Kết quả 1 đến 10 của 10
  1. Định sẵn Đời Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh


    ĐỜI SĨ QUAN TIỀN SÁT PHÁO BINH
    THUẦN PHONG


    Chương I
    Đi Lính
    1- Bỏ QGHC khoá 7 để vào ……..
    Trường Bộ Binh Thủ Đức Khóa 14 …
    2- Anh tôi, Đ/Úy Nguyễn Văn Tiến bị tử trận
    3-Tiền Lính ! ..............................
    4-Giai đoạn I tại Thủ Đức ……………. ..
    5-Giai đoạn II : Sang Pháo Binh ……


    Kính dâng

    Linh hồn:
    Anh tôi, cố Đại Úy BĐQ Nguyễn Văn Tiến
    và anh linh
    Các Chiến Hữu trong Sư Đoàn 5 BB, Trung Đoàn 7 BB ,Trung Đoàn 8 BB
    Cố Y Sĩ Trung Úy Phạm Bá Lương, Nguyễn Văn Nhất.
    Cố Thiếu Tá …Phúc, cố Đại Úy …Hùng, cố Đại Úy Trần Văn Thinh và gia đình (vợ và con).
    Cố Th.Uý (14 PB).. Quýnh, cố Th.Uý (? PB) Hòa.
    Cố vợ,chồng Th.Uý..Sơn và cháu nhỏ. Cố Tr.Sĩ Tiểu Đoàn 1/7 Ký. Cố Tr.Sĩ VÔ DANH của Trung Đoàn 8 BB. Cố Tr. Sĩ Bường, Trung Đội 2 B của tôi.
    Cố Binh Nhì Quân Dịch Tr. Đội 2B PB…Mành và…khoảng hơn một trăm Tân Binh Quân Dịch QD (Khóa ….1965)
    …..
    Bấy lâu hống hách rừng binh lửa,
    Vó ngựa đêm nay ngã quỵ rồi,
    Lời sẽ theo mây bay với gió,
    Đưa hồn binh tướng tới nơi nao
    (Tác giả?)

    Chương 1
    Đi Lính
    Sau khi lấy xong cái Tú Tài Toán năm 1956, tôi trở thành một sinh viên của Viện Đại Học Sài Gòn, thành ra tôi thấy mình quan trọng hẳn ra, cứ tưởng mình là cái rốn của vũ trụ, đâu có nhớ rằng mình là một tên dốt nhất lớp IB3 năm đó !!! Hồi đó cả miền Nam Việt Nam chỉ có duy nhất một trường đại học, đó là trường Đại Học Sài Gòn với số khoảng duới 3000 sinh viên. Lúc này, trừ mấy trường có học bổng như Sư Phạm, QG Hành Chánh, Quân Y… sinh viên muốn học trường nào, ngành nào thì chỉ việc tới ghi tên vào ngành đó chẳng phải thi tuyển lôi thôi gì cả. Tôi thì chỉ muốn học Toán nhưng bố mẹ tôi lại muốn tôi trở thành quan Đốc Tờ, do đó tôi phải ghi tên học PCB ở Faculté des Sciences, nhưng lại ngu dại không ghi thêm vào lớp Math. Géné. Vì có ghi tên mà không chịu học thì …. bị rớt là cái chắc. Tuy vậy rớt thì rớt tôi chẳng thắc mắc gì cả vì cứ nghĩ là muốn học lúc nào mà chẳng được.

    Thật thế, từ sau Hiệp Định Genève đến lúc đó miền Nam với Viện Trợ Kinh Tế và quân sự của Mỹ đã có được một nếp sống khá ổn định nên tôi đã nghĩ rằng mình không cần vội vã kiếm một cái “bằng” gì đó để kiếm cơm. Lúc đó hình như toàn dân miền Nam VN đều sống trong cảnh tương đối thanh bình,không nghĩ rằng chiến tranh lại sẽ xẩy tới bởi sự “xâm lăng” của bọn Việt Cộng miền Bắc. Để chống lại sự xâm lăng này, thanh niên miền Nam VN trong một hạn tuổi nào đó đã bị kêu vào lính.

    Các thanh niên nào có bằng Tú Tài I hay tương đương trở lên đều bị kêu vào “Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức” để học ra chuẩn úy. Lúc đó tôi đang học năm thứ 2 tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh nhưng vì như tôi đã nói ở trên, tôi không nghĩ là tôi có thể sẽ bị vào lính, thành ra tôi đã có những quyết định sai lầm để rồi tôi đã phải mặc áo lính đấy !!!

    1- Bỏ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Khóa 7 để vào …Trường Bộ Binh Thủ Đức Khóa 14.

    Đúng là trăm đường tránh không khỏi số, một khi cái số đã bắt mình làm quan thì dù có xoay sở cách nào thì cuối cùng vẫn phải làm "quan", không làm cách nào khác được… và cái số của tôi lại đúng là cái số làm "quan". Cho nên, dù tôi đã cố ý từ quan, không phải là từ quan để đi ở chùa như anh chàng Ph. T. T. đã làm ra vẻ…trong khi thực ra là anh chàng này chỉ làm cái việc trốn… lính, nhưng tôi từ được cái vụ làm quan này thì tôi lại bị dính vào cái vụ làm quan khác.

    Vì không muốn làm quan cho chế độ của ông Diệm nên tôi đã từ bỏ Trường Quốc Gia Hành Chánh khóa 7. Ngày xưa vì nghe lời anh bạn Đỗ Quý Bái (hiện đang ở Tucson, Tiểu Bang Arizona) một anh bạn cùng ở Đại Học Xá Minh Mạng với tôi, nên tôi đã thi chơi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh khóa 7... và không ngờ lại đỗ nên học luôn vì… $2,000 (hai ngàn đồng) học bổng một tháng, trong khi lương một chuẩn úy độc thân hồi đó mỗi tháng chỉ có $3,300 (ba ngàn ba trăm đồng).

