Địa Ngục Xanh Việt Nam – Helmut P. Müller

Địa Ngục Xanh Việt Nam – Helmut P. Müller


Sự lạc quan thống trị vào ban ngày. Lúc đó, đất nước mơ về hòa bình, về tái thiết, về an ninh và thịnh vượng. Nhưng màn đêm thuộc về Việt Cộng. Vì màn đêm là trợ thủ mạnh mẽ của du kích quân. Đêm đêm, đội quân ma của những phiến quân đỏ kẹp chặt lấy đất nước sợ hãi, bị hành hạ này. Rồi thì hàng triệu con người sống với cơn sợ hãi chết người, vì khủng bố ở khắp nơi. Pháo, mìn và dao để lại một dấu vết đẫm máu. Đó là một cuộc chiến không ranh giới, không chiến tuyến, không thương xót. Và bên này cũng như bên kia, họ chết vì tự do. Nhưng cho mỗi một người thì tự do này có một màu sắc khác. Vì trong thế giới này không còn có tự do chung nữa. Còn không có đến một tiêu chuẩn chung cho lý trí. Ai cũng muốn mình đúng. Và không ai muốn mất thể diện. Vì vậy mà hàng trăn ngàn người phải chết ở Việt Nam – mảnh đất hẹp đấy giữa đỏ và trắng. Từ nhiều năm nay rồi và có lẽ còn nhiều năm nữa. Vì không nhìn thấy hồi kết trong chết chóc cho Việt Nam
.

Bối cảnh của cuộc chiến

Ông Helmut P. Müller là phóng viên trưởng (Chefreporter) của báo Westfälische Nachrichten (“Tin tức Westfalen”) ở Đức. Ông đã có mặt tại nhiều nơi ở Việt Nam, từ đồng bằng sông Cửu Long, biên giới với Campuchia cho tới các tỉnh miền Trung Việt Nam. Bức ảnh chụp ông trong một chuyến bay trên chiếc máy bay trực thăng ở Việt Nam.

Cuộc chiến này ở Việt Nam – cuộc chiến mà không được bất cứ bên nào tuyên bố chính thức – có hàng ngàn gương mặt: những khía cạnh quân sự, chính trị, xã hội, tâm lý và những khía cạnh khác trộn lẫn với nhau thành một tính phức tạp loại trừ mọi sự đơn giản hóa. Tính rắc rối phức tạp của nó rộng lớn cho tới mức cả hai bên đều vướng vào trong đó: Câu hỏi “Tại sao chết cho Việt Nam” được cả hai bên trả lời bằng câu khẳng định “Cho tự do”. Đơn giản như thế đấy – và tuy vậy rất phức tạp.

Cuộc chiến này đã hoành hành từ mười ba năm nay – không khoan nhượng, tàn nhẫn kiểu Á châu và đầy ắp sự căm thù với oán giận. Làm sao mà người ta có thể tìm được một lối đi khi còn chưa có thống nhất về điểm xuất phát của cuộc chiến. Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng nói về việc này: “Đây là một cuộc chiến tranh giải phóng. Chúng tôi tiến hành nó để chống lại những tên cướp Mỹ và những tên đế quốc đã chiếm giữ Việt Nam bằng sự xâm lược hèn hạ. 

Chính phủ bù nhìn ở Sài Gòn luôn là một công cụ của những tên đế quốc Mỹ. Nó hoàn toàn không phải là một chính phủ hợp pháp. Chính nó đã bán đứng đất nước của chúng tôi. Ai đã mời quân đội Mỹ đến Nam Việt Nam? Ai đã cho phép Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự ở đó? Ai đã yêu cầu Hoa Kỳ sử dụng những loại vũ khí và phương pháp chiến tranh tàn ác? Chính các hiệp định giữa những tên xâm lược và những kẻ phản bội là những cái mà dân tộc Việt Nam cương quyết từ chối.”

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Dean Rusk – khi được hỏi về nguyên nhân của cuộc xung đột – giải thích: “Tại sao chúng tôi lại ở Việt Nam? Chắc chắn không phải vì chúng tôi có quyền lực và thích sử dụng nó. Chúng tôi không nhìn mình như những người cảnh sát của thế giới. Chúng tôi không đi lại khắp nơi trên thế giới để tìm kiếm một cuộc xung đột mà chúng tôi có thể can thiệp vào. Hoàn toàn ngược lại. Chúng tôi không phải là kẻ kiến lập thế giới cũng như không phải là tên sen đầm thế giới – chúng tôi tự biết điều đó.

Chúng tôi ở đây dựa trên sự cam kết đa phương trong Hiệp ước SEATO và dựa trên một loạt những cam kết song phương  và bảo đảm trực tiếp đối với chính phủ Nam Việt Nam. Chúng tôi đã gửi quân đội Mỹ đến chiến đấu trong rừng rậm của đất nước bị chiến tranh tàn phá đó, vì Nam Việt Nam theo lời của Hiệp ước SEATO đã trở thành ‘nạn nhân của một cuộc xâm lược dưới hình thức tấn công vũ trang’. Cuộc chiến ở Nam Việt Nam là một hành động xâm lược từ bên ngoài, cũng hệt như khi chính quyền Hà Nội gửi một đạo quân vượt qua vĩ tuyến 17, thay vì đưa lực lượng vũ trang lén lút thâm nhập vào – điều đang xảy ra không ngưng nghỉ. Điểm này là quan trọng, vì nó chạm đến cốt lõi của cam kết chúng tôi. Một phần lớn của sự bối rối đang thống trị chính là kết quả của việc không có khả năng hiểu được bản chất của cuộc xung đột.

Vì nếu như cuộc chiến ở Nam Việt Nam chỉ là một cuộc nổi dậy nội bộ – như người cộng sản hay cố gắng diễn đạt, thì Hoa Kỳ đã không có quân đội đóng ở Nam Việt Nam. Nhưng ở đây rõ ràng là nổ lực của một chế độ cộng sản, đang tồn tại ở nửa phần của một đất nước bị chia đôi, cố dùng vũ lực để đặt sự thống trị của nó lên người dân của nửa kia đất nước, đi ngược lại với ý muốn của họ.”

Dù hai bên có đưa ra bất cứ điều gì – nhân chứng không thể mua chuộc được vẫn là thống kê. Những con số của nó cho thấy một bối cảnh của cuộc chiến mà cho tới nay vẫn còn chưa được biết đến trên thế giới: từ 1954 cho tới 1961, du kích Việt Cộng đã giết chết tổng cộng 13.700 thường dân ở Nam Việt Nam – phần lớn là các nhân vật lãnh đạo của đất nước. Trong cùng khoảng thời gian này, hàng ngàn người Nam Việt Nam khác đã bị bắt cóc và kể từ lúc đó được cho là mất tích. Việc tiêu diệt có hệ thống tầng lớp trí thức này đã đẩy đất nước đến bờ vực thẳm – hoàn toàn không phải là “sự can thiệp rộng lớn của Mỹ”, như Hà Nội và Bắc Kinh luôn quả quyết.

Bởi vì từ 1954 cho tới 1961, người Mỹ hầu như không có quân đội đồn trú ở Nam Việt Nam. Sự tham chiến của họ được giới hạn ở mức từ 1954 cho tới ngày 1 tháng 1 năm 1961, họ chỉ có hai người chết ở Nam Việt Nam!

Sự tham chiến của người Mỹ ở Nam Việt Nam không phải mạnh mà ít như thế.

Vì vậy mà người cộng sản chắc hẳn tin rằng với “cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” cuối cùng thì họ cũng đã tìm ra được một phương án để giành lấy quyền lực trong một đất nước khác. Vì có thể thấy rằng hệ thống chặt chẽ của các cán bộ cộng sản, mà các “đội quân giải phóng” nửa xã hội, nửa chính trị của họ đã thâm nhập vào 2561 làng mạc của Nam Việt Nam theo một kế hoạch tổ chức chính xác, đã thắng thế đối với quân đội Nam Việt Nam đã được kiến lập quá nhanh chóng, cũng chỉ vì đội quân như bóng ma này có mọi ưu thế của chiến tranh du kích ở phía họ: Họ chủ động – những người kia phải phản ứng. Việt Cộng là những người quyết định chiến đấu khi nào, ở đâu và như thế nào.

Cách tiến hành cuộc chiến như thế dựa trên ba khả năng chiến lược: Chiến lược ba bậc của Mao Trạch Đông, phương án tổng khởi nghĩa cũng như khả năng thuần túy chính trị của một chính phủ liên minh. Khả năng cuối cùng đó đã bị loại bỏ ra khỏi Nam Việt Nam ngay từ đầu – người cộng sản là một thiểu số quá yếu ớt, cơ hội chính trị của họ bằng con số không. Vì vậy mà người ta hoạt động theo hai thuyết hứa hẹn chiến thắng bằng vũ lực:

Khởi Nghĩa – Phương án tổng khởi nghĩa. Ở đây, tiền đề cho thành công là đánh thức dậy một nhận thức cách mạng ở người dân nông thôn qua khủng bố và hoạt động của các đoàn cán bộ cộng sản, và tăng cường nó cho tới mức “cơn thịnh nộ nhân dân” bùng phát ra thành một cuộc tổng khởi nghĩa dẫn tới việc chiếm lấy quyền lực. Chiến tranh tâm lý, các biện pháp xã hội cũng như khủng bố được kiểm soát một cách tinh vi – được hỗ trợ bằng những chiến dịch du kích nhỏ – phải được tiến hành đồng thời với nhau.

Chiến lược ba cấp của Mao Trạch Đông. Một phương án thuần túy quân sự, hứa hẹn chiến thắng qua ba giai đoạn: Thứ nhất – hoạt động du kích cách mạng, để đẩy tính bất ổn định lên cao – dần dần chuyển tiếp sang một cuộc nội chiến được tiến hành với những tập đoàn quân – bao vây các thành phố lớn và các cuộc phản công quân sự như đã được áp dụng trong cuộc Chiến tranh Đông Dương.

Các phương án này dường như là không thể sai lầm: người Việt – đã kiệt quệ qua sự thống trị thực dân kéo dài một trăm năm và một cuộc chiến chín năm chống người Pháp – trước sau thì cũng đã không có khả năng nói chung là hiểu được những khái niệm như “dân chủ, chủ nghĩa cộng sản” v.v. Ao ước của những con người hoàn toàn phi chính trị và phần lớn là ít học này giới hạn ở một cuộc sống không có chiến tranh và không có áp bức. Câu khẩu hiệu là: trồng lúa, ăn no, có thể sống.

Thêm vào đó, đất nước này bị chia rẽ về nhiều mặt, không chỉ bởi biên giới nhân tạo ở vĩ tuyến 17: thổ dân, người Thượng, người Khmer, người Hoa và người Việt tuy sống chung với nhau, nhưng đặc thù ngôn ngữ, những tập tục khác nhau và tính cách khác nhau đã cản trở một sự đoàn kết dân tộc. Cũng không thể nói về một cộng đồng tôn giáo: các đức tin khác nhau trong đạo Phật (Đại Thừa và Nguyên Thủy), các giáo phái Hòa Hảo, Ấn Quang và Cao Đài, người Ki-tô giáo, tín đồ Vật Linh cũng như những hình thức tín ngưỡng đa dạng của người Hoa – tất cả chúng là vật chứng của một hình thức liên bang nhà nước và tôn giáo chỉ có ở Việt Nam.

Đó không phải là vùng đất lý tưởng để nuôi dưỡng cho thuyết Tổng Khởi nghĩa hay sao? Đó không phải là con đường trực tiếp khiến cho chính phủ ở miền Nam không có khả năng hoạt động và loại trừ mọi ảnh hưởng phi cộng sản hay sao? Thể theo câu “con người là một quả bom nguyên tử tinh thần”, người cộng sản sử dụng các cán bộ đã được đào tạo lâu năm của họ để chiếm đoạt miền Nam. Trong một quyển hướng dẫn cho Việt Cộng có viết rằng: “Không phải sắt thép và vũ khí, mà là lòng dũng cảm của con người sẽ quyết định cuộc chiến. Chiến tranh nhân dân là một vũ khí nhiều công hiệu. Chỉ có quân đội cách mạng sử dụng vũ khí này mới phát huy được hoàn toàn lòng dũng cảm và sức chiến đấu của con người. Hãy sống dũng cảm và chết vinh quang.”

Và tất nhiên là phải gây thiệt hại lớn cho “quân đội bù nhìn” của Diệm. Vì nhóm nhỏ người Mỹ thì không thể kể đến trong những năm này…

Thành công dường như cho thấy rằng người cộng sản đã đúng: “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” – được hỗ trợ bởi Đảng Cộng sản Nam Việt Nam, đảng mà tự nói về mình rằng: “Chúng tôi là động lực của cuộc cách mạng, đạo quân tiên phong và linh hồn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” – dời tổng hành dinh vào trong khu rừng rậm phía tây bắc của Tây Ninh cạnh biên giới với Campuchia và qua đó nối kết trực tiếp với Đường mòn Hồ Chí Minh. Số 6000 người của quân đội nhân dân cộng sản ở lại miền Nam bất hợp pháp sau hiệp định ngưng chiến năm 1954 đã tạo thành đội ngũ cán bộ cơ bản để tiến hành “cuộc chiến tranh du kích cách mạng” đang bắt đầu, cái mà chỉ khác với phương pháp nội chiến cộng sản thông thường ở tính phức tạp của nó: Thay vì tác động tâm lý số đông, song hành cùng với các hoạt động bán quân sự là một sự khủng bố khác mà dân làng – 80 phần trăm dân số sống trong đó – không có gì để chống đỡ lại.

Chiến thắng dường như chỉ còn là một câu hỏi của thời gian.

Người cộng sản có thể đắc thắng. Hiệp định Geneve quy định rằng “một giới tuyến quân sự tạm thời được ấn định tại vĩ tuyến 17 mà lực lượng của hai bên phải tụ hợp về phía của mình sau khi rút quân – lực lượng của quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc và lực lượng của Liên hiệp Pháp ở phía Nam của giới tuyến này.” Đồng thời người ta cũng quy định rằng “giới tuyến quân sự này là tạm thời và hoàn toàn không được cho rằng nó thể hiện một ranh giới về chính trị hay lãnh thổ”. Thêm vào đó còn ấn định rằng hai năm sau khi Hiệp định được ký kết – tháng 7 năm 1956 – tổng tuyển cử với mục đích thống nhất Việt Nam sẽ được tiến hành.

Nhưng cuộc bầu cử này là điều không tưởng ngay từ trước khi nó nói chung là được bắt đầu: Chính phủ Diệm không chấp nhận cả việc chia đôi đất nước lẫn thời điểm bầu cử cho Nam Việt Nam. Ông Diệm tuyên bố: “Những thỏa thuận giữa các bên Pháp và Việt Minh đã được đưa ra mà không có sự chấp thuận của đại diện Nam Việt Nam và vì vậy mà không có tính ràng buộc.”

Và Diệm là người của Mỹ – “một tên nịnh hót và tay sai của đế quốc, người muốn bán đất nước của chúng ta cho những tên cướp Mỹ”, như người cộng sản quả quyết.

Vì Diệm là người đã gọi người Mỹ. Lật đổ ông ấy là mục tiêu số một. Đuổi người Mỹ ra khỏi nước, mục tiêu số hai. “Thế mạnh của kẻ địch nằm trong khả năng tiến hành chiến tranh và nguồn lực vô cùng to lớn của nó”, như Đài phát thanh Hà Nội giải thích. “Nhưng cả sức mạnh của nó cũng có giới hạn. Vì người Mỹ không thể vượt qua được một cuộc chiến tranh du kích dài lâu và khó khăn trong một đất nước miền nhiệt đới – cách xa quê hương. Thế yếu cơ bản của họ nằm ở đó.”

Người cộng sản tin như vậy – và họ phải tin như vậy. Vì sự tham chiến của người Mỹ thật là nhỏ trong so sánh với mối nguy hiểm đang đe dọa. Cường quốc Hoa Kỳ không thể quyết định một cách cương quyết – môn chẳng ra môn khoai chẳng ra khoai. Và đó là một trong nhiều sai lầm…

Có những sai lầm mà người ta nhận ra ngay – và có những sai lầm mà người ta nhìn nhận muộn màng – thỉnh thoảng là quá muộn. Rồi thường thì người ta phải trả một cái giá cao. Có những chính trị gia nào đó quá hiểu điều này. Người Mỹ thì chắc chắn hiểu…

Hãy nhìn đến cuộc Chiến tranh Đông Dương – cuộc chiến bẩn thỉu và tàn bạo diễn ra trước sự tiến thoái lưỡng nan hiện nay ở Việt Nam, mà trong thời gian vừa qua người ta hay tìm ra những điều tương đồng với nó. Thật là vô lý hết sức: Chiến tranh Đông Dương là một cuộc chiến tranh thực dân của người Pháp, một cuộc chiến hủy diệt làng mạc, tra tấn tù nhân – chỉ để thực thi yêu sách thực dân. Nhưng trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, người Mỹ chỉ thực hiện một lời hứa bảo vệ mà họ cảm thấy có trách nhiệm từ Hiệp ước SEATO.

Và tuy vậy, có lẽ người Mỹ đã không vướng vào cuộc chiến kinh khủng này nếu như họ đã phản ứng khác đi vào thời đó trong cuộc Chiến tranh Đông Dương. Chỉ cần một nửa sự trợ giúp được rót vào Nam Việt Nam hiện nay – và lẽ ra là đã không có Điện Biên Phủ với tất cả những hậu quả của nó. Tuy là người Mỹ đã chi tổng cộng một tỉ dollar cho Đông Dương – nhưng đó có là bao nhiêu kia chứ: đối với nước Pháp thì sự việc đó là được tất cả hay mất hết thảy. Nước Pháp không chỉ cần dollar – nước Pháp cần nhiều hơn nữa. Nhưng ở đây thì người Mỹ không muốn nghe – mặc dù vào thời gian này người Pháp đã đi trên con đường từ “chủ nghĩa thực dân” sang Communauté Français [Cộng đồng Pháp]. Và có không ít Việt Minh, những người hủy diệt vinh quang của Pháp ở Đông Dương, bắn với những khẩu súng made in USA.

Ngày nay, người Mỹ ngạc nhiên, khi Tướng de Gaulle chỉ trích họ, nghi ngờ họ và “đâm dao sau lưng chúng ta”. Nhưng trong lúc đó thì họ quên rằng tuy nước Mỹ lúc đó đã trả một tỉ dollar vào trong quỹ tiền của thực dân Pháp – nhưng cũng không tiết kiệm những nghi ngờ và chỉ trích đối với đồng minh Pháp.

Hay như trường hợp ông Ngô Đình Diệm. Năm 1963, nhà “độc tài Công giáo” không tranh cãi của Nam Việt Nam – từng được đưa lên chiếc ghế tổng thống với sự hỗ trợ của Mỹ – trong khoảnh khắc quyết định đã nhìn thấy mình bị những người bạn Mỹ của ông bỏ rơi một các ô nhục: Người Mỹ đứng yên khi những người đảo chánh lật đổ Diệm và người em trai Nhu, bắn chết cả hai và qua đó đã mở đường cho một thời kỳ hỗn loạn của những cuộc đảo chánh quân đội, những cuộc tranh giành quyền lực của Phật giáo, những cuộc đảo chánh ngược, những cuộc nổi loạn trên đường phố và nổi loạn của sinh viên.

Đó thật là một trớ trêu của số phận, khi các nhà báo người Mỹ lại chính là những người đã chuẩn bị cho cuộc lật đổ Diệm thời đó! Những bài phóng sự giật gân rẻ tiền của họ về “đàn áp Phật giáo” đã lan truyền đi khắp thế giới – một truyện cổ tích có sức tác động mạnh đã được sinh ra đời. Lúc ấy thì ai có thể nghĩ rằng những cuộc tự thiêu của các nhà sư không gì khác hơn là một vũ khí đấu tranh chính trị của lãnh tụ Phật giáo cực đoan Thích Trí Quang, người không ngần ngại bơi trong luồng nước của cộng sản để chiếm lấy quyền lực?

Nhà sư lãnh đạo cuộc nổi dậy của Phật giáo, Thích Trí Quang, dẫn đầu một cuộc mít tinh tại Đà Nẵng, Việt Nam, tháng 1 năm 1965 — Hình © Christian Simonpietri / Sygma / CORBIS

Người Mỹ ở Sài Gòn biết rõ nguyên nhân thật sự – nhưng không hành động. Họ thậm chí phải chịu để cho Liên Hiệp Quốc trong phiên họp lần thứ 1280 vào ngày 13 tháng 12 năm 1963 xác nhận điều mà bất cứ quan chức người Mỹ nào ở Sài Gòn cũng biết trước nay: Một sự đàn áp người theo đạo Phật bởi Tổng thống Diệm chưa từng bao giờ xảy ra. Người ta có thể đọc điều này trong bản báo cáo dầy 254 trang mà một ủy ban hỗn hợp được gửi tới Việt Nam riêng cho việc này đã đưa ra. Tài liệu xác thực rõ ràng cho tới mức Liên Hiệp Quốc từ bỏ không theo dõi đề tài này nữa. Liên Hiệp Quốc mà còn như thế!

Người ta có thể nghĩ về Diệm như người ta muốn (và ông ấy mãi mãi sẽ vẫn là một nhân vật gây tranh cãi), nhưng có một điều chắc chắn: Chương trình Ấp Chiến lược của Diệm đã được thiết kế thật tuyệt vời và về lâu dài đưa ra một hy vọng cho an ninh, hòa bình và trật tự trong đất nước Việt Nam. Chương trình này không phát huy được hết tác dụng, điều này có nguyên nhân từ việc tiến hành không đạt yêu cầu, xuất phát từ những thiếu sót mà lẽ ra là phải được xóa bỏ. Ít ra thì Diệm, khi ông ngã xuống dưới làn đạn của những người đảo chánh, cũng có được 25 phần trăm đất nước đứng sau ông – một con số phần trăm đáng kể đối với Việt Nam!

Nhưng như đã nói – Diệm đã chết. Và nước Mỹ cứ ngần ngừ đứng cạnh chiếc giường liệm của ông ấy và trước di sản của ông ấy. Và di sản này là một sự hỗn loạn chính trị chưa từng có. Nó bắt buộc người Mỹ phải làm việc mà họ luôn chùn bước vì hậu quả của nó: leo thang quân sự trong một quy mô phá vỡ mọi sự tưởng tượng.

Hay – nước Mỹ phải rút lui. Vào thời điểm đó thì còn có thể được – ý kiến về điều này khác nhau rất nhiều. Nhưng cái chuỗi đảo chánh và những cuộc rối loạn chính trị ở Sài Gòn đã lấy đi mọi sức sống khỏi chính phủ của Nam Việt Nam, và cả các lực lượng dự bị quân sự cũng đã kiệt quệ. Một cuộc rút lui của người Mỹ trong tình huống đó đồng nghĩa với sự sụp đổ hoàn toàn của đất nước này và sẽ mở cửa cho bạo lực vào trong châu Á. Nó sẽ là kết cuộc của “chính sách Thái Bình Dương” của Mỹ.

Vì vậy mà nước Mỹ quyết định leo thang chiến tranh. Và qua đó, đất nước này đã quyết định đi trên một con đường dài, gian khổ, đẫm máu. “Nhưng đối với chúng tôi thì Viễn Đông thực ra là Viễn Tây”, một chính trị gia cao cấp của Hoa Kỳ ở Sài Gòn giải thích. “Chúng tôi không thể nghĩ đến việc đứng nhìn hàng triệu người của các dân tộc châu Á bị kích động chống lại chúng tôi. Việt Nam có liên quan đến lợi ích sống còn của chúng tôi và an ninh của chính chúng tôi. Chúng tôi không hy sinh hàng ngàn người Mỹ chỉ để thân thiện với người Việt.”

Lần lật đổ Diệm là bước ngoặt đầu tiên đi đến một cuộc chiến tranh quy mô lớn, ác liệt. Và lần leo thang này là cái giá đắt mà nước Mỹ phải trả cho những sai lầm nào đó trước đây.

Chỉ vài tháng sau đảo chánh 1-11-1963, tướng Nguyễn Khánh đã “lật đổ” tướng Dương Văn Minh để lên nắm quyền

Một trong những văn kiện quan trọng nhất của cuộc Chiến tranh Việt Nam nằm trong một chiếc két sắt của Tòa Nhà Trắng – bản sao của bức thư mà Tổng thống Eisenhower ngay sau Hội nghị Geneve năm 1954 đã gửi cho Tổng thống Diệm. Trong lá thư này, Hoa Kỳ cam kết giúp Nam Việt Nam, “trong hy vọng, rằng sự giúp đỡ này – cùng với những nỗ lực của Ngài (của Diệm) – có thể góp phần tác động để tạo nên một nước Việt Nam độc lập, vững chắc với một chính phủ mạnh mẽ.”

Eisenhower giữ lời hứa: Ông ấy gửi 685 cố vấn quân sự sang Việt Nam. Nhưng 685 người lính có nghĩa lý gì tại một đất nước mà trong đó hàng ngàn người lính đỏ – những người ngược với các thỏa thuận Geneve đã không rút lui ra miền Bắc – tiến hành một cuộc chiến tranh du kích kiểu Mao Trạch Đông? Diệm thúc giục Eisenhower. Nhưng khi người này trao chức vụ tổng thống lại cho John F. Kennedy năm 1960, thì “lực lượng quân sự” của Mỹ ở Việt Nam bao gồm đúng 785 người. Gần bảy năm liền, Hoa Kỳ đã không vượt quá con số cố vấn quân sự ở Việt Nam đã được ấn định tại Geneve, mặc dù Bắc Việt Nam vi phạm hiệp định liên tục!

Tuy nhiên – Kennedy tiếp nhận một cam kết trên giấy trắng mực đen mà Eisenhower đã còn đưa ra năm 1959: tăng cường con số cố vấn quân sự. Thế là ông ta đã thực hiện những gì người tiền nhiệm đã hứa – con số cố vấn Mỹ được tăng lên 2000 người. Vào thời gian này, có 151.000 người thuộc quân đội Nam Việt Nam, 48.000 người thuộc lực lượng bảo an tỉnh và 40.000 thuộc về lực lượng dân quân làng.

Con số này hoàn toàn không đủ. Nếu như chương trình Ấp Chiến lược muốn hoạt động được, nếu như người ta muốn bảo đảm an ninh cho nông dân, cho kinh tế và cả công nghiệp thì quân số phải được tăng lên. Vì cả Việt Cộng cũng mạnh hơn trước: 15.000 người lính chính quy và tròn 40.000 du kích. Với quân đội đó, họ kiểm soát nhiều phần rộng lớn của đất nước, vì có một quy tắc ước chừng cho cuộc chiến tranh du kích: “Ai muốn chiến thắng du kích thì phải có quân lính nhiều hơn gấp mười lần.” Và Nam Việt Nam không có số quân đó.

Tức là người ta cần thêm ít nhất hai trăm ngàn quân lính – và tất nhiên là nhiều cố vấn quân sự hơn nữa. Cuối năm 1962 đã có 11.000 người Mỹ đóng quân ở Nam Việt Nam.

Năm 1963 mang lại thất vọng tồi tệ nhất. 16.500 người lính Mỹ đóng quân tại Việt Nam khi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ McNamara táo bạo đưa ra dự đoán: “Tình hình đã bình thường trở lại. Sự can thiệp mạnh mẽ của chúng ta đã mang lại kết quả. Từ bây giờ trở đi, chúng ta sẽ giảm quân số. Trước Giáng Sinh 1965, phần lớn các chàng trai của chúng ta sẽ lại có mặt ở nhà.”

Nhưng ông Bộ trưởng đã không tính đến người cộng sản: trong đồng bằng sông Cửu Long khó đi lại – trước nay là vùng đất được du kích quân ưa chuộng – cũng như trên cao nguyên vắng vẻ ở miền Trung Việt Nam, họ đã bắt đầu thành lập có hệ thống một quân đội du kích.

Mối đe dọa Nam Việt Nam đã trở nên nguy hiểm chết người. Và sự thách thức người Mỹ cũng đã rõ ràng. “Chúng ta đã chiến thắng người Pháp – chúng ta cũng sẽ chiến thắng những tên cướp từ Hoa Kỳ”, Đài Phát thanh Hà Nội tuyên bố. Sự lạc quan này dường như không phải là vô căn cứ: Lực lượng của người Mỹ không bảo đảm được an toàn. Chỉ cố gắng lắm mới giữ được các thành phố – nông thôn thuộc về phiến quân.

Vì quân đội Nam Việt Nam không qua được thử thách: được xây dựng quá nhanh, quá vội, họ không đủ khả năng tạo cho mình sự kính nể. Còn ngược lại nữa: hàng chục ngàn người đào ngũ, đơn giản đi về nhà, vì họ đã chán ngán việc phải chết cho nước Việt Nam. Sự cam chịu đã âm thầm lan đi trên khắp đất nước bị hành hạ này. Không phải Việt Cộng là những người nắm toàn bộ quyền lực hay sao? Tất nhiên – họ thống trị bằng đe dọa, khủng bố và tống tiền. Họ dường như có mặt ở khắp nơi. Quân đội chính phủ thì ngược lại – họ xuất hiện vào ban ngày, nhưng đêm đêm thì họ lại ngồi trong căn cứ của họ và bỏ mặc hàng triệu nông dân lại cho số phận của họ.

Chỉ có thể là một câu hỏi về thời gian, cho tới khi Việt Cộng công khai nắm lấy quyền lực…

Trong tình huống đó, nước Mỹ phải quyết định. Và bắt buộc phải là quyết định của một người – Lydon B. Johnson, giờ đây là tổng thống Hoa Kỳ.

Johnson từ Texas quyết định tăng quân: cho tới cuối 1964, quân đội Mỹ được tăng lên đến 23.000 người, 1965 có thêm 67.000 người nữa. Đó là năm mà quân đội Mỹ lần đầu tiên trong lịch sử của cuộc chiến này từ vị trí phòng thủ đã chuyển sang thế tấn công.

Giữa tháng 7 năm 1967 – lúc này lực lượng quân đội Mỹ đã tăng lên đến 466.000 người – tổng thống Johnson tuyên bố: “Thêm 80.000 quân nhân sẽ được gửi sang Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là tăng cường cho quân đội chiến đấu.” “Ở đó có từ ngữ leo thang”, Dean Rusk nói, “nhưng nó dường như chỉ được dành riêng cho Hoa Kỳ và đồng minh của họ. Bắc Việt đã đưa bảy sư đoàn thâm nhập vào miền Nam – nhưng ở đây thì không ai nói về một sự leo thang nào cả. Từ một năm nay, phía bên kia đặt mìn tại Cảng Sài Gòn. Nhưng nếu như chúng tôi làm cùng điều đó với Cảng Hải Phòng – thì tôi có thể tưởng tượng được rằng khắp nơi người ta sẽ đổ tội leo thang cho chúng tôi.”

Dường như là hòa bình không còn có cơ hội nào nữa ở Việt Nam. Vì miền Bắc không muốn biết gì về đàm phán và miền Nam thúc giục Mỹ tăng quân số lên 800.000 người.

Vì vậy mà Việt Nam đã trở thành biểu tượng cho thời kỳ rối rắm, bất lực của chúng ta. Việt Nam là sự leo thang của tình thế tiến thoái lưỡng nan và của sự tuyệt vọng…

Mỗi một phút của cuộc chiến tốn 164.000 Mark

“Leslie! Flareship 7 gọi Leslie!” Tiếng gọi đi qua không trung lần thứ ba trong đêm nay. Ở đâu đó trên vùng rừng rậm tây nam Đà Nẵng, một đơn vị này tìm đơn vị kia – Flareship tìm Leslie. Vì Flareship là một chiếc máy bay trực thăng của người Mỹ, cái chiếu sáng màn đêm bằng những mặt trời nhỏ, sáng rực, đong đưa dưới những cái dù lụa. Và bây giờ thì khu rừng sáng lên dưới ánh sáng vàng rực rỡ và hé lộ bí mật của nó – những hình bóng đen tối, đang chạy. Việt Cộng đang chạy trốn vì mạng sống của họ…

Nhưng cơ hội bằng không. Vì tiếng gọi của Flareship 7 đã đến được với Leslie. Và Leslie là một cặp đôi chết người: hai chiếc Skyraider gắn đầy bom, đủ cho cả một thành phố, cũng như một chiếc Dacota “mở”, mà ba khẩu “súng tí hon” của nó bắn 18.000 phát trong vòng một phút – một cơn mưa chì và chết chóc, trong tiếng lóng của lính bộ binh được gọi là “Puff, con rồng ma” [“Puff, the Magic Dragon”]. Bây giờ thì cả ba đang bay đến – được gọi dưới mã Leslie.

