã bước tới.

Đến với văn chương, không có nghĩa đi viếng mộ.

– Theo bạn thì một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên, nếu thành công, phải hội đủ những yếu tố nào? Tại sao?

Cung Tích Biền: Tôi không có, và không đủ thẩm quyền trả lời câu hỏi này.

Gẫm lại mà giựt mình. Cả đời tôi, chưa viết được một cái truyện nào cho ra truyện thiếu nhi. Cựa tới là chiến tranh, thân phận, hư vô, siêu hình, quay lại là hờn đau thương tích, phận người tựa bọt biển bóng mây.

Thời trước 1975 nhà văn Duyên Anh bảo, “Viết truyện ngắn hay vậy, Biền cho Tuổi Ngọc cái truyện. Vẫn, luôn, Chưa có truyện nào. Đến Tuổi Hồng, bọn quen biết Từ Kế Tường, rủ rê, “Xin ông cái truyện ngắn”. Tôi viết một truyện, ngay cái tựa đề đã mất toi cái tuổi ngọc tuổi hồng, “Tình yêu Mặt trời cháy đỏ”. Hình như đăng trong một số Xuân. Sau 1975, Đoàn Thạch Biền, người sáng lập tờ Áo Trắng, gợi ý “Anh Biền cho em cái truyện. Vừa qua Áo Trắng kỷ niệm 30 năm, tôi không có một truyện nào cho Áo Trắng. Đành tạ lỗi với nhà văn họ Đoàn vậy.

Cái hoa cái bướm đã chết toi ngay chỗ ngòi bút của tôi rồi. Đời tôi cũng đầy mộng ảo, mơ hoặc, ngậm ngùi chốn hoang mang mưa nguồn chớp bể, nhưng trong ấy là với bọn quỷ thần. Với bọn này tôi dễ mượn những bóng ma, đôi cánh. Con chữ có khi lấp lánh cái xác, khi cái hồn vô ảnh.

– Một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên có nên bảo vệ tinh thần trẻ em/thiếu niên, tránh những đề tài có thể làm các em bị sốc, tránh đoạn kết bi thảm, hay không? Đề tài, đoạn kết nào nên được tránh? Tại sao (nên/không nên tránh)?

Cung Tích Biền: Hôm nay, nghĩa là thời buổi Bây giờ, trẻ em chừng nó “Đi trước” nhà văn. Cái viết ra, nhạt lắm. Biết chúng đi trước như thế nào, chỉ cần xem cái cách chúng đi vào, sống với, dấn hết mình vào thế giới ảo.

Không cần phi thuyền tàu bay, xe tốc độ nhanh, chẳng du lịch đâu xa, chúng có ngay tất cả nghìn trùng thế giới, vạn cổ chí kim, qua cái vật dụng nhỏ nhoi đặt trên mặt bàn, thậm chỉ cầm trong lòng tay. Với bao la trò chơi, giải trí, qua internet, Facebook, Tik Tok, chúng bay cùng chim muông, đấu tay đôi với phù thủy, hóa phép với thần tiên. Không cần lên tám mới biết chữ, biết đọc sách thiếu nhi. Lên ba, chúng đã cầm cầm cái cell cái pad gì đấy, lên tận trời xanh rồi.

Mọi lo lắng “tránh những đề tài có thể làm các em bị sốc, tránh đoạn kết bi thảm…”, vân vân và vân vân, e chừng không “ép phê” mấy.

Tuy nhiên, với người cầm bút, hãy còn nhiều giới hạn, phải cần thiết cẩn trọng. Đây là tôi mạn phép múa rìu qua mắt các nhà văn gần gũi, và thân thiện cùng tuổi thơ

Midway City, 2020

Share this post