    Nhưng học thì học chứ tôi nhất dịnh không muốn ra trường nên đã bỏ ngang vì:

    - Không muốn làm quan dưới cái chế độ vừa độc tài gia đình trị, vừa... sặc mùi tôn giáo, nhất là họ lại bắt các sinh viên của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh phải gia nhập Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, khi tôi đang học năm thứ hai, nhưng tôi đã tỏ thái độ chống đối bằng cách không ghi tên vào Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa. Tôi là người duy nhất của cả 3 khoá 6, 7 và 8 đã dám tỏ thái độ này. Tôi đã dựa vào một câu trong thông cáo bắt chúng tôi phải vào Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, câu đó là “… ai muốn vào thì vào…”. Mấy anh em ông tổng thống muốn rằng ai ai cũng phải theo cái đạo của họ, dù rằng tôi không theo một tôn giáo nào cả nhưng muốn bắt tôi phải theo cái đạo đó thì …không được! Tôi tin ở Thượng Đế, mà Thượng Đế là ai cũng được, nhưng nhất định tôi không tin một cách mù quáng vào mấy ông Cha, mấy ông Sư hay mấy ông Mục Sư... Đạo nào tôn trọng Tự Do, nghĩa là không bắt tôi phải tuyệt đối tin theo bất cứ một Tín Điều nào của họ, thì tôi theo.

    - Lại nữa, có người nói rằng nhà tôi quen với Giáo Sư Vũ quốc Thông, viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thì làm gì tôi thi mà chẳng đậu, trong khi tôi thi vào trường này thì bố mẹ tôi đâu có hay.

    Tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh này sẽ được nhập ngạch đốc sự, ngày xưa thì gọi là đốc phủ sứ, nghĩa là sẽ được bổ làm quan (văn) có thể là... phó quận rồi phó tỉnh, như vậy bỏ trường này là... từ quan theo đúng nghĩa của nó?

    Nhưng, như tôi đã nói ở trên, số tôi là số làm "quan" nên…từ bỏ quan Văn thì phải đi làm quan Võ, nghĩa là vừa bỏ trường Hành Chánh là được ngay Trường Thủ Đức gọi… mà cái trường quân sự này đã gọi thì khó mà từ chối được. Thế là tôi vừa bỏ Trường Quốc Gia Hành Chánh khóa 7 thì phải vào ngay Trường Võ Bị Thủ Đức khóa 14.

    Tôi còn nhớ là tôi đã đi trình diện Nhập Ngũ tại Tiểu Khu Gia Định vào hạ tuần tháng 8 năm 1962. Chính ông anh tôi là Đại Uý Biệt Động Quân Nguyễn Văn Tiến lúc đó vừa có việc gì đó phải về Sài Gòn nên đã đưa tôi tới Tiểu Khu Gia Định, thời kỳ đó anh đang làm đại đội trưởng của một Đại Đội Biệt Động Quân ở Kontum. Vào thời gian này, Biệt Động Quân chưa thành lập cấp tiểu đoàn.
    Từ đây, Tiểu Khu Gia Định đã đưa chúng tôi tới Trại Nhập Ngũ Quang Trung để chờ được khám sức khỏe trước khi… bị đưa vào Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức thuộc Quận Thủ Đức, Tỉnh Biên Hòa.

    Vào Trại Nhập Ngũ Quang Trung mới chỉ là đặt chân lên ngưỡng cửa của đời lính, ở đây chúng tôi còn có thể đi lộn xộn, kéo nhau xuống “nhà bàn” để dùng cơm trưa hoặc cơm chiều, và trước giờ ăn còn được kêu “kính mời quý vị sinh viên sĩ quan xuống dùng cơm”…, còn nữa, khi được xe GMC chở về Tổng Y Viện Cộng Hòa để khám sức khỏe…, mỗi khi khám xong, có người còn lẻn trốn về nhà chơi tới chiều hôm đó mới lò mò trở lại trại. Mấy sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Trại Nhập Ngũ Quang Trung phụ trách những chuyến đưa đi đưa về cũng dễ dãi làm ngơ, coi như không thấy. Hậu quả là… chỉ khi vào Trường Quân Trường Thủ Đức rồi các ngài sinh viên sĩ quan mới thấy sự thực.

    Quân Trường Thủ Đức lúc này vừa có vị Chỉ Huy Trưởng mới, Đại Tá Lam Sơn về thay Thiếu Tướng Hồ Văn Tố bị chết vì “thượng mã phong” với một cô gái bán quán trong Câu Lạc Bộ, bán hàng cho sinh viên sĩ quan của trường. Cái chết này làm cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm tức lắm, nên Tổng Thống đã không làm lễ “quốc táng” cho ông thiếu tướng chết vì gái kiểu này.

    Hôm đó chúng tôi được dời Trại Nhập Ngũ Quang Trung khá sớm để lên Thủ Đức. Tới nơi, được tiếp nhận xong là chúng tôi được đưa về Đại Đội 6 mà đại đội trưởng là Trung Úy… Hạc. Đại đội 6 này có 4 trung đội, từ Trung Đội 21 tới Trung Đội 24. Tôi được xếp vào Trung Đội 22. Trung Đội 22 của tôi có trung đội trưởng là một chuẩn úy, tên là gì thì tôi đã quên mất rồi, hình như tên là Sĩ thì phải, tôi chỉ còn nhớ rằng đó là một chàng chuẩn úy Tây lai, khá đẹp trai. Sau khi được chỉ định về phòng của trung đội mình rồi, chúng tôi được đưa đi làm một số thủ tục như điền vào một số giấy tờ, lăn tay rồi đi lãnh quân trang, quân dụng hay nói trắng ra là lãnh quần áo lính, lãnh súng đạn…

    Sắp đến giờ ăn trưa, chúng tôi được tạm nghỉ để tắm rửa rồi xếp hàng xuống nhà bàn. Không hiểu là mấy ông trung đội trưởng của chúng tôi vô tình hay cố ý mà sau khi xếp hàng trước đại đội xong chỉ định một anh SVSQ làm tuần sự đại đội, đưa chúng tôi đi, không có một ông sĩ quan nào theo chúng tôi cả… Quen như hồi còn ở Trại Quang Trung, chúng tôi tuy vẫn đi trong hàng nhưng chân đi lộn xộn, không đều bước và vừa đi vừa nói chuyện ầm ĩ. Đi được chừng 20 thước thì… một thiếu úy của đội ở đàng xa đi tới, chặn chúng tôi lại và xỉ vả chúng tôi một trận. Ông ta nói “Đây là Quân Trường chứ đâu phải là cái chợ mà các anh đi như đi chợ vậy? Đi đứng trong hàng thì phải im lặng và đi đều bước chứ không được đi kiểu vậy. Anh tuần sự đại đội kia, anh để cho anh em đi như thế này à! Bây giờ anh dẫn anh em chạy hai vòng Vũ Đình Trường cho tôi rồi mới được xuống phòng ăn, mà phải chạy đều bước đấy". Thế là chúng tôi đươc anh Tuần Sự Đại Đội cho sắp hàng lại rồi chạy đều bước, vừa chạy vừa hô: một, hai, ba, bốn, một, hai, ba, bốn... Cái Vũ Đình Trường này rộng và dài khoảng hai cái sân banh, đây là nơi để nhà trường đưa các đại đội tới làm lễ khai giảng cũng như làm lễ mãn khóa, thế mà chúng tôi phải chạy 2 vòng trước khi vào phòng ăn đấy! Chạy xong 2 vòng rồi, chúng tôi mới được ông thiếu úy kia đưa vào… nhà bàn.