Chiếc Douglas AC-47 Spooky – Puff the Magic Dragon – đang bắn.

“Này, Leslie, nghe đây”, tiếng nói rè rè từ tai nghe. “Anh đến từ hướng mười giờ. Pháo sáng đã có. Ba bom khói đúng ngay mục tiêu. Anh chỉ cần trúng đích nữa thôi.”

Rồi tiếng ồn vang khắp khu rừng – một cơn bão chết chóc. Kéo dài bảy phút. Goliath săn lùng David. 28 Việt Cộng chết trong đêm đó cách Đà Nẵng 35 ki-lô-mét về phía tây nam. Con số này là “body–counted” – đếm xác chết, như đại úy Jim Graham khẳng định khi lính cổ da Mỹ đến được khu vực đó trong rừng rậm, nơi đã là chiến trường trong bảy phút. Và chỉ cách đó ba ki-lô-mét, những người lính cổ da gặp thêm 12 xác chết nữa – cũng “body–counted”. 12 nông dân – bị trói và bịt miệng – đã chết dưới dao của Việt Cộng vì họ không chịu giao ra gạo của họ. Bây giờ thì họ nằm cách nhau chỉ ba ki-lô-mét – những người nông dân đã chết và Việt Cộng đã chết.

“Trong khi ấy thì chắc chắn là họ sẽ đưa gạo ra cho chúng”, viên đại úy nói, “nếu như họ còn gạo. Họ không chịu đưa ra vì không còn dự trữ nữa. Họ phải chết vì họ không còn gì cả. Thật là một cuộc chiến khốn nạn, ghê tởm…”

Tại Trung tâm Báo chí ở Đà Nẵng, những người chết của đêm đó không tạo nên một cái tít báo nào. Người ta đã quen thuộc với chuyện ấy – trong vùng của Quân đoàn I này lúc nào cũng có tiếng súng. Người ta đánh mất mối tương quan. 28 Việt Cộng chết có là gì, 12 nông dân chết có là gì? “Thật ra thì những tên Việt Cộng chết không quan trọng”, một hạ sĩ quan ghi nhận những báo cáo mới nhất ở đây nói. “Quan trọng là súng tịch thu được, đạn dược, gạo. Mấy thứ đó mới gây đau. Đối với Charlies (ở đây họ gọi Việt Cộng là vậy) thì một khẩu súng máy vẫn có giá trị nhiều hơn là một trăm người lính. Ngày mai thì những người lính này sẽ được thay thế. Nhưng mà vũ khí – ở đây thì họ phải cần nhiều tháng, cho tới khi nhận được thay thế…”

Cửa ra vào được mở ra trong lúc câu nói chưa chấm dứt. Hai nhà báo. “Có chuyện gì, các anh?” viên hạ sĩ quan hỏi. Nếu như người ta không biết rằng đó là đồng nghiệp thì có lẽ người ta đã cho đó là hai người lính – bộ quân phục dơ bẩn, những gương mặt đầy mồ hôi… “Có thứ hay ho trong hộp này đấy”, một người nói và đập vào chiếc máy quay phim của mình. “Ác liệt đấy”, người kia lầm bầm. “Rồi còn chuyến bay về nữa chứ….”

Họ đã ở Quảng Trị. “Chiến dịch Hickory” là tên của hoạt động này của Sư đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến. Mục đích là tiêu diệt hai trung đoàn Bắc Việt đã bám rể trong rừng rậm dưới khu vực phi quân sự. “Hết sức khó khăn – lính Thủy Quân Lục Chiến đã đi vào đúng giữa một cái bẫy.”

Trong khi đó thì lúc đầu chỉ có vài ba phát súng nổ. “Chạm địch phía trước”, viên trung đội trưởng báo cáo về qua vô tuyến. Nhưng chỉ vài phút sau đó, người ta thấy rằng quân địch đang tháo chạy. “Chúng tôi đang bám theo”, cuộc đàm thoại vô tuyến cuối cùng từ phía trước báo cáo. Rồi súng nổ vang – khắp chung quanh. Mãi tới lúc đó, lính Thủy Quân Lục Chiến mới nhận ra mình đã đụng phải trận địa của một trung đoàn địch. “Trận đánh kéo dài mười ngày”, ông bạn đồng nghiệp nói. “Người Bắc Việt có 403 người chết. Nếu như kể cả những người chết đã được mang đi khỏi trong lúc còn giao tranh thì ước chừng ít nhất là 650.”

“Còn tổn thất của chúng ta là bao nhiêu?” ai đó hỏi từ phía sau. Một trong hai người lôi quyển sổ ghi chú ra. “Cao, mẹ kiếp, cao đấy”, anh ta lầm bầm. “Sáng nay họ mới cộng hết lại – 119 Thủy Quân Lục Chiến chết, 817 bị thương. Và còn một vài người mất tích.”

“Có thể ghi họ vào danh sách người chết rồi”, viên hạ sĩ quan nói. “Tôi còn chưa nhìn thấy ai trở về từ bên đó…”

Chiến dịch Hickory: Lính của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 4 TQLC Mỹ đang đứng trước lô cốt của quân đội Bắc Việt. Ngày 18 tháng 5 năm 1967.

Tối tối, người ta ngồi trong một quán rượu nhỏ, hay cái mà người ta gọi là quán rượu – một góc ốp gỗ ở cuối gian nhà. Người ta nhìn trừng trừng vào màn hình hay vào ly Whisky. Cái chính là – người ta có không khí trong lành. Vì trong những gian sảnh ngủ – sáu giường, một cái vòi hoa sen tắm nhỏ nước từng giọt một, một cái nhà vệ sinh – người ta sẽ chết ngạt dưới cái vòm bởi sự nóng nực và khó chịu: 35 độ, 93 phần trăm độ ẩm, muỗi vô giới hạn. Tức là người ta thích đi vào quán rượu hơn, có máy điều hòa. Ở đó thậm chí còn có thuốc viên ngừa sốt rét không mất tiền nữa. Và tất nhiên là tin tức mới nhất…

“Chuyến bay trở về ra sao?” có ai đó muốn biết. Hai người từ Quảng Trị nhìn nhau. “Kể đi”, một người nói và gật đầu về phía đồng nghiệp của anh ta. “Không có gì để kể đâu – tôi chỉ có thể nói: chúng tôi buồn nôn.”

Trước đi nói tiếp, anh ấy rồi lên một chiếc ghế gỗ. “Chúng tôi đã ngồi trong chiếc trực thăng rồi và muốn bay về – lúc đó có một viên đại úy đến và nói to: ‘Này, chờ đã – còn có vài người bay cùng đấy!’ Và rồi mười phút sau, ông ấy mới quay trở lại với người của ông ấy. Tôi thật ra chẳng có gì để kể nhiều cả: những người muốn bay cùng, đó là các xác chết – 15 lính Thủy Quân Lục Chiến đã chết. Họ hy sinh trong chiến đấu như thế nào thì họ nằm đó y như thế. Viên đại úy nhìn chúng tôi và nói: ‘Xin lỗi – nhưng họ phải bay cùng. Hai giờ nữa có một chiếc Boeing bay về Mỹ. Và nó sẽ mang họ theo cùng đi về nhà. Các anh biết đấy – chúng ta không để ai trong số các chàng trai của chúng ta ở lại đây.’ Vâng, thế đấy. Ông ấy kéo đóng chiếc cửa trực thăng lại và chúng tôi khởi hành thật cẩn thận, vì người ta không thể thắt dây an toàn cho người chết. Nhưng đó có nghĩa là gì chứ: chúng tôi ngồi đó trong chiếc trực thăng chật chội, đóng kín và những người línhThủy Quân Lục Chiến đã chết cứ nhìn trừng trừng chúng tôi với nhửng con mắt mờ đục. Rồi còn không khí trong đó nữa – đơn giản là hết sức đáng sợ…”

Trong khoảnh khắc, không ai nói từ nào. Vì ai trong số họ cũng đều có thể tưởng tượng được điếu ấy như thế nào, khi bay trong một chiếc trực thăng đầy người chết.  Và họ cũng quen thuộc những hình ảnh khác nữa – những chiếc Boeing ở rìa sân bay, bay qua lại liên tục giữa Việt Nam và Mỹ: những người lính chết, những người lính sống – bay về, bay đi…

Không ai ngủ được ban đêm – vì căng thẳng, nóng nực và tiếng ồn. Súng cối và pháo binh bắn quanh Đà Nẵng, bom rơi, và những khẩu súng máy tạo thành nền nhạc nhỏ hay những tay súng thiện xạ ở Cửa Việt cạnh dòng sông chảy chậm chạp ngang qua các gian nhà của Trung tâm Báo chí ra biển Đông. “Mệnh lệnh nghiêm ngặt đấy, mấy vụ bắn súng ở bờ sông”, Frank Roberts nói, người viết cho “Tạp chí Cổ Da”. “Mấy tay súng thiện xạ bắn vào tất cả những gì trôi nổi trên sông – gỗ, giấy, bao thuốc lá, rác. Tất cả những gì chuyển động hay có thể nhìn thấy được trên mặt nước đều bị bắn. Chúng tôi đã phải trả một đống tiền học phí ở đây đấy.” Với bàn tay giơ thẳng ra, anh ấy chỉ đến cây cầu đôi lớn nối liền hai phần của Đà Nẵng lại với nhau. “Cái này đã nổ tung hai lần cho tới nay rồi. VC (Việt Cộng) đơn giản là để cho gỗ trôi xuôi theo giòng sông. Nhưng đó không phải là gỗ – ở dưới đó có treo mìn. Phân nửa Đà Nẵng đã giật mình rơi xuống giường khi cái trụ cầu nổ tung. Kể từ lúc đó là có vụ bắn chặn này. Mỗi đêm người ta bắn vài ngàn viên đạn ở đây…”

Nhưng cả Việt Cộng cũng tham gia: những tay thiện xạ ngụy trang không bắn gỗ trôi trên sông mà vào những mục tiêu di động khác ở bên kia dòng sông lớn. Và vì vậy mà khi nghe tiếng súng, không ai biết được đó là một phát súng của Việt Cộng…

Kể từ khi những người lính cổ da – tên chính thức là “Lực lượng Viễn chinh thứ Ba TQLC” – đổ bộ lên Vùng I Chiến thuật vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, vùng này đã thuộc vào những vùng đất bị giành giật ác liệt nhất tại Việt Nam. Có không ít người cho rằng cuộc chiến này không được quyết định ở Đồng bằng sông Cửu Long mà là ở đây – tại năm tỉnh phía Nam của vùng đệm cạnh vĩ tuyến 17.

“Nếu như chúng tôi có thể mang lại an ninh cho phần đất này”, Thiếu tướng Donn J. Robertson, tư lệnh Sư đoàn 1 Lính Cổ da, nói, “thì Việt Cộng sẽ bị khóa dòng chảy tiếp tế từ Bắc Việt Nam và chúng tôi có thể tập trung vào những vùng khác. Cho tới chừng nào chưa đạt được điều đó, thì một phần đáng kể của lực lượng chúng tôi bị ràng buộc ở đây và Việt Cộng ở phía Nam luôn có thể thở lấy sức.”

“Khả năng tiến đến thành công về mặt quân sự là thật sự có”, Frank Roberts bổ sung cho lời nói của người tướng của anh. “Có 2,6 triệu người sống ở đây trong Vùng I Chiến thuật. Trước khi lính cổ da đến thì đây là vùng của Việt Cộng. Ngày nay đã có 1,1 triệu người dân sống dưới những điều kiện mà người ta có thể gọi là an toàn.”

Lính TQLC Mỹ đứng trên đồi 881 Bắc sau trận chiến ác liệt kéo dài 9 ngày gần Khe Sanh, Việt Nam, vào ngày 3 tháng 5 năm 1967. (Ảnh AP)

74.000 lính cổ da và 76.000 lính của quân đội Nam Việt Nam có nhiệm vụ “quét sạch” Việt Cộng và các sư đoàn của Bắc Việt Cộng sản ra khỏi Vùng I chiến thuật theo chiến thuật “Tìm và Diệt”. Đặc biệt lính cổ da – có tỷ lệ tổn thất cao nhất trong Chiến tranh Việt Nam – đã tự chứng tỏ mình như là lính chữa cháy: Trong vòng hai năm đã thực hiện 200.000 lần đi tuần tra, 82.000 lần tập kích vào các vị trí của quân địch, 100.000 lần oanh kích, 734.000 chuyến bay trực thăng – thống kê chính thức là như vậy. Frank còn có thể bổ sung thêm: “Trong thời gian đó chúng tôi đã tịch thu được 3900 vũ khí, phá vỡ hàng trăm trại tiếp tế và kho đạn dược, bắt 2100 tù binh và giết chết 22.000 du kích quân.”

Người ta không thể diễn đạt lòng can đảm qua những con số – người ta chỉ có thể bày tỏ sự kính trọng nó. Nhưng lợi thế về vật chất có thể  diễn tả được qua tính toán. Vì thế mà câu hỏi sau đây là hết sức tự nhiên: “Thế thì đã phải tốn kém bao nhiêu cho nổ lực khổng lồ về vật chất này?” Frank Roberts lật trang trong quyển sổ ghi chú đầy thống kê của anh. “Toàn bộ cuộc chiến cho tới nay đã khiến cho chúng tôi tốn tròn 52 tỉ dollar”, anh nói. “Máy tính của chúng tôi thậm chí đã tính toán cho từng phút một: Mỗi một phút của cuộc chiến này khiến nước Mỹ tốn 41.000 dollar – theo tiền của các anh thì là 164.000 Mark…”

Ở bên kia – ở bờ bên kia – tiếng súng nổ vang qua màn đêm. Những chiếc pháo sáng mạ vàng bầu trời và rừng nguyên thủy chung quanh Đà Nẵng. Ở nơi bom nổ, ánh sáng lóe lên sáng như ban ngày trong một khoảnh khắc – cuộc chiến có mặt ở khắp nơi. Một câu nói chơi chữ đã thành hiện thực: Ở Việt Nam, không nơi nào súng bắn nhiều như khắp nơi ở Việt Nam…

Tôi phải nghĩ đến Tướng Robertson – và về cuộc trao đổi với ông ấy. Đó là một khóa học ngắn hạn với câu kết luận gây kinh ngạc, rằng “việc này có thể kéo dài 20 năm nữa”. “Việt Nam có đáng cho nổ lực khổng lồ này, có đáng hoạt động này với cái giá phải trả là sinh mạng của người Mỹ hay không?” tôi đã hỏi vị tướng như thế. Ông ấy đã bước tới tấm bản đồ bọc nhựa hiển thị tình hình sư đoàn của ông mà con số lính cổ da tử trận trong những ngày vừa qua đã được viết trên đó bằng nét chữ đậm. “Có và không”, vị tướng trả lời. “Vấn đề ở đây không phải là Việt Nam. Chúng tôi chiến đấu ở đây vì chúng tôi chống lại bạo lực và xâm lược nhiều hơn. Người cộng sản Bắc Việt đã bí mật đưa vũ khí, đạn dược, cán bộ và quân đội vào miền Nam nhiều năm trời, để chiếm lấy quyền lực bằng khủng bố và bạo lực. Nếu như phương pháp này trở thành điển hình thì bất cứ sự xâm lược nào rồi đây cũng tự do tiến tới. Chúng tôi đã đưa ra lời hứa bảo vệ cho 40 nước trên Trái Đất này. Nam Việt Nam là một trong những nước đó. Đất nước này bị tấn công từ bên ngoài – tức là chúng tôi phải thực hiện lời hứa. Nếu như chúng tôi không làm điều đó – thì một lời hứa của Mỹ còn có nghĩa lý gì ở thế giới này?”

“Chúng tôi tròng vào cổ sự việc này”, Frank Roberts nói, tháo giày ủng ra và đu đưa chân trần trong làn nước ấm của sông Cửa Việt. “Và có lẽ chúng tôi sẽ tròng nó vào cổ nhiều năm dài. Nhưng chúng tôi có thể làm khác đi không? Đây không phải là một cuộc nội chiến – đây rõ ràng là một cuộc xâm lược! Và tôi chỉ có thể hỏi những người cộng sản đang xuyên tạc mọi việc ở đây: Liên bang Xô viết sẽ làm gì nếu như bảy sư đoàn Tây Đức phát động một cuộc chiến ở giữa nước Đức? Họ sẽ ném người Tây Đức ra ngoài…”

Có lẽ cuộc trao đổi về đêm này còn kéo dài nhiều giờ nữa, nếu như trong khoảnh khắc đó không xảy ra điều mà ở Việt Nam có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào trong bất cứ giây phút nào – một viên đạn bay đến găm vào trong thân cây sát ngay trên đầu chúng tôi. “Một trong những tay thiện xạ”, Roberts làu bàu. “Bắn sát mặt nước tới mức viên đạn chạm xuống rồi bay loạn cả lên. Không thể là Việt Cộng được – bờ bên kia an toàn kia mà.”

Nhưng đó là Việt Cộng. Vì chỉ vài giây sau đó là có phát súng kế tiếp. Không có tiếng đạn rít, không có tiếng réo – không có gì cả. Chỉ một tiếng “phập”, và vữa của bức tường cạnh bờ sông văng tung tóe quanh tai chúng tôi. “Cẩn thận!” Roberts hét to và kéo giật tôi xuống sàn xi măng. Một khẩu súng máy bắt đầu bắn ở bên phải chúng tôi.

“Điều điên rồ của cuộc chiến này”, một đồng nghiệp nói sau lúc đó, “chính là việc chúng ta không biết ai là đối thủ và hắn ta ẩn nấp ở đâu. Trong số 15 triệu người ở đây có chưa tới 300.000 Việt Cộng. Nhưng họ giống như một con ma – họ ở khắp nơi và không ở nơi nào cả. Ở đây thì người nào cũng giống nhau – tất cả họ đều có nụ cười giống nhau và mặc quần áo giống nhau. Nhưng thống kê đã tính toán: Trong số 100 người Việt thì có hai người chắc chắn là Việt Cộng. Nhưng cho tới nay, trong tất cả những năm vừa rồi, thì chúng ta chỉ thất bại tại mỗi một điều: tìm ra ai là hai người đó trong số một trăm người…”

“Hừm, anh đã có một bộ quân phục rồi”, hạ sĩ McLanny nói vào sáng ngày hôm sau trong trụ sở bộ chỉ huy sư đoàn. “Anh sẽ cần đến nó đấy. Trước đây, anh có biết không – nhà báo đến đây trong chiếc áo thể thao của họ. Họ vừa mới đi ra ngoài thì đã có tiếng súng bắn ‘peng’ – một tên Việt Cộng nào đó đã nhắm tới họ. Thì cũng đúng thôi: Chúng nhìn thấy mười người lính và bất chợt ngay ở giữa đó là một chàng trai thể thao. Tất nhiên là hắn nổi bật lên. Rồi có tiếng ‘peng’ – như đã nói, thế là chúng tôi phải tìm cách đưa anh chàng đó ra phía sau…”

Bộ quân phục xuất phát từ COFAT. Đó là một trong những cửa hàng đó của Mỹ mà người ta có thể tự trang bị mình cho chiến tranh – nếu như có một giấy phép. Các nhà báo nhận được giấy phép này từ Commander Moorhead của Hải quân Hoa Kỳ. Theo giấy phép đó, người ta, “phù hợp với AR 700-8 400-1, phần 4, điều 26, và dựa trên công văn của MACJ 42-SU, được phép mua các vật dụng sau đây: hai chiếc áo dã chiến, hai chiếc quần lính, một đôi giày ủng đi trận, một chiếc nón dã chiến, bốn đôi tất có lớp lót.” Sự biến đổi từ nhà báo sang GI với tất mang lớp lót có giá là 28 dollar…”

“Bộ quân phục thì được rồi đó”, McLanny nói, “còn nón sắt thì sao? Tất nhiên là người ta cũng có thể đi mà không có nó. Tùy theo anh muốn điều gì nhiều hơn: Không có nón sắt thì nghe tốt hơn, có nón thì an toàn hơn.”

Nhưng an toàn có nghĩa là gì ở Việt Nam kia chứ? Người ta cũng cần phải ngủ với cái nón sắt à? Sáng sớm hôm nay trong lúc bình minh ở Huế thì sao? “Những tên Charlies đê tiện đó”, McLanny chửi rủa. “Đúng năm giờ là chúng thình lình nã súng cối vào chỗ chúng tôi ngủ. Tất nhiên là không ai đưa được cái mũi lên khỏi hố. Và thế là trong khi súng bắn che như thế, 20 tên Việt Cộng bơi qua sông bằng một cái bè – ngay giữa trong thành phố. Vài phút sau đó có một cái khách sạn nổ tung. Sau đó, người ta phát hiện ra rằng có một vài người lính của chúng tôi trong số những người chết – mặc dù mấy anh chàng đó không được phép ngủ qua đêm trong khách sạn. Nếu như họ ít nhất là có một cái nón sắt thì chắc chắn là đã không bị những mảnh tường vụn ấy đập chết.”

Thế là hạ sĩ McLanny rút ra kết luận: “Trong đất nước này thì ngủ với nón sắt tốt hơn là ngủ với gái…”

Bây giờ còn thiếu cái được gọi là “cantine-belt” – cái thắt lưng với hai bi đông nước. “Anh sẽ cần chúng đấy”, người hạ sĩ cảnh báo. “Trong rừng rậm người ta quý từng giọt nước một – ngay cả khi nó hâm hẩm.” Và cả đại tá Derryberry – người mà chỉ cần nói “yes” thôi là người ta đã ở trong rừng rồi – cũng lưu ý. “Không có ‘belt’ thì không được đâu. Và ngoài ra thì anh nên mặc một cái flak jacket – một cái áo chống đạn. Chúng tôi sẽ đưa cho anh một cái flak jacket. Nó tuy nặng 9 kílô nhưng đã cứu mạng cho nhiều người rồi đấy.” “Tổn thất có cao không đại tá?” tôi hỏi. “So với địch thì không”, ông ấy trả lời và nhìn nhanh vào tài liệu. “Nhưng chúng tôi tham chiến càng nhiều thì tất nhiên là nó sẽ càng tồi tệ hơn. Nhưng có một điều lý thú là: Thống kê của chúng tôi đã cho thấy người cộng sản nói dối. Họ luôn khẳng định rằng sự leo thang của người Mỹ chính là nguyên nhân của cuộc chiến, cuộc chiến mà chỉ là một cuộc đấu tranh chống lại “những tên cướp biển Mỹ, những tên xâm lược và đế quốc” – theo như họ nói. Nhưng thật sự thì chính sự khủng bố của những người cộng sản mới đưa đất nước này đến bờ của sự hỗn loạn, đặc biệt tồi tệ chính là trong những năm mà chúng tôi hầu như không tham chiến ở đây.”

Viên đại tá giở thống kê trải ra trên bàn. Thống kê tính theo năm như sau: Từ 1954 đến 1961, người Mỹ có hai người chết ở Việt Nam. “Trong bảy năm đó, chúng tôi không bao giờ có hơn 700 cố vấn trong nước”, Derryberry giải thích, “nhưng điều kỳ lạ là – dường như không có ai trên thế giới biết đến điều đấy. Vì chính trong những năm đó, những người cộng sản với sự trợ giúp của Hà Nội đã sử dụng bạo lực mà tình trạng ngày nay đã phát sinh từ đó: Họ giết chết chỉ riêng dân thường thôi là 13.700 người – phần lớn là các nhân vật lãnh đạo.”

Trong những năm tiếp theo sau đó, tỷ lệ tổn thất của người Mỹ vẫn thấp: 1961: 11, 1962: 31, 1963: 78 và 1964: 147. Mãi cho đến khi các đơn vị chiến đấu được đưa sang – “vào thời điểm mà người cộng sản đã tuyên bố chiến thắng cuối cùng của họ rồi” – thì con số người Mỹ tử trận mới tăng vọt: 1965: 1369; 1966: 5008 và cho tới 1.7.1967: 4356. “Cuộc chiến này đã trở nên ác liệt cho tới đâu”, Đại tá Derryberry nói, “việc đó có thể nhận thấy ở so sánh, rằng trong năm 1967 chúng tôi đã có nhiều tổn thất hơn là trong các năm 1954 đến 1966 cộng lại.”

Những tổn thất khác còn ghê gớm hơn: Cho tới giữa năm 1967, quân đội Nam Việt Nam có 64.000 người tử trận – Việt Cộng cũng như Quân độiNhân dân Bắc Việt Nam, quân đội mà đã đưa bảy sư đoàn thâm nhập Nam Việt Nam, có 242.000 người tử trận!

“Người ta có thể kể thêm vào đó hàng chục ngàn người”, viên đại tá kết thúc đề tài, “vì phần lớn người chết của Việt Cộng được họ chôn ngay trong thời gian của trận đánh cho nên chúng tôi không ghi nhận được. Thống kê này đây” – ông gấp tờ giấy lại – “chỉ đưa ra con số tổn thất body-counted – tức là đếm từng xác chết một. Có bao nhiều người chết sau đó vì những vết thương của họ – ai có thể nói được?”

Và ai có thể nói được cuộc chiến sẽ tiếp tục ra sao? Mặt trận ở Việt Nam đã trở nên cứng rắn cho tới mức ngay cả người chết cũng không còn là lời cảnh tỉnh nữa. “Hòa bình có nghĩa là gì?” đài phát thanh Hà Nội tuyên bố. “Những lời nói của Mỹ về nỗ lực tìm kiếm hòa bình chỉ là một bước đi tội phạm tiếp theo để che đậy việc leo thang chiến tranh. Nếu cần thiết, chúng ta sẽ chuẩn bị cho một cuộc chiến kéo dài năm mươi năm.” Đối lại với những lời nói này là một câu nói duy nhất của Mỹ. Dean Rusk đã đưa ra nó vào ngày 6 tháng 7 năm 1967: “Khi những người đến từ miền Bắc trở về nhà của họ – thì rồi quân đội của chúng tôi cũng rút lui.”

Có thể đơn giản như vậy đấy. Nhưng Hà Nội không màng đến lô-gíc lẫn người chết. Ở đó chỉ có một điều là quan trọng: Người ta không được phép bị mất mặt. “Yêu cầu hai người cãi nhau hãy thống nhất”, một thành ngữ của đất nước này nói như thế, “cũng vô vọng như hỏi mượn lược từ hai người hói đầu…”

Thảm kịch trong thung lũng Tieu Duc

Thật ra thì họ đang trên đường đi tìm gạo. Thay vì vậy, họ tìm thấy những người lính. “Này, Sam – tôi có cảm giác trong rừng không ổn. Thế nào rồi?” Thượng sĩ O’Neil của Trung đoàn 7 TQLC báo cáo qua máy liên lạc vô tuyến đa kênh của anh ấy. Vài giây sau đó, một tiếng rè rè phát ra từ cái hộp nhỏ “Okay, hiểu rồi. Các anh đang ở đâu?” O’Neil cầm lấy tấm bản đồ. “Chúng tôi hiện đang ở khu BT 1129, nhắc lại: BT 1129.”

Vài phút sau đó, nhóm người lính nghe được tiếng động ù ù trên đầu họ. “Này Sam – anh đang ở ngay trên đầu chúng tôi đấy”, O’Neil thì thầm vào mi-crô. “Có nhìn thấy gì không?” Chiếc máy bay nhỏ chậm chạp lượn vòng. “Dường như có nhiều người đang đi lại ở dưới đó”, viên phi công cho hay. “Tôi phải bay đi đây, nếu không thì chúng sẽ bắt đầu lo ngại đấy. Còn các anh thì tốt hơn cũng nên gài số lui đi.”

Thượng sĩ O’Neil tập hợp hai trung đội của anh lại. “Nghe này, cẩn thận lùi về phía sau. Ở trước đang có nhiều người đi lại. Ngưng cuộc đi tuần.” Trước khi những người lính cổ da rút lui, O’Neil còn cầm lấy chiếc máy liên lạc vô tuyến thêm một lần nữa. “Nghe đây, knocker – Đội đi tuần chạm địch. Forward air controler báo có nhiều quân địch. Chúng tôi rút lui.” Báo động được đưa ra tại bộ chỉ huy trung đoàn – lan qua bên không quân, pháo binh quân đoàn và máy bay trực thăng.

Bắt đầu từ giờ phút đó, họ không còn có cơ hội nào nữa – hai trung đoàn Bắc Việt mà đang hành quân cẩn thận và hầu như không gây ra tiếng động nào qua thung lũng Tieu Duc cách Đà Nẵng 60 ki-lô-mét về phía tây nam.

“Chiến dịch “Union II” bắt đầu…

TQLC Mỹ trong Chiến dịch Union II

“Trước đây hai năm thì khác”, Đại úy Jim Graham nói, người mà vào ngày hôm qua đã tìm thấy các xác chết của Việt Cộng cách đây tới 25 ki-lô-mét và bây giờ thì đang dẫn đội tiền quân. “Lúc đó, chúng tôi còn cần tới nhiều ngày để dẫn đủ quân đến. Có đúng không?”

Tôi không có thời gian để đưa ra những lời nói dông dài. Cái áo giáp đáng ghét này, bị làm nặng thêm bởi những bình nước của cái “cantine-belt – tôi mừng là nói chung tôi vẫn còn thở được. “Đúng rồi”, tôi trả lời, “lúc đó hoàn toàn khác.” Và tôi thầm nhớ lại: Lúc đấy, cho tới khi họ báo động các trung đoàn, cho tới khi họ chuẩn bị xong xuôi – những việc ấy kéo dài tưởng chừng như vô tận. Rồi họ đè bẹp khu rừng với cỗ máy chiến tranh của họ – và hầu như lúc nào cũng tiến quân vào chỗ không người. Quân địch đã biến mất…

“Với chiến thuật mới thì Việt Cộng và người Bắc Việt không có cơ hội”, Graham nói. “Chúng tôi đã trả giá nhưng chúng tôi cũng rút ra được những bài học cho chúng tôi.”

Người Mỹ đúng là đã rút ra được nhiều bài học. Phương thức rất đơn giản: chiến thuật và kỹ thuật. Nhờ vào máy liên lạc vô tuyến đa kênh mà hàng trăm tiền đồn và đội thám thính bất cứ lúc nào cũng có thể liên lạc được với máy bay thám thính, trực thăng, máy bay ném bom và trọng pháo. 1800 chiếc máy bay trực thăng ở Việt Nam – nhiều hơn số trực thăng toàn bộ khối Đông Âu có – có thể ném toàn bộ nhiều trung đoàn vào những điểm nóng trong vòng vài giờ. Ngay cả súng cối, xe tăng, pháo và hàng tiếp liệu nặng nhất vẫn được máy bay chở vào trận đánh trong thời gian ngắn nhất. Đồng minh mạnh nhất và quan trọng nhất của du kích qua đó đã bị vượt qua – không còn có rừng rậm là rào cản nữa.

Điều đó cũng có thể thấy được ở chiến dịch Union II: chỉ cần vài giờ – thế rồi nhiều trung đoàn của Quân đội Nhân dân Bắc Việt đã bị bao vây. Tính cơ động bằng máy bay đã chiến thắng họ, trước khi họ có thể bắn một phát súng…

Đại úy Graham đã ở Việt Nam từ chín tháng nay. Anh đã dự nhiều trận đánh, được xem là “lính cũ”. Anh ta quá quen những chiếc bẫy mìn và biết rằng trái dừa có thể nổ tung và mỗi một lon đồ hộp bị vứt đi chắc chắn sẽ được cải biến thành một quả bom. Ai muốn chỉ huy một đại đội cổ da ở Việt Nam thì phải là một anh chàng cứng rắn và từng trải. Và Grahan, 32 tuổi, là một người như vậy.

