Desire – Lý Thuyết Ham Muốn – Mai Thanh Truyết

Desire – Lý Thuyết Ham Muốn – Mai Thanh Truyết

Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.

Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.

Lý thuyết ham muốn cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt  ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư

Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:

Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.

Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết  nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.

1-    Desire – Ham muốn là gì?

Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩy sự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).

Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.

Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.

Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.

2-    Triết lý về sự ham muốn

Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:

·         Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;

·         Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.

Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.

Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.

Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):

·         Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;

·         Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;

·         Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;

·         Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.

Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.

Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?

Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:

·         Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;

·         Và lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.

Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.

Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.

Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.

Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).

Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.

3-    Các căn bản trong việc/sự ham muốn

a-    Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?

Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.

Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.

Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.

Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.

Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.

Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.

• Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.

• Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,

b-   Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?

·         “Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.

·         Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.

·         Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.

·         Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.

·         Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.

c-    Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?

Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.

Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.

Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!

d-   Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?

TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhản quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).

e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?

Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)

Chỉ có những người dối lòng là những người nói

rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!

4-    Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?

Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.

Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?

Có vài vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:

* Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;

* Từ bi – Compassion;

* Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;

* Chấp nhận – Accepting;

* Mở rộng – Expansiveness.            

5-Tam giác vàng

Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?

Thực sự nó có ý nghĩa gì?

Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.

Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.

Trong sự so sánh nầy, đức tin kiên định – Consistent Faith và khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành hành động – Action.

Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.

Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).

6-    Thay lời kết

Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.

Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…

Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về “ham muốn” trong chiều hướng nào?

Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:

·         Đang nghĩ gì?

·         Đang làm gì?

·         Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?

Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.

Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!

Phổ Lập Mai Thanh Truyết

An Nhiên Tự Tại

Houston, 26/3/2020

Share this post