    Vừa mới chạy bở hơi tai xong, ai cũng khát nước muốn chết nên mới ngồi vào bàn xong là tên nào tên nấy rót vội đầy bát nước chè để tính uống thì… “ai cho các anh ngồi mà các anh đã ngồi xuống, lại còn uống nữa? Tất cả chú ý, rồi ông ta hô “ngồi”, chúng tôi đồng loạt hô “xuống” sau đó ông ta lại hô “đứng”, chúng tôi lại đồng loạt hô “lên”… Cứ thế lập đi lập lại đến 4, 5 lần chúng tôi mới được lệnh ngồi xuống ăn... Tới lúc này thì anh em ai cũng mệt nhoài người ra rồi nhưng vẫn phải ăn và uống cho lẹ vì… đã sắp hết giờ ăn! mà sau khi hết giờ ăn, chúng tôi sẽ còn phải xếp hàng về căn nhà Đại Đội để... ngủ trưa.

    Đấy mới là món quà đầu tiên của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức này tặng cho những thằng đã bước vào đây! (còn được gọi là Liên Trường Võ Khoanh vì tât cả các bài thi ở đây đều làm theo cách trắc nghiệm kiểu Mỹ nghĩa là a, b, c khoanh)

    Anh em trong Đại Đội 6 chúng tôi phần lớn là những kẻ bị động viên nên đã trình diện muộn nhất. Dân động viên thì hầu hết đã nhập trại từ sớm và đã được xếp vào các Đội 1, 2, 3 ….. trên rồi.

    Đại Đội 6 là đại đội cuối cùng của quân Chính Quy, 2 ₫ại ssội chót 7 và 8 là các đại đội của sinh viên sĩ quan bảo an.

    Chúng tôi đã vào Khóa 14 Thủ Đức, trong khoá này phần lớn là dân bị động viên, chỉ có một số nhỏ là dân“tình nguyện” thôi vì từ khóa 13, muốn tình nguyện chăng nữa cũng phải có Tú Tài I hay tương đương, mà đã có được cái Tú Tài 1 rồi thi ít ai lại chịu tình nguyện đi lính lắm, nhưng dĩ nhiên là vẫn có. Những người này đã tình nguyện vì những lý do riêng mà chúng ta cũng chẳng nên thắc mắc làm gì.

    Đời sống ở Quân Trường dĩ nhiên là rất gò bó trong một thứ kỷ luật, có thể gọi là kỷ luật sắt và nhất là những người thi hành cái kỷ luật sắt này lại là những người chỉ thích hành hạ người khác, họ không hiểu mục đích của việc lập ra cái kỷ luật này là để làm gì.

    Thực ra câu “thi hành trước khiếu nại sau” cốt là để cho người lính chiến quen việc phục tùng các mệnh lệnh của cấp trên. Nếu người lính nào khi được lệnh đi tiếp cứu một đơn vị bạn đang trong tình trạng nguy ngập chẳng hạn, mà anh ta còn muốn khiếu nại là… anh ta vừa mới hoàn tất một công tác nặng nhọc xong, sao không cho anh ta nghỉ. Anh ta không biết rằng vị chỉ huy anh ta cũng đã biết như vậy lắm nhưng trong trường hợp khẩn cấp này, chỉ có anh ta là có thể thi hành công tác đặc biệt này một cách tốt đẹp mà thôi và vị chỉ huy của anh ta đã dự trù một tưởng thưởng xứng đáng cho anh ta rồi, trừ phi anh ta bị chết thì không kể, nhưng đã là lính rồi thì phải coi nhiệm vụ và tinh thần đồng đội là chính và sự chết chóc hay bị thương tổn cá nhân là nhỏ. Do đó nếu không quen cái tập tục thi hành trưóc khiếu nại sau thì thứ quân đội đó không còn là quân đội nữa vì nó sẽ chẳng có thể hoàn thành được bất cứ một nhiệm vụ nhỏ nào nữa. Mục đích của quân kỷ là vậy, nhưng phần lớn mấy ông quan trong quân trường này lại… không hiểu được như thế, ngoài ra còn một số trong các ông ấy lại có ý nghĩ là trước kia chúng mày chê bọn tao là ngu dốt thì bây giờ hãy mở mắt ra mà coi đi! Thật ra thì nghĩ thế cũng hơi quá… Đúng ra là trước kia chúng tôi đã không coi trọng nghề “Lính” nhưng không bao giờ dám coi thường ai cả. Chúng tôi biết rằng trên Thế Giới này, có biết bao nhiêu vị tướng tài xuất thân không có một bằng cấp văn học nào, nhưng vẫn là người hùng của dân tộc, gần chúng ta nhất như Nguyễn Huệ của Việt Nam. Người có phải là Cử Nhân Tiến Sĩ gì đâu mà vẫn là anh hùng của Dân Tộc ta! Có ai dám khinh các ông lính đâu!

    Nhưng dù sao đã vào đây rồi thì cũng phải chịu phép một bề thôi… nghĩa là ai sao, ta vậy. Chúng tôi phải làm quen với tất cả các luật lệ đã đặt ra ở đây, và thế là chúng tôi lần lần vào khuôn vào phép hết. Tôi không muốn nhắc lại ở đây những chuyện vụn vặt như phải lấy cái “túi ngủ” mới được phát cho để bọc lấy cái khung giường, sửa soạn cái giường ngủ của mình cho thật đẹp để… chỉ được nằm lên vào buổi tối, còn buổi trưa thì… ráng mà nằm xuống sàn đá hoa mà ngủ,vì nếu nằm lên giường thì lúc dậy sẽ... vất vả làm đẹp lại cái giường bởi… nếu trong khi mình còn ở ngoài bãi tập mà có vị Thanh Tra nào tới, thấy cái giường của mình bị xộc sệch sai “tiêu chuẩn” thì sẽ được “trình diện Dã Chiến” sớm.