“Bây giờ thì anh lui xuống sau một chút”, anh ta noói. “Chúng ta đang hành quân dần vào ngay giữa quân địch. Trông giống như muốn tự sát – nhưng chỉ là trông giống như thế thôi. Khi họ cắn câu và tấn công chúng tôi thì coi như đã thua rồi. Vì họ không biết rằng chúng tôi đang đi dưới một vòm hỏa lực. Chúng tôi luôn có liên lạc vô tuyến. Phát súng đầu tiên – rồi thì quanh đây là địa ngục.”

Vì rình rập ở phía sau “con chim mồi” này là cả một giàn hỏa lực đang xác định vị trí nhóm tiền quân nhỏ bé đó từng phút một: súng cối, súng pháo, pháo dã chiến, trực thăng chiến đấu, máy bay cường kích, máy bay phản lực.

Đó là một cuộc tấn công ma quái – tiến sâu về phía trước một cách dường như là bất cẩn. Đó là sự chờ đợi phát súng đầu tiên…

Có ba người đi đầu tiên hết thảy: một người Việt, hai lính Cổ da. Họ phải thu hút hỏa lực về phía mình. “Truong” – đó là tên của con người Việt Nam nhỏ bé đó, mảnh khảnh, trông giống như một cậu thiếu niên nhưng đã 32 tuổi. “Truong có mũi như một cái máy dò”, một lính Mỹ thì thào nói, “hắn ngửi được địch trước khi có ai đó nhận ra được hắn.”

Anh Truong này, mà bây giờ mọi hy vọng đều dựa lên người anh ta, chợt đứng lại. Những cây đước ở phía trước che chắn cho anh ta. Nhóm của Graham –  40 mét ở sau ba con chim mồi – đã tìm chỗ để chiến đấu. Các khẩu tiểu liên M-16 tạo thành một vòng tròn 360 độ – người ta không biết kẻ địch ẩn nấp ở đâu. Trong khoảnh khắc này, anh chàng Truong nhỏ bé xuất hiện. “Bị bao vây rồi”, anh ta thì thào nói, “chúng mình đang ở giữa người Bắc Việt. Phát báo động đi.”

“Chạm địch ở ba mặt”, đại úy Grahman báo nhỏ vào máy vô tuyến. Nhiều giây trôi qua. Grahma đã ấn một cái khăn tay lên máy vô tuyến để làm giảm âm thanh. Rồi câu trả lời đến từ phía sau. “Nằm yên. Trực thăng đang khởi hành. Mười hai phút nữa tiền quân trung đoàn sẽ liên lạc với anh. Rồi bắn pháo sáng màu xanh để báo hiệu khai hỏa, hỏa lực sẽ ở bắn ở hướng chín giờ và ba giờ. Khoảng cách an toàn là 500 mét.”

“Rõ”, Graham nói. Nhóm lính chung quanh nằm bất động trong những bụi cây rừng. Bây giờ là thời điểm quyết định xem phỏng đoán ấy có đúng không. “Hàng trăm người là ít nhất”, Truong nói. “Còn có tất cả là bao nhiêu người đang nằm chờ phục kích thì không ai biết được…”

Họ đã chờ lệnh báo động này từ nhiều giờ qua. Người này thì chơi bài, người kia ngồi trong những chiếc ghế bành của phòng trực. Hầu như không ai nói gì. Chỉ có một lần, một phi công nói: “Đám Thủy Quân Lục Chiến lên tiếng được rồi đấy, trước khi súng ống rỉ sét mất.” Nhưng không có ai cười, vì tất cả họ đều biết rằng lực lượng Thủy Quân Lục Chiến cách đó 60 ki-lô-mét đang đối đầu với nhiều khó khăn…

“Có ai biết lực lượng Bắc Việt gồm bao nhiêu người không?” ai đó muốn biết và nhìn quanh. “Trinh sát báo cáo có hai trung đoàn”, một Chief Master Sergeant [trung sĩ trưởng] nói, người chịu trách nhiệm bảo trì những chiếc Skyraider. “Nhưng điều không tiền phương [Forward Air Controller – FAC] tin rằng còn có thêm một trung đoàn nằm ở một căn cứ phía sau nữa. Nếu nắm được cả trung đoàn này thì tạm thời thung lũng Tieu Duc sẽ yên ổn.”

“Yên ổn với an toàn, chỉ toàn nói vớ vẩn”, một phi công làu bàu, “cho tới khi nào chúng ta không trụ lại trong những vùng này thì sẽ không có an toàn. Chiến thuật tạo áp lực tối đa trong thời gian tối đa lên quân địch là vô nghĩa. Tất cả phải có hệ thống nhiều hơn nữa: Đầu tiên là phải tìm cho ra 90 căn cứ chính ấy mà hàng chục ngàn người chúng nó đang ở đó. Đồng thời thì ở khắp nơi trên nước phải bắt đầu tấn công vào các lực lượng chính của Việt Cộng và Bắc Việt – và khi hạ tầng cơ sở cũng còn bị phá hủy nữa thì tôi thật muốn biết chúng nó sẽ định làm gì nữa? Nhưng cứ như thế này thì chúng ta phân tán lực lượng ra cho vào chiến dịch và hàng ngàn cuộc tuần tra. Nếu gặp may thì diệt được một trung đoàn và rồi lại trở về. Rồi xảy ra điều gì? Sau hai tháng chúng lại lần mò qua vùng đấy và mọi việc sẽ lại như cũ…”

Không có ai phản đối. Họ đã ở trong đất nước này quá lâu để mà không tự biết rằng cuộc chiến này phức tạp hơn tất cả những cuộc chiến trước đó. Chiến thuật “Tìm và Diệt” tuy đã lấy đi sinh mạng của trên hai trăm ngàn du kích quân – nhưng không vì vậy mà họ ít đi hơn trước. Trong “Trung tâm Đỏ” ở Do Xa – cách Sài Gòn 500 ki-lô-mét về phía Bắc – tổng hành dinh đỏ trước sau vẫn hoạt động mà không hề bị quấy nhiễu. Và ở đồng bằng sông Cửu Long – nơi một phần ba người dân Nam Việt Nam sinh sống – có ba sư đoàn Nam Việt Nam, Sư đoàn 7, 9 và 21, đóng quân và vật lộn với Việt Cộng vẫn còn chiếm giữ nhiều vùng rộng lớn của đồng bằng này.

Nhưng vấn đề là ở đây: Vùng đồng bằng sình lầy, bị hàng ngàn sông rạch chia cắt, giống như một miến bọt biển khổng lồ – nó có thể hấp thu vào nhiều quân lính hơn là người Mỹ, kể cả người Nam Việt Nam, có thể đưa ra.

“Phải thay đổi chiến lược”, một đại úy nói. “Việc tồn tại song song giữa ARVINS (quân đội Nam Việt Nam) và chúng tôi phải chấm dứt. Cần phải có một bộ tổng chỉ huy chung. Chúng tôi phải tấn công – ARVINS phải “quét và giữ”. Chỉ như thế thì chúng ta mới có một cơ hội thật sự. Rồi như thế thì dưới tấm khiên che chắn của quân đội, người ta mới có thể phát triển những chương trình hòa bình mà cho tới nay đã thất bại vì thiếu an ninh…”

Trong khi các phi công trong phòng trực còn đang thảo luận, tiền quân của Trung đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến đã bắt liên lạc được với toán quân đi đầu. “Đã nối được liên lạc”, câu nói vọng ra một cách khô khan từ cái loa trong bộ chỉ huy sư đoàn. “Pháo sáng xanh thì thế nào?” viên tướng muốn biết, nhưng không nhận được câu trả lời – tín hiệu của đại úy Graham vẫn vắng bóng cho tới lúc đó. “Thế thì tấn công!” viên tướng quyết định sau khi suy nghĩ trong vài khoảnh khắc. “Chú ý – Chiến dịch Union”, viên sĩ quan ở cạnh máy vô tuyến sư đoàn nhắc lại nhiều lần, “Chiến dịch Union – time zero, time zero!”

Trong cùng giây đồng  hồ đó, cú đấm hỏa lực đã được chuẩn bị trước nhiều giờ qua cuối cùng cũng dập xuống: Pháo binh của quân đoàn, súng cối, pháo dã chiến – họ bắn từ tất cả những gì họ có. Từ sân bay ở Đà Nẵng, các phi công lao lên buồng lái những chiếc Skyraider gắn đầy bom của họ và cả một vài chiếc phản lực Intruder cũng lao đi trên đường băng bay vào chiến trận trên khu rừng rậm. Những chiếc trực thăng “gunships” – đã khởi hành trước đó 30 phút – cẩn thận tiếp cận thung lũng Tieu Duc từ hai phía, để sau khi pháo binh bắn xong thì sẽ tham gia vào cuộc chiến trên mặt đất với vũ khí được trang bị, 24 rốc-két ở cả hai bên và mỗi bên một khẩu 4mm.

Nhưng họ không thể ngăn chận được tấn thảm kịch trong thung lũng Tieu Duc…

“Chúng đang siết dần chúng ta lại, thưa đại úy”, Truong thì thào nói với Graham nằm cạnh anh, “nếu trung đoàn không xuất hiện ngay thì chính chúng ta phải tấn công.” Graham không ngần ngừ giây phút nào: “Tỏa ra!” anh ra lệnh cho người của anh. “Chúng ta tạo một vòng tròn phòng thủ. Bắn khi nhìn thấy địch quân đầu tiên.”

Truong là người bắn phát súng đó. “Tôi nhìn thấy một cái nón ở bên phải tôi, cách khoảng 20 mét”, anh tường thuật lại sau này. “Tôi nhắm thấp hơn một chút rồi bóp cò.” Sau đó, một cơn mưa đạn từ hơn một trăm khẩu súng của người Bắc Việt ập lên nhóm lính nhỏ này – đúng khoảnh khắc khi tiền quân của Trung đoàn tiến đến.

Những người lính Cổ da không còn có thời gian để tỏa ra – hỏa lực phục kích buộc họ phải tìm chỗ nấp.

Trong giây phút ấy, viên đạn trúng vào đại úy Graham. Điều đó xảy ra như thế nào, sau này không ai có thể nói được. “Tôi chỉ nhìn thấy đại úy bất thình lình ngã xuống đằng trước”, một hạ sĩ quan nhớ lại. “Rõ ràng là đại úy muốn tìm chỗ nấp an toàn hơn trong một cái hào nhỏ. Viên đạn hẳn phải trúng vào người đại úy trong lúc đó. Đại úy lảo đảo, nhưng còn chạy được khoảng chừng mười mét trước khi ngã xuống. Thật đáng sợ.”

Mãi sáu giờ đồng hồ sau đó họ mới lấy được xác của viên đại úy – cuộc tập kích của người Bắc Việt, khôn khéo nằm giữa làn hỏa lực và những người lính Thủy Quân Lục Chiến xung phong lên, dữ dội tới mức đó. Tổn thất cao: vào ban đêm của ngày chiến đấu đầu tiên có 55 lính Cổ da hy sinh, 164 người bị thương. Tổn thất của địch quân không biết được cho tới khi họ ngưng chiến đấu. Đó là ba ngày sau cuộc tập kích. Mãi tới lúc đó, người ta mới biết được toàn bộ quy mô của trận đánh: 694 người Bắc Việt đã nằm lại trong thung lũng Tieu Duc…

“Tổn thất của chúng tôi – vào cuối Chiến dịch Union là 99 người hy sinh và 222 bị thương – đáng lẽ ra đã cao hơn nhiều”, một trung tá của Thủy Quân Lục Chiến giải thích, “nếu như không phát huy được Chương trình Kit Carson mới của chúng tôi. Các Kit Carsons đó đã làm được những việc thật đáng khâm phục…”

Kit Carson của rừng xanh

Không có người Mỹ nào mà không biết những huyền thoại của Kit Carson – chàng trai Miền Tây biết hết mọi thủ đoạn của người da đỏ và đã lập nhiều công lao vô giá cho người da trắng trong cuộc đấu tranh chống người da đỏ.

Đó là những người lính Cổ da, những người đã nhớ tới Kit Carson khi ở Việt Nam. Chiến thuật phục kích của đối phương và sự thông thạo địa phương hết sức chắc chắn của họ, sự thành thạo kỹ thuật du kích, hiểu biết về cách đặt bẫy mìn – đó là những gì luôn tạo ra tổn thất cao cho những người lính Cổ da. Ưu thế vật liệu và hỏa lực giúp ích được gì khi mà lực lượng chiến đấu rơi vào những cái bẫy chiến thuật của du kích quân? “Cho tới chừng nào mà chúng tôi không phát hiện được đủ sớm phương pháp của quân địch – thì chúng tôi sẽ luôn bị phục kích”, trung tướng Walt, viên chỉ huy của 74.000 lính Cổ da trong Quân đoàn I. “Chúng tôi phải đánh họ bằng chính phương pháp của họ.”

Điều đó có nghĩa là: người ta phải chiêu dụ được người từ hàng ngũ của đối phương, những người sẵn sàng mang kinh nghiệm của mình ra để phục vụ. “Chương trình Kit Carson” ra đời như thế đó, một chiến thuật thuần túy của lực lượng Cổ da – gây tranh cãi, nhưng đạt nhiều thành công.

Tròn 150 Kit Carson hiện giờ đang chiến đấu trong hàng ngũ của Thủy Quân Lục Chiến. Anh Truong 32 tuổi là một người trong số họ…

Lính Thủy quân lục chiến Mỹ được một Kit Carson Việt Nam dẫn đầu trong Chiến dịch Oklahoma Hills, khoảng ngày 31 tháng 3 năm 1969.

“Quê tôi là làng Xin Hoa”, Truong nói trong âm điệu như hát của người Việt. “Tôi có một mảnh đất nhỏ ở đó, nhờ nó mà tôi vừa đủ sống. Vào một ngày nào đó, chính phủ kêu gọi người Việt trẻ tuổi hãy tự nguyện tham gia một chương trình bình định nông thôn. Những người đi chiêu dụ cũng vào làng chúng tôi. “Truong”, họ nói, “anh yêu làng của anh, đất đai của anh, quê hương của anh. Nếu như anh muốn bảo tồn chúng thì anh phải làm điều gì đó cho chúng. Mọi người Việt đều phải hy sinh một ít trong những năm này. Thế nào – có gia nhập hay không?” Tôi không có sự chọn lựa lớn nào cả – thế là tôi đi với họ. Tôi được huấn luyện sáu tuần liền.”

“Trong một trại lính, giống như huấn luyện quân sự à?”

“Trại lính ư?” Truong mỉm cười. “Đó là một vài ngôi nhà xập xệ trống trải có kẽm gai bao quanh. Những người huấn luyện chúng tôi đến từ mọi tấng lớp nghề nghiệp. Người ta giải thích cho chúng tôi cách sử dụng một khẩu súng, nhắm bắn như thế nào. Nhưng người ta không cho chúng tôi đạn thật – trong khóa huấn luyện trước có đã có vài người ngắm bắn tệ cho tới mức họ đã bắn trúng nhiều người huấn luyện. Quan trọng nhất là một khóa đào tạo cấp tốc về cứu thương, xây cầu và về tưới tiêu – tất cả những gì quan trọng cho một cuộc sống mới trong làng. Vâng, thế rồi chúng tôi bắt đầu hoạt động.”

Nhóm của Truong vào một ngôi làng gần An Hòa trong vùng Đà Nẵng. Vài ngày trước đó, ngôi làng vừa mới được giành lại từ Việt Cộng – bây giờ là phải thực hiện chính sách xây dựng của chính phủ. “Chúng tôi đã có nhiều thành công tốt đẹp”, Truong nhớ lại. “Chúng tôi đã xây một trường học, một hệ thống thủy lợi – và trước hết là một hệ thống phòng thủ mang lại an toàn cho ngôi làng cả về ban đêm. Nếu như Việt Cộng muốn vào thêm lần nữa…”

Tất nhiên là họ cố vào thêm một lần nữa. Trong một đêm không trăng, họ lén bò qua hàng dây kẽm gai. Nhưng hàng rào kẽm gai đã được gắn với những cái bẫy tạo tiếng động: Trước khi Việt Cộng qua được hàng rào cản đầu tiên, họ đã được chào đón bằng hỏa lực dữ dội của súng cá nhân. “Họ vướng trong hàng rào kẽm gai như những tấm bia bất lực”, Truong nói. “Người ta không thể bắn trật được. Chính tôi đã giết ba người trong số họ.”

Truong được chính phủ khen thưởng vì việc đó và được phép trở về Xin Hoa với vợ con trước thời hạn…  

“Xin Hoa là một làng không đỏ cũng không trắng”. Truong nói. “Chúng tôi không có Việt Cộng và họ cũng hiếm khi xuất hiện, Quân đội chính phủ cũng vậy.”

Nhưng chỉ bốn ngày sau khi Truong trở về, Việt Cộng thâm nhập vào Xin Hoa sau nửa đêm. Đầu tiên, họ yên cầu gạo. Rồi người chỉ huy của họ hỏi: “Truong Kinh đâu?” Những người nông dân sợ hãi đã dẫn họ đến nhà của Truong. “Mày đã làm việc xuất sắc đấy”, người đàn ông trong bộ quần áo bà ba đen nói, cố ý nhỏ giọng. Rồi hắn ta móc khẩu súng ngắn ra khỏi bao và ra lệnh: “Đi trước đi, đi ra ngoài.”

Họ dẫn anh đi qua làng, qua những cánh đồng, đi vào rừng. Ở đây có những Việt Cộng khác đang chờ. Họ cùng nhau đi bộ hai giờ đồng hồ. Không một ai nói từ nào với Truong. Mãi trong một ấp nhỏ – một ấp nông dân –  người ta mới dừng lại. “Đấy”, người chỉ huy Việt Cộng nói với Truong, “bây giờ thì mày nhìn kỹ cây cọc này đi.” Với khẩu súng ngắn, hắn đẩy Truong đang hoảng sợ đi ra phía sau một ngôi nhà. “Người đàn ông mà mày nhìn thấy ở kia”, người Việt Cộng nói, “đã có tên là Tran Van Dung. Nó cũng giống như mày – chiến đấu cho chính phủ và bắn chết vài người của chúng tao. Nhưng chúng tao đã giết được nó. Còn về phần của mày: bây giờ chúng tao cũng bắt được mày. Nhưng chúng tao cho mày một cơ hội: hoặc là ngay từ bây giờ mày chiến đấu trong hàng ngũ của chúng tao – hay là…” Trong lúc đó hắn dùng cây súng ngắn chỉ đến cái cọc. Cắm ở trên đầu cọc là cái đầu đã bị chặt ra của người đàn ông đã từng có tên là Tran Van Dung.

“Nếu anh là tôi thì anh sẽ làm gì?” Truong hỏi, nhưng anh ấy không chờ câu trả lời.

“Họ tịch thu thẻ căn cước của tôi – và qua đó tôi đã trở thành một tên Việt Cộng.

Vì bất cứ ai không có thẻ căn cước ở Việt Nam đều bị xem như là Việt Cộng. Ít nhất thì bị nghi ngờ…

Hai tháng trời, Việt Cộng huấn luyện anh về chiến tranh du kích trong một trại ở trong rừng rậm. Rồi Truong thành thạo kỹ thuật gài mìn, các dấu hiệu bí mật và nghệ thuật sống hàng tuần ở dưới mặt đất. Anh là một Việt Cộng toàn hảo. Toàn hảo cho tới mức sau nửa năm anh đã được thăng chức trưởng nhóm. Qua đó, anh chỉ huy 12 du kích quân tự tiến hành “chiến tranh nhỏ” – kiểm soát làng mạc, thu lương thực, tập kích những đơn vị nhỏ của quân đội chính phủ cũng như thu thuế đường lộ.

“Chúng tôi cứ đơn giản ngăn một vài tỉnh lộ vắng và thu tiền”, Truong nhớ lại. “Chúng tôi lấy 700 đồng cho một chiếc xe chở củi, 10.000 đồng cho một chiếc xe chở gỗ xây dựng. (Thu nhập trung bình của một người Việt ở Sài Gòn hàng tháng là từ 3500 đến 5000 đồng.) Tiền phí cho một chiếc xe buýt là 2500 đồng – ngoài ra mỗi người thêm 10 đồng. Thỉnh thoảng, có những ngày chúng tôi thu được 50.000 đồng. Ai không chịu trả tiền sẽ bị bắn chết. Nhưng điều đó hầu như không bao giờ xảy ra…”

Vấn đề chỉ xuất hiện khi họ hết đạn. “Lấy đạn từ quân đội chính phủ”, đó là chỉ thị từ sở chỉ huy. Truong và người của anh tuân lệnh. Họ thành công được hai lần, nhưng đến lần thứ ba thì họ rơi vào bẫy – nhóm này bị tiêu diệt. Chỉ còn Truong sống sót.

“Lính của chính phủ vung dao trước mặt tôi”, Truong nói. “Nhưng rồi có một viên đại úy tới, lúc đó họ tha cho tôi. Người ta mang tôi vào trong một trại thẩm vấn. Từ đó sang một trại khác mà ở đó đã có hàng trăm Việt Cộng rồi. Một ngày nào đó, họ mang vợ tôi đến. Vợ tôi khóc khi nhìn thấy tôi. Và rồi vợ tôi nói rằng đứa con trai út của chúng tôi đã chết – bị một nhóm Việt Cộng giết chết. ‘Họ muốn có gạo’, vợ tôi kể, ‘nhưng mình còn không có đủ cho mình nữa. Thế là họ bắt Nguyen đi cùng. Sáng hôm sau, người ta phát hiện con mình nằm chết ở rìa làng.’ Trong khoảnh khắc đó, tôi quyết định phải trả thù…”

Truong trải qua một trại cải tạo. Một ngày nào đó, người của Thủy Quân Lục Chiến đến. “Anh có phải là Truong Kinh không?” họ hỏi. “Đúng vậy”, con người 32 tuổi trả lời. “Chúng tôi biết câu chuyện của anh”, người của Thủy Quân Lục Chiến nói. “Chúng tôi tìm những người như anh.” Và rồi họ giải thích cho anh chương trình Kit Carson. “Anh không buộc phải tham gia nếu anh không muốn”, những người lính Cổ da nói – nhưng Truong muốn.

Anh trải qua một khóa huấn luyện đặc biệt ở Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến. Sau đó, Truong lại ra chiến trường. Lần này thì với lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ.  “Anh ấy là một trong số những người tốt nhất của chúng tôi”, như viên chỉ huy Trung đoàn nói. “Lần ra trận đầu tiên, anh ta đã phát hiện ra những dấu vết bí mật của Việt Cộng trong một ngôi làng. Chúng tôi đi theo dấu vết đó và phát hiện ra 16 du kích quân cũng nhưng một kho gạo chứa 5 tấn gạo. Và trong chiến dịch Union thì Truong là một trong những người gan dạ nhất trong số hàng ngàn người – riêng anh đã diệt được 53 quân địch. Nếu không có sự dũng cảm của anh ấy và không có tài phát hiện của anh ấy thì tổn thất của chúng tôi chắc chắn đã cao hơn rất nhiều.”

“Anh không sợ”, tôi hỏi Truong, “Việt Cộng bắt được anh vào một ngày nào đó sao?”

“Có chứ”, Anh ấy trả lời, “tôi sợ chứ. Nhưng không có con đường nào khác cho tôi. Dẫu tôi có làm gì đi nữa – khi họ bắt được tôi thì họ sẽ chặt đầu tôi…”

Câu hỏi không lời đáp: Làm sao thắng được cuộc chiến này?

“Kit Carson” chỉ là một trong những chương trình quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý và xã hội đó, cùng với nhau, hỗ trợ cho nhau và bên cạnh nhau, những chương trình mà với chúng, người Mỹ cố gắng – như Tổng thống Johnson có lần diễn đạt – chấm dứt “tình trạng tiến thoái lưỡng nan đẫm máu ở Việt Nam”. Một nhóm chuyên gia ở bên kia Thái Bình Dương suy nghĩ điên đầu để tìm kiếm một con đường an toàn, nhanh chóng và danh dự cho tất cả các bên – và hàng trăm ngàn bộ não úng thủy trong chính phủ Mỹ, trong các trung tâm ở hậu phương và hậu cầu ở Việt Nam bận bịu làm việc với một sự hăng hái giống như của các nhà truyền đạo cho cái mục đích gần này, cái nằm ở thật xa.

Vì Việt Nam không phải là Mỹ. Những ý tưởng thành công của một xã hội máy tính phát triển cao chắc chắn phải thất bại ở một đất nước mà người dân của nó từ hàng chục năm nay bị chia xé, bị hành hạ, bị đe dọa và bị rạn nứt về đạo đức, những người hoàn toàn không đáp ứng được những yêu cầu để thực hiện thậm chí là các chương trình “ngu ngốc đến đâu cũng làm được”. Ở Việt Nam, điều ấy được xác nhận thêm một lần nữa, điều mà những người hiểu biết châu Á đã biết được từ lâu rồi: Những ý tưởng tốt đẹp nhất của Phương Tây không thể thành công ở Viễn Đông.

Một đoàn xe tiếp tế ở Pleiku

Bởi vì vậy mà đầu tiên và trực tiếp thì chỉ có một bên hưởng lợi từ cái chương trình khổng lồ đó của các biện pháp giúp đỡ: kẻ địch. Qua nhiều kênh đen tối của cái đất nước bị bỏ bùa mê này, hắn ta là kẻ cùng dự phần trong bóng tối ở tại hầu hết mọi đầu tư của Mỹ. Qua tống tiền, trộm cướp, tham nhũng và mua bán chợ đen, Việt Cộng lấy từ người Mỹ những gì họ cần, từ tiền mặt cho tới đồ hộp, để ít nhất là có thể sống lây lất qua ngày. Đường mòn Hồ Chí Minh – quân lính và vũ khí thâm nhập vào miền Nam trên con đường này – khó có thể bị ngăn chận như thế nào nào thì những kênh bí mật đó cũng khó có thể bị chận lại như thế đó.

Đó là một cái vòng luẩn quẩn: Tăng cường về vật chất cho miền Nam đồng thời cũng là một sự tăng cường cho Việt Cộng. Họ có thể tự cho phép mình – mặc dù về mặt quân sự hoàn toàn không có một cơ hội nào – nói rằng: “Thời gian làm việc cho chúng tôi.”

Vì ở Việt Nam, những cú muỗi đốt của du kích quân là đủ để gây sự bất an. Việt Cộng biết điều đó – và đó là chiến thuật của họ. Ý nghĩ về cuộc cách mạng – bùng cháy từ “sự căm phẫn của nhân dân” – trước sau thì cũng đã bị mang đi chôn rồi. Và thậm chí đến Hà Nội cũng không dám mơ tới một chiến thắng ở một trận chiến trực diện. Câu khẩu hiệu bây giờ là phải sống còn.

Việt Cộng vẫn là những người đi chân đất chống lại cỗ máy của một cường quốc thế giới…

Để có thể hiểu được những vấn đề mà ngay cà một cường quốc thế giới cũng phải đối mặt với chúng trong một cuộc chiến tranh như vậy, người ta phải bắt đầu từ ở tuyến sau. Ở đây, con số gây mê hoặc đó phải được chuyển hóa thành hành động, cái con số mà thế giới bị nó mê hoặc: “Người Mỹ tốn mỗi ngày 60 triệu dollar cho cuộc chiến ở Việt Nam.”

“Tổng số đó chỉ là một con số khô khan”,  thiếu tướng C. W. Eifler, chỉ huy “1st Logistical Command” – tổ chức hậu cầu khổng lồ của người Mỹ ở Việt Nam, nói. “Đứng ở phía sau đó là một cỗ máy cung cấp mà chúng tôi chưa từng biết tới trong lịch sử của chúng tôi. Ở chín cảng, hằng tháng chúng tôi dở 500.000 tấn hàng tiếp tế quân đội và phân phối chúng đi cho tới mảnh đất xa xôi nhất của đất nước này. Mỗi một ngày, sáu chiếc tàu biển rời Hoa Kỳ và bắt đầu cuộc hành trình ba tuần đến Việt Nam. Cứ mỗi phút người ta bốc hàng xuống ít nhất là từ 48 chiếc tàu ở Việt Nam. Phi đoàn vận tải của không quân cũng như 400 chiếc tàu ven biển tiếp nhận việc chuyển tiếp. Thêm vào đó, chúng tôi sử dụng 4000 chiếc xe tải của Lục Quân. Chỉ riêng chúng hằng tháng đã chạy trên 10 triệu ki-lô-mét  – và đó là trong một đất nước hầu như không có một mạng lưới đường sá.”

Bộ Chỉ huy Tiếp vận Mỹ – với những căn cứ chính ở Sài Gòn, Cam Ranh và Qui Nhơn – đến Việt Nam trong tháng 4 năm 1965. Vào thời điểm đó, có 35 sĩ quan và người lính thuộc Bộ Chỉ huy – ngày nay là 58.000 người! “Người lính thì chiến đấu, chúng tôi thì giữ cho anh ấy khỏe”, viên tướng nói, “từ chúng tôi, anh ấy nhận đủ ‘beans, bullets and black oil, to do his job’ [đậu, đạn và dầu đen, để làm công việc của anh ấy]. Và người lính chiến đấu chưa từng bao giờ được ăn ngon như thế trong một cuộc chiến như ở Việt Nam.”

“Chiến dịch Attlebor” – 90 ki-lô-mét Tây Bắc Sài Gòn – cho thấy việc đó hoạt động trong trường hợp khẩn cấp như thế nào. “Chúng tôi cần khẩn cấp nhiên liệu cho xe tăng của chúng tôi, đạn dược và vũ khí hạng nặng”, tiếng kêu cứu qua vô tuyến của nhóm quân chiến đấu, “bất ngờ đụng độ với quân địch mạnh.” Sau đó, những chiếc máy bay vận tải Hercules của Không Quân cất cánh từ nhiều phi trường. Trong vòng hai giờ, họ chở 60.000 lít nhiên liệu cũng như 1000 tấn đạn dược và vũ khí vào trong khu rừng rậm Tây Bắc Sài Gòn!

“Từ nước uống qua lựu đạn cho tới tiểu thuyết trinh thám – chúng tôi chịu trách nhiệm cung cấp đúng thời hạn cho mọi thứ ở Việt Nam”, thiếu tướng Eifler nói. “Chiến tranh trong một đất nước nhiệt đới đã đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn mới cho tiếp vận.” Ngoài những thứ khác, Bộ Chỉ huy cung cấp hằng tháng cho “lực lượng vũ trang của thế giới tự do”:

250 triệu lít nhiên liệu – một lượng đủ để cho 30 chiếc xe ô tô Mỹ chạy 4000 năm, mỗi năm 20.000 ki-lô-mét;

45.000 tấn đạn dược, từ cỡ nhỏ nhất cho tới bom 1000 kg;

15 triệu khẩu phần ăn cũng như 2,5 triệu bánh mì được làm từ 12 cơ sở làm bánh mì dã chiến;

190.000 quyển sách, 182.000 tạp chí và tròn 8 triệu tờ báo.

Bên cạnh phục vụ về y tế (Khẩu hiệu: “Bất cứ người bị thương nào cũng nằm trong tay của một chuyên viên trong vòng 25 phút”), “1st Logistical Command” còn lo tìm đất đai, xây nhà cũng như quản lý các dự án. Chỉ riêng cho tiền mướn nhà là đã phải chi 25 triệu dollar.  Để cho người lính đang chiến đấu không bị thiếu thốn vũ khí và trang bị, một “Hệ thống Bóng Đỏ” được thiết lập: Hằng ngày, phụ tùng thay thế được máy bay chở thẳng về Mỹ và được sửa chữa hay thay thế trong vòng một tuần. Ngay cả những việc vụn vặt cũng không bị quên lãng: 36 “cơ sở giặt dã chiến” giặt và làm sạch mỗi tháng năm triệu cân Anh quân phục của các lực lượng chiến đấu, và 60 phòng tắm di động mang lại cho sự thoải mái cực độ cho những người lính Mỹ chiến đấu trong rừng rậm: mỗi tháng một triệu lần tắm bồn!

