Đời Sống Sài Gòn Cuối Thế Kỷ 19 Như Thế Nào? – Nguyễn Đức Hiệp

Đời Sống Sài Gòn Cuối Thế Kỷ 19 Như Thế Nào? – Nguyễn Đức Hiệp

Ông Marcel Monnier (1853-1918) trong quyển “Le tour d’Asie Annam, Cochinchine,Tonkin” có viết là: Lúc ông từ bến tàu về khách sạn, ban đêm hai bên đường Catinat có các cột đèn đốt sáng bằng dầu hỏa gây cho ông có cảm tưởng là đèn Saigon đã thay đổi từ gas sang điện, có thể thấy phong cảnh sinh hoạt của Sài Gòn ở vùng ngoài, theo như ông Petiton kể.

Khoảng 6 giờ sáng là Sài Gòn bắt đầu cuộc sống thành thị. Ra khỏi nhà, ông thấy hai người Hoa gánh nước trong đó có một người ở trần và một người Việt gánh nước sau hai người này. Sau đó ông thấy trên đường có rất nhiều đàn ông, đàn bà, phụ nữ, trẻ con, các người đi bán mang giỏ chứa hàng, các người Hoa có đuôi tóc sam, người Tagal (lai Tây Ban Nha và Phi Luật Tân). Có một người mà người ta gọi là Bồ Đào Nha. Tân Gia Ba hay Quảng Đông (lai Bồ và Hoa): Ông này là người phiên dịch của sở giám sát (inspection de Saigon) cho bang Quảng Đông. Người Hoa có 5 bang ở Sài Gòn-Chợ Lớn. Một xe bò do các con trâu kéo đi chậm rã, nhịp nhàng. Quay về phía nhà ông ở, ông thấy vài con trâu ngay trong vườn !.

Qua diễn tả của ông Petiton, ta thấy Saigon ngay vùng mà ngày nay được coi như thuộc trung tâm Sài Gòn, lúc bấy giờ còn rất quê với vườn dừa, cau và có cả các con trâu chung quanh.

Đời sống Sài Gòn như thế nào?. Ta hãy đọc những gì ông Petiton viết:

“Đúng 10 giờ sáng là lúc nhân viên từ công sở đi ăn trưa và sau đó về nhà nghĩ trưa cho đến 2 giờ chiều. Một số đọc báo, sách còn lại đa số là ngủ trưa. Thành phố từ 12 giờ trưa đến 2 giờ, rất vắng người vì mặt trời nắng. Lúc 2 giờ mọi người trở lại làm việc. Vào lúc 5 giờ chiều khi tiếng trống kẻng nổi lên, mọi người đủ loại giới, trí thức, thông ngôn Việt, hay Hoa vui vẽ hối hả ra khỏi nơi làm. Những người thông ngôn hay các trò học thông ngôn rất hảnh diện với vẽ quan trọng. Họ lãnh 100 franc mỗi tháng, đó là một số tiền lớn cho những người công chức Việt Nam. Lúc 5 giờ rưỡi là lúc các người cảnh sát (matas) ra về. Lúc này cũng là lúc có nhiều xe ngựa riêng của các chủ xe đi dạo đến vùng Chợ Lớn và Cầu Ông lãnh. Khoảng 5 giờ rưỡi hay 6 giờ chiều là lúc giải trí đi dạo bằng ngựa hay xe ngựa. Đường đi dạo bằng xe ngựa thông thường nhất là đường đi Chợ Lớn cách Sài Gòn 5km. Ở giữa đường Sài Gòn-Chơ Lớn là khu đầm ao hồ (Mares) nơi đó có trại lính kỵ binh đóng ở Sài Gòn.

Sáu giờ chiều, những công nhân người Việt và Hoa chấm dứt giờ làm việc trong ngày, và từng nhóm lớn đi về những ngoại ô đông dân và trãi dài ở Cầu Ông Lãnh và Gò Vấp. Tôi thấy lúc này cần phải hoạt động và đi bộ một chút; trên tất những đường tỏa ra từ thành phố, tôi gặp một hàng người Việt đi bộ, người này đi sau người kia; trời tối sụp xuống nhanh chóng. Tôi nghe vài tiếng súng bắn báo hiệu cho tôi biết là các tàu chiến trong vũng tàu bắt đầu kéo cờ xuống.

Ban đêm đã đến, 7 giờ; cần ngồi xuống trước bửa ăn tối mà bất kỳ ai làm cho anh cũng giống như bửa ăn tối trên tàu mà anh đang say sóng. Bảy giờ rưỡi, kèn hiệu đi nghĩ được gióng lên: tất cả những người lính tốt đều đi ngủ.

Lúc 8 giờ, tiếng súng đại bác nói lên điều gì tôi cũng không biết; có thể là giờ cảng sông Saigon đóng cửa. Sau tiếng cà nông, nếu anh ra đường lúc này, thì là bắt đầu một cuộc đi chơi lý thú.

Ban đêm ở Sài Gòn, không giống chút nào với Sài Gòn lúc ban ngày. Người Hoa với các loại lồng đèn đủ màu, các tiệm may, tiệm sửa giày v.v… các nhà chơi bài, các người bán hàng ăn rong lưu động làm cho thành phố có một dấu ấn đặc biệt đập vào mắt người ngoài.

Ở thời điểm chưa có máy bay là phương tiện chính liên lạc như sau này, thì Sài Gòn liên hệ với thế giới bên ngoài là qua tàu thủy chạy bằng hơi nước. Ở Sài Gòn cuộc sống một ngày hôm nay giống như ngày hôm trước và ngày mai, trừ lúc tàu thủy sắp cặp bến.

Những ngày chờ tàu từ Pháp đến khi tàu bắt đầu vào cảng Sài Gòn từ Vũng Tàu là những ngày lý thú nhất cho tất cả mọi người. Tàu vào Sài Gòn từ Vũng Tàu lâu, vì con sông mà tàu đi vào rất uốn lượn nhiều ngã nên vì thế phải cần một tàu nhỏ chạy bằng hơi nước được gởi ra Vũng Tàu để hướng dẫn tàu vào. Khi tàu đến, trên đỉnh cờ một viên đạn tròn đen được kéo lên, và được hậu thuẩn bởi một phát súng cà nông từ tàu Duperré. Lúc tàu thả neo trong cảng thương mại đối diện với nhà rồng (messageries), cũng là lúc mà một phát đạn cà nông nữa báo hiệu.

Tàu nghỉ ở Sài Gòn 24 tiếng trước khi đi Hồng Kông. Một vài tiếng sau khi đậu bến, người ta tìm những lá thơ mình muốn trong hộp thơ mình, đây là lúc mọi người đều nôn nức.

Vài giờ hay vài ngày sau khi tàu từ Pháp đến, tùy theo thời điểm trong năm, một tàu từ Nhật và từ Trung Quốc cũng đến Sài Gòn, và nghĩ tại đây 24 tiếng trước khi đi Âu Châu mang theo các lá thư qua đó. Những thương gia lúc này rất bận, họ chỉ có 24 tiếng để viết thư, để quyết định và giải quyết các vấn đề quan trọng. Khi các tàu đã đi thì Sài Gòn trở lại yên tỉnh như mọi ngày ……

Cuối thế kỷ 19, Sài Gòn đã là một thành phố đủ mọi sắc tộc Âu, Á sống không khác các thành phố cùng thời lúc đó là Tân Gia Ba và Hồng Kông.

Share this post