    2- Anh tôi, Đại Úy Nguyễn Văn Tiến tử trận.

    Ở đây tôi muốn nhắc đến một chuyện nhỏ về phương diện “tâm linh”. Số là khi nhập trại được độ 3, 4 tuần gì đó thì … một sáng tôi thức dậy mặt đầy nước mắt, anh bạn nằm trên cái giường bên cạnh, anh Mai Văn Chính, hiện cũng đang ở bên Mỹ này, bèn chê tôi rằng “Lớn đầu như vậy rồi mà mới xa nhà một chút đã khóc!” . Lúc đó tôi còn độc thân và nhất là không thể nhớ nhà được vì tôi đã vào ở trong ĐHX Minh Mạng trên 4 năm rồi. Tôi chỉ biết rằng đêm hôm trước không hiểu tại sao tôi cảm thấy buồn vô hạn và nước mắt cứ thế trào ra… Sáng hôm đó, tôi vẫn theo anh em ra bãi tập như thường lệ, nhưng đến trưa, lúc về tới phòng rồi thì tôi được Trung Uý Đại Đội Trưởng kêu tôi lên và dục tôi về thay quần áo để về nhà, ông ta đưa cho tôi cái điện tín báo tin là… anh tôi Đại Úy Nguyễn Văn Tiến đã chết trên KonTum, nay đã đưa xác về Sài Gòn. Thế là tôi vội vã ra về với bộ đồ số 2 không huy hiệu gì cả, lúc đó chúng tôi chưa được gắn alpha.

    Tới lúc đó tôi và anh bạn Mai Văn Chính của tôi mới biết là không phải vô cớ mà tôi chẩy nước mắt. Phải nói thêm là vào thời đó một đại úy đã có thể là một tiểu đoàn trưởng rồi. Hồi đó anh tôi là đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân (Lúc đó Biệt Động Quân chưa thành lập cấp tiểu đoàn). Thế mà anh tôi, một đại úy lại bị chết trận. Cái tin anh tôi bị chết làm cho một vài anh bạn, đã có gặp anh tôi lúc anh đưa tôi tới Tiểu Khu Gia Định trình diện, hết hồn. Họ nói “Đại úy mà còn bị chết như vậy thì sau này mình ra trường chỉ là chuẩn úy thôi, sẽ dễ chết như thế nào đây!".

    Tôi đã tính là ra trường rồi, tôi sẽ xin về Biệt Động Quân với anh tôi, nhưng nay thì… không được nữa rồi. Nhưng chính vì tôi về đưa đám anh tôi mà tôi gặp Thiếu Tá Pháo Binh Phạm Cao Đông một huynh trưởng của anh tôi., lúc này đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh trong Bộ Tổng Tham Mưu. Sau này anh là đại tá tham mưu trưởng của Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân Đoàn I. Lúc anh tôi vào Khóa 7 Đà Lạt thì anh Phạm Cao Đông thì đã ở Khóa 6 Đà Lạt rồi.

    Có lẽ Thiếu Tá Đông đã đưa tôi về Pháo Binh. Sau này ở San Francisco tôi có gặp Trung Tá Pháo Binh Tống Mạnh Hùng (Khóa 5 Thủ Đức), anh ta cho biết là hễ ai có Tú Tài Toán là đều được tuyển về Pháo Binh hết. Nhưng điều này lại không đúng vì tôi có một anh bạn cùng ở trong Đại Học Xá Minh Mạng với tôi, anh Nguyễn Bá Nhâm, cũng vào Khóa 14 Thủ Đức như tôi, cũng có Tú Tài Toán, và dù anh ta không chạy chọt gì cả nhưng cũng đã không về Pháo Binh. Anh Nhâm về sau cũng bị “tái ngũ” rồi cũng được biệt phái về “dạy học như tôi”. Hiện nay anh đang ở vùng Westminster, Nam Cali. Nếu không bị lựa trước thì có thể là tôi sẽ đi Hành Chánh Tài Chánh, vì tôi đã học Quốc Gia Hành Chánh Khoá 7 ban Kinh Tài (nhưng tôi đã vừa bỏ ngang, không thi ra trường, sự việc mà bọn sinh viên chúng tôi thường gọi là Sortie Laterale) còn không thì tôi cũng về Truyền Tin vì bài trắc nghiệm của môn này tôi làm khá lắm. Thế là định mệnh đã đưa tôi về Pháo Binh, nhưng lúc đó, khi về đưa đám ông anh tôi thì tôi cũng chưa biết.

    Ngày hôm đó chờ mãi chưa thấy tôi về nên Thiếu Tá Nguyễn Hải Bình, cậu của bà chị dâu tôi, phải cho lính của ông đem xe Jeep lên Thủ Đức để đón tôi, trong khi đó thì tôi đã vừa ra khỏi trại. Thiếu Tá Bình này thời đó đang làm gì ở Sài Gòn thì tôi không biết, nhưng sau này hình như ông ta làm tổng giám đốc Quan Thuế, một vị tổng giám đốc khá nổi tiếng là trong sạch thì phải. Sau Tháng Tư 75, khi còn đang ở trong các trại Cải Tạo, tôi lại nghe nói rằng ông Bình này là người của Cộng Sản, chẳng biết có đúng không.

    Mới bước vào đời lính mà đã bị “xui” với cái chết của ông anh như vậy rồi thành thử cuộc đời lính tráng của tôi không khá được

    3- Tiền Lính.