“Thêm vào đó, chúng tôi chuyên chở bằng máy bay hằng ngày 35 tấn trái cây và rau tươi từ vùng cao ở Đà Lạt đi khắp nơi trên nước Việt Nam”, thiếu tướng Eifler kết thúc đề tài. “Những người lính của chúng tôi được cung cấp phần ăn tốt nhất có thể có mà một người lính trên thế giới từng có được. Chỉ riêng điều kiện khí hậu là đã buộc chúng tôi phải cung cấp cho trên 90 phần trăm lực lượng chiến đấu với “khẩu phần hạng A”: mỗi ngày gà rán hoặc thịt rán, khoai tây được chế biến theo nhiều kiểu khác nhau, nước xốt, rau cải, xa lát tươi, trái cây và kem ăn. Không người lính Mỹ nào ở Việt Nam mà không được chúng tôi bảo đảm có ít nhất là một bữa ăn nóng trong ngày – và ngay cả khi anh ta đang ở trên chiến tuyến ngoài cùng.”

Tiếp tế được tổ chức trong quy mô lớn cho tới mức con người một mình không còn có thể làm hết được. Trong Bộ Chỉ huy Hậu cần ở Sài Gòn có một trung tâm máy tính điện tử, cái đã nhận lấy nhiệm vụ này. Cho tới ngày nay, trong máy tính ở đây có 238.000 loại hàng tiếp tế khác nhau được ghi nhận. Chỉ cần ấn nút, và thế là hàng tiếp vận sẽ lăn đi…

Sự khác nhau giữa siêu tổ chức của một cường quốc thế giới và những người lính đi bộ luôn phải ứng phó của quân đội du kích chính là nguyên nhân cho sự thảm bại về đạo đức của nước Mỹ ở Việt Nam: Thế giới e ngại theo dõi “sự phô trương quyền lực áp đảo” ở một bên cũng như rùng mình ngưỡng mộ “sự đối kháng đáng khâm phục của Việt Cộng bị săn lùng” ở phía bên kia. Cảm xúc đó cuối cùng đã phủ một tấm màn của xuyên tạc chính trị và nhầm lẫn lên Việt Nam: Không phải Hà Nội và Việt Cộng – những người cho tới ngày nay đã giết chết trên 100.000 thường dân Việt Nam – bị đóng dấu là kẻ xấu, mà lại là Mỹ. Cái cảm giác sâu sắc của thiện cảm giành cho người yếu thế hơn đã bao phủ lên trên mọi số liệu và hiện thực và lại gia tăng sức mạnh cho chính bên luôn luôn khước từ tìm kiếm hòa bình ở tại bàn tròn – Việt Cộng và những người đứng sau lưng họ. Cuộc chiến, nguyên do của nó và tình trạng tiến thoái lưỡng nan của nó đã trượt ra khỏi mọi sự đánh giá khách quan…

Ngay chính khách và giới quân sự Mỹ cũng không thống nhất với nhau lâu nay trong câu hỏi cốt lõi: Làm sao để thắng cuộc chiến này. “Nhiều quân lính hơn, và chúng ta sẽ thắng cuộc chiến này trên phương diện quân sự”, tướng Westmoreland. “Không thể thắng cuộc chiến này về mặt quân sự được – mà phải chiến thắng nó ở phía sau tiền tuyến”, đó là ý kiến của Đại sứ Bunker. “Chỉ những chương trình dân sự của chúng ta mới có thể mang lại quyết định.” Và một đại tá trong Bộ Tổng Chỉ huy của Mỹ ở Sài Gòn, với một tờ giấy nằm dưới tấm lót bàn viết của ông ấy, đã đưa ra một biểu hiện cho sự chán chường thất vọng của không ít người Mỹ: “Nếu bày được mưu mẹo cho tôi, để tôi có thể lừa trả cái đất nước khốn nạn này về lại cho người Pháp – tôi sẽ trả cho anh 100 dollar.”

“Người Mỹ đã quan tâm quá ít đến vấn đề Việt Nam trong một thời gian quá dài”, Lam Chau nói, một thương gia người Hoa khá giả ở trong khu Chợ Lớn thuộc Sài Gòn. “Họ mang đến đây tiền và lối sống Mỹ – nhưng Việt Nam không cần cả hai thứ đó. Con người ở đây tìm kiếm sự an toàn, trật tự và hòa bình – nhiều hòa bình. Và một cuộc sống Việt mới. Nhưng điều đó phải thức tỉnh dậy từ trong nước – không phải từ trên các bàn làm việc của Mỹ. Bởi vậy mà sức mạnh của Việt Cộng đã tăng lên với những sai lầm của người da trắng. Hoàn toàn không phản đối ý định tốt của người Mỹ – nhưng cuộc chiến thật ra chỉ kéo dài cuộc chiến mà thôi…”

Kho hàng và container lạnh ở Sài Gòn của quân đội Mỹ

“Tôi không biết điều gì tệ hại hơn – cuộc chiến hay Việt Cộng”, Tuan Nguyen nói, người làm thông dịch viên cho hội từ thiện Đức Malteser. “Nhưng tôi không thích cả hai, vì đối với tôi, bạo lực không phải là lý lẽ.”

Tuan 25 tuổi, nói tiếng Đức và tiếng Anh trôi chảy và thật ra là một nhà vật lý học. Nhưng người đàn ông trẻ tuổi với gương mặt thẹo này cảm thấy chương trình trợ giúp của người Đức “là một nổ lực và sự trợ giúp thật sự cho Việt Nam – vì nó có ích cho tất cả mọi người.” Vì vậy mà anh đã rời phòng thí nghiệm của mình và tình nguyện trình diện khi người của Hội Malteser tìm một thông dịch viên.

“Thỉnh thoảng tôi nghĩ rằng tốt hơn là người Mỹ nên bỏ rơi chúng tôi – dù ý định của họ có tốt cho tới đâu. Vì vấn đề này cuối cùng thì chỉ có thể được giải quyết bởi người Việt. Miền Bắc và miền Nam phải cùng nhau ngồi vào một bàn – không có Trung Quốc và không có Mỹ ở phía sau. Chiến tranh không thể mang lại sự quyết định. Nó chỉ có thể nhân lên sự chết chóc lớn ở Việt Nam. Và đối với tôi như là một người Việt thì ai chết cũng không khác nhau – tất cả họ đều là đồng bào…”

Tuan không chống người Mỹ. “Tôi chỉ chống lại những sai lầm của họ thôi”, anh nói. “Ví dụ như bao nhiêu chương trình mới được dựng lên đó. Chúng có những cái tên nghe rất hay ho và đứng ở sau chúng là đồng dollar – nhưng ai phải thực hiện những chương trình đó kia chứ? Biết bao nhiêu người nông dân ở đây không biết đọc và không biết viết! Ngay từ đầu là họ đã rơi ra khỏi mọi chương trình đó rồi. Và phần lớn những người này còn không biết chủ nghĩa cộng sản hay công bằng xã hội là gì nữa. Đối với họ, thế giới là một mảnh ruộng mà họ muốn cảy bừa trên đó để có thể sinh sống. Còn những gì khác xảy ra nữa thì họ không quan tâm đến.”

Tuan là một trong số những người Việt Nam mà cảm xúc của họ tựa như một con lắc – nửa ở miền Bắc, nửa ở miền Nam. “Ông phải hiểu rằng”, anh ấy nói, “anh của tôi tham gia Quân đội Nhân dân của Bắc Việt Nam. Anh ấy là thiếu tá Không quân và lái một chiếc MiG 19. Anh ấy hầu như bay không nghỉ để bắn hạ những chiếc máy bay bỏ bom của Mỹ trên Bắc Việt Nam. Trên thực tế, ở bất cứ chuyến bay nào, anh ấy cũng nhắm bắn vào những người bảo vệ tôi – và những người bảo vệ tôi lại bắn vào anh tôi. Thật gần như tâm thần phân liệt vậy…”

Thỉnh thoảng, Tuan nhận được thư của người anh, qua những con đường vòng vo và chậm hàng tuần. “Em Tuan của anh”, trong lá thư cuối cùng có viết, “em ở miền Nam và anh ở miền Bắc. Nhưng cả hai chúng ta đều chiến đấu cho một Việt Nam duy nhất. Nhưng ai đang đứng ở bên sai. Ai hả Tuan?”

“Chiến tranh đứng ở bên sai”, người thông dịch viên 25 tuổi nói. “Cuộc chiến mà không thể giải quyết được những gì chỉ để cho hòa bình giải quyết…”

“Mọi vấn đề đều dựa trên cuộc chiến hiện nay”, Trần Văn Hương giải thích, cựu đô trưởng Sài Gòn, sau Diệm là thủ tướng của đất nước này trong ba tháng và từ ít lâu nay là ứng cử viên dân sự hàng đầu cho chức vụ tổng thống nước Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến mà phải được chấm dứt – và phải được chấm dứt qua thương lượng. Nhưng lần này thì không đạt được hòa bình từ thương lượng giữa Bắc Việt Nam và Mỹ – như 1954 giữa Việt Minh và người Pháp – lần này thì chỉ có thể có hòa bình trực tiếp giữa Bắc và Nam Việt Nam. Hai bên phải bỏ súng xuống trong danh dự, để dân tộc có thể sống được trong tự do và thịnh vượng. Có thể năm hay mười năm nữa thì rồi hai bên sẽ cùng nhau quyết định về câu hỏi thống nhất.”

Người dân Nam Việt Nam nghĩ gì về đề tài này, điều đó thì người ta biết: trong chương trình thăm dò ý kiến lớn nhất từng được tiến hành ở Việt Nam, dựa trên cơ sở của cuộc khảo sát mang tính đại diện trong mùa Xuân 1967, người ta đã nhận được một câu trả lời gây ngạc nhiên trong nhiều điểm…

Người Việt nghĩ gì

Ý tưởng này xuất phát – từ người Mỹ. Giữa năm 1966, Robert Chandler, trong một cuộc họp thường kỳ của công ty truyền thông và truyền hình Mỹ CBS, đề nghị: “Chúng ta nên tiến hành một cuộc thăm dò ý kiến độc lập ở Việt Nam để có được một cái nhìn bao quát về việc người Việt thật sự nghĩ gì về cuộc chiến này.”

Đề nghị của Chandler được tán thành ngay lập tức. Chỉ còn câu hỏi: Nói chung là người ta có thể tiến hành được một cuộc thăm dò mang tính tượng trưng như vậy hay không trong một đất nước còn yếu kém về giáo dục đào tạo như Việt Nam, thêm vào đó còn phải chịu đựng những rối loạn của một cuộc chiến nữa?

Đầu tiên, CBS quay sang nhờ “Opinion Research Corporation of Princeton” ở New Jersey. Các chuyên gia của công ty này và của Đại học Columbia sang Việt Nam làm việc cùng với các đại diện của “Center for Vietnam Studies”, trung tâm mà đã hoạt động trên lãnh vực nghiên cứu ý kiến từ 1958. Kết quả: “Từ những lý do về an ninh, một cuộc thăm dò ý kiến trong những vùng do Việt Cộng kiểm soát là không thể. Ngược lại, trong những vùng do chính phủ kiểm soát thì không có khó khăn gì.” Qua đó, người ta có thể hỏi ý kiến đại diện cho hơn 9 triệu trong số 14 triệu rưỡi người Nam Việt Nam.

Tranh cử ở Sài Gòn trong lần bầu tổng thống và Quốc Hội năm 1967.

Theo những kinh nghiệm từ điều tra dân số và những cuộc thăm dò ý kiến tương tự trong các nước khác, người ta chọn 1500 người Việt có nguồn gốc, nghề nghiệp, học thức khác nhau cũng như từ mọi lứa tuổi và tình trạng gia đình – từ điểm cực bắc của đất nước cho tới đồng bằng sông Cửu Long. Cuộc thăm dò ý kiến bao gồm năm thành phố lớn nhất của đất nước (Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và Đà Lạt) cũng như 55 làng mạc và thôn ấp trong 11 tỉnh. Dưới chủ đề: “Người dân Việt Nam nghĩ gì về cuộc chiến”, người ta đưa ra 52 câu hỏi cho người dân trên khắp miền của đất nước này. Các nhà thăm dò ý kiến đã đi hai tháng trời – một phần trong đó gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm. Đến mùa Xuân 1967, người ta có kết quả của 1413 người được hỏi ý kiến. 304 người trong số họ không được đi học, 618 người đi học từ một đến năm năm và 491 người đi học hơn sáu năm.

“Đây là cuộc thăm dò ý kiến độc lập đầu tiên ở người Nam Việt Nam về quan điểm của họ đối với cuộc chiến”, Charles Collingwood của CBS nói. “Qua đó, lần đầu tiên chúng ta có được một cái nhìn mang tính hiện thực vào trong con tim và suy nghĩ của người dân Nam Việt Nam. Nếu như muốn đúc kết trước kết quả thì người ta được phép nói rằng: Trên nhiều phương diện, quan điểm của nhân dân Việt Nam về cuộc chiến này tương tự như quan điểm của thế giới còn lại – họ muốn chiến tranh kết thúc sớm nhưng không thống nhất về con đường đạt tới mục đích đó”.

Nhân dân Việt Nam nghĩ gì, những gì lay động tâm trí của những con người phải sống chung với chiến tranh từ gần 20 năm nay? Để nhận được trả lời cho câu hỏi này, những điểm quan trọng nhất của cuộc thăm dò ý kiến được ghi lại dưới đây.

Hỏi: “Anh chị cho rằng cuộc sống tốt hơn hay xấu hơn cho anh chị khi so với một năm trước đây?”

Trả lời: Tốt hơn – 25%; xấu hơn – 48%; như một năm trước đây – 27%.

Hỏi: “Anh chị nghĩ một năm nữa cuộc sống của anh chị sẽ tốt hơn hay xấu hơn ngày nay?”

Trả lời: Tốt hơn 26%; xấu hơn – 14%; như ngày nay – 18%; không có ý kiến – 42%.

Hỏi: “Nếu như anh chị có thể bày tỏ ba điều ước mong cho bản thân và gia đình anh chị – anh chị sẽ mong ước gì?”

Trả lời: Công việc làm và thu nhập – 54%; sức khỏe – 9%. (Phần còn lại của những câu trả lời bao gồm những mong ước cá nhân khác.)

Hỏi: “Nếu như anh chị có thể bày tỏ ba điều ước mong cho đất nước của chúng ta – anh chị sẽ ước mong điều gì?”

Trả lời: Hòa bình – 81%; an ninh và thịnh vượng – 3%; thống nhất – 2%, chiến thắng chủ nghĩa cộng sản – 4%; độc lập – 4%.

Hỏi: “Anh chị nghĩ bên nào sẽ chiến thắng?”

Trả lời: Nam Việt Nam và đồng minh – 62%; Bắc Việt và Việt Cộng – 1%; không bên nào sẽ chiến thắng – 5%; không có ý kiến – 30%.

Hỏi: “Theo ý anh chị thì khi nào sẽ hết chiến tranh?”

Trả lời: Trong vòng một năm – 1%; hơn một năm nữa – 11%; hơn hai năm nữa – 7%; hơn ba năm nữa – 6%; hơn năm năm nữa – 9%; không bao giờ – 2%; không có ý kiến – 64%.

Hỏi: “Cứ cho rằng chiến tranh sẽ kết thúc trong thời gian sắp tới đây. Theo anh chị thì ai sẽ là người chiến thắng?”

Trả lời: Nam Việt Nam và đồng minh – 62%; Bắc Việt Nam và Việt Cộng – 0%; không ai sẽ là người chiến thắng – 4%; không có ý kiến – 34%.

Hỏi: “Khi chiến tranh chấm dứt, theo ý anh chị thì người dân có thích nhìn thấy Việt Cộng trong chánh phủ không?”

Trả lời: Có – 6%; không 73%; không có ý kiến – 21%.

Hỏi: “Theo ý anh chị, người dân không thích gì ở Việt Cộng?

Trả lời: Khủng bố và phá hoại – 58%; bóc lột người dân và thu thuế quá cao – 36%; thiếu tự do – 10%; thích chiến tranh – 7%; tuyên truyền dối trá – 6%; không có điều gì hết – 2%; không có ý kiến – 17%. (Một số người được hỏi đưa ra nhiều điểm.)

Hỏi: “Theo ý anh chị, người dân đánh giá cao điều gì ở Việt Cộng?”

Trả lời: Tuyên truyền khéo léo – 10%; tổ chức và lãnh đạo tốt – 4%; không có đấu tranh giai cấp – 3%; hoạt động bền bỉ dưới những điều kiện khó khăn – 2%; lo lắng cho người nghèo – 3%; tôi không thích điểm gì ở Việt Cộng hết – 49%; không có ý kiến – 34%.

Hỏi: “Theo ý anh chị, ai chịu trách nhiệm chính trong việc chiến tranh kéo dài?”

Trả lời: Chính phủ Nam Việt Nam – 2%; Việt Cộng – 31%; chính phủ Bắc Việt – 12%; Trung Cộng – 19%; Hoa Kỳ – 3%; không có ý kiến 33%.

Hỏi: “Cho tới nay, nước nào đã cố gắng lập lại hòa bình ở Việt Nam?”

Trả lời: Hoa Kỳ – 27%; Tòa Thánh Vatican – 17%; Liên hiệp Anh – 16%; Liên Hiệp Quốc – 11%: chính phủ Nam Việt Nam – 1%; các nước cộng sản – 1% (phần còn lại rơi vào các nước khác.)

Hỏi: “Theo ý kiến của anh chị, tại sao người Mỹ chiến đấu ở Việt Nam?”

Trả lời: Để chống cộng sản – 39%; để tái lập hòa bình – 8%; để “giữ thể diện” – 7%; vì những lợi ích thực dân – 7%; để xây dựng một căn cứ chiến lược – 6%; theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam – 3%; không có ý kiến 34%.

Hỏi: “Anh chị muốn nước Mỹ chú ý đến khả năng thương lượng với Bắc Việt Nam nhiều hơn, hay người Mỹ cần phải tăng cường các nỗ lực quân sự chống Bắc Việt của họ?”

Trả lời: Thương lượng – 63%; tăng cường hoạt động quân sự – 15%; không có ý kiến – 22%.

Hỏi: “Theo ý anh chị, quân đội Mỹ cần phải làm gì ở Nam Việt Nam – họ nên tiếp tục chiến đấu, họ nên ngưng chiến đấu nhưng vẫn ở lại làm cố vấn cho quân đội Nam Việt Nam, hay họ nên ngưng chiến và trở về Mỹ?”

Trả lời: Tiếp tục chiến đấu – 39%; ngưng chiến đấu và ở lại làm cố vấn – 21%; ngưng chiến đấu và trở về Mỹ – 10%; không có ý kiến – 30%.

Hỏi: “Như anh chị biết, người Mỹ thỉnh thoảng có ném bom những ngôi làng mà họ nghi ngờ là có Việt Cộng ở trong đó. Theo ý anh chị, người Mỹ cần nên tiếp tục làm điều đó khi họ rằng nó cần thiết, hay họ không nên làm điều đó?”

Trả lời: Tiếp tục ném bom – 37%; ngưng ném bom – 46%; không có ý kiến – 17%;

Hỏi: “Anh chị có tin rằng anh chị có một cuộc sống nhẹ nhàng hơn khi Việt Cộng kiểm soát vùng đất của anh chị hay nhẹ nhàng hơn dưới sự kiểm soát của chính phủ?”

Trả lời: Tốt hơn dưới sự kiểm soát của Việt Cộng – 0%; tốt hơn dưới dự kiểm soát của chính phủ – 90%; không khác nhau giữa hai bên – 3%; không có ý kiến – 7%.

Hỏi: “Sau khi chiến tranh chấm dứt, anh chị muốn Việt Nam thống nhất ngay lập tức, thống nhất sau đó hay thế nào cũng được?”

Trả lời: Thống nhất ngay lập tức – 83%; thống nhất muộn hơn – 1%; chống lại một cuộc thống nhất – 5%; thế nào cũng được – 2%; không có ý kiến – 9%.

Hỏi: “Anh chị hài lòng với việc làm của chính phủ Kỳ hiện nay hay anh chị muốn có thay đổi?”

Trả lời: Hài lòng – 53%; muốn có thay đổi – 11%; không có ý kiến – 36%.

Hỏi: “Anh chị thích gì ở người Mỹ?”

Trả lời: Các chương trình an sinh xã hội, các chương trình trợ giúp của họ – 28%; sự giúp đỡ về mặt quân sự của họ – 22%; phẩm chất cá nhân – 20%; trợ giúp Việt Nam nói chung – 15%. (Phần còn lại cho những câu trả lời khác.)

Hỏi: “Khi chiến tranh chấm dứt, anh chị thích nhất là khả năng nào sau đây?”

Trả lời: Khi chính phủ được người cộng sản lãnh đạo – 0%; khi chính phủ được những người quốc gia lãnh đạo – 83%; ai lãnh đạo chính phủ cũng được – 10%; không có ý kiến – 7%.

Hỏi: “Tại sao anh chị có ý kiến đó?”

Trả lời: Vì rồi sẽ có tự do và dân chủ – 39%; vì sẽ có khả năng làm việc tốt hơn – 24%; vì ý muốn của nhân dân được tôn trọng nhiều hơn – 19%. (Phần còn lại cho những câu trả lời khác.)

Hỏi: “Anh tự lựa chọn một người vợ hay cha mẹ anh làm điều đó cho anh?”

Trả lời: tự mình – 30%, cha mẹ quyết định nàng dâu – 56%, họ hàng làm điều đó – 2%, không nhớ – 1%.

“Ở một dân tộc bị chiến tranh vây hãm và sống dưới một nền độc tài quân sự”, cuộc thăm dò ý kiến của CBS kết luận, “thì có vẻ như thật là liều lĩnh khi đạt được tới những con số phầm trăm gần với sự thật nhất qua một cuộc thăm dò ý kiến. Mặc dù vậy, cuộc thăm dò ý kiến này đã mang lại một cái nhìn sâu sắc vào trong suy nghĩ và tâm trạng của người dân Việt. Đặc biệt, cuộc thăm dò này cho thấy rằng – ngược với quan điểm ở bên ngoài Việt Nam – dân tộc Việt Nam cũng không kiệt quệ và bất động cho tới mức bây giờ họ mặc kệ việc ai sẽ thắng cuộc chiến này. Dân tộc này hoàn toàn không mặc kệ. Họ mong muốn hòa bình – nhưng không bằng mọi giá… Có thể có những người thất vọng với cuộc thăm dò ý kiến này, vì cuối cùng thì nó đã không mang lại một câu trả lời rõ ràng cho việc nước Mỹ bây giờ cần phải làm gì. Nhưng không cần phải như vậy – đối với người Việt, cuộc tìm kiếm một con đường có thể chấm dứt cuộc chiến này cũng rắc rối y hệt như vậy và những ý kiến cũng rất khác nhau, cũng giống như hầu hết mọi dân tộc khác…”

Bẫy mìn và những mưu kế khác

Cây cầu dài ba mươi mét. Nó được canh giữ ở hai đầu bởi tám người lính ngồi ở đằng sau những bao cát. Các khầu súng tiểu liên đã được mở khóa an toàn và lựu đạn lủng lẳng bên dây thắt lưng. “Đêm nào chúng tôi cũng ném vài chục quả xuống sông”, một viên thiếu úy trẻ tuổi người Việt nói. “Có cái gì đó khả nghi trôi nổi tới là cho nổ ngay tức thì.”

“Tôi nhìn thấy rồi, Việt Cộng không có cơ hội nào ở các anh đâu”, một đại úy người Mỹ khẳng định, người đi thanh tra cây cầu, và gật đầu với viên thiếu úy trẻ tuồi. “Đúng vậy, thưa đại úy!” Viên thiếu úy đứng nghiêm. “Nếu chúng còn xuất hiện thêm lần nữa thì chúng tôi sẽ bắn chúng chết hết. Chúng sẽ không thành công thêm lần thứ nhì.”

Nhưng viên thiếu úy hăng hái này với những người lính của anh ta đã không ngăn chận được lần thứ nhất: Năm ngày trước đây, cây cầu đã nổ tung vào lúc giữa đêm – Việt Cộng đã plastic hóa nó, nhưng người ta nói trong thuật ngữ chuyên môn. Kể từ lúc đó, cái nhịp cầu bằng sắt ấy chúc xuống dưới mặt nước…

Một chiếc xe đò bị trúng mìn

“Tại sao lại canh gác một cây cầu đã bị giật sập?”

“Anh không biết đấy thôi” – viên đại úy dùng tay chỉ qua bên kia bờ sông –, “cây cầu này không thể thiếu được. Điều này đối với VC (Việt Cộng) có nghĩa là nó phải bị phá hủy hoàn toàn. Họ sẽ không hài lòng với một lần tấn công duy nhất đâu. Họ có rất nhiều mưu mẹo…”

Ví dụ như: người ta để cho một sợi dây dài 2000 mét trôi theo sông ở dưới mặt nước, bằng cách cột một mảnh gỗ và một bao muối nhỏ vào một đầu. Như vậy chắc chắc là sợi dây, mảnh gỗ và bao muối sẽ trôi qua cầu ở dưới mặt nước mà không ai nhìn thấy. Sau một thời gian, muối tan hết và miếng gỗ nổi lên mặt nước với đầu dây. Một vài tên Việt Cộng can đảm bơi ra sông vào ban đêm và gắn chất nổ plastic vào đầu dây. Bây giờ thì những tên Việt Cộng khác, ở bên kia cầu, kéo chậm chậm sợi dây về – ngược dòng sông và dưới sự che chở của màn đêm. Phần còn lại chỉ là công việc của ngòi nổ…

“Chúng tôi đã phải cần nhiều thời gian để thích ứng với những mưu kế và bẫy cá nhân của Việt Cộng”, viên đại úy thuật lại, “nhưng cho tới ngày nay thì chúng tôi cũng không thành công được hoàn toàn. Họ đơn giản là quá sáng tạo và có nhiều ý tưởng mà chúng tôi nói chung là không có. Đây này” – viên đại úy chỉ xuống cẳng tay trái của mình, nơi có hai vết thẹo còn mới mang màu nhợt nhạt – “hai dấu xăm này là tôi có từ một trong những cái bẫy đê tiện của họ.”

Đó là trên một chuyến đi tuần tra, ở trong vùng phía nam của tỉnh Thừa Thiên. Một người lính phát hiện một loạt dấu hiệu kỳ lạ trong một làng. “Trông giống của Viẹt Cộng quá”, đại úy Collinghood lẩm bẩm sau khi quan sát kỹ những dấu hiệu được khắc vào nhiều thân cây khác nhau. “Đi vào lục soát xem sao…”

Người dân trong làng bị thẩm vấn hai giờ đồng hồ – kết quả là con số không. Cũng không phát hiện được một hệ thống đường hầm nào. Cho tới khi một người lính báo cáo: “Thưa đại úy, tôi tìm thấy một lá cờ Việt Cộng.” Cờ Việt Cộng là một vật lưu niệm được những lính Mỹ rất ưa thích.

Lá cờ được treo đường hoàng trên một bức tường của một ngôi nhà nằm ẩn chỗ kín đáo. Một viên hạ sĩ quan muốn giật nó xuống ngay. “Cẩn thận!”, đại úy Collinghood quát lớn. “Coi chừng xảy ra chuyện.” Viên đại úy xem xét lá cờ từ xa. Cả căn nhà cũng được lục soát cẩn thận. Nhưng không phát hiện ra điều gì đáng nghi ngờ. “Hạ sĩ ở lại – những người khác đi ra ngoài”, Collinghood ra lệnh và bước tới gần lá cờ. Ngay cả bây giờ ông cũng không phát hiện ra được dấu vết nào báo hiệu có một cái bẫy. “Nằm sấp xuống”, ông ra lệnh. Viên hạ sĩ quan tuân lệnh, mặc dù không nhịn được cười. Collinghood cầm lấy một đoạn dây thép, bẻ cong một đầu và bắt đầu dùng đoạn dây thép đó móc vào lá cờ trong lúc ông nằm ở tư thế hít đất. Sau một vài khoảnh khắc, sợi dây thép móc được vào lá cờ, và Collinghood vừa muốn giật mạnh…

“Cứ giống như chúng tôi lao vào một khẩu súng máy vậy”, ông nhớ lại, “mười tám phát súng bắn từ hai bức tường hai bên – được kích động khi động vào lá cờ. Nếu như tôi đang đứng trong lúc đó thì tôi là người chết nhiều lần nhất của toàn quân đội rồi.”

Chỉ nhờ vào sự cẩn trọng của mình mà viên đại úy đã thoát nạn, chỉ bị hai viên đạn bắt sượt qua cẳng tay trái đang giơ lên. “Đó là trường hợp đặc trưng cho một cái bẫy cá nhân”, viên đại úy nói và thêm vào: “Lá cờ đó bây giờ là của tôi. Mấy đứa trong chuyến tuần tra đó nói tôi xứng đáng có lá cờ đó…”

Để chuẩn bị trước nhằm chống lại chiến thuật phục kích của Việt Cộng, thời gian vừa qua người Mỹ đã thiết lập nhiều “trường mìn” . Trong những khóa đào tạo cấp tốc, lính Mỹ làm quen với mọi loạt bẫy súng, bom trong nhà và hố sập. Được sử dụng làm vật liệu giảng dạy là mìn Việt Cộng và những cái bẫy cá nhân đã được vô hiệu hóa lúc nào đó, trước khi chúng có thể hoạt động. Một ngôi nhà nông dân được dựng lại là “vùng chiến đấu chính”: có 49 cái bẫy mìn được dấu trong mảnh đất nhỏ của ngôi nhà bằng tre đó…

Một cách thức được đưa ra như là lời dẫn nhập: “Lấy một cái bẫy chuột”, trong phần mở đầu của khóa đào tạo có viết,  “thêm một sợi dây ngòi nổ và một quả đạn, cỡ 30. Người ta cộng thêm vào đó một tinh thần sáng tạo châu Á, thế là cái bẫy chuột ấy có thể dễ dàng giết chất một người.”

“Chỉ khi giải thích các loại mìn bình thường thì mới đi theo sách giảng dạy”, một viên trung tá nói, chỉ huy trường mìn của Tiểu đoàn Công binh 3 ở Đà Nẵng. “Sau đó thì mọi thứ đều không theo sách vở nào cả. Việt Cộng cũng không làm theo một quyển sách giáo khoa…”

Ở họ, những điều quan trọng là sự tinh xảo, ý tưởng và sự khéo léo thủ công. Trái dừa, lon đồ hộp cũ, rễ cây cũng như những bao thuốc lá bị vứt đi – tất cả đều có thể trở thành mìn. Ngay cả cái bẫy chuột cũng phục vụ cho việc nổ mìn: một sợi dây thật nhỏ mà nếu vướng vào sẽ để cho cái bẫy chuột sập lại. Đồng thời, chuyển động đó cũng đẩy một cây kim vào một ngòi nổ, cái sẽ bắn ra mười viên đạn giết chết con người đang nằm xuống đất đó. Ai vô tư cầm lấy một trái dừa vô hại thì sẽ được trái dừa ấy chào mừng bằng một phát nổ mạnh – và một cây nấm trên mặt đất trong rừng sẽ kích nổ một quả bom mảnh cách đó mười mét khi bị chạm nhẹ vào.