    Ở đây tôi muốn nói đến tiền lương của các sinh viên Sĩ Quan Thủ Đức. Tôi không còn nhớ là lúc đầu, tôi đã đựơc lãnh bao nhiêu nhưng sau 3 tháng, lúc mà chúng tôi đã được gắn alpha, thì mỗi tháng tôi được lãnh lương của một trung sĩ độc thân nghĩa là lãnh $800 đồng, tương đương với 80 bát phở. Cầm $800 đồng, tôi thờ người ra, nghĩ đến mấy tháng trước, khi còn là sinh viên ở trong Đại Học Xá Minh Mạng, ngoài cái học bổng $2000/tháng (hai ngàn đồng) lãnh ở trường Quốc Gia Hành Chánh, tôi còn lãnh $1,500/tháng (một ngàn năm trăm đồng một tháng) phụ cấp cho chức vụ thủ quỹ Quán Cơm của Đại Học Xá Minh Mạng. Trước khi vào Thủ Đức tôi đã được anh em bầu vào chức vụ này. Thủ quỹ thì ăn cơm không mất tiền và có $1,500 tiền lương. Thêm vào đó tôi còn có $2,000/tháng (hai ngàn đồng một tháng) tiền dạy kèm Lý Hoá cho mấy em học lớp Đệ Nhất A nữa… Thế mà bây giờ chỉ còn được cầm có tám trăm đồng thôi, nghĩ có chán không!

    4- Giai đoạn I tại Trường Thủ Đức.

    Trong 3 tháng đầu của giai đoạn I, nhà trường dạy chúng tôi những kỹ thuật cơ bản của người lính chiến bộ binh như học về các loại súng như súng Colt bát

    Tại sao gọi là Colt bát thì tôi không biết vì mỗi băng đạn của súng này chỉ chứa được tối đa là 7 viên thôi, nếu tính cả một viên lên nòng sẵn thì mới là 8 viên, mới có thể gọi Colt Bạt, tiếng gọi chệch đi của chữ Colt Bát hay Bạt là do chữ gì ra thì tôi… không biết, học về súng Garant M-1,súng Carbine M-1, lúc này chưa có bán tiểu liên Carbine M-2, học về súng trung liên, đại liên, các loại lựu đạn, các loại mìn. Chúng tôi phải học cách sử dụng, cách tháo ráp chúng.

    Chúng tôi cũng được dạy sơ qua về những chiến thuật căn bản như khi hướng dẫn một vài chiến hữu đi làm một công tác nào đó thì phải nhớ là mỗi khi qua một khúc quanh nào mà mình phải khó khăn mới vượt qua được thì khi qua xong, phải nán lại chờ có người khác cũng qua được rồi mình mới tiếp tục đi, nếu không thì người bạn mình sẽ bị lạc vì mất dấu người hướng dẫn. Cũnh như ở bên Mỹ này nếu mình lái xe đi trước để dẫn đường cho xe sau, thì mỗi khi qua được một ngã rẽ có đèn xanh, đèn đỏ thì phải nhớ quay lại xem xe kia có theo kịp xe mình không, hoặc đã bị đèn đỏ chặn lại. Nếu xe đó bị chặn lại thì xe trước phải liệu tắp vào lề để chờ xe kia qua rồi mới đi tiếp. Trong giai đoạn I này chúng tôi dĩ nhiên là còn được học về Thao Diễn Cơ Bản, học cách vừa đi vừa biến đổi đội hình, học cách leo đoạn đường Chiến Binh. Chỉ tiếc một điều là họ dạy các sĩ quan tương lai đủ thứ, nhưng lại không dạy bơi lội, như vậy sự việc không dạy bơi lội những kẻ không biết bơi lội như tôi thì thật là một thiếu sót lớn.

    Đã có nhiều lần tôi đã phải nhờ môt sĩ quan nào đó trong mấy người đi chung để ý lo cho tôi khi chúng tôi phải vượt sông. Bơi lội lẽ ra nên có trong chương trình để giúp một số những sinh viên sĩ quan không biết lội như tôi.

    5- Giai Đoạn II: Sang Binh Chủng Pháo Binh, về trường Pháo Binh Dục Mỹ

    Hết giai đoạn I, chúng tôi được phân chia về từng ngành để học giai đoạn II với cái cầu vai mang dấu hiệu Alpha Một Gạch. Đến lúc gọi tên đi ngành tôi mới biết là tôi được chọn về Pháo Binh. Chúng tôi có tất cả khoảng 50, 60 người, cùng với khoảng một, hai chục sinh viên sĩ quan Bảo An bị đưa ra Nha Trang rồi vào trường Pháo Binh ở Dục Mỹ. Chúng tôi tới Nha Trang thì bằng phi cơ để từ đó nhà trường cho xe GMC ra chở chúng tôi về Dục Mỹ.

    Vào tới trường rồi chúng tôi mới thấy nản, trường Pháo Binh của chúng tôi nằm trên một ngọn đồi ở thị trấn Dục Mỹ mà thị trấn này lại toàn là những đồi với núi! Trường Pháo Binh của chúng tôi nằm bên cạnh Trường Biệt Động Quân và rồi chúng tôi nhận ra là so sánh với cách luyện tập bên đó thì chúng tôi đúng là đang được ở Thiên Đàng trong khi những quân nhân Biệt Động Quân kia lại đang ở dưới Địa Ngục. Chúng tôi đã thấy cả những thiếu úy từ Đà Lạt mới ra trường mà được chuyển về nơi đây để học Biệt Động Quân thì cũng phải chịu những kỷ luật khắt khe như những tên binh nhì về học đấy. Mới được đưa tới trường và vừa từ trên xe nhẩy xuống, với túi đeo trên lưng, họ đã phải hô to “Sát, Sát..” và… bò về Văn Phòng Bộ Chỉ Huy của nhà trường để… trình diện. Đã tới trường Biệt Động Quân này rồi thì họ chỉ được mang lại cái lon thiếu úy vào những ngày thứ Bẩy, Chủ Nhật hay ngày Lễ để ra chợ Dục Mỹ hoặc ra Nha Trang chơi thôi, còn trong lúc đi học thì họ vẫn bị được coi như những tân binh thường.

    Nhìn thấy kỷ luật bên trường Biệt Động Quân như vậy, mới thấy rằng kỷ luật bên trường Pháo Binh này không thấm vào đâu cả. Kỷ luật bên Pháo Binh này thật là chẳng có gì ngay cả đối với kỷ luật ở trường Thủ Đức, chứ đừng nói đối với kỷ luật bên Biệt Động Quân ngay sát bên cạnh chúng tôi nữa.

    Tuy rằng đã được hưởng cái kỷ luật nhẹ nhàng như vậy, tôi vẫn cảm thấy… rất buồn, một mối buồn man mác vô căn cứ bởi cảnh vật quanh mình, với những núi non trùng điệp quanh trường, nhất là vào lúc cuối Đông ở dải đất miền Trung này. Sáng sáng có khi chỉ thấy sương mờ che phủ cả doanh trại, mấy căn phòng chúng tôi ở lại là những căn nhà mái tôn vách ván chứ không được là những căn nhà bằng gạch ngói khang trang như ở Thủ Đức, và tuy tôi không giã từ người yêu để vào quân trường, vì… người tôi yêu đã “chia tay” với tôi từ lâu, từ một năm nay rồi, nhưng tôi vẫn cảm thấy trong lòng tôi có một cái gì như nhớ nhung về dĩ vãng… Tôi tiếc nuối là đã không chịu học hành đàng hoàng để đến nỗi phải… đi lính!

    Ra đây là để được học về Pháo Binh nên ngay ngày hôm sau là chúng tôi đã được đưa lên giảng đường để nghe nói về việc học hành sẽ như thế nào và mọi sinh hoạt ở đây sẽ ra sao. Lúc đó chúng tôi mới biết rằng Chỉ Huy Trưởng của trường Pháo Binh này là Thiếu Tá Hoàng Hữu Giang và trường Pháo Binh này sẽ dạy chúng tôi đủ thứ về chuyên môn Pháo Binh như: học về Súng Cối, về Đại Bác 105 ly rồi tới Đaị Bác 155 ly, về Truyền Tin, Địa Hình, Chiến Thuật, Quân Xa… Nếu chịu khó học hành cẩn thận thì những kiến thức thu thập ở đây sẽ rất hữu dụng về sau cho ngay cả trong đời sống dân sự, biết rành về quân xa thì sau này có thể biết sửa cái xe hơi của mình chẳng hạn.

    Nhưng khốn nỗi tôi chỉ ưa mỗi môn Toán của tôi nên tôi chỉ chú ý vào môn Trung Ương Tác Xạ vì môn này có sử dụng tới một chút vốn liếng Toán học của tôi, thí dụ như phải tính logarithm chẳng hạn. Môn này do Trung Úy Nguyễn Văn My phụ trách. Vì tôi khá xuất sắc trong môn học này nên Trung Úy My rất thích tôi. Trung úy này là người Bắc và đã phải động viên vào Khóa 5 Thủ Đức vào cuối năm 1954. Trung Uý My về sau lại là pháo đội trưởng của tôi.

    Trong các sĩ quan huấn luyện viên ở đây chỉ có Trung Uý Lễ là người Nam, lúc này Trung Uý Lễ đang học Luật nên rảnh ra là Trung Uý Lễ lại cắm đầu vào học.

    Các môn khác ngoài môn Trung Ương Tác Xạ ra, tôi gần như không ngó tới, không biết rằng đối với chiến binh thì các môn Địa Hình cũng như Truyền Tin lại rất là cần thiết, mà đối với Pháo Binh thì lại rất là cần thiết. Đó là những môn có quan hệ thiết thân nhất. Máy truyền tin mà trục trặc thì làm sao liên lạc tốt với hậu cứ để xin yểm trợ đây? Còn như không rành về địa hình thì làm sao xác định tọa độ cho chính xác được để xin tiêu diệt địch cũng như khỏi bắn lầm vào quân bạn hay bắn lầm vào nhà dân trong khi mình vẫn chủ trương là Diệt Cộng, An Dân. Nhưng lúc đó tôi lại chẳng cần biết đến việc đó nên tôi đã lơ là về hai môn này để về sau phải học ngay trên trận địa!

    Về Trung Ương Tác Xạ, tôi không những giỏi về lý thuyết mà còn rất khá về thực hành nữa. Có một lần, để sửa soạn cho một cuộc thanh tra của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh tôi đã được đóng vai trò của một sĩ quan Tiền Sát Pháo Binh và tôi đã bắn trúng mục tiêu chỉ định, bắn gẫy một cây cầu trên sân giảm xạ. Về Tác Xạ thì tôi rất khá. Hồi ở Thủ Đức, trên thềm 300 thước, trong một kỳ trắc nghiệm ở cuối giai đoạn I, trong 3 phát tôi bắn với súng Garant M-1 thì một phát trúng hồng tâm còn 2 phát kia thì chỉ cách hồng tâm hơn 1 cm. Với Carbine M-1 cũng vậy, nói chung là với súng trường và với mục tiêu cố định thì gần như tôi bắn đâu trúng đó, chỉ có đối với súng Colt là tôi chịu thua. Ngay cả sau này khi ra đơn vị rồi, tôi tập thế nào cũng không làm sao khắc phục được cái dở này. Kể cả với mục tiêu chỉ cách có khoảng 20 mét tôi cũng không thể dùng Colt để bắn cho trúng một mục tiêu cố định được. Súng này giật mạnh lắm mà tay tôi lại yếu thì làm sao bắn trúng đây.

    Về trường Pháo Binh Dục Mỹ, tôi mới gặp lại 2 người bạn cùng học trung học với tôi, hình như là sau khi đậu xong cái bằng Trung Học Phổ Thông, nghĩa là xong Đệ Nhất Cấp thì các anh hoặc tình nguyện hoặc bị động viên vào Khoá 5 Thủ Đức, nay họ là Trung Uý và là những người dạy tôi. Đó là Trung Úy Nguyễn Hữu Trì và Trung Úy Trần Thượng Khải… Trung Úy Trì là Sĩ Quan An Ninh của nhà trường còn Trung Uý Khải thì dạy tôi môn Truyền Tin… Tôi còn nhớ một hôm ra bãi tập, khi tôi đang điều chỉnh cái Giác Bàn thì … Trung Uý Khải mà tôi đã biết từ trong lớp học, trên bục giảng, mỗi Huấn Luyện Viên đều có gắn bảng tên và cấp bậc của mình, ngập ngừng hỏi tôi

    - Có phải anh là anh Khôi, trước học ở Ngô Quyền Hải Phòng phải không?

    - Dạ, đúng! Tên em có ghi trên túi áo đây.

    - Tao là Trần Thượng Khải đây, có nhận ra tao không?

    - Dạ em nhận ra chứ, nhưng là trung úy to thấy mẹ, ai dám nhận quen.

    - Tiên sư mày, vừa thôi chứ! Thế nào vợ con gì chưa?

    - Có ai thèm lấy tao đâu mà vợ với con!

    - Thôi thứ Bẩy này ra nhà tao ở Ninh Hòa chơi, rồi tao bảo bà xã tao kiếm vợ cho, năm nay mày đã gần 30 rồi phải không?