“Tất cả những thứ đó đều thuộc vào chiến thuật của du kích quân”, ông trung tá nói, “vốn liếng đó của họ là kết quả hàng chục năm kinh nghiệm. Ở đây, kỹ thuật chiến đấu chống lại bẫy phục kích. Và điều đó có nghĩa là: Ai đi vào rừng đều phải có khả năng vượt qua hàng trăm cái bẫy, vì ở khắp nơi là chất nổ plastic, mảnh, chất độc và hầm hố…

Chiến thuật phục kích của Việt Cộng là việc gây khó khăn nhiều nhất cho tất cả mọi người: cho người dân, cho quân đội chính phủ và cho người Mỹ. Nhưng trong khi những người lính được đào tạo để đối phó với “bẫy cá nhân” qua các khóa cấp tốc thì hàng triệu người dân thường không được che chở lúc nào cũng nơm nớp lo sợ trước sự khủng bố và trả thù của Việt Cộng.

“Từ khi tôi sống ở trong làng này – cho tới ngày nay là 39 năm – tôi đã trải qua hàng chục cuộc viếng thăm vào ban đêm của Việt Cộng”, ông nông dân Pham Dinh Ho của làng Cam Thanh nói. “Ông có thể tin tôi: Tôi đã biết sợ run cả người qua đó, và trước hết là tôi học được việc cùng sống với cả hai bên…”

Lần đầu tiên, họ đến trong đêm vào lúc 2 giờ 15. “Không một tiếng động như những con cọp”, Pham Dinh Ho nhớ lại. “Tôi bất thình lình tỉnh dậy vì có ai đó chọc vào người tôi. Khi mở mắt ra, tôi nhìn vào họng của một khẩu súng ngắn. ‘Nếu không muốn chiến đấu cho Mặt Trận Giải Phóng thì ít nhất là phải trả tiền đây’, một người nói với tôi trong giọng thô lỗ. Rồi tôi phải mua sáu tờ giấy công phiếu của Việt Cộng – hắn đòi tôi sáu ngàn đồng. Đó gần như là toàn bộ số tiền tôi tiết kiệm được trong chín năm. ‘Mày bây giờ yên ổn được một năm’, hắn nói khi nhận tiền. Trước khi đi khỏi, hắn dùng dao khắc một dấu hiệu ở cửa vào nhà.”

 Nhưng chỉ ba tuần sau đó thì những tên Việt Cộng khác đã đến. “Tôi đã giao ra toàn bộ số tiền của tôi rồi”, Pham Dinh Ho than thở và chỉ vào cửa ra vào nhà, nơi có thể nhìn thấy rõ dấu hiệu của VC. “Này, câm miệng lại đi”, người trưởng nhóm du kích nói, “chúng tao không muốn tiền – chúng tao cần gạo.” Với bạo lực vũ khí, người dân làng bị đẩy ra nơi họp chợ bé tí.

“Mấy người có thời gian là 35 phút”, viên trưởng nhóm ra lệnh, “sau đó thì phải có hai tấn gạo nằm ở đây. Nếu không” – trong lúc nói những lời này hắn xoay người sang một bên và chỉ tay vào mười đứa trẻ em bị du kích quân bao quanh – “thì nửa giờ nữa, làng này sẽ mất mười đứa trẻ em.”

“Chúng tôi làm gì được bây giờ?” Pham Dinh Ho nói. “Chúng tôi đã mang gạo đến và đã khóc. Không phải vì tiếc số gạo – nhưng chúng tôi lo sợ cho mấy đứa bé.”

Không lâu sau, cả làng đều căm ghét Việt Cộng. Nhưng khi các toán đi tuần tra của quân đội chính phủ xuất hiện vào ban ngày thì rồi không ai dám mở miệng ra.

“Ở làng kế cận, ông trưởng làng đã báo cáo lại sự việc”, Pham Dinh Ho nói, “thế rồi quân lính chính phủ đóng lại nhiều ngày đêm trong làng. Khi VC quay trở lại trong một đêm, họ bị bắn chết hết. Nhưng rồi quân lính chính phủ lại rút đi – và ba đêm sau đó Việt Cộng lại trở về. Không ai trong làng nhận biết. Mãi đến hừng sáng họ mới thấy đầu của ông trưởng làng bị cắm lên một cái cọc. Có một tờ giấy được găm trên lại ở đó, viết rằng: ‘Đây là một tên phản bội’. Lúc đó, khi tôi nhìn thấy, tôi đã tự nói với chính mình: Không chống cự gì nữa – khi quân lính chính phủ đến thì mình theo chính phù, và khi Việt Cộng xuất hiện thì mình theo cộng sản. Ông cũng có thể tưởng tượng được là tôi mừng cho tới đâu, khi chuyện này kết thúc.” Từ một năm nay, làng Cam Thanh được cho là đã được bình định, tức là người dân làng được trang bị vũ khí và có thể tự bảo vệ – cho tới chừng nào địch quân không quá mạnh. Cho tới ngày nay, Cam Thanh không phải vượt qua lần thử thách này. “Tôi cũng không tin rằng Việt Cộng sẽ về thêm một lần nữa”, Pham Dinh Ho nói. “Họ cũng không can đảm như người ta đánh giá họ đâu. Khi gặp phải phản kháng và không đông hơn thì họ rút đi. Huấn luyện của họ chỉ giới hạn ở chiến thuật phục kích, không phải cho chiến đấu công khai…”

Chiến thuật này, mặc do ưu thế áp đảo về vũ khí của Mỹ, dường như có thể hứa hẹn thành công thêm nhiều năm nữa, nếu như người Mỹ không đưa thêm quân lính…

“Thật ra thì mọi việc hết sức đơn giản”, một sĩ quan cao cấp của Hoa Kỳ tại Sài Gòn thú nhận. “Tổng thống nên gửi một triệu lính sang đây – rồi thì sẽ có yên ổn. Cho tới chừng nào mà chúng tôi chỉ có vài trăm ngàn thì không thể làm gì được. Chúng tôi không thể có mặt ở khắp mọi nơi – kẻ địch biết điều đó, và họ lợi dụng điều đó. Họ không xuất hiện trên một mặt trận liền nhau, họ giới hạn ở những vụ tập kích và khủng bố nhỏ. Vì vậy mà nói chung là luôn luôn không có an ninh…”

Hoạt động khủng bố của Việt Cộng được công bố hằng tuần. Đó là một danh sách dài, tàn bạo – một tài liệu thương tâm cho sự tiến thoái lưỡng nan đẫm máu mà người dân phải sống ở trong đó. Mỗi tuần trung bình có 70 vụ ám sát, tập kích và khủng bố. Để hiểu được tính đáng sợ của nó, người ta chỉ cần đưa ra một ít vụ của danh sách hàng tuần:

Vào ngày 10 tháng 5 vào lúc 7 giờ sáng, một chiếc xe Lambretta đã chạy trúng mìn Việt Cộng giữa My Chanh và Phu My. Chín người dân thường chết ngay tại chỗ, mười người khác bị thương nặng.

Vào ngày 13 tháng 5, Việt Cộng, mặc quân phục giả quân lính chính phủ, đã bắt cóc bốn người của làng Phú Mỹ. Ít lâu sau đó, người ta tìm thấy bốn người dân thường này bị chặt đầu ở vùng núi Thị Vải.

Vào ngày 15 tháng 5, một đơn vị Việt Cộng đã tập kích một cây cầu cách Quan Tri 18 ki-lô-mét về phía đông nam. Việt Cộng đã giết chết tám người lính dân vệ và làm bị thương chín người dân thường đang muốn đi qua cầu. Bảy nông dân khác cũng như hai người phụ nữ nông dân bị bắt đi.

Vào ngày 12 tháng 5, Việt Cộng tập kích làng Cam Loc bằng lựu đạn. Mười người dân thường thiệt mạng, mười bốn người bị thương nặng.

Hai đại đội Việt Cộng bắn súng cối vào một “tiền đồn” ở gần làng Tri Tra Con. Mười sáu trẻ em và tám phụ nữ bị giết chết.

Mỗi một tuần có trên 70 thông báo như vậy – hàng trăm người chết và bị bắt cóc. Và hầu như lúc nào đó cũng là những người không có vũ khí sống giữa hai chiến tuyến – nông dân và người dân của nước Việt Nam. “Trong số 15 triệu người ở Nam Việt Nam”, theo một thống kê, “có 8,52 triệu người – tức 56,8% – sống trong những vùng nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ. 2,72 triệu người – đó là 18,2% – trong trong những vùng đầm lầy và rừng rậm do Việt Cộng kiểm soát, trong khi 3,76 triệu người Nam Việt Nam – hay 25% dân số – sống trong những vùng được cho là đang bị tranh chấp. Những con số này chỉ thay đồi không đáng kể từ đầu năm 1966.”

Điều đó có nghĩa là: Sự hiện diện và ưu thế về quân sự trong những vùng quan trọng của đất nước này tuy đã tước đi cơ hội có một chiến thắng mang tầm quyết định ra khỏi tay Việt Cộng – nhưng mối đe dọa vẫn còn đó. Nhận thức này đã góp phần cho thấy rằng chỉ riêng sức mạnh quân sự ở Việt Nam không thôi thì không mang tính quyết định. “Phải dùng mọi phương tiện để làm suy yếu kẻ địch”, như tướng Westmoreland nhấn mạnh. “Chúng ta phải chiến đấu đồng thời ở khắp mọi nơi – ở tiền tuyến và ở hậu phương. Công cuộc xây dựng một cuộc sống mới chỉ có thể thực hiện khi an ninh và công bằng xã hội thắng thế.”

Với câu khẩu hiệu đó, một giai đoạn mới đã bắt đầu. Khẩu hiệu của nó là: chiến tranh tâm lý và RD…

Chiến lược mới: “Chiến tranh tâm lý”

“Okay, đại úy – anh biết nhiệm vụ của anh: cách Phú Bài 50 dặm về phía tây, anh sẽ đến vùng Nhái Bén. Tốt nhất là anh vào từ hướng bắc – hướng khoảng hai giờ. Như anh có thể thấy trên bản đồ” – viên thiếu tá bước tới bàn có trải một tấm bản đồ lên ở trên đó – “anh chỉ nhìn thấy rừng rậm. Trông giống như không có ai sống ở đó. Nhưng đừng vì vậy mà coi thường – đầy VC ở dưới đấy. Mấy tên dự báo thời tiết cho biết có gió từ cấp một cho tới hai – hướng bắc – tây bắc. Tức là anh có thể ném đúng mục tiêu. Sau khi xong rồi thì làm thêm mười phút tâm lý. Này – anh có gì trên băng đấy?”

“Tôi còn chưa lo đến vụ đấy”, Đại úy Haffield trả lời. “Tôi nghĩ là mười bốn và ba mươi sáu.”

“Mười bốn tốt đấy”, viên thiếu tá nói, “đó là băng với đứa bé. Những người hồi chánh lúc nào cũng nhấn mạnh rằng giọng nói của những đứa trẻ con bao giờ cũng gây xúc động nhiều nhất. Nếu như có thêm những tờ rơi hợp lý nữa…”

“Chúng tôi có 300.000 tấm ảnh chụp gia đình đang khóc”, Haiffield nói. “Ngoài ra còn có 200.000 từ xê-ri 938 và thêm vào đó là 400.000 tờ giấy thông hành. Tôi nghĩ là sẽ đủ.”

Tổng cộng gần một triệu.” Viên thiếu tá hài lòng gật đầu. “Phải đủ cho vài trăm tên VC. Ừ – chúng ta sẽ xem xem…”

Bảy phút sau đó, chiếc “máy bay ném bom tờ rơi” cất cánh từ đường bay được chiếu sáng ít ỏi của phi trường Đà Nẵng – một chiếc máy bay một động cơ loại U-10 Courier, “con chim dẽ giun chậm chạp nhất của Mỹ”, như các phi công thường hay quả quyết.

Nhưng ở Việt Nam thì nó có nhiều thành công hơn là những chiếc máy bay ném bom Phantom hiện đại nào đó…

Giấy thông hành của chương trình Chiêu Hồi

Từ khi người Mỹ tái phát hiện ra giá trị của một cuộc chiến tranh tâm lý, rất muộn màng nhưng rõ ràng là chưa quá muộn, họ vực “cuộc chiến tranh không vũ khí” dậy với sự thành tâm của các nhà truyền giáo vì hy vọng qua đó sẽ đạt nhiều thành công hơn là với bom đạn: Ở khắp nơi trong nước, các xưởng in dã chiến hiện đại nhất in mỗi ngày hàng triệu truyền đơn, áp phích, sách mỏng, báo và thẻ hồi chánh từ những cái máy in quay. Cuộc “chiến tranh tâm lý” – được khởi động và điều khiển bởi các chuyên gia quân sự và dân sự trên các lãnh vực tâm lý học, kỹ thuật và tuyên truyền – bất thình lình trở thành “vũ khí” nguy hiểm nhất trong cuộc chiến chống du kích đỏ:

Hằng tháng, trên 30 triệu tấm “giấy thông hành” được in ra ở Việt Nam và được ném xuống những vùng đất của Việt Cộng.

Trên 10 triệu tờ báo được phát hành và phân phát không mất tiền cho người dân Việt Nam.

Bốn triệu tấm áp phích với nhiều mô-típ khác nhau hướng đến người dân, tuyên truyền, khai sáng và có những lời khuyên thực tế.

“Không có lĩnh vực nào chung quanh con người mà không được cuộc chiến tranh tâm lý quan tâm tới”, thiếu tá Tom McCaig, chỉ huy “Đại đội Hoạt động Tâm lý 244” ở Đà Nẵng nói. “Từ những lời khuyên y tế qua các chỉ dẫn cho nông dân, để họ có thể tưới nước cho ruộng của họ một cách rẻ tiền nhất và tốt nhất như thế nào – chúng tôi in ra tất cả. Nhưng trước hết là truyền đơn, để cho Việt Cộng thấy rằng tình hình của họ đã trở nên vô vọng ra sao. Bên cạnh đó, người dân được giải thích về từng vụ khủng bố một của Việt Cộng qua hình ảnh và từ ngữ. Chúng tôi có những toán đặc biệt cho những việc này. Họ chạy đi ngay khi có báo cáo về một vụ khủng bố của ở đâu đó. Mười giờ đồng hồ sau là đã có 200.000 truyền đơn in xong để rải. Anh có thể nghĩ Việt Cộng giận dữ cho tới đâu kể từ khi chúng tôi công bố những vụ khủng bố của họ khắp nơi trên đất nước này một cách sinh động như vậy!”

Thiếu tá McCaig không phải là không có lý. Trong một tài liệu của Việt Cộng bị Sư đoàn 1 Bộ binh ở Bình Dương tịch thu có viết: “Chúng ta phải tăng cường kỷ luật ở bộ đội và cán bộ vì hiện nay và trong tương lai, chương trình rải truyền đơn là một trong những chương trình có hiệu quả nhất và nguy hiểm nhất. Biện pháp hết sức xảo quyệt của kẻ thù không được nắm bắt thấu đáo. Chúng ta phải thật nghiêm khắc để bảo đảm rằng tất cả các tờ giấy thông hành được giao ngay lập tức cho ban chỉ huy.”

Vì cả ở bên phía Việt Cộng người ta cũng nói cho nhau biết rằng cho tới hiện nay đã có 66.500 du kích quân của họ đã chạy sang phía chánh phủ…

“Nghe đây, Lincoln – đây là Libra ba. Libra ba gọi Lincoln – xin trả lời.” Tiếng gọi của Đại úy Haffield vừa mới phát vào bầu khí quyển thì câu trả lời đã đến. “Lincoln gọi Libra. Các anh gặp khó khăn à?” – “Không”, Đại úy Haffield nói vào cái mi-crô được gắn vào chiếc mũ phi công như một cánh tay có thể xoay được. “Chúng tôi hiện đang cách vùng Nhái Bén bốn dặm – sẽ xuống độ cao ném truyền đơn. Okay?”

Trước khi câu trả lời của viên sĩ quan dẫn đường đến, chiếc U-10 đã hạ độ cao từ 2000 mét xuống 800 mét. “Sẵn sàng chưa?” viên đại úy hỏi người hạ sĩ quan trong thân chiếc máy bay qua vô tuyến. “Sẵn sàng rồi thưa đại úy – cửa đã mở. Truyền đơn rồi tới giấy thông hành có phải không?” – “Đúng rồi – tôi đếm đây.” Tiếng nói của viên đại úy bây giờ hầu như không còn có thể hiểu được nữa vì cửa đã được mở ra. “Năm, bốn, ba, hai, một – thả xuống!”

Các truyền đơn rơi từng kiện một ra khỏi chiếc máy bay đang bay chậm chậm – từng 10000 tờ một. Viên hạ sĩ quan đá các kiện hàng ra khỏi cửa đã mở ở thân máy bay, nơi chúng – nhờ gió cuốn đi – nhanh chóng tỏa ra thành một tấm thảm rộng lớn bằng những tờ giấy đang bay lượn chập chờn. “Ngày mai chúng nó phải cật lực quét nhà ở dưới kia đấy”, viên hạ sĩ quan nói, rồi báo cáo qua mi-crô: “Xong rồi – Ném xong rồi!” – “Chúng ta chờ thêm vài phút”, đại úy Haffield nói, “rồi bật phát thanh tâm lý lên…”

Nhưng bây giờ thì khu rừng vào ban đêm ấy chợt trở nên sống động – có tia lửa lóe sáng và tiếng súng bắn từ phía dưới tối tăm. “Vô hại”, viên hạ sĩ quan nói, “tất cả đều là súng cá nhân. Bọn nó lẽ ra nên tiết kiệm đạn dược cho các mục đích khác hơn là bắn để lấy can đảm. Rồi anh sẽ thấy – vài phút nữa họ sẽ chấm dứt. Rồi thì những tờ truyền đơn đó sẽ rơi xuống như mưa và họ phải đi thu thập…”

Anh ấy nói đúng, người chiến binh tâm lý: tiếng súng đã dừng lại, chỉ có thể nghe thấy tiếng ồn của động cơ.  Một lần nữa, chiếc U-10 bay một vòng rộng trên khu rừng, rồi có một tiếng nói vang lên, dường như là từ trên thiên đàng…

“Những người anh em”, tiếng nói vang ầm lên từ hai cái loa dưới máy bay. “Gia đình của các anh em và đồng bào chìa tay cho các anh em – hãy quay trở về với đại gia đình của quốc gia. Đừng chần chừ thêm giây phút nào nữa, vì những tay chỉ huy cộng sản khát máu chỉ dẫn các anh em đến một cái chết đáng sợ và vô nghĩa. Các anh em phải phá hủy và đốt cháy quê hương của mình, tổ quốc của mình. Nhưng chúng tôi biết rằng các anh em sẽ không bao giờ tự nguyện làm những việc tàn nhẫn như vậy nếu như không bị các cán bộ Việt Cộng ép buộc. Hãy nghĩ đến người thân của các anh em. Họ yêu mến và đang chờ đợi các anh em. Đừng để bị đẩy vào chỗ chết. Hãy trở về – quê hương sẽ giang tay chào đón các anh em. Các anh em – chúng tôi đang chờ các anh em!”

Ở dưới kia, trong rừng rậm, không có gì chuyển động – không một tiếng động, không một phát súng. Chiếc máy bay bắt đầu lượn thêm một vòng nữa. “Bây giờ bấm số 14 đi”, ông đại úy nói. Viên hạ sĩ bấm nút. Một tiếng trẻ con…

“Cha ơi”, tiếng  nói vang ra từ những cái loa, “cha thương nhớ ơi – cha ở đâu?” Im lặng, không câu nói nào tiếp theo. Chỉ có tiếng ồn của động cơ. Rồi tiếng nói của đứa bé vang lên thêm một lần nữa: “Cha – chúng con rất cô đơn khi không có cha. Mẹ thì bệnh, còn con” – giọng nói khóc nấc lên – “con không có cha. Nhưng con muốn gọi cha mỗi ngày, để cha nghe được tiếng con. Cha ơi – cha ở đâu?” Và rồi thêm một lần nữa: “Cha ơi – hãy trở vể đi – không có cha chúng con cô đơn lắm!”

Giọng nói từ trên trời tựa như một sự hành hạ – nó khoan thật to như một sự hành hình vào khu rừng, vào những ngôi nhà, vào những hầm hố. Tất cả mọi người ở dưới đó sẽ nghe được giọng nói trẻ con này – tiếng gọi đáng sợ của một cô bé gái đang tìm người cha chiến đấu trong hàng ngũ du kích quân.

“Đây là một cuộc chiến thật khốn nạn”, đại úy Haffield nói khi ông chậm chạp trèo ra khỏi chiếc máy bay. “Chính tôi cũng hết sức xúc động vì tiếng nói trẻ con này. Nhưng một khi muốn lôi Việt Cộng ra khỏi rừng rậm thì chúng ta phải đi tới ranh giới của khả năng chịu đựng. Ít nhất thì cũng tốt hơn là bắn chết họ.”

Truyền đơn của chương trình Chiêu Hồi

Tổng hành dinh của cuộc chiến tranh tâm lý này là  “Trung tâm Chiêu Hồi” – trung tâm cho những người bỏ ngũ – trên đường Ngô Thời Nhiệm ở Sài Gòn. Ở đây, những tờ truyền đơn, áp phích và băng ghi âm được phác thảo, những cái có nhiệm vụ dẫn cuộc “Chiến tranh không vũ khí” đi đến thành công. Chiêu Hồi – dựa trên kinh nghiệm của cuộc chiến nhiều năm trong rừng tại Malaysia: Ở đó, việc tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý đã góp phần quyết định khiến cho cuộc nổi dậy của du kích quân thất bại. Vì vậy mà đầu 1963, chính phủ Nam Việt Nam quyết định “hỗ trợ bằng mọi phương tiện hiện có cho chiến dịch Chiêu Hồi”.

Nhưng ở Việt Nam là như thế: Sự hào hứng vào lúc ban đầu đã giảm xuống thật nhanh – cái chương trình được khởi động đầy sức mạnh ấy dường như đã nhẹ nhàng đi vào giấc ngàn thu trong mớ bòng bong văn phòng của Sài Gòn. Nếu như năm 1963 người ta còn có thể ghi nhận được 11.248 Việt Cộng rời bỏ hàng ngũ thì năm 1964, con số này đã giảm xuống còn 5417. Chương trình này thiếu một nền tảng rộng lớn cần thiết – và ngoài ra thì dường như Việt Cộng đang tiến đến một chiến thắng quân sự không thể ngăn cản được…

Điều đó đã thay đổi khi Hoa Kỳ quyết định tham chiến ở Nam Việt Nam vào giữa 1965: Việt Cộng bị ngăn chận lại – và ở Sài Gòn người ta lại nhớ đến chương trình Chiêu Hồi. Các chuyên gia tâm lý Nam Việt Nam, từ Mỹ, Philippines và Malaysia cùng nhau cộng tác để phối hợp hàng trăm hoạt động riêng lẻ trên lĩnh vực này. Thành công thật là rực rỡ: 1965 đã có 11.124 người rời bỏ hàng ngũ được ghi nhận, trong khi con số này tăng lên đến 20.242 năm 1966. Cho năm 1967, người ta nhắm tới một mục tiêu mà trước đây một năm còn được cho là chuyện không tưởng: 45.000 Việt Cộng đổi chiến tuyến nhờ vào chiến tranh tâm lý và Chiêu Hồi. Mục tiêu này đã đến trong tầm tay: cho tới 15 tháng 6 năm 1967 đã có 18.565 Việt Cộng đào ngũ. Và theo những kinh nghiệm cho tới nay là con số Chiêu Hồi sẽ tăng cao vào nửa năm sau – mùa mưa làm tan rã tinh thần chiến đấu cho tới nay luôn là đồng minh trung thành nhất của chương trình Chiêu Hồi.

“Tất nhiên, áp lực quân sự vẫn là động cơ chính cho những người đào ngũ”, tổng hành dinh ở Sài Gòn cho biết, “nhưng tính đa dạng của chương trình tâm lý này cũng góp một phần lớn cho thành công. Chỉ riêng con số người đào ngũ của năm 1966 không thôi đã chiếm một phần ba tổng số tổn thất của Việt Cộng, và dường như là trong năm 1967 Việt Cộng đã mất nhiều quân lính qua chương trình Chiêu Hồi nhiều hơn là qua chiến trận. Chi phí tổng cộng của chương trình này – trong tỷ lệ với con số đào ngũ – là 125 dollar cho một người đào ngũ. Cho tới nay thì đây là con đường rẻ tiền nhất để làm suy yếu kẻ địch một cách quyết định. Đặc biệt là khi người ta nghĩ đến việc hai phần ba số Việt Cộng đào ngũ đã mang vũ khí của họ đi theo cùng.”

“Chúng tôi đang đi tuần”, Nguyen Thuong Mai nhớ lại, người chiến đấu bốn năm trời trong rừng rậm như là Việt Cộng trước khi anh đổi chiến tuyến. “Lúc đó có con chim sắt ấy bay đến với những tờ truyền đơn. Lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ ném bom xuống chúng tôi, nhưng rồi hàng ngàn tờ giấy rơi xuống chỗ chúng tôi. Hầu như ai trong số chúng tôi cũng giấu đi một tờ, trước khi giao nộp những tờ kia lại theo lệnh. Rồi tôi đọc thật kỹ tờ giấy thông hành đó – và đặc biệt là tờ truyền đơn với những giá cả. Lúc đó, tôi quyết định: đem theo một vài vũ kkhí, bỏ ngũ – thế thì người ta không chỉ cứu được mạng sống của chính mình mà thậm chí còn kiếm tiền được nữa.

Vì sự cám dỗ thì thật là lớn. Mỗi một người bỏ ngũ được bảo đảm những khoản tiền khá lớn nếu như anh ta mang theo vũ khí.

800 đồng cho một khẩu súng lục, 1000 đồng cho một khẩu súng Anh hay Nhật (120 đồng = 4 Mark).

3500 đồng cho một khẩu súng máy loại nhẹ kiểu Bar 24/29.

6300 đồng cho một khẩu súng máy hạng nặng, cỡ 13,2.

10.000 đồng cho một cây súng cối và 12.000 đồng cho một khẩu bazooka.

Ngoài ra, mỗi một người bỏ ngũ sẽ nhận được một khoản tiền sinh hoạt là 24 đồng mỗi ngày (80 Pfennig), 24 đồng nữa cho người vợ cũng như 12 đồng  cho mỗi một đứa con. “Sức thu hút tài chính đóng một vai trò quan trọng”, người ta nói trong Trung tâm Chiêu Hồi ở Sài Gòn, “nhưng đối với chúng tôi thì tiền bạc không thành vấn đề. Vì không có chương trình nào của chúng tôi mà lại cứu sống nhiều người lính ở phía miền Nam như chương trình Chiêu Hồi: Khi người ta mang tỷ lệ tổn thất của hai bên ra so sánh, thì chúng tôi – nếu như chúng tôi tiêu diệt 55.000 người bỏ ngũ cho tới nay – ‘mất’ ít nhất là 7.000 người lính của ‘quân đội Thế giới Tự do’.”

Nhưng mặc dù vậy, ở Sài Gòn người ta vẫn biết: Chiêu Hồi chỉ là một giọt nước nhỏ lên một hòn đá nóng bỏng. Người ta không thể thắng cuộc chiến với những người đào ngũ. Đầu tiên thì phải có trật tự trong ngôi nhà của riêng mình đã, và kinh tế phải phát triển. Việt Nam vẫn còn cách xa cả hai điều ấy. Chỉ có thể nhìn thấy những cố gắng đầu tiên…

An ninh cho làng mạc – ai tin vào điều đó?

Thị trấn đó có tên là Vũng Tàu. Ai nói về Vũng Tàu thì có thể quên cuộc chiến – bãi cát dài hàng kilômét, không có Việt Cộng, vui tắm biển, chơi trượt nước. Khung cảnh đó có một sức hấp dẫn đến nỗi sự khốn cùng ở chung quanh đó mờ nhạt đi – sự pha trộn đặc trưng luôn có ở Việt Nam từ thứ nước lợ thối, rác rưởi hôi, những ngôi nhà tồi tàn, những đống rác và bệnh tật. Phong cảnh có thể thay đổi, nhưng bức tranh ấy lúc nào cũng vậy – một vệt màu khổng lồ từ hàng ngàn hạt bụi bẩn được dán lại với nhau…

Từ Sài Gòn người ta bay trực thăng ra Vũng Tàu trong vòng 40 phút – những chuyến bay đã trở thành việc bình thường. Chỉ có hàng chữ trên mặt sau chiếc ghế phi công là điều đặc biệt: “Chuyến bay này khiến cho Chú Sam tốn mất 253,88 dollar một giờ. Hãy dùng nó một cách hợp lý!” Cùng với người Mỹ, không chỉ có đồ hộp tràn vào Việt Nam – cả những câu nói Mỹ cũng đã trở thành thứ hàng hóa không thiếu. “Làm sao có thể hạnh phúc khi biết Sài Gòn có thể nổ tung vào bất cứ lúc nào. Với tất cả những quán rượu tuyệt vời ấy…” là một câu nói có trong nhiều văn phòng. Hay những chỉ dẫn đầy yêu thương trong những dãy nhà của phi trường, nơi những người lính Mỹ mang đầy hành trang, đang toát mồ hôi, ngồi chờ chuyến bay: “Trong trường hợp bị tập kích bằng súng cối – xin hãy nằm xuống ngay!”

Những người lính của chương trình Phát triển Cách mạng

Vũng Tàu cần phải trở thành trái tim của “cuộc sống mới” ở Việt Nam – nằm ở đây là trung tâm huấn luyện cho các đội RD, những nhà cách mạng tạm thời. Như đã nói, Vũng Tàu cần phải trở thành trái tim của phong trào mới – vì không chương trình nào khác ở Việt Nam được khen ngợi và bị chê bai, được ngưỡng mộ và bị khinh thường như chương trình RD…

RD là viết tắt cho “Revolutionary Development – Phát triển Cách mạng”, một khẩu hiệu thất bại cho một ý tưởng đáng khen: xây dựng một cuộc sống mới trong các làng mạc Việt Nam, một cuộc sống được xây dựng từ an ninh, thịnh vượng và tin tưởng. Hai người lính mặt trận Mỹ được xem như là “cha đẻ” của phong trào: Thiếu tá Frank Scotton và Đại úy William Dreyer. “Chúng ta đánh nhau với Việt Cộng ở đây thì có lợi ích gì”, họ đã giải thích ngay từ năm 1963, “nếu như sau đó không giữ được những ngôi làng. Chỉ có thể chiến thắng ở đây nếu như mang an ninh và hòa bình lại cho làng mạc. Nhưng chỉ có thể làm được điều đó nếu như người dân có thể tự giúp mình!”

Cuối cùng thì người Việt cũng khuất phục trước sự ồn ào không biết mệt mỏi của hai người lính mặt trận: năm 1965, một bộ được thành lập để thực hiện ý tưởng đó từ trên xuống. Ý tưởng chính được công bố khắp nước: “Ngay sau khi thanh trừng xong một ngôi làng hay một nhóm nhà nông dân, những nhóm RD cần phải đại diện cho sự hiện diện của chính phủ và bắt đầu cuộc đấu tranh chống lại những hoạt động bí mật, khủng bố và tham nhũng. Họ cần phải đứng sát cánh tư vấn và giúp đỡ những người nông dân trong mọi lĩnh vực của cuộc sống trong làng và chỉ ra đi khi việc tự bảo vệ được bảo đảm. Chương trình này phải được tiến hành bởi những người tự nguyện. Việc không thể tránh khỏi là sẽ luôn có người chết trong cuộc chinh chiến này.”

Ít nhất thì dự đoán này đã trở thành hiện thực: Cho tới nay đã có 891 người RD chết trong “cuộc chiến ở phía sau mặt trận” này…

Chương trình có thể có nhiều tác động, nhưng không trong quy mô mong đợi. Nó thất bại vì nhiều thiếu sót và bất cập mang đặc tính Việt. Khiếm khuyết nặng nhất là thiếu sự an toàn: những nhóm RD phải hoạt động độc lập, không có sự bảo vệ của quân đội. Và ở Việt Nam thì ngay đến cả những người lý tưởng mơ mộng cũng không đánh giá cao điều ấy. Một mặt thì đa số những nhà cách mạng nông thôn này được tuyển chọn từ số đáng thương còn lại của những cuộc tuyển chọn khác: những ai không được quân đội, lực lượng dân quân, địa phương quân, không được Cảnh sát Quốc gia, Lực lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG – Civilian Irregular Defense Group) và Việt Cộng tuyển mộ để cầm súng chiến đấu thì cuối cùng còn lại cho RD. Vì vậy mà đó không phải là hạng nhất.

“Phần lớn người RD của chúng tôi đến từ thôn làng hay trại tỵ nạn”, Nguyen Be nói, 37 tuổi, thiếu tá quân đội, chỉ huy Trại Huấn luyện RD ở Vũng tàu. “Khoảng 20 phần trăm mù chữ. Chúng tôi thường đưa những người này vào nhóm quân sự của đội 59 người, vì bắn súng thì ai trong số họ cũng biết.”

Nhưng chỉ với bắn súng thôi thì không thể xây dựng được một ngôi làng. Vì vậy mà trọng tâm nằm ở ba nhóm khác: nhóm chỉ huy (khai sáng chính trị, hỏi cung, chăm sóc y tế), nhóm kỹ thuật (quản lý hành chánh, khiếu kiện, tuyên truyền) và nhóm phát triển (thầy giáo cũng như chuyên gia về thủy lợi, cải cách ruộng đất, nông nghiệp và tái xây dựng). “Người của chúng tôi nằm trong độ tuổi từ 17 tới 40”, Thiếu tá Be nói. “Nhưng không có người trong tuổi từ 22 tới 25, vì hầu hết họ đều ở trong quân đội. Vì vậy mà chúng tôi cũng nhận cả những người trẻ tuổi hơn.”

Và đó cũng là một khuyết điểm của chương trình: nông dân không thích để cho người trẻ tuổi hơn giảng giải. Ở Việt Nam cũng không…

Khóa đào tạo kéo dài mười hai tuần. Rồi từ trung tâm ở Vũng tàu, các đội bắt đầu đi vào hoạt động. Ở đây, họ phải chứng tỏ rằng họ đã học đủ để thực hiện “11 tiêu chí” dẫn đến việc bình định một ngôi làng: tiêu diệt lực lượng bí mật của cộng sản, loại bỏ tham nhũng, xây dựng một tinh thần mới, dân chủ hóa hành chính, xây dựng lực lượng tự vệ, xóa bỏ mù chữ, phát triển, tiến hành cải cách ruộng đất, phát triển nông nghiệp và thủ công cũng như xây dựng đường xá và các hệ thống tưới nước.

Một người lính RD phải đăng ký phục vụ hai năm. Lương tháng: 3500 đồng. Ai muốn bỏ ngũ thì phải trả 12.000 đồng. “Sức thu hút của tiền bạc là không quan trọng”, thiếu tá Be nói, “người chúng tôi có thể lãnh hàng tháng 15.000 đồng nếu làm việc cho người Mỹ. Nhưng dù vậy vẫn có đủ người tình nguyện đăng ký. Cho tới nay, chúng tôi có 590 đội với 34.819 người đang hoạt động. Trong năm nay, chúng tôi tiếp tục đào tạo thêm 28.000 người nữa. Mục tiêu của chúng tôi: 2000 đội với tổng cộng 120.000 người.  Qua đó chúng tôi sẽ thực hiện điều mà Nam Việt Nam đang cần nhất: an ninh cho làng mạc, xây dựng một hệ hành chánh tự quản thực sự và công bằng xã hội.”

Nhưng Thiếu tá Be, người đã làm việc cho mục đích ấy ngay từ thời Diệm, biết rõ con đường đi còn dài cho tới đâu: “Chúng tôi muốn bình định 1100 ấp trong năm nay. Nếu chúng tôi làm được điều đó trong 500 ấp – thì là đã rất thành công rồi.” Và rồi ông chán nản nói thêm: “Thiếu nhiều điều kiện tiên quyết. Ở đây thì tất cả mọi thứ đều tuân theo câu nói: Ai có tiền thì có quyền. Nhưng ngày nay có tiền là những người tham nhũng và hưởng lợi từ chiến tranh. Đạo đức là cái nằm lại.”

Và cho tới chừng nào còn như thế thì những chương trình tốt nhất cũng phải thất bại – mặc dù lẽ ra chính chúng là bước đi đầu tiên tiến đến hòa bình…

Tất cả mọi thứ đều dễ dàng. Người ta chỉ cần bước vào tòa nhà Rex ở Sài Gòn và nói: “Tôi muốn đi về đồng bằng sông Cửu Long.” Thế là người ta có ngay cảm giác: Họ đã chờ sẵn như vậy, rằng người ta muốn đi về đồng bằng sông Cửu Long. “Không có khó khăn gì đâu”, Don Jones, một trong những Press-Affair-Officers, nói, “sáng sớm ngày mai 7 giờ 10 ở phi trường Tân Sơn Nhứt, Căn cứ Trực thăng 125, Đại úy Mariano sẽ chờ anh. Anh đi chuyến buýt vào lúc 6 giờ sáng từ Brinks. Được chứ?” Tất nhiên là được rồi – chỉ là vào buổi sáng ngày hôm sau thì chiếc trực thăng không có ở đó. Đại úy Mariano cũng không. Thay vào đó là một viên hạ sĩ quan ngồi uể oải trước một cái bàn. “Anh là người Ấn đó à?” anh ta hỏi. Người ta giật mình. Nhưng ở Việt Nam thì người ta không được phép giật mình hoảng sợ. Người ta phải dự tính với mọi việc. Thế là người ta nói. “Rất đáng tiếc, hạ sĩ – tôi là người Eskimo.” Điều ấy không làm cho anh ta ngạc nhiên. “Tôi chỉ biết về một ông người Ấn mà chúng tôi cần phải chở ông ấy đến đồng bằng sông Cửu Long.” Vâng, đến lúc đó thì đã quá muộn để hóa thân mình thành một người Ấn Độ…

Thật sự là thế – tất cả mọi việc đều dễ dàng. Người ta trở về tòa nhà Rex và nói: “No helicopter, no Mariano.” – “Oh sorry”, Mister Jones chưng hửng. Nhưng chỉ vài giây đồng hồ, rồi anh ấy có một ý tưởng. “Wait a moment –”, bàn tay anh ấy cầm lấy điện thoại, “hello Bill…”

Vì thế mà người ta bất ngờ quen được với những người quan trọng ở Việt Nam. Vì Bill là người của RMK-BRJ. Và sáu chữ cái ấy ở Việt Nam thì người ta biết đến nhiều hơn là tên của tổng thống. Vì RMK-BRJ có 52.000 nhân viên…

Trụ sở của công ty xây dựng Mỹ RMK-BRJ tại số 2 Duy Tân (nay là đường Phạm Ngọc Thạch), Quận 1, Sài Gòn, VNCH, tháng 1 năm 1972.

“Bắt đầu với việc phải mở rộng phi trường ở Đà Nẵng và Pleiku năm 1962”, James A. Lilly, Tổng Giám đốc RMK nói. “Nhưng lực lượng công binh của Thủy Quân Lục Chiến – chịu trách nhiệm cho tất cả các dự án xây dựng – không còn đủ năng lực. Thế là người ta tìm đến chúng tôi. Đó là một dự án 15 triệu dollar. Chúng tôi nhận ‘công việc’ đó. Vâng, và rồi chúng tôi đã ở lại kể từ lúc đó – mặc dù công việc thì nguy hiểm và lợi nhuận thì không bao nhiêu.”

Khi người Mỹ nhận một ‘công việc’ chỉ mang lại rất ít lợi nhuận thì cả nửa thế giới sẽ sửng sốt và chăm chú lắng nghe. “Mister Lilly – thế thì bao nhiêu công sức và rủi ro để làm gì, nếu như hầu như không có lợi nhuận gì hết?”

Người đàn ông với mái tóc bạc cắt ngắn, mang nhiều trách nhiệm hơn tướng lãnh nào đó ở Việt Nam, suy nghĩ không lâu: “Đây”, ông ấy nói và đặt một hóa đơn lên bàn, “trong ngành của chúng tôi, người ta thường tính toán từ 10 đến 15 phần trăm lợi nhuận. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ nhận được 1,7 phần trăm của chi phí thực tế. Và rồi khi công việc của chúng tôi thỏa mãn được mọi yêu cầu về chất lượng và được thực hiện đúng thời hạn, thì sẽ có thêm 0,67 phần trăm tiền thưởng. Tại sao chúng tôi lại làm ‘công việc’ này mặc dù vậy? Vì đó là một nhiệm vụ hết sức lớn cho chúng tôi – ở đây, chúng tôi xây dựng đất nước này. Và như là người Mỹ thì tôi chỉ có thể nói với anh rằng: đứng ở sau đó là một ít niềm tự hào và lòng yêu nước. Nếu như chỉ vì kinh doanh thì chúng tôi đã không ký kết hợp đồng này.”

Một hợp đồng bắt đầu với một chương trình 15 triệu dollar và hiện giờ đã tăng lên đến 800 triệu dollar…

RMK-BRJ là chữ đầu viết tắt của bốn công ty xây dựng lớn nhất của Mỹ, đã liên kết với nhau ở Việt Nam: Raymond International, Morrison-Knudsen, Brow and Root và Jones Contruction.

“Vào lúc bắt đầu hợp nhất thì hầu như chỉ là công trình quân sự”, James A. Lilly nói, “nhưng ngày nay thì đúng là chúng tôi có thể gọi mình là ‘người xây dựng Việt Nam’. Vì ngày nay, chúng tôi không chỉ xây phi trường quân sự, phi đạo, căn cứ, kho đạn – chúng tôi xây dựng 80% các cơ sở ở Việt Nam: cảng mới, cầu tàu, bệnh viện, làng mạc, nhà thờ, trường học, đường xá, đài truyền hình, vâng thậm chí còn cả nhiều thành phố nữa. Ví dụ như hiện nay đang thành hình một thành phố vệ tinh ở Long Bình có 50000 người sống trong đó.”

RMK-BRJ đại diện cho chương trình lớn nhất ở Việt Nam – và chắc hẳn cũng là chương trình có nhiều tác động nhất. Vì cho tới nay đã có công trình và kết cấu xây dựng với giá trị 485 triệu dollar được thực hiện, và mỗi tháng người ta xây thêm cho 50 triệu dollar. Như Lilly nói, “đó là một cuộc đầu tư mà rồi một ngày nào đó sẽ ra hoa kết trái: Khi chúng tôi rời đất nước này, Việt Nam sẽ thừa hưởng hàng ngàn dự án – hiện đại hơn ở bất cứ quốc gia Á châu nào khác.”

Nhưng điều ấy cũng không đánh lừa được ai, rằng sự thịnh vượng được mong đợi ấy khó mà có thể có được với công sự dưới mặt đất, phi đạo, căn cứ quân sự và kho đạn…

Nhưng một mặt khác của RMK-BRJ, nhà đầu cơ xây dựng nhập khẩu hằng tháng 200.000 tấn vật liệu này, sẽ trở thành phước lành cho dân tộc bị hành hạ, thiếu giáo dục và tiến bộ này: đào tạo chuyên môn hàng chục ngàn công nhân, những người cộng tại tại các dự án RMK từ nhiều năm nay.

“Với chúng tôi, họ học cách điều khiển các cỗ máy phức tạp như thế nào, người ta lập kế hoạch như thế nào, người ta tính toán như thế nào”, Lilly nói. “Sẽ luôn có những người khăng khăng nói rằng: ‘Vâng – các anh nói về đào tạo, nhưng thật ra các anh chỉ bóc lột họ mà thôi.’ Tôi có thể trả lời những người đó: 14.000 công nhân đã qua khóa đào tạo không mất tiền tại chỗ chúng tôi. Chúng tôi đã thành lập cho họ một hệ thống xã hội mới: tiền lương theo năng lực và an sinh cho mọi người. Và chúng tôi đã cho họ thấy rằng công việc cũng được tiến hành mà không cần có tham nhũng. Điều này có ý nghĩa như thế nào cho Việt Nam thì chỉ có những người hiểu biết tình hình ở đây mới đánh giá hết được.”

Người tổng giám đốc của tập đoàn xây dựng lớn nhất thế giới nói trúng tâm điểm: Ngay RMK – những “người xây dựng Việt Nam” đáng tin cậy – trong các kế hoạch của họ cũng phải dự tính với một tỷ lệ thất thoát vật liệu hàng tháng là mười phần trăm! Lợi nhuận mà những gã khổng lồ này không nhận được, lợi nhuận đó bị lấy đi bởi những tên tí hon – những tên mua bán trên chợ đen, những kẻ tiêu thụ đồ vật ăn cắp, những tên trộm. Vì cả Việt Nam cũng mắc phải bệnh tật xấu không thể trừ tiệt được ở châu Á (và cả những nơi khác): tham nhũng. Thời nở rộ của nó đã luôn là thời chiến…

Dòng tu Malta: “Ở đây mọi thứ đều là rủi ro”

Chuyến đi đến Sứ quán Đức đầy chướng ngại: tài xế taxi ở Sài Gòn – một sự pha trộn lôi cuốn từ lợi dụng lấy giá cắt cổ và lái xe liều mạng – về cơ bản là hiểu hết tất cả và không hiểu gì hết. Họ luôn gật đầu tỏ vẻ hiểu biết, trông như thế – nhưng rồi không biết gì cả. “German Embassy”, người ta nói thật rõ ràng, rồi còn thêm vào “l’ambassade d’Allemagne”. Một cái gật đầu và một nụ cười tươi sáng – anh ấy đã hiểu, chàng nghệ sĩ đằng sau tay lái. Tiếp theo sau đó là chuyến mạo hiểm “Sài Gòn trong chiếc taxi”… Đầu tiên là phanh hoạt động không tốt. Nó đã như thế từ nhiều tháng nay rồi. Rồi cửa xe bật ra và gạt ngã một người đi xe đạp. Cửa này không có khóa và sợi dây giữ nó lại đã bị đứt ngang. Người đi xe đạp phủi quần và không nói gì – dường như anh ấy đã quen với những cú đập vào gáy như vậy, thậm chí là những cú đập từ cửa xe. Ở bùng binh kế đến, còi xe không hoạt động. Thật ra thì nó đã luôn như thế, và bởi vì vậy mà cái chắn bùn trông giống như bị búa đập. Nhưng có ai cảm thấy phiền hà kia chứ? Người ta đã quen với việc va chạm và vẫn có một nét mặt bình thản.

Trạm xá của Dòng tu Malta tại Việt Nam

“Đi taxi thì nhiều lắm là mười phút sẽ đến sứ quán”, ai đó đã nói vậy. Nhưng anh chàng cười luôn miệng với chiếc xe tăng nhỏ của anh ta đã chạy đến 25 phút rồi. “L’Ambassade d’Allemagne”, người ta giải thích cho anh tài thêm lần nữa. Anh ấy lại cười chỉ tới phía trước, nơi có một trạm xăng hiện ra. “No, nein, njet”, người ta kêu rên bất lực – và rồi may mắn là anh ấy lái xa chạy ngang qua trạm xăng.

Và dần dần thì người ta có cảm giác: Nếu anh ta không ngừng lại thì chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ ở bên Campuchia. Ôi, Sài Gòn, nơi chốn của tội lỗi, có lẽ con người này là một Việt Cộng, nhận những tên ngu đần vô hại lên taxi để rồi…

Đừng sợ – tài xế taxi Sài Gòn không bắt cóc du khách. Họ chỉ là moneymaker, lợi dụng cơ hội và không hiểu gì cả – tất cả họ đều tuân theo một châm ngôn: Cứ chạy, và chạy, và chạy. Và cuối cùng rồi thì anh ta cũng dừng lại – một cú xoay xe thật cừ khôi, một nụ cười thân thiện: “Tran Van Cao zin zack Duc” – hay giống như thế. “Cả thảy 150 đồng.”

Nhưng cả với số tiền đó thì người ta cũng không ở tại Sứ quán Đức, mà trước một cửa hàng xúc xích của người Hoa. Ngay giữa Chợ Lớn…

“Thật ra thì tôi nghĩ anh sẽ đến sớm hơn”, ông đại sứ Đức nói nhiểu giờ sau đó, người không biết những tấn bi kịch như thế. Nhưng Tiến sĩ Wilhelm Kopf là một con người với những đức tính không thể thiếu được ở Sài Gòn – rất thông cảm, không theo lề lối thông thường, thích tiếp xúc. Một người biết quan sát, ứng phó và quyết định.

Nói chung, những người Đức ấy ở Sài Gòn: một nhóm người trẻ tuổi, hết mình cống hiến cho một nhiệm vụ mà chỉ với những công việc ngoại giao thường ngày thì không thể giải quyết được – đại diện và hoạt động có hiệu quả nhưng đồng thời không bị lôi cuốn vào trong “vụ việc ấy”…

“Sự giúp đỡ của Đức cho Việt Nam không phải là hoàn toàn không có vấn đề”, như đại sứ Tiến sĩ Kopf diễn đạt, “tiêu chí quyết định là: nó phải mang lại lợi ích cho mọi người cũng như kích hoạt sự quan tâm và cộng tác của người nhận. Quà tặng phi cá nhân hay những thí nghiệm theo kiểu phân chia đồng đều cho tất cả đều không đúng chỗ và cuối cùng thì chỉ có hại thôi. Dù làm bất cứ việc gì – người ta phải đối mặt với sự biếng nhác và lề mề. Và chúng ta phải biết rằng – giúp đỡ bất cứ lúc nào nhưng: chúng ta không tham gia vào cuộc chiến…”

Một tượng trưng cho sự giúp đỡ của nước Đức rõ ràng là chiếc tàu bệnh viện “Helgoland”. Ai cũng biết nó, ai cũng nhìn thấy nó – nơi nó thả neo, bến tàu “Quai de Belgique” là nơi phô diễn của Sài Gòn. Nhưng bên cạnh con tàu bệnh viện ấy cũng có những sự giúp đỡ khác – không gây nhiều sự chú ý như thế, nhưng rất có chủ đích và chính vì vậy mà rất có hiệu quả.

Từ 1958 nước Cộng hòa Liên bang Đức vận hành một trường kỹ thuật Đức-Việt mà vài trăm người trẻ tuổi đã được đào tạo ở đây.

Nhiều sinh viên Việt Nam đã nhận được học bổng kéo dài nhiều năm tại các trường đại học Đức.

Nước Cộng hòa Liên bang Đức đã đầu tư 20 triệu DM vào công cuộc xây dựng một nhà máy chế biến thịt.

Cùng với người Pháp, nước Cộng hòa Liên bang Đức xây dựng một nhà máy phân bón lớn ở phía tây nam Đà Nẵng.

Cho việc xây dựng các trại tỵ nạn, trên 25 triệu DM đã được chi ra cho đến nay, đồng thời, 870 tấn gạo cũng đã được cung cấp cho những người tỵ nạn đang gặp khó khăn ở phía bắc của đất nước này.

Số tiền quyên góp 16 triệu DM sẽ góp phần giúp giải quyết tình trạng thiếu thốn các loại thuốc chữa bệnh đang rất cần kíp.

“Và khi nói về sự giúp đỡ của nước Đức”, đại sứ Tiến sĩ Kopf nói, “thì cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng – tôi còn muốn nói là đầu tiên – phải nhắc đến đội ngũ tuyệt vời ấy, đang tiến hành những công việc gương mẫu ở Đà Nẵng, An Hòa và Hội An. Tôi muốn nói đến những người của Dòng tu Malta…”

“Họ là những người Phương Tây duy nhất đối xử thân thiện chân thật và nhân ái chân thật với những người Việt nhỏ bé, dễ bị tổn thương”, như Mary McCarthy, người có sách bán chạy ở Mỹ và cũng là người đã đi thăm Việt Nam, nhận định trong tác phẩm mà ngoài ra thì nặng phần chỉ trích của bà.

Phần lớn đều đến Hội An bằng trực thăng. Đó là đường đi an toàn nhất. Chỉ những người của Dòng tu Malta – với chiếc thánh giá huy hiệu của dòng tu và chữ “Đức” trên áo – là thản nhiên lái xe Jeep tinh tươm qua đồng quê. “Ở đây mọi thứ đều là rủi ro”, Franz Freiherr von Loé, 31 tuổi, từ gần một năm nay là trưởng đội của Dòng tu Malta tại sự hẻo lánh khốn khổ của Hội An này. “Ngay từ ngày đầu tiên, Việt Cộng đã biết chúng tôi có mặt ở đây. Nếu như họ muốn bắt cóc chúng tôi thì họ đã có thể làm việc ấy từ lâu rồi…”

Con đường đi, mà chúng tôi cực nhọc lắc lư từ ổ gà này qua ổ gà khác, chỉ “thông” được có 10 kilômét. Mười kilômét này nằm trong “vùng an ninh” bao quanh phi trường Đà Nẵng. Ai đi ra ngoài vùng ấy thì giống như thú bị săn bắn tự do. Vì cũng giống như người Mỹ, Việt Cộng cũng có những luật chơi không thành văn của họ. Và thuộc vào trong số đó là việc người ta không nên xuất hiện trong vùng đất của họ mà không đi theo đoàn xe. Ngoại trừ những người của Dòng tu Malta – ngay từ đầu, họ đã làm như họ hoàn toàn không biết gì cả. “Chúng tôi muốn giúp đỡ người dân gặp bất hạnh ở đây”, ông nam tước nói, người trước đây một năm còn là nhân viên trong Bộ Nông nghiệp ở Düsseldorf, “và chúng tôi mặc kệ việc họ theo tôn giáo nào hay đường hướng chính trị nào. Chúng tôi không phải là chiến binh, chúng tôi là những người đi cứu giúp.”

Ý tưởng ấy thành hình năm 1966. Lúc ấy, người đứng đầu tổ chức từ thiện Malteser-Hilfsdienst, bá tước  Landsberg-Velen, bay sang Việt Nam. Ông tin rằng có thể tìm thấy một lĩnh vực làm việc ở đây cho dòng tu. Ông bá tước không nhầm…

“Chúng tôi biết rằng chúng tôi chỉ có thể giúp đỡ một cách khiêm tốn”, ông nói. “Ngay từ đó là chúng tôi khác biệt với nhiều dự án khác. Nhiệm vụ của chúng tôi là: đi đến nơi mà sự khốn khổ lớn nhất, trước hết là mang sự giúp đỡ cá nhân đến và thực hiện nó sao cho người nhận phải tham gia phần của mình vào trong đó. Nó cần phải là một sự giúp đỡ để rồi người ta tự giúp lấy chính mình.”

Ý định ấy – ngày nay có thể nói như vậy – thành công, vì tình cảnh thật đau buồn đã kêu gọi một sự giúp đỡ như vậy: Ở Việt Nam, nơi có 15 triệu người sinh sống, có 1000 bác sĩ được phép hành nghề! Nhưng cần ít nhất là 5000 người để tạm xóa bỏ bệnh tật, đau khổ và khốn cùng. Hàng trăm ngàn bệnh nhân chen chúc nhau mỗi năm trước vài bệnh viện, phòng khám và phòng thuốc, những nơi dẫu sao thì cũng đã quá tải. Vì chỉ riêng trong năm vừa qua thì đã có 34.000 người dân thường bị thương tích, một phần là bị thương nặng, vì tác động của chiến tranh. Thí dụ như tỉnh Quảng Nam, nơi những người của Dòng tu Malta hoạt động: có 800.000 người sống ở đây. Chỉ có duy nhất một bệnh viện với tròn 220 giường cho họ – nếu như người ta không tính căn cứ quân sự Đà Nẵng. Một bệnh viện cho hàng trăm ngàn người!

“Lúc đó, ở Sài Gòn người ta đã nói với tôi”, ông bá tước nhớ lại, “ông muốn làm gì ở tỉnh Quảng Nam? Với ít người như vậy. Đó không phải là giúp đỡ – đó là tự sát.” Mặc dù vậy, bá tước Landsberg vẫn bay đến Đà Nẵng, Huế, Hội An và An Hòa – vào giữa một vùng được cho là thành trì của Việt Cộng. Và ông ấy đã quyết định: “Chúng ta sẽ đến đúng nơi đây!”

Quyết định đó là đúng đắn: Sự giúp đỡ của những người thuộc Dòng tu Malta hiện giờ đã chứng tỏ là thành công hơn những hành động gây nhiều sự chú ý tương tự, được thực hiện theo cách phân bố đồng đều rộng khắp như trong một hệ thống tưới nước.

Đối với Việt Nam, nó không chỉ là một sự giúp đỡ – nó là một hành động lớn lao…

Nó là một hành động lớn lao, bởi vì nó chỉ dựa trên lý tưởng: chiếc cầu nối với những người đang chịu đựng đau khổ không phải được xây bằng tiền và vật chất, mà là bằng sự hy sinh cá nhân, tính sẵn sàng, lòng nhân đạo và cống hiến cho nhiệm vụ. Đó là còn chưa nói đến lòng can đảm gắn liền trong đó…

“Thật ra thì tôi chỉ muốn làm một chuyến đi xa”, Luise Drahts 23 tuổi, nhân viên phòng thí nghiệm của Dòng Mata ở Hội An thú nhận, người đã tình nguyện đăng ký đi sang Việt Nam cũng như tất cả những người khác. Cho tới lúc đó, cô là y tá ở Köln. “Khi tôi xin thôi việc và nói rằng tôi muốn đến Việt Nam, sếp tôi nói: ‘Ai cũng có lần muốn trở thành người tàn phế.’ Nhưng tôi vẫn quyết tâm – và cho tới ngày nay tôi vẫn không hối hận, mặc dù người ta nhìn thấy những sự việc thật đáng sợ ở đây mỗi ngày.”

Klaus Tschoepe, 22 tuổi, nhân viên hành chánh từ Münster, cũng tường thuật tương tự. “Lúc đầu rất tệ – lúc nào cũng có bắn nhau, cảm thấy không an toàn, hình ảnh thật đáng sợ ấy, khi trẻ con hay những người không thể tự bảo vệ bị trọng thương nằm ngay trước mặt mình. Nhưng chúng tôi đã cắn răng chịu đựng và cố gắng hết sức mình.”

Điều ấy rõ ràng là đã lan truyền đi xa. Khi Việt Cộng bắn súng cối hai lần liên tiếp nhau vào Hội An, đã có tử vong và nhiều người bị thương. Ngay trong lúc cuộc pháo kích vẫn còn diễn ra, người của Dòng tu Malta đã nhảy xuống giường và chạy đến những nơi xảy ra thảm họa. Họ là những người đến giúp đỡ đầu tiên. “Tôi tin rằng người Việt không quên chúng tôi”, Tschoepe nói, “bắt đầu từ ngày đó hầu như ai trong số họ cũng chào chúng tôi. Và những người bản địa giúp chúng tôi đã làm việc một ngày không công cho chúng tôi.”

Ngay cả Việt Cộng cũng thể hiện lòng khoan dung. Cách nơi trú ngụ được bảo vệ bởi những lô cốt bằng bao cát của người Dòng Malta chỉ chừng một trăm mét có một trại tù với hơn 1000 Việt Cộng. Hồi cuối tháng 7, hai tiểu đoàn Việt Cộng tấn công vào Hội An và giải phóng các tù nhân.

Những người của Dòng tu Malta không bị sao cả – Việt Cộng chỉ chạy ngang qua chỗ họ…

Đáng ngạc nhiên là họ đều hết sức trẻ, những người mà đã tạo cho mình thiện cảm và sự kính trọng ở nước Việt Nam xa xôi.

Tối tối – khi không ai ở Việt Nam (ngoại trừ trong các thành phố) có thể rời nhà – họ ngồi trên nóc các lô cốt của họ và vừa chơi đàn ghi ta vừa hát. Ai lắng nghe họ và nhìn những gương mặt thì sẽ biết rằng thật ra thì họ đang hát để chống lại nỗi nhớ nhà và sự khốn khổ khủng khiếp ở xung quanh. Nhưng không ai trong số họ sẽ thừa nhận điều đó. Họ có nhiệm vụ của họ ở đây – và họ cố gắng hoàn thành nó.

Thỉnh thoảng, họ ngồi trên nóc của cái tháp nước nhỏ và quan sát cuộc chiến. Vì từ khi người của Dòng tu Malta đến Hội An, họ có hậu cảnh ấy không mất tiền: những trận chiến bằng pháo và súng cối, những cuộc đấu tay đôi của đại liên, những lần ném bom. Họ đã trở thành những chuyên gia của cuộc chiến. Nhưng tất nhiên rồi thỉnh thoảng cũng có lúc một quả đạn lớn nổ thật gần. Thế rồi họ phải tuột theo cái thang sắt của chiếc tháp xuống, nhanh nhẹn như những con chồn, vì: “Mẹ đã nói rồi – con ạ, không tham gia vào trong đó…”

Mỗi sáng, họ phải đi ra vùng nông thôn – từng nhóm hai người, túi xách đầy thuốc men. Những gì là tiền đồn của giới quân đội thì lại là trạm xá đối với người của Dòng tu Malta – một ngôi nhà nhỏ bằng tre mà trước đó có hàng trăm bệnh nhân và người đang tìm sự giúp đỡ chen nhau đứng. Trẻ con, người già, Việt Cộng. “Một nhóm chúng tôi đi đến Cham Chau”, một trong những người trẻ tuổi giải thích kế hoạch hoạt động, “ở làng đó có rất nhiều người bị ghẻ lở. Một nhóm khác lái xe Jeep đi xa 50 km để đến Dai Loc, nơi có hàng chục ngàn người tỵ nạn. Cho tới nay chúng tôi vẫn không biết đó là 15.000 hay 60.000.” Cũng giống như ở những trại tỵ nạn khác mà người Dòng tu Malta làm việc ở đó: Không bao giờ họ biết có bao nhiêu người cần sự giúp đỡ của họ – vì họ không hỏi, họ giúp đỡ.

“Đó chỉ là một sự giúp đỡ đầu tiên”, Freiherr von Loé nói, “điều quan trọng nhất là người dân tự mình muốn cộng tác – sống vệ sinh hơn, rửa ráy, chống lại cái dơ bẩn. Thuốc của chúng tôi chỉ là một điểm khởi đầu.” Họ có thể cần rất nhiều thuốc men, những người của Dòng tu Malta. Nhưng ngân sách của họ rất hạn hẹp. Vì vậy mà họ phải dựa vào những quyên góp đến Việt Nam từ nước Đức xa xôi – thuốc mẫu cho bác sĩ.

“Thỉnh thoảng, chúng tôi rất ngạc nhiên” – trong giọng nói của Freiherr có một ít sự thất vọng – “với những thứ thuốc chúng tôi đôi lúc nhận được. Thuốc mẫu cho bác sĩ từ hồi Đệ nhị Thế chiến. Thậm chí có một lô được dán nhãn ‘1934’.”

Người ta phải xấu hổ về những nhà cung cấp như vậy. Giúp đỡ cho Việt Nam…

“Helgoland” – “Con tàu của hy vọng”

“Đất nước này đau ốm vì hoàn cảnh sống, không chỉ vì chiến tranh.” Người bác sĩ 38 tuổi, Tiến sĩ Gerhard Freilinger từ Wien, buồn bã nói. Từ khi ông ở Việt Nam – hai tháng nay – như là bác sĩ, ông đã “nhìn và trải nghiệm nhiều hơn là với công việc nhiều năm trời tại Bệnh viện Phẫu thuật Đại học II ở Wien”.

Freilinger, bác sĩ chuyên về phẫu thuật thẩm mỹ, là một trong số ít những người tình nguyện sang Việt Nam sau khi nghe được rằng chuyên viên y khoa đang rất cần ở đó – đặc biệt là những người mà tài nghệ bác sĩ của họ rất cần cho những nạn nhân đáng thương nhất của cuộc chiến này: những người đàn ông, đàn bà, trẻ con vô danh mà gương mặt họ đã bị chiến tranh tàn phá, đốt cháy, làm tan biến nét người. Ông bác sĩ từ Wien biết những gì chờ đợi mình ở Việt Nam. Nhưng hiện thực tồi tệ hơn rất nhiều. “Nó vượt quá mọi khả năng tưởng tượng.”

Tàu bệnh viện Helgoland ở Vietnam

Freilinger làm việc tại hai bệnh viện, ở bệnh viện quân đội Cộng Hòa cũng như tại bệnh viện dân sự Chợ Rẫy. Hằng ngày, ông nhìn thấy những gương mặt không còn là gương mặt nữa. Ông ấy cần phải chữa lại những dấu vết thật khủng khiếp của cuộc chiến này, những cái nội trong vài giây đồng hồ đã biến dạng những con người lành mạnh nhiều đến mức không còn có thể nhận ra được nữa. “Sáng hôm nay họ mang đến cho tôi một cậu bé mười tuổi”, người bác sĩ nói. “Chiếc xe buýt mà cậu bé đi ở trên đó đã chạy qua một trái mìn. Cậu bé bị mất một nửa gương mặt bên trái và quai hàm. Hầu như không thể phẩu thuật cho cậu bé ấy được nữa.” Đầu tiên thì thiếu những loại thuốc cần thiết. Rồi trong lúc mổ, người ta còn đẩy vào phòng mổ hai ca còn nặng hơn thế nữa. Sau đó, máy điều hòa bị hỏng. Và do vậy mà ruồi bay vào. “Cả bầy ruồi lao vào gương mặt của cậu bé”, Freilinger nhớ lại, “chúng đẻ trứng ngay vào giữa vết thương còn mới, và điều tồi tệ nhất trong lúc đó là người ta không thể ngăn chặn được điều ấy. Thêm vào đó là cái nóng nực. Tất cả những điều ấy khiến cho ngưởi ta tuyệt vọng…”

Người bác sĩ từ Wien tiến hành phẩu thuật bốn giờ liền cho cậu bé bị trọng thương, rồi em được mang sang một phòng bệnh kế cận trên một cái cáng. “Nhưng phòng bệnh ở Việt Nam ra làm sao kia chứ”, Tiến sĩ Freilinger nói. “Cậu bé ấy phải chia sẻ giường của mình với một người bị thương khác. Và rồi người thân ngồi xung quanh đó: Họ sắp xếp đồ đạc ở lại trong bệnh viện để chăm sóc cho người bệnh của họ. Và không có khả năng nào để ngăn chận điều đó. Họ nấu nướng ở đó, họ ăn và họ nằm xuống ngủ quanh những chiếc giường bệnh trên sàn nhà. Tôi có còn phải nhấn mạnh rằng sự dơ bẩn không thể tưởng nào đã tụ lại ở đó không? Nhưng tình trạng ấy là không thể thay đổi – vệ sinh là từ ngữ xa lạ ít được biết đến nhất trong những từ ngữ xa lạ.”

Cả sự chăm sóc tiếp theo sau đó cho bệnh nhân – dưới con mắt của một người Âu – cũng thiếu thốn. “Bác sĩ trong các bệnh viện nhận tiền lương tháng 240 Mark. Đó có là bao nhiêu trong một đất nước mà vòng xoáy lạm phát quay tít? Họ khám bệnh thêm ở phòng mạch tư nhân. Cuối cùng thì không còn nhiều thời gian cho công việc ở bệnh viện…”

Y tá thì không thể khám tư để qua đó tự bảo đảm cho mình có một thu nhập cần thiết cho cuộc sống. Tức là họ tìm đường khác. “Khômg hiếm lần tôi nhận thấy rằng bệnh nhân hoàn toàn không nhận được những loại thuốc hậu phẩu thuật theo quy định.” Tiến sĩ Freilinger phẩy tay tỏ vẻ cam chịu. “Vào lúc đầu tôi đã la lối om sòm – nhưng không lâu sau đó tôi đã chịu thua, vì không ai quan tâm đến điều đó cả. Một phần thuốc men được liên tục bán ra chợ đen, và thật ra thì còn một cách để cho thuốc có thể đến được với bệnh nhân: người ta phải kê ra toa liều lượng gấp đôi. Một phần cho chợ đen, phần kia cho bệnh nhân. Người ta phải tính trước điều đó…”

Tình trạng ở đằng sau lưng của cuộc chiến là những cái gây chán nản. Sự suy sụp của đạo đức, hệ quả tất yếu của sự vô vọng: Cuộc chiến này không có kết thúc – tức là người ta phải sống chung với chiến tranh – bằng cách nào cũng được. Người này thì đánh cắp hàng hóa của Mỹ, người kia bán chúng. Người thứ ba lừa đảo lúc đổi tiền lậu, người thứ tư buôn lậu thuốc chữa bệnh và người thứ năm trở nên giàu có bởi những cô gái sống trên vũng bùn của chiến tranh như những con chuột trên đống rác…

13.000 quán bar ở Sài Gòn là nơi chuyển đổi tình yêu, cơn say và đồng dollar. Ai được phép rời khỏi địa ngục vài ngày thì không cảm thấy đó là phiền toái khi bị lột sạch tiền. Ở Sài Gòn, anh ta có thể quên đi – đánh đổi bằng đồng dollar cứng và cho những khoảnh khắc ngắn ngủi. Ở đây, rừng rậm được mạ crôm và có một gương mặt bằng đèn neon. Rồi tình yêu, nhục dục và thói xấu tự trần trụi phơi bày trước những ánh mắt thèm khát, thiếu thốn…

“Hôm qua tôi có gặp một hạ sĩ quan Mỹ”, Tiến sĩ Freilinger nói, “anh ta tiêu tiền dollar theo kiểu vứt ra cửa sổ. Sau khi rượu Whisky làm mềm lưỡi của anh ta, anh ta tiết lộ công thức của mình: ‘Anh phải cưới một cô gái Việt, bác sĩ ạ’, anh ta nói lè nhè, ‘rồi thì tiền tự nó đến thôi.’ Người ta phải làm như thế nào? Hết sức đơn giản: Người ta trở thành một ông chủ quán bar qua hôn nhân. Người Mỹ bị cấm đầu tư như vậy, vì chỉ có người Việt là có thể đầu tư thôi – nhưng ai mà kiểm tra kia chứ. Thế là người hạ sĩ cưới một cô gái Việt, người mở một quán bar với tiền của anh ta. Tiền bắt đầu bay vào từ lúc đó. Một ngày nào đó, người ta sẽ gởi anh ta trở về Mỹ. “Rồi thì sao, hạ sĩ’, tôi hỏi anh ta. ‘Đơn giản lắm’, anh ta trả lời tôi, “tiền thì tôi mang theo, còn con búp bê thì để lại đây. Tôi nghĩ rằng đó là một cuộc kinh doanh tốt cho cả đôi bên…”

Không chỉ người bác sĩ Áo – không, nhiều nhà quan sát cho rằng những vết thương tồi tệ nhất ở Việt Nam là những vết thương lở loét ra ở hậu phương: Sự suy tàn của trật tự, của tinh thần trách nhiện, của sự bình đẳng xã hội, của nhận thức đạo đức. “Ngay cả sự giúp đỡ có ý tốt nhất cũng chỉ còn là sự việc đơn lẻ dưới những khía cạnh đó”, tiến sĩ Freilinger nói. “Điều mà người dân ở đây thiếu, đó là nhận thức rằng họ phải tự giúp mình – vượt ra khỏi tính thụ động nguy hiểm và sự lười nhác, những cái đã để cho các phần còn lại cuối cùng của tinh thần trách nhiệm cũng lụi tàn đi.”

“Những chiến dịch giúp đỡ có hiệu lực nhất trước sau vẫn là những chiến dịch mà sự thành công của nó phụ thuộc trực tiếp vào sự cộng tác của người Việt”, một viên đại tá giải thích trong Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Mỹ. “Trong đất nước bị bùa mê này, giúp đỡ chỉ có ý nghĩa khi nó đòi hỏi tự mình phải nổ lực. Đó là nguyên tắc chung, và ở đó chỉ có một vài trường hợp ngoại lệ.”

Một trong số đó, viên đại tá nói, là chiếc tàu bệnh viện “Helgoland” – ở đó “người ta làm việc rất tốt”. Chỉ có một điều là viên đại tá không hiểu cho lắm. “Thỉnh thoảng người ta nghe được rằng ở Đức có nhiều sóng gió vì con tàu đó – thật ra thì tại sao kia chứ? Tôi đã không hiểu được vì chiếc ‘Helgoland’ – trước mọi ánh mắt – đã tự chứng tỏ mình một cách xuất sắc. Mọi người đều hưởng lợi từ con tàu ấy – phía bên này cũng như phía bên kia. Cuối cùng thì đó là một truyền thống trên khắp thế giới. Ai mang huy hiệu của Hồng Thập Tự đều không phải là người lính mà là người giúp đỡ – anh ta đứng giữa các chiến tuyến. Điều này cũng đúng ở Việt Nam. Tất nhiên là đã có những khó khăn nào đó”, viên đại tá thừa nhận, “nhưng thứ nhất là: ở đâu mà không có khó khăn? và thứ hai là: một vài mâu thuẫn cá nhân có nghĩ lý gì khi so với những thành tựu đạt được?”

Đây cũng là ý kiến của một luật sư ở Sài Gòn, người mà người Mỹ không thích lắm vì ông ta có đường dây liên lạc với Việt Cộng. “Chiếc tàu ấy là một việc tốt”, ông luật sư nhấn mạnh. “Khi một người đáng thương với một cánh tay bị bắn nát đến đấy thì anh ta có thể chắc chắn rằng sẽ được giúp đỡ – và không hề có những câu hỏi gây bối rối được đặt ra. Tôi nghĩ là điều này cũng đã lan truyền nhanh chóng ở bên Việt Cộng.” Mặc dù vậy, ông luật sư vẫn chỉ ra: “Rất đáng tiếc, ở tại Sài Gòn là con tàu nằm không đúng chỗ. Lẽ ra nó phải ở nơi cuộc chiến gây tác hại nhiều nhất cho người dân – ở cạnh khu phi quân sự, ở gần Đà Nẵng hay Huế. Trong số hơn 34 000 người bị thương trong năm vừa qua, có hơn hai phần ba sống trong vùng này. Một chiếc tàu như thế thuộc về nơi đó, chứ không phải ở Sài Gòn, nơi những người hưởng lợi từ chiến tranh đang tự vỗ béo mình…”

Những khó khăn đầu tiên với con tàu “Helgoland” bắt đầu ngay từ trước khi con tàu nguyên là một con tàu chở khách du lịch tắm biển khởi hành chuyến đi đến Việt Nam cho tổ chức Hồng Thập Tự: Trong giới chính phủ ở Bonn (Hồng Thập Tự Đức trong trường hợp này thì chỉ là cơ quan tiến hành của chính phủ liên bang) người ta ủng hộ quan điểm – “giúp đỡ vật chất vâng – nhưng không gửi người sang Việt Nam!” Nỗi lo sợ, rằng bác sĩ và y tá với huy hiệu Hồng Thập Tự trên tay áo khoác có thể bị nhẩm lẫn với những người tham gia chiến tranh(!), đã làm tê liệt sức lực quyết định của những người có trách nhiệm cả một thời gian dài. Mãi đến khi Hội Hồng Thập Tự Đức thúc giục ngày càng mạnh mẽ hơn, người ta mới gởi – một ủy quan nghiên cứu sang Việt Nam. Các thám thính viên của Quốc Hội tìm hiểu về điều mà hẳn là không cần đến cả một ủy ban: “Không có sự lo ngại nào về việc gửi một con tàu bệnh viện Đức!” Cuối cùng, đèn xanh được bật lên. Vào ngày 14 tháng 9 năm 1967, chiếc tàu 3000 tấn tổng trọng tải đăng ký được cải tạo thành bệnh viện đã thả neo ở “Quai de Belgique”, nơi đẹp nhất và đắt tiền nhất ở Cảng Sài Gòn…

Cũng hoàn toàn không phải là mọi cánh cửa đều mở rộng. Còn ngược lại: Những con người đến để giúp đỡ, ít được giảng giải trước về tính cách của người Việt, chẳng bao lâu sau đó đã vấp phải những cạm bẫy và khó khăn hoàn toàn không tương xứng với nhiệm vụ có ý tốt của họ và thật khó hiểu đối với họ cả một thời gian dài. Niềm vui của họ về nơi neo tàu có giá rẻ – họ sớm nhận ra điều ấy – cũng không được tất cả mọi người cùng chia sẻ: Trước hết, dường như quan điểm về con tàu “Helgoland” rất khác nhau trong một phần giới lãnh đạo của Nam Việt Nam. Và điều ấy có những lý do rất thực tế, không có liên quan gì đến Hội Hồng Thập Tự lẫn người Đức…

Tàu Helgoland đến Việt Nam: thuyền của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đang hộ tống chiếc tàu bệnh viện trên sông Sài Gòn trong tháng 9 năm 1966. Hình của hội Hồng Thập tự Đức

Ở Sài Gòn, ai cũng biết rằng cái bệnh dịch tồi tệ nhất chính là bệnh dịch của các thu nhập thêm. Người ta nói với nhau rằng ở hậu phương lúc nào cũng có thể hưởng lợi từ chiến tranh – người ta chỉ cần ngồi đúng ghế và có những mối quen biết sinh lợi. Rồi thì người ta nhanh chóng có phần từ cái nguồn thu nhập mà ở Việt Nam được gọi là “thuế”. Ai muốn sống an toàn trong chiến tranh đều sẵn lỏng trả tiền cho sự bảo đảm an ninh này. Vì vậy mà không chỉ khách sạn, siêu thị mua sắm, quán bar và cửa hàng mua bán – mà cả cảng Sài Gòn cũng thuộc vào các nguồn béo bở của những người có quyền lực và ảnh hưởng. Vì mỗi một chiếc tàu neo ở đây một mặt thì muốn nhà chức trách để yên cho mình – mặt khác thì cũng không muốn bị gài mìn  đánh bom. Người ta trả tiền bên này cho điều thứ nhất, trả tiền bên kia cho điều thứ hai. Cũng vì vậy mà Việt Cộng cũng biết đánh giá cao Cảng Sài Gòn.

Tất nhiên là chiếc Helgoland không trả “thuế”. Cuối cùng thì chính Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ là người đã để cho “Con tàu Hy vọng” – như chiếc Helgoland được gọi ngay từ đầu – sử dụng “Quai de Belgique” như là một món quà chào mửng. Thế nhưng tiếng nói quyền lực của ông ấy lại làm giảm đáng kể thu nhập của một người ở cận kề ông ta: người phó của ông ta, Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Hữu Có, không còn thu lợi – như tới nay – từ những lệ phí bất hợp pháp ấy cho nơi neo đậu sáng giá nhất Sài Gòn. Không ai ngạc nhiên khi ông Tổng trưởng Quốc phòng tức giận và trút nỗi bực dọc của mình lên những người thực sự không hề biết gì về các tập tục tham nhũng của Sài Gòn: lên các thành viên của đội ngũ tàu Helgoland. Lời chào mừng của người dân thường tại Sài Gòn nồng ấm cho tới đâu thì sự lạnh lùng vào lúc ban đầu từ một số cơ quan nhất định dành cho đội ngũ giúp đỡ nhân đạo của người Đức hẳn phải có tác động đè nặng tới chừng ấy.

“Một số người đã nghĩ rằng sự việc ở đây dễ dàng hơn”, bác sĩ trưởng, Tiến sĩ Heimfried Nonnemann, nhớ lại công việc làm trong những tháng đầu tiên, “nhưng chúng tôi thường gặp phải những khó khăn không thể hiểu được. Thật là chỉ có thể khen ngợi các thành viên trong đội ngũ, rằng mặc dù vậy nhưng họ vẫn cương quyết tiến hành nhiệm vụ của chúng tôi. Những tháng đầu tiên ấy thật là rất khó khăn.”

Mọi việc chỉ tốt lên khi Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ hành động mạnh mẽ: Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, ông thông báo bằng điện tín cho người phó của ông đang trên đường đi công tác ở Đài Loan, rằng ông ta sẽ bị đưa ra xử trước một tòa án quân sự vì tội tham nhũng. Bắt đầu từ đó không còn có cạm bẫy cho “Helgoland” nữa, những cạm bẫy mà đã được đặt xuống trong khu rừng rậm đen tối và không thể hiểu thấu được của những cuộc kinh doanh bẩn thỉu…

“Dù vậy, nhiệm vụ của chúng tôi có vẻ như khó thể hoàn thành được”, Tiến sĩ Nonnemann nhớ lại. “Chúng tôi có tối đa 150 giường bệnh. Điều có có nghĩa lý gì cho thành phố triệu dân Sài Gòn? Trong những tuần đầu tiên,sáng nào cũng có hàng ngàn người bệnh tìm đến tàu. Đó thật sự là một cuộc bao vậy. Người dân đơn giản tin rằng: Chiếc tàu này với chữ thập đỏ – đó là sự cứu vớt cho chúng ta.”

Chậm nhất là đến thời điểm này thì có thể thấy rằng một con tàu bệnh viện ở Việt Nam còn không thể là một giọt nước trên hòn đá nóng – thiếu thốn chăm sóc y tế cho hàng triệu người đã và vẫn là một vấn đề lớn cho tới mức 150 giường bệnh hoàn toàn không có một trọng lượng nào cả. Không ít người đã viện cớ điều này để phê phán “việc làm vô nghĩa của ‘Helgoland’”. Phải nói rõ với những người phê phán này: Con tàu “Helgoland” đến Việt Nam không phải để giải quyết một vấn đề và thay đổi tình cảnh chỉ qua một đêm – nó đã và vẫn chỉ là biểu tượng cho một hành động nhân đạo và hẳn là đã được người Việt hiểu và bày tỏ lòng kính trọng cũng như đánh giá cao. Ai nghĩ như thế thì đối với người đó sẽ không có ý nghĩ rằng liệu chi phí tài chánh có tương xứng với lợi ích hay không. Những gì mà các bác sĩ, nam nữ y tá và thủy thủ đoàn của “Helgoland” đã đạt được thì không thể mang 7,5 triệu DM chi phí cho con tàu năm 1966 ra để mà cân đo được…

“Vào ngày đầu tiên bắt đầu hoạt động ngay giữa Sài Gòn, chúng tôi đã thành lập một trạm khám”, một trong số tám bác sĩ của con tàu bệnh viện nói. Chỉ qua đó, chúng tôi mới có thể bảo đảm điều trị nội trú cho bất cứ ai thật sự cần đến. Không ai được nhận lên tàu ‘Helgoland’ mà không được khám trước ở trạm khám và rồi được chuyển từ đó vào – ngoại trừ trường hợp khẩn cấp. Hằng ngày chúng tôi khám bệnh cho khoảng 150 bệnh nhân trong trạm khám này. Sau đó mới quyết định ai được nhận lên tàu đề điều trị nội trú.”

Nhờ vậy, sau gần một năm hoạt động, con tàu “Helgoland” đã có thể công bố một tổng kết đáng kể: Cho tới ngày 15 tháng 9 năm 1967 tổng cộng có 27.300 bệnh nhân được điều trị, trong đó là 1620 ca điều trị nội trú. Mỗi tháng một lần, những chiếc giường trong gian phòng khách lớn của con tàu chở khách du lịch ngày xưa có bệnh nhân mới. Gần 40% những bệnh nhân được chuyển vào là những người bị thương vì tai nạn, những người còn lại chủ yếu là người mắc bệnh lao và bệnh nhân với những dấu hiệu tê liệt. “Chúng tôi có đặc biệt nhiều ca mưng mủ xương, được gọi là viêm tủy xương”, bác sĩ trưởng Tiến sĩ Nonnemann tường thuật. “Căn bệnh này hầu như không được biết đến ở bên chúng ta, nhưng ở Việt Nam thì lại phổ biến, vì nhiều vết thương không lành lại và người dân thường sống với một chế độ ăn uống nằm ở dưới mức cần thiết nhất. Đối với chúng tôi, những bệnh nhân này là một gánh nặng: điều trị cho họ phải cần nhiều tháng, qua đó mà nhiều giường bệnh không trống được, Nhưng – lẽ nào chúng tôi lại từ chối những con người đáng thương không được ai giúp đỡ đó?”

Gần 20% bệnh nhân của tàu “Helgoland” là trẻ em – và không hiếm khi các em bị chiến tranh đánh dấu mãi mãi. “Là bác sĩ thì người ta đã quen với nhiều thứ – nhưng khi nhìn thấy những đứa bé ấy với những vết thương khủng khiếp do mảnh đạn gây ra thì hầu như khi6ng thể chịu đựng được. Có một mảnh đạn bé tí có trọng lượng chừng 1 gram đã rạch tung hết cả vùng bụng của một đứa bé. Có đôi lúc chúng tôi đứng gần như bất lực trước những vết thương như vậy…” Tiến sĩ Nonnemann, người bác sĩ trưởng 32 tuổi, người được khen ngợi nhiều ở Sài Gòn vì con tàu “Helgoland” được cho là bệnh viện tốt nhất và sạch sẽ nhất của cả nước, nói thêm, không phải là không tự hào: “Nhưng cho đến nay thì chúng tôi đã có thể chữa trị cho tất cả những em đó. Tuy vậy, có đôi lúc người ta phải tự hỏi như là một con người: có phải là tốt hơn không, khi cái chết giải thoát cho các em – những đứa trẻ không có làng mạc, không có quê hương, không có gia đình đó?”

Chỉ cần nghĩ đến em gái Su Chan. Ngày nào đó, một chiếc xe cứu thương mang em đến tàu Helgoland. Phải cần đến ba lần mổ mới có thể khiến cho thân thể bị mảnh đạn tàn phá ấy có khả năng sống tiếp. Cuối cùng, cô bé ấy còn phải chịu đựng một ca phẩu thuật gương mặt kéo dài bốn giờ đồng hồ: một trong các mảnh đạn đã giật đi một phần quai hàm. Không một tiếng ta thán và với sự kiên nhẫn đặc trưng của người Á châu, cô bé Su Chan đã chịu đựng mọi đau đớn. Cô bé đã vui mừng vô bờ bến trong lúc mong chờ trở về nhà…

Nhưng rồi một ngày nào đó chiếc xe cứu thương lại đến. Nó mang đến hai đứa bé đạp phải mìn lúc chơi đùa. “Anh làm ơn”, một trong các bác sĩ nói và chỉ tay vào cô bé Su Chan, “mang cô bé này về gia đình của em ấy đi.” Người tài xế bước tới cô bé và hỏi tên ngôi làng của cô. Su Chan tươi tắn trả lời. Ông tài xế người Việt suy nghĩ trong khoảnh khắc rồi kéo người bác sĩ ra nói riêng: “Xin lỗi, thưa ông”, ông ấy nói, “nhưng tốt nhất là ông nên giữ cô bé ấy lại đây. Không ai trong gia đình em còn sống sót hết. Không còn ai sống ở đó nữa – cả ngôi làng đã bị phá hủy rồi. Chỉ còn là đất hoang thôi.”

“Những trường hợp như vậy hay xảy ra” – Tiến sĩ Nonnemann nói những lời này vớ vẻ gần như là cam chịu. “Đôi lúc chúng tôi nỗ lực nhiều tuần liền vì sinh mạng của một đứa bé để rồi cuối cùng mới biết rằng không còn ai nhận đứa bé về nữa.”

Không hiếm lúc các bác sĩ của tàu “Helgoland” nhận thư từ Đức mà trong đó người gửi viết rằng: “Hãy gửi cho chúng tôi một đứa bé như vậy – chúng tôi chịu toàn bộ chi phí và sẽ nuôi nấng cháu như con ruột của chúng tôi.” Dù cử chỉ nhân đạo này thật đáng ngưỡng mộ – cho tới nay Tiến sĩ Nonnemann đều luôn khuyên không nên làm như thế. “Anh xem đấy – những đứa bé ấy được đặt vào một thế giới hoàn toàn xa lạ với hoàn cảnh sống và khí hậu của các em, đến mức người ta phải lo ngại những gì xấu nhất. Các cháu chỉ có một cơ hội thật sự, khi người ta nhận nuôi các cháu ở đây. Điều tốt nhất là xây dựng những trại mồ côi hiện đại và ảo đảm cho cuộc sống tiếp tục qua học bổng…” Áp lực mà các bác sĩ, trợ tá, nam nữ y tá phải chịu đựng trong lúc làm việc ở Việt Nam lớn cho tới mức hợp đồng chỉ có hạn sáu tháng. Có thể gia hạn, nhưng chậm nhất là sau một năm thì các thành viên của Hội Hồng Thập Tự sẽ được thay thế. Vì vậy mà vào ngày 1 tháng 7 năm 1967, một bác sĩ trưởng mới đã tiếp nhận con tàu – tiến sĩ Jäger 67 tuổi.

Nhưng một giai đoạn thử thách mới cũng bắt đầu cho chiếc “Helgoland”: Đi đường vòng qua Singapore, nơi con tàu được tu bổ và cung cấp các vật liệu và thuốc chữa bệnh cần thiết nhất, vào đầu tháng Mười nó đã bắt đầu con đường đi đến một trong những điểm nóng của cuộc chiến. Trong tương lai, “Helgoland” sẽ thả neo ở cảng Đà Nẵng, cách Sài Gòn 900 kilômét về phía Bắc. Như thế, nó nằm trong vùng mà chăm sóc y tế còn tệ hơn cả xấu nữa – một bệnh viện cho 800.000 người!

“Chúng tôi rất vui mừng về lần chuyển đổi này”, như Tiến sĩ Jäger nói, “lần đầu tiên, chiếc ‘Helgoland’ được chỉ định đến nơi đang cần nó nhất – tức là trong vùng có chiến tranh. Chúng tôi biết rõ rằng qua đó sẽ có những nhiệm vụ mới, có thể là khó khăn hơn, sẽ đến với chúng tôi. Vì bắt đầu từ bây giờ, chúng tôi sẽ tiếp nhận đặc biệt nhiều người bị thương nặng. Nhưng tuy vậy: Hoạt động của chiếc ‘Helgoland’ sẽ luôn tương xứng với biểu tượng của Hội Hồng Thập Tự – con tàu này không biết bạn hay thù, nó rộng mở cho tất cả những ai cần sự giúp đỡ của chúng tôi…”

“Toàn bộ những biện pháp giúp đỡ ấy, hàng trăm kế hoạch, cuộc chiến tranh tâm lý được vực dậy – cứ tin tôi đi, tất cả đều là vô nghĩa”, Thiếu tá Charles D. Gordon, chỉ huy Tiểu đoàn Hàng không Chiến đấu 13 (13th Combat Aviation Battalion) ở đồng bằng Cửu Long rên lên. “Cho tới khi nào mà những chương trình đó không được mang về một mẫu số chung thì chúng đều vô hiệu quả, bởi vì thường là vẫn còn chưa có tiêu chí cho cả sự giúp đỡ mang ý tốt nhất nữa. Những gì chúng tôi cần là hệ thống hóa, một cơ quan trung tâm điều phối tất cả – các hoạt động quân sự, chương trình giúp đỡ, công cuộc tái xây dựng và trước hết là quá trình hướng dẫn chậm chạp đưa người dân ở đây đi đến trách nhiệm và tự lập. Chúng tôi vẫn còn chưa hiểu rằng ở đây chúng tôi đang gặp phải một cuộc chiến tổng lực không để cho người ta phân chia nó ra thành những thành phần mà rồi từ đó mỗi phần tiến hành cuộc chiến tranh của nó.”

Charly, như những người lính Mỹ gọi viên chỉ huy chỉ cao 1 m 67, được tặng thưởng huy chương mười bốn lần của họ, không đơn độc với quan điểm của ông ấy. Tại những tâm điểm mặt trận của Nam Việt Nam, những người lính không càu nhàu về chiến đấu và chiến tranh – “giờ đây thì chúng tôi đã tham gia vào cuộc chiến”, như một tướng lãnh Thủy quân Lục chiến nói, “mẹ kiếp, bởi vậy mà chúng tôi cũng phải mang việc này đi đến kết thúc” – không, những gì làm cho họ bực dọc là cái mớ rối rắm của sự lộn xộn thường không có kế hoạch ấy, một bộ máy quản lý cồng kềnh mà cả những người thám thính tài giỏi nhất cũng không còn biết lối đi nữa. Nơi người ta mày mò và mò mẫm hằng ngày – và rất đáng tiếc là thường hay thừa thãi.

“Một ngày nào đó, một ngôi làng trong tỉnh của tôi bị lôi vào vòng”, một đại tá hầm hừ nói. “Tại một thành phố nhỏ ở Arkansas, người ta tổ chức một Tuần Viện Nam. Kết quả là có hai mươi con heo nái giống được quyên tặng và được chở máy bay sang Việt Nam với chi phí rất lớn. Bây giờ thì tôi có nhiệm vụ mang những con vật ấy đến trao cho ngôi làng. Anh nghĩ xem có bao nhiêu sự rùm beng quanh đó chứ: báo chí, truyền hình, quan chức. Vâng, rồi vào sáng ngày hôm sau – những con vật ấy biến mất, 20 con heo nái ấy. Việt Cộng bắt đi 14 con, còn dân làng thì ăn 4 con còn lại. Sau vài ngày, ông trưởng làng đến và than thở: Rất đáng tiếc là VC đã bắt đi 14 con heo nái giống đẹp và béo ấy, và bây giờ thì họ hỏi là khi nào thì có nữa. Chúng tôi chắc chắn là có rất nhiều…”

Không, viên đại tá và nhiều người khác ở Việt Nam có một tưởng tượng khác về giúp đỡ và chương trình hành động: “Mọi biện pháp phải được thắt chặt, điều phối và mang về một mẫu số hiệu quả. Dân sự và quân sự phải cùng chung một khẩu hiệu: Chúng ta phải hành động có hệ thống hơn. Nếu không thì chỉ làm lợi cho Việt Cộng,” Và đó là bóng ma bí mật đáng sợ của người Mỹ: rằng từ việc đánh giá sai lầm tâm tính người Việt mà sẽ đi từ sai lầm thứ một trăm đến sai lầm thứ một ngàn, mặc dù có ý định tốt đẹp. Họ không đau buồn vì cuộc chiến – họ khổ sở với tình trạng nội bộ phức tạp của đất nước hết sức rối rắm này, đất nước mà về cơ bản là vẫn xa lạ đối với họ. Xa lạ cho tới mức họ đầu tư hàng triệu cho tâm lý và tuyên truyền, những thứ thường tắt tiếng dần trong rừng rậm trong khi người cộng sản bị kết tội nói dối rẻ tiền, trắng trợn và mặc dù vậy vẫn tận dụng được nó. Ý muốn nói ở đây là người anh hùng Việt Cộng Nguyễn Văn Bé đang trên đường đạt đến danh tiếng vĩnh cửu ở Việt Nam…

Còn napalm thì thế nào, thiếu tá?

Nguyễn Văn Bé và gia đình

Họ bắt được anh ta ở gần làng My Quy ở đồng bằng sông Cửu Long. Anh ta được cho là đang trên đường mang vũ khí đến một trận tuyến của Việt Cộng. Nhưng thiết giáp lội nước của quân đội chính phủ Nam Việt Nam đã chặn đường đi của Nguyễn Văn Bé 20 tuổi. Những gì xảy ra sau đó người ta đọc được trong tờ báo Đảng Cộng sản “Tiền Phong” ở Hà Nội vào ngày 7 tháng 12 năm 1966 như sau:

“Sau khi chống cự dữ dội, Nguyễn Văn Bé bị địch bắt. Trong lúc hỏi cung, dù bị tra tấn tàn nhẫn nhưng anh không nói lời nào. Cuối cùng địch ra lệnh cho anh Nguyễn Văn Bé trẻ tuổi nhặt vũ khí anh mang theo lên để kiểm tra. Dũng cảm và không hề sợ hãi, Nguyễn Văn Bé đã lợi dụng cơ hội này để ôm một quả mìn 10 kg và lao mình đến một chiếc tăng M-118 đỗ ở gần đó. Trong khoảnh khắc ấy, anh hô to: ‘Mặt trận Giải phòng muôn năm! Đả đảo đế quốc Mỹ!’ Quả mìn nổ tung điếc tai và xé nát thân thể người anh hùng trẻ tuổi. Tiếp theo sau đó là một loạt vụ nổ long trời lở đất. Chiếc M-118 của Mỹ bị phá hủy, 2 chiếc M-113 bị hư hỏng, 69 lính địch bị giết chết, trong đó có 12 tên Mỹ xâm lược.”

Nguyễn Văn Bé trở thành anh hùng nhân dân số một của Hà Nội như thế. Trường học và trung đoàn mang tên anh ta. Nhiều bài hát, bài thơ và lời kêu gọi đã tôn vinh lòng dũng cảm và can đảm của anh ta. Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt Nam, đã tưởng nhớ anh ta với nhiều nước mắt khi tôn vinh hành động anh hùng của Văn Bé trước Quốc Hội ở Hà Nội. Và người mẹ già nua của anh ta khóc sụt sùi trên Đài Phát Thanh Hà Nội: “Nếu như những tên đế quốc Mỹ và đày tớ đao phủ của chúng không xâm lược miền Nam thì con trai của tôi đã không phải chết. Nhưng hôm nay, tôi hạnh phúc là con tôi đã chết một cái chết anh hùng, vinh quang. Tôi đã quá già để có thể chiến đấu. Nhưng tôi sẽ làm 100 cái bẫy mìn, để trả thù cho cái chết của con tôi. Tôi tự hào rằng Bé là một anh hùng như vậy.”

Cùng thời gian đó, khi điều ấy được nói, viết và tường thuật, người anh hùng Nguyễn Văn Bé đang ngồi ăn cơm ở Sài Gòn…

“Tôi cũng không biết tại sao họ lại làm cho tôi trở thành anh hùng”, người thanh niên trẻ tuổi gầy gò nói, con người được cho là đã xé nát 69 lính địch với một quả mìn. “Đúng là tôi có nhiệm vụ mang vũ khí vào quận My An. Ở làng My Quy chúng tôi gặp phài quân lính của chính phủ. Tôi ném hai quả lựu đạn mang theo người và lặn xuống bùn. Khi tôi trồi lên để thở thì bị quân đội chính phủ bắt. Tôi vào một trại, ở đó nhiều tháng, cho tới khi vài người Mỹ đến gặp và đưa cho tôi xem những tờ báo từ Hà Nội mà trên đó đăng rằng tôi là một người hùng của nhân dân…”

Vâng, tất nhiên là lúc đó thì anh chàng Nguyễn Văn Bé trẻ tuổi rất ngạc nhiên. Trước đó, người Mỹ cũng đã rất ngạc nhiên: Họ tuyệt vọng tìm 69 người chết ấy, những người không thiếu vắng ở đâu cả nhưng đúng ra thì phải thiếu. Cho tới khi họ bắt đầu tìm trong các trại tù binh một cách có hệ thống. Họ tìm được Nguyễn Văn Bé như vậy…

Kể từ lúc đó, hàng triệu truyền đơn đã rơi từ trên cao xuống Bắc và Nam Việt Nam với hình ảnh của Bé còn sống, người đang ở Sài Gòn và ngạc nhiên về cái chết anh hùng của chính mình. Không có câu chuyện nào của cuộc chiến này mà trong đó người cộng sản đã vấp ngã nặng như câu chuyện với người anh hùng Bé.

Và mặc dù vậy: Ở Hà Nội, một tượng đài vừa được khánh thành, và giống như những nhà cách mạng của Mao mang quyển sách của Mao trong túi, Việt Cộng mang hình ảnh và bài ca về Bé trên người, một anh chàng phải chết vì Đảng đã ra lệnh. Một anh chàng trẻ tuổi nói về chính mình: “Tôi có mặt hai lần trên thế giới: như là tượng đài ở Hà Nội và như là người đang sống ở Sài Gòn. Nhưng có ai tin tôi chứ? Lời nói dối đã nhanh hơn sự thật…”

“Tôi đoán rằng sẽ là một đêm khó khăn đấy.” Hạ sĩ Maddox đặt chiếc mũ phi công của anh ấy xuống và nhìn không chớp mắt vào tấm bản đồ. “Ở đây, tại Qu2 và R3 tôi nhìn thấy một hàng Chalies. Chúng cứ bình thản đi trên bờ ruộng lúa. Tôi nghĩ thầm: này, James – không thể như thế được. Từ lúc nào mà VC đi ngay trước mũi mình thế này? Nhưng mà như đã nói – vẫn có những tên đi như thế đấy. Chúng đã bắn trúng chiếc máy bay của tôi. Nhưng rồi tôi đã cho chúng bốc hơi…”

Hạ sĩ Maddox lôi ra vài quả lựu đạn khói màu đỏ. Chúng rơi xuống ngay giữa những người đó. Vài giây sau, “có rất nhiều chuyển động chết tiệt” xuất hiện trên cánh đồng lúa: Nhiều Việt Cộng ẩn nấp vừa ho vừa chạy trốn trên những con đường đi. Và rồi khi chiếc Cessna của Maddox bị bắn bằng súng cá nhân, thì anh ta biết mình đang gặp phải chuyện gì: Anh ấy đã phát hiện một cuộc họp của Việt Cộng ngay giữa ban ngày ban mặt.

“Rồi anh đã làm gì, hạ sĩ?” Thiếu tá Gordon hỏi, người đã khoanh một vòng tròn đỏ quanh ô vuông tọa độ khả nghi trên tấm bản đồ. “Tôi đã gọi mấy chiếc một trăm đến”, Maddox trả lời. “Họ đến sau năm phút. Họ bay trên tôi tròn 5000 mét và rồi…” Rồi mọi thứ diễn ra đúng theo kế hoạch. Bốn chiếc máy bay ném bom F-100 bay vòng quanh cánh đồng bé tí hon và những cánh rừng ngập mặn kế cận trong một vòng tròn khổng lồ ở độ cao 5000 mét. “Do you have me in sight?” [“Có nhìn thây tôi không?”] Maddox hỏi qua vô tuyến từ chiếc Cessna nhỏ bé của anh, đang bang vòng vòng ở độ cao 100 mét trên cánh đồng lúa khả nghi. “Yes, we have” [“Có, chúng tôi thấy”], mấy chiếc oanh tạc cơ trả lời. “Allright – rolling in in 30 seconds” [“Được rồi – Bay vào trong 30 giây nữa”] , Maddox nói to và nhắm vào cánh đồng lúa. Nửa phút sau đó, anh bắn chiếc hỏa tiển khói dưới cánh trái chiếc Cessna của mình – một đám mây trắng bốc lên từ cánh rừng ngập mặn. “Okay”, Maddox nói, sau khi xác định lại vị trí của cái nấm bằng khói. “Bay từ Bắc qua Nam. Mục tiêu nằm cách dấu khói 100 mét – ở đúng chín giờ.” “Roger – hiểu rồi”, các chiếc máy bay ném bom trả lời và bay sà xuống thấp.

“Không ai ra khỏi nơi đấy”, Maddodx nói và nhìn viên thiếu tá. “Họ ném bom chùm và bốn can napalm…”

Từ khi người Mỹ phân chia đồng bằng sông Cửu Long, nơi sinh sống của một phần ba dân số toàn Nam Việt Nam và được cho là thành trì của Việt Cộng, ra thành hàng trăm ô tọa độ, những cánh đồng lúa, nhà cửa và khu rừng của khu đầm lầy này được kiểm soát liên tục – ít nhất là từ trên không. Các FAC lo cho điều này…

FAC (Forward Air Controler) trong Chiến tranh Việt Nam là những con chó săn trên không trung – những phi công với tỷ lệ tổn thất cao nhất. Họ bay với chiếc Cessna không vũ trang của họ ở độ cao một trăm mét trên rừng rậm và sông nước của Đồng bằng sông Cửu Long và tìm kiếm quân địch – ví dụ như hạ sĩ James Maddox. Kết nối với máy vô tuyến của các FAC là trực thăng chiến đấu, máy bay ném bom, pháo binh – và trước hết là viên tỉnh trưởng của người Việt phải phê duyệt lệnh chiến đấu khi một Forward Air Controller phát hiện một tình huống “đáng đánh bom”. Quyền chỉ huy này, chỉ không có hiệu lực trong trường hợp khẩn cấp, thỉnh thoảng lại đẩy người Mỹ vào những tình cảnh hết sức khó xử, vì các viên tỉnh trưởng – toàn bộ đều là sĩ quan cao cấp – không ngần ngại nhiều với lệnh bắn của họ…

“Mới đây, một FAC của chúng tôi nhận nhiệm vụ trinh sát một ngôi làng”, Thiếu tá Gordon kể lại. “Một nông dân đã báo cho quân đội chính phủ hay rằng ông nhìn thấy vài Việt Cộng trong làng. Thế là vài con chó săn của chúng tôi được gửi đi để xem xét sự việc từ trên không và trong trường hợp khẩn cấp thì gọi pháo binh.” Viên Air Controller bay tuần tra nửa tiếng trên ngôi làng và rồi báo về qua vô tuyến: “Không có dấu hiệu của Việt Cộng. Tôi chỉ nhìn thấy nông dân, đàn bà và trẻ em.” Và rồi anh ta hỏi lại: “Viên tỉnh trưởng có còn muốn pháo kích vào làng trong tình huống này hay không?” Câu trả lời vài giây sau đó: “Sẽ pháo vào làng – hãy cho tọa độ đi.”

“Sau đó, quân đội chính phủ đã nã pháo vào làng nửa giờ đồng hồ với pháo binh của họ”, Gordon nhớ lại, người không thích những biện pháp ấy. “Vài ngàn dollar đã nổ tung – nhưng ơn Trời, không có ai chết hay bị thương. Bởi vì viên Air Controller của chúng tôi” – và viên thiếu tá mỉm cười trong lúc đó, “đã đưa tọa độ sai cho quân đội chánh phủ. Vì vậy mà họ đã bắn pháo nửa giờ liền vào một đầm lầy hoang. Ngay tối hôm đó, ông tỉnh trưởng báo cáo trận pháo kích “thành công”. Chúng tôi đã chúc mừng ông ây theo đúng nhiệm vụ – và đã khen ngợi viên Air Controler của chúng tôi. Thế là cuối cùng thì ai cũng hài lòng cả – quân đội chính phủ, dân làng, chúng tôi…”

Đó là sự cộng tác còn nhiều khiếm khuyết, điều mà ở Việt Nam khômg hiếm lần đã thoái hóa thành những cực đoan không còn có thể kiểm soát được nữa…

“Còn napalm thì như thế nào, thưa Thiếu tá?” Câu hỏi này không được ưa thích. Vì những người lính biết rõ hơn tất cả những người khác về tác động kinh hoàng của những cái can bằng nhôm này với hỗn hợp từ xăng đặc và phốt-pho trắng của chúng…

“Tất nhiên là cũng có ném napalm”, Thiếu tá Gordon nói, “nhưng chỉ được sử dụng hết sức hạn chế. Nó chỉ được phép sử dụng chống các căn cứ Việt Cộng tđã được xác nhận một trăm phần trăm, và rồi cũng chỉ được sử dụng khi những vũ khí khác không hứa hẹn sẽ thành công.”

Nhưng thỉnh thoảng người ta gặp trong các bệnh viện trẻ em và phụ nữ Việt Nam với những khuôn mặt cháy xem, cứng đơ, đã được cứu chữa – nạn nhân của napalm. Họ – dù người ta có đứng ở bên nào đi chăng nữa – là một lời lên án đáng sợ. “Việc sử dụng napalm là một câu hỏi thuần túy về quân sự”, viên thiếu tá nói. “Và ở Việt Nam có những tình huống mà trong đó ngoài napalm ra thì không có vũ khí nào khác có một cơ hội. Rồi thì lần nào chúng tôi cũng đứng trước cùng một câu hỏi: Không sử dụng napalm và rồi có thể là phải chịu tổn thất cao? Ai có thể yêu cầu điều đó ở chúng tôi? Ngoài ra: những cuộc không kích bằng napalm chủ yếu nhằm vào hạ tầng cơ sở. Chúng tôi sử dụng vũ khí khác cho những mục tiêu khác – và về cơ bản thì chúng cũng không tốt hơn nhiều lắm đâu, chỉ là có ít người biết điều đó thôi.”

Ví dụ như những quả bom CBU tai tiếng – cluster-bomb-units. “Đó cũng là một loại vũ khí bằng can”, viên thiếu tá giải thích. “Trong một cái can như vậy có 800 quả bóng nhỏ bằng sắt. Trong mỗi một viên bi như vậy lại có nhiều viên bi nhỏ hay mảnh nhọn. Áp suất không khí sau khi ném xuống sẽ giật 800 quả bóng nhỏ ấy ra khỏi can, rồi chúng sẽ nổ ngay sau đó là tạo ra một cơn mưa mảnh xuống cả vùng.

Một quả bom bi như vậy – đó là 100.000 mảnh nhọn. Và có những cánh đồng lúa bị ném ba quả bom như thế chỉ vì một tên Việt Cộng duy nhất…

Hạm đội 7: bốn quả bom trong vòng 60 giây

“Allright, Sir – được rồi!” Đại úy Hải quân Blaisdell thuộc “Naval Support Activity” [“Hoạt động Hỗ trợ Hải quân”] ở Đà Nẵng đặt ống nghe của chiếc điện thoại bàn xuống giá và hài lòng gật đầu. Trên nguyên tắc, ông không tiến hành những cuộc trao đổi như vậy qua mạng điện thoại địa phương mà dùng chiếc điện thoại thứ hai. Được nối kết vào máy đó chỉ là các cơ sở quân đội. Một thiết bị sẽ tự động loại những kẻ nghe lén ra ngoài. Nó làm việc tốt cho tới mức Blaisdell cần đến ba phút để đánh vần hai từ “West-failisch Nacktrickten” [“Tin tức Westfalen” (viết sai chính tả)]. Người ở đầu bên kia, nhờ thiết bị nhiễu ấy mà chỉ còn hiểu được “Westfailisch Nackt” [“Sự trần truồng Westfalen”], việc dẫn tới một sự hiểu lầm rằng đó là một tạp chí…

Hàng không mẫu hạm USS Kitty tại Yankee Station

“Anh có biết không, nếu như anh không đi thăm ‘Yankee Station’ – thì anh muốn viết gì về Việt Nam kia chứ?” Blaisdell tin chắc rằng “cuộc chiến tranh trong bụi rậm ở phía Nam” không thể mang lại một quyết định – đối với ông, mang tính quyết định chính là hoạt động của “Task Force 77”, tức Hạm đội 7 với 5 chiếc hàng không mẫu hạm, 14 khu trục hạm, 400 máy bay, 25 tàu tiếp tế và một số tàu ngầm được giữ bí mật, “cây búa của Mỹ”, theo Blaisdell. Pháo đài nổi này ở Vịnh Bắc bộ luôn di chuyển – một điểm tưởng tượng trên tấm bản đồ hàng hải.

“Chúng tôi sẽ mang anh ra đó”, Blaisdel nói. “Tôi vừa sắp xếp xong qua điện thoại. Sáng sớm mai anh sẽ bay đi. Một giờ rưỡi sau đó anh sẽ đáp xuống chiếc hàng không mẫu hạm ‘Constellation’. Tôi tin chắc rằng anh sẽ có cùng một ý kiến với tôi: ‘Yankee Station’ chính là chiếc chìa khóa của cuộc chiến. Từ đó, chúng tôi có thể buộc Bắc Việt Nam đầu hàng. Nhất định là có thể…”

Những câu nói như thế không phải là mới. Những “con chim diều hâu” đã có cùng một ý kiến đó từ lâu rồi. Vì từ “Yankee Station”, người ta đã hoạt động chống Bắc Việt Nam từ hơn hai năm nay: hằng tháng có hơn 5000 phi vụ mà qua đó có tròn 10.000 tấn bom được ném xuống. Nhưng mặc dù hiện nay bom rơi xuống Bắc Việt Nam nhiều hơn là xuống nước Đức trong Đệ nhị Thế chiến – vũ khí tấn công có cường lực lớn nhất của Mỹ đã không thể ép buộc được đất nước ở phía bắc vĩ tuyến 17 đầu hàng. Còn ngược lại: công cuộc tiếp tế vũ khí và con người cho lực lượng Việt Cộng đang chiến đấu ở miền Nam vẫn tiếp tục lăn đi – mặc cho nhà máy phát điện, cầu đường và hãng xưởng bị phá hủy.

“Anh vẫn còn tin vào một chiến thắng từ trên không à, Commander?” Blaisdell suy nghĩ trong giây phút trước khi trả lời. “Câu hỏi này anh nên hỏi Tổng thống là tốt nhất”, anh trả lời. “Ở đây, chúng tôi chỉ thi hành mệnh lệnh. Và khi người ta chỉ giao cho chúng tôi 300 trong số 2000 mục tiêu, thì chúng tôi sẽ chỉ chiến đấu chống 300 mục tiêu ấy. Ngay cả khi chúng chỉ là những hạt nho khô trong một cái bánh…”

Vào ngày ấy, “Yankee Station” nằm ở 19 vĩ độ Bắc và 108 kinh độ Đông. Ba trong số năm chiếc hàng không mẫu hạm đang đi hết tốc độ trên đường chiến đấu: chiếc “Forrestal”, chiếc “Constellation” và chiếc “Kitty Hawk” – trong một vòng tròn trên Vịnh Bắc bộ. Nhìn từ trên không, hạm đội nổi tiếng của Mỹ trông giống như bức ảnh bìa của một hộp đồ chơi ráp tàu thủy. Ai có thể tin được rằng chỉ riêng việc sơn một chiếc hàng không mẫu hạm thôi là đã cần đến 1,3 triệu lít sơn – nhiều như cho 30.000 ngôi nhà gia đình nhỏ!

Không chỉ những chiếc hàng không mẫu hạm, những con tàu khác cũng tụ tập lại – những “con chó săn” (khu trục hạm), những “con bò sữa” (tàu chở dầu, đạn dược và tiếp tế) và tất nhiên là con tàu được ưa thích nhất hạm đội – “con gấu”. Nó thản nhiên đi lại giữa những chiến binh khổng lồ kia – không có đại bác, nhưng được gắn đầy ăng-ten, ra-đa, mi-crô dưới nước và sonar (máy định vị). Nó kéo theo sau nhiều chiếc lưới, nhưng chúng lúc nào cũng trốn – “con gấu” không đánh cá, nó do thám. Vì “con gấu” – được ngụy trang như là một chiếc tàu đánh cá vô hại – không phải là một chiếc thuyền, mà là một ngôi nhà kỹ thuật nổi, đầy điện tử và máy tính.

Cái làm cho nó trở thành nhãn cầu của hạm đội là lá cờ ở đuôi tàu – lá cờ đỏ với huy hiệu của Liên bang Xô viết…

“Cài dây lại!” viên sĩ quan chief petty officer [thượng sĩ] ra lệnh từ buồng lái. Chiếc Grumman Trader hai động cơ đã hạ càng đáp. “Hạ cánh trong vài phút nữa!”

Cài dây ở bên hải quân có nghĩa là: kéo dây an toàn đôi của ghế ngồi cho chặt lại – và thêm vào đó là hai dây an toàn ở vai, kẹp chặt toàn thể thân trên lại. Xin ép đầu vào lưng ghế cao. Và đừng quên: cái van khí của chiếc áo phao phải lòi sẵn ra ngoài ở bên phải. Bị kẹp chặt trong bộ quân phục, áo phao và dây an toàn, ngườt ta đánh mất mọi cảm xúc của con người. Và mọi tầm nhìn: người ta ngồi quay lưng lại với chiều bay. Điều này được cho là sẽ làm giảm cú dập mạnh. Một con cá mòi đứng thẳng có lẽ còn cảm thấy tốt hơn.

“Còn 20 giây”, viên phi công nói và tăng tốc độ. Vì trên hàng không mẫu hạm thì người ta vẫn còn phải có tốc độ khi đáp xuống – cho trường hợp cái móc ở dưới thân chiếc máy bay trượt mất sợi dây. Bốn sợi dây căng qua boong đáp. Ai móc vào được sợi dây thứ ba thì đã thực hiện được một lần hạ cánh mẫu mực – không quá ngắn, không quá dài.

Những giây cuối cùng dài vô tận – thời gian để hy vọng, thời gian để sợ run. Với mũi hơi chếch lên trời, chiếc máy bay lao với tốc độ gần 200 km/h xuống cái boong tàu dài chưa tới 50 mét. Nếu cái móc chợp được thì chiếc máy bay đứng lại sau bảy mét! Được phanh lại từ 200 km/h xuống 0! Nó là một cú đập mà người ta không có được ở bất cứ hội chợ nào trên thế giới: ầm rầm rắc! Ầm: Bị ép vào ghế ngồi, cho tới mức người ta tưởng chừng như mắt sẽ lòi ra khỏi đầu. Rầm: hai cái va li không được chằng dây lao đi như tên lửa vào bức tường đằng trước và mất mọi hình dáng. Rắc: Cái đầu, gặt mạnh xuống lúc dừng hẳn lại, giống như một con búp bê đã hỏng bộ cơ học…

“Hê! – Chào mừng lên tàu!” Ở đâu đó cạnh cửa trước có một viên thiếu úy thân thiện nhe răng ra cười. Anh ta đưa tay ra vì biết rằng người ta cần đến nó. Trong khi ấy, anh ta vờ như như những giọt mồ hôi ấy chỉ vì chiếc áo phao quá chật.

Lieutenant junior [thiếu úy] James L. Roberts là một trong các “strike pilot”: mỗi ngày một phi vụ ném bom xuống Bắc Việt Nam. Robert 25 tuổi, có 491 giờ bay máy bay phản lực và ở trên chiếc “Constellation” từ 12 ngày nay. Cho tới nay, anh ấy đã bay trên Bắc Việt Nam 11 lần. Lần cuối cùng trước đây 2 giờ…

“Mục tiêu là sân bay Kép”, Roberts nói, “khoảng 50 km phía bắc Hà Nội. Khi chúng tôi bay đến thì họ đang sửa chữa đường băng mà chúng tôi vừa mới đánh bom mgày hôm qua. Cứ như thế đã bốn ngày nay rồi. Đó là một trò chơi kiên nhẫn: Chúng tôi ném bom làm hỏng đường băng của họ – họ lại sửa chữa nó. Hai bên luân phiên nhau…”

Đối với Roberts, “strike” đã là công việc thường ngày. Đứng ở đằng sau anh ấy là cơ chế tự động khổng lồ của cỗ máy: những người không thám, cung cấp những hình ảnh mới nhất, được “bắn” trước đó 40 phút trên vùng mục tiêu từ những máy chụp được điều khiển bằng máy tính, trắng đen, màu cũng như stereo – điện tử, điều khiển cuộc tấn công từ giây phút cất cánh cho tới lần ném bom cuối cùng – máy tính, xác định và chuyển tiếp trong tíc tắc mọi giá trị muốn có.

“Chúng tôi chỉ còn phải bay cùng”, Roberts nói, “để ít nhất là có mặt trong lúc đó…”

“Constellation”là chiếc hàng không mẫu hạm lớn thứ sáu của Mỹ. Con tàu có cũng những quy định như trên những sân bay nổi khác của Hải quân Mỹ. Việc đào tạo mỗi một phi công tốn mất hàng trăm ngàn, mỗi một chiếc máy bay ném bom hàng triệu và mỗi một chiếc hàng không mẫu hạm hàng tỉ…

“Chúng tôi chỉ là một viên gạch trong kết cấu của Hải quân”,  viên chỉ huy của hải đội trong Vịnh Bắc bộ, Chuẩn Đô đốc Roger W. Mehle nói, và đưa ra một cái nhìn tổng quan về chiếc soái hạm của Hạm đội 7:

Con tàu 84.000 tấn “Constellation” dài 357 mét. Nó rộng cho tới mức có đủ chỗ cho hai chiếc tàu chở khách hạng sang “United States” và “America” nằm cạnh nhau trên boong. 3007 gian phòng rộng lớn khác nhau được phân bổ trên 10 tầng lầu. 5000 thủy thủ sống và làm việc ở trong đó. Để cung cấp cho họ và cho con tàu, bốn cỗ máy lọc nước phải sản xuất mỗi ngày 1,2 triệu lít nước, trong khi máy phát điện sản xuất ba triệu Watt điện. Trong các gian làm lạnh của con tàu có 2,1 triệu phần ăn khô, 487.000 cân rau quả và trái cây, 394000 cân thịt và 51.000 cân các sản phẩm sửa. Thang  máy, thang cuốn, trung tâm mua sắm, bệnh viện, nơi chơi thể thao cũng như studio phát thanh và truyền hình với chương trình hàng tuần 50 giờ tạo thành một thành phố từ con tàu mà trong đó mỗi một xăng-ti-mét vuông đều được sử dụng đúng theo kế hoạch.

“Về mặt quân sự của con tàu thì có rất ít để nói”, viên Đô đốc kết thúc bài nói chuyện của ông ấy, “chúng tôi có tròn 80 chiếc máy bay ném bom, máy bay tiếp liệu, trinh sát và trực thăng trên tàu trong tình trạng trực chiến luân phiên tám giờ (cùng với hai chiếc hàng không mẫu hạm khác) và trong thời gian đó tiến hành hai đến ba vụ tấn công Bắc Việt Nam. Những chiếc máy bay ném bom thông thường mang mười quả bom 125 và 250 cân cũng như hỏa tiển để chống máy bay tiêm kích của địch. Nhờ thiết bị điện tử của chúng tôi mà chúng tôi có khả năng cất cánh trong mọi thời tiết và bất cứ vào thời điểm nào. Bốn máy đẩy hoạt động bằng hơi nước bắn bốn chiếc máy bay ném bom lên không trung trong vòng một phút.”

Tất cả những điều khác được giữ bí mật. Ví dụ như Đô đốc Mehle chỉ cần ấn một cái nút là trong vòng 20 giây sẽ được kết nối với vị tổng chỉ huy Hải Quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, Đô đốc Hạm đội Ulysses S. Gran Sharp – chỉ huy 779.000 người lính, 6100 máy bay và 562 con tàu cũng như một lực lượng hạt nhân không biết là bao nhiêu. Và khi Sharp trong sở chỉ huy của ông ấy ấn một cái nút thì ông ấy có thể nhìn thấy trực tiếp bờ biển Bắc Việt Nam: Một tấm hình radar của Hạm đội 7 dưới quyền của ông do một vệ tinh Samos truyền đi hiện ra trong giây phút trên một màn chiếu khổng lồ!

Cỗ máy Hoa Kỳ phải hoạt động như vậy – chỉ để giữ cho du kích quân và lính trong rừng rậm của Việt Nam trong thế ẩn náu. Trong khi đó thì không còn nói về chiến thắng quân sự nữa: Những năm ở Việt Nam đã trở nên quá dài…

“Hạm đội 7 chưa từng bao giờ nhận nhiệm vụ chiến thắng Bắc Việt Nam từ trên không”, Đô đốc Mehle giải thích. “Nếu như người ta giao cho chúng tôi nhiệm vụ ấy – thì chúng tôi sẽ làm tròn nó. Tôi nghĩ là chúng tôi có phi công, máy bay ném bom và cũng có cả vũ khí cho việc đó. Có thể là thế giới cho rằng chúng tôi tiến hành một cuộc chiến tranh không giới hạn từ trên không. Điều này không đúng. Anh hãy hỏi các phi công: Sự cản trở lớn nhất của họ là cuộc không chiến bị giới hạn. Họ phải đánh liều tất cả để tiếp cận đến con số ít các mục tiêu ấy. Họ với chiếc máy bay của họ phải bay thẳng đến đấy – vì vậy mà có tổn thất cao. Vì lực lượng phòng không chen chúc nhau ở quanh các mục tiêu ấy. Hà Nội và Hải Phòng được trang bị pháo phòng không nhiều hơn là Berlin trong Đệ nhị Thế chiến…”

Nhiệm vụ mà các phi công của Hạm đội 7 được giao cho bị hạn chế rất nhiều: tạo áp lực lên Bắc Việt Nam cho tới mức sản xuất phục vụ chiến tranh bị ngưng trệ và dòng tiếp tế cho Việt Cộng đang chiến đấu ở miền Nam bị phá rối. “Đó là một cuộc chiến trong vòng tròn”, như một phi công nói, “chúng tôi ném bom – và rồi vào ngày hôm sau đó lại bắt đầu ở nơi chúng tôi chấm dứt vào ngày hôm trước. Vì phần lớn các hư hại được sửa chữa qua đêm. Thành công duy nhất có để kể ra của chúng tôi là chúng tôi trói buộc hơn 300.000 người đàn ông trong độ tuổi quân dịch ở lại miền Bắc, để tu bổ và sửa chữa những gì bom của chúng tôi phá hỏng…”

Trên hai ngàn năm trăm mục tiêu có tầm quan trọng về quân sự đã được các phi công không thám – mà đối với họ, Bắc Việt Nam là một đất nước từ 60.000 tấm ảnh trắng đen – xác định. Tròn 1900 bị ném bom từ khi cuộc chiến tranh ném bom bắt đầu – nhưng không thường xuyên. Trong bảy tháng đầu tiên của năm 1967, máy bay ném bom của Không quân và của Hạm đội 7 trung bình tiến hành 13.000 vụ không kích mỗi tháng ở Bắc Việt Nam. Theo thông tin của Mỹ, trong lúc đó họ phá hủy 4100 xe tải, 7400 xe chở nước, 57 cây cầu cũng như 50 tuyến đường sắt và một số đường bộ mà con số không được nêu ra.

Dù vậy, cả việc tiếp tế lẫn Bắc Việt Nam đều không tê liệt: Hằng ngày – theo ước lượng của tình báo – người cộng sản mang an toàn 100 tấn hàng hóa tiếp tế vào miền Nam. Đồng thời, Bắc Việt Nam bị phong tỏa từ biển và từ trên không nhận hằng ngày 5800 tấn hàng hóa tiếp tế và thiết yếu qua ba cảng lớn là Cẩm Phả, Hòn Gai và Hải Phòng.

Chỉ riêng ở cảng Hải Phòng đã có 4700 tấn hàng hóa đi qua đó mỗi ngày. Nhưng không được phép tấn công Hải Phòng – thả neo ở đó chủ yếu là tàu của Xô Viết và Trung Quốc. Thế là nước Mỹ tự giới hạn mình ở 427 mục tiêu đó, những mục tiêu mà trong danh sách chính thức của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân được xem như là quan trọng. 68 trong số đó được dẫn ra là “not recommended” [“không khuyến khích”], 57 mục tiêu khác không được cho phép. Vì vậy mà bom chỉ rơi xuống 302 mục tiêu còn lại.

Họ có nhiệm vụ phá rối dòng tiếp tế. Nhưng dòng tiếp tế này cứ lăn đi tự do quan các cảng của Bắc Việt Nam. Vì không có cảng nào nằm trong 302 mục tiêu đã được cho phép đó…

*

Vì vậy mà cuộc chiến cứ xoay vòng. Nó bị hạn chế vì người ta phải lo ngại sự lan rộng. Ngày nay thì chỉ là vì không ai muốn mất mặt.

Nhưng những người phải chết trong địa ngục xanh ở Việt Nam thì đã trở thành những nạn nhân vô nghĩa: Cuộc chiến không bao giờ có thể quyết định những việc dành riêng cho lý trí quyết định – tìm con đường đi đến hòa bình. Nhưng con đường này chỉ có thề bắt đầu khi vũ khí im lặng.

Vì vậy mà chỉ có một niềm hy vọng duy nhất cho đất nước Việt Nam – và không phải là mới ngày hôm nay: rằng các địch thủ nhận biết được tình trạng bế tắc và hành động. Thương lượng.

Vì mỗi một người lính còn phải hy sinh là một cái chết quá nhiều./.

Phan Ba dịch

Share this post