    - Tao hãy còn trẻ mà, mới có… hai mươi tám tuổi thôi chứ đã già gì đâu!

    Tôi gặp lại anh bạn Trần Thượng Khải như vậy, còn anh Nguyễn Hữu Trì thì tôi gặp anh vào một tối khi tôi phải lên trình diện dã chiến vì… Sáng thứ Bẩy trước đó tôi đã sơ ý không đánh si lại đôi giầy bottes de saut của tôi. Nói đúng hơn là tôi đã quên không đánh si lại 2 cái gót giầy đó… thành ra tôi đã bị phạt 4 đêm dã chiến, nhưng ngay tại cái đêm đầu tiên khi tôi lên trình diện sĩ quan trực đêm đó thì vị sĩ quan trực lại là Trung Úy Nguyễn Hữu Trì, thế là tôi không bị hạch sách gì như sẽ bị hạch hỏi là: -Bi đông của anh có đầy nước không? Nước này có uống được không, anh uống thử cho tôi coi xem nào. Anh đã lau chùi súng kỹ chưa? Nòng súng có sạch không? vân vân và vân vân. …

    Thế là tôi và anh Trì ngồi ôn chuyện cũ với nhau và dĩ nhiên là các đêm dã chiến còn lại của tôi đều được xóa bỏ.

    Sau này tôi nghe nói là đại úy hay Thiếu Tá Trì bị chết vì bị pháo kích ở Khe Sanh, còn Trần Thượng Khải thì về sau là thiếu tá tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 182 Pháo Binh ở Long Khánh, mà tôi có dịp ở trong trại của anh khi bị đi học tập cải tạo và bị thương, suýt chết ở đây. Hiện nay nghe nói là sau khi bị đi cải tạo về anh cũng đã sang được đất Mỹ này rồi, có diều tôi vẫn chưa liên lạc được dù đã hỏi nhiều người.

    Cũng ở Dục Mỹ này, tôi còn được Y Sĩ Trung Uý Phan Trần Đạo lái xe Jeep từ Ninh Hòa vào đón tôi ra đó chơi khi anh ra làm tại quân y viện Nha Trang hay Ninh Hòa gì đó tôi cũng chẳng hỏi làm gì, anh không lái xe đưa tôi ra Nha Trang vì… từ Ninh Hòa ra Nha Trang phải qua đèo Rù Rì mà lái xe qua đèo này thì rất…nguy hiểm. Bác Sĩ Đạo là người học trên tôi 2 hay 3 lớp và là người đã ở cùng phòng với tôi trong Đại Học Xá Minh Mạng mấy năm xưa (hiện nay anh đang hành nghề Y Sĩ tại San Diego, ở miền Nam California)

    Ở trường Dục Mỹ này chúng tôi mới thấy sự phân chia đẳng cấp giữa người binh nhì và sĩ quan, ngay cả với các sinh viên sĩ quan, rất là rõ rệt. Mặc dù là chúng tôi cũng phải chia nhau đi gác đêm ở các vọng gác của nhà trường để có thể thấy được cái cực nhọc của ngưới lính nhưng chúng tôi đã không phải dọn cầu tiêu, chính những người lính Pháo Binh tương lai phải dọn tất cả các cầu tiêu của cả trường.

    Nên biết cho là các cầu tiêu ở đây là những cầu tiêu có thùng đựng phân ở phía dưới chứ không được là các cầu tiêu giật nước như ở Thủ Đức. Không biết là những người lính khóa sinh này có được nghỉ để ra khỏi trại vào những ngày thứ Bẩy và Chủ Nhật hay không, nhưng sinh viên sĩ quan chúng tôi thì gần như... phải dời trường để ra Nha Trang hay đi đâu tùy ý.

    Ở Thủ Đức thì kiếm được một cái giấy phép ra trại vào những ngày này thật rất khó, còn ở đây thì… muốn ở lại trường mới là khó vì như thế thì phải báo trước để nhà bếp làm cơm cho những người ở lại. Nếu mọi người đều đi hết thì họ khỏi phải nấu cơm cho ai hết, nhưng tiền để nấu ăn thì vẫn lãnh đủ.

    Cho tới lúc đó và ngay cả cho tới bây giờ, tôi vẫn thấy bãi biển Nha Trang là bãi biển đẹp nhất ở Việt Nam với cái bờ biển cong cong, bãi cát thì trắng tinh và rất sạch không bẩn thỉu rác rưới như bãi biển ở Cấp hay ở Đồ Sơn ngoài Bắc, và nước biển thì xanh ngắt, chỉ không xanh bằng nước biển ở Vịnh Hạ Long thôi. Ngày xưa tôi đã ở Hòn Gay vì ông bố tôi đã làm kế toán trưởng trong Trung Tâm Hà Tu, rồi Trung Tâm Hà Lầm thuộc Sở Than Hongay SFCT (Société Francaise de Charbon du Tonkin) tới năm 1947. Từ Hà Tu ra Hòn Gay chỉ có 11km, còn từ Hà Lầm ra Hòn Gay lại chỉ có 7 km thôi.

    Ngay ngày thứ Bẩy đầu tiên được đi phép ra Nha Trang, tôi đã gặp lại các bạn Hành Chánh Khoá 7 của tôi, họ cũng phải ra học quân sự nhưng ở trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Tôi còn nhớ anh Đỗ Tiến Đức có nói với tôi rằng “Thế nào, bỏ trường, bây giờ đã sướng chưa?”. Tôi đã trả lời rằng “Tôi đâu có biết rằng bỏ trường Hành Chánh ra là phải vào ngay trường Thủ Đức đâu?”.

    Chương 2

    Về Tiểu Đoàn Pháo Binh

  2. Định sẵn ĐỜI SĨ QUAN TIỀN SÁT PHÁO BINH (Tiếp theo)


    THUẦN PHONG
    Chương 2
    Về Tiểu Đoàn Pháo Binh

    1- Về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh.

    Mặc dù không chịu học hành gì cả nhưng ở cái trường quân sự này thì tôi không thể sortie latérale (học rớt vì thiếu khả năng) được, nghĩa là cuối khóa tôi vẫn sẽ bị gắn lon chuẩn úy, nghĩa là tôi vẫn đậu ra trường, chỉ có điều là đậu gần chót thôi. Nhưng dù là gần chót, nghĩa là không được ưu tiên chọn đơn vị, tôi vẫn được về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh ở Tam Hiệp, Biên Hòa. Có tên là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh là để phân biệt với Tiểu Đoàn 5 Súng Cối. Sau này, vào cuối năm 1964 thì phải, loại Súng Cối chuyển sang cho Bộ Binh nên Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh chuyển thành Tiểu Đoàn 51 Pháo Binh, còn Tiểu Đoàn 5 Súng Cối cũ thì trở thành Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh với súng 105 ly.

    Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh này lúc này là Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu mà về sau là Tổng Thống của Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam.

    Tôi sang Pháo Binh vì khi tôi từ Thủ Đức về đưa đám ông anh tôi, thì Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh tại Bộ Tổng Tham Mưu... Tới khi tôi ra trường, lên Bộ Tổng Tham Mưu để nhận sự phân phối, tôi mới gặp lại ông Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh trên Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc này tôi mới biết là chính ông Thiếu Tá Đông này đã đưa tôi sang Pháo Binh và rồi đưa về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh. Gọi là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh vì là Tiểu Đoàn súng 105 ly thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Quân Đoàn 3. Mỗi Sư Đoàn Bộ Binh thời đó có 1 Tiểu Đoàn PB (105 ly), 1 TĐ Súng Cối (160 ly) và 1 TĐ Tổng Trừ Bị (155) ly. Sư Đoàn 5 Bộ Binh này có Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh, TĐ 5 Súng Cối và Tiểu Đoàn 38 Tổng Trừ Bị với súng 155 ly đầu bạc, gọi là đầu bạc vì phần đầu của cái nòng súng 155 ly này làm bằng thép inoxydable nên sáng loáng và bạc trắng.

    Về tới tiểu đoàn rồi mới thấy cái “oai” của một người làm quan, dù mới chỉ là một vị quan hạng bét, quan… chuẩn úy. Hôm đó, sau khi đã qúa hạn trình diện tới một tuần rồi, tôi mới nhờ một anh bạn cùng phòng trong Đại Học Xá Minh Mạng chở tôi lên Ngã Ba Tam Hiệp bằng cái xe Lambretta số NA 1112 A của tôi. Lúc đi thì tôi lái, cái túi quân trang thì để trên sàn xe, anh bạn Nguyễn Hữu Nhâm của tôi thì ngồi trên cái yên sau (Thực ra anh Nhâm này học trên tôi ít nhất là 2 lớp, anh đã đậu Tú Tài từ Hà Nội, nhưng số anh cũng không được khá lắm. Anh cũng đã bị gọi đi lính vào khóa 14 Thủ Đức như tôi nhưng anh không muốn… bước vào đời lính nên đã không chịu trình diện, anh trốn liên tiếp khoảng 10 khóa để rồi cuối cùng cũng phải… vào Thủ Đức khoá 24 thì phải. Nhưng anh lại có cái may mắn hơn tôi là… đã không phải ăn cơm tù cải tạo vì anh đóng ở miền Tây nên sau ngày 30/4/1975 anh đã thoát được khỏi Việt Nam và hiện nay anh đang ở dưới Nam Cali.)

    Tới cổng tiểu đoàn rồi, tôi khệ nệ mang cái túi quân trang vào cổng trại. Anh lính gác thấy thế vội bảo tôi “Thiếu úy cứ để đấy để em bảo tụi nó mang vào cho, thiếu úy cứ lên văn phòng đi!”. Lúc đó tôi đang mặc bộ đồ số 2 nghĩa là mặc quần áo kaki với lon chuẩn úy hẳn hoi, nhưng vẫn được gọi là thiếu úy… Mấy tháng trước khi còn trong trường thì mỗi khi đi đâu chúng tôi đều phải tự mình mang theo mọi đồ dùng cá nhân của mình, nên lúc đó tôi cũng hơi khớp nhưng rồi hiểu ngay ra là mình bây giờ là sĩ quan rồi chứ không còn là sinh viên sĩ quan nữa, nên tôi để cái túi quân trang ở đó rồi lên Văn Phòng Tiểu Đoàn trình diện đại úy tiểu đoàn trưởng. Mặc dù đã lên trình diện trễ nhưng có lẽ đã được gửi gấm trước nên tôi cũng chẳng bị quân kỷ gì ngoài mấy lời khiển trách nhẹ nhàng. Hình như Thiếu Tá Phạm Cao Đông ngày xưa là tiểu đoàn trưởng hay pháo đội trưởng của ông đại úy tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh này thì phải. Tôi phải nói ngay ở đây rằng tôi lên trình diện trễ là vì tính tôi ham chơi từ nhỏ chứ không phải vì cậy có ông Thiếu Tá Phạm Cao Đông đỡ đầu, đỡ đít gì đâu.

    Đại úy tiểu đoàn trưởng này tên là Hồ Sĩ Khải, người hơi gầy nhưng cao thành ra các sĩ quan trong tiểu đoàn thường gọi sau lưng ông ta là “Anh Ba Cao”. Ông ta còn có biệt danh nữa là “Anh Ba Răng Vàng” vì ông ta có mấy cái răng vàng, tên ông ta đẹp là thế mà cũng bị đổi thành “Đại Úy Hồ Sãi Khỉ” trong khi đó thì vị đại úy tiểu đoàn phó lại có một chiều cao khiêm nhường nên được mệnh danh là “Anh Ba Lùn”. Đại úy tiểu đoàn phó này tên là Dương khắc Cần (sau này Đại Úy Khải này lên tới chức đại tá và về làm chỉ huy trưởng Trường Pháo Binh cho tới ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông ta có bị tù cải tạo hay có dời khỏi Việt Nam được hay không thì tôi cũng không biết, riêng về Đại Uý Cần thì nghe nói bị tử trận vào năm 1972 trên đường tháo chạy từ Kontum, khi đó ông đang làm tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh ở đây).

    Trình diện xong thì tôi đươc Ban I ghi tên tôi vào sổ lương rồi được chỉ định về ở tạm với đại úy tiểu đoàn phó để đợi được phân phối về một pháo đội nào đó, thế là cái túi quân trang của tôi được một sĩ quan trong văn phòng sai lính mang về phòng Đại Uý Cần cho tôi. Ông Đại úy tiểu đoàn phó này không mang vợ con ở dưới quê theo, nên ở trong trại, còn Đại Uý Khải thì ở với gia đình bên ngoài, gần trại. Đại Uý Cần này rất là vui tính, lại nữa tuy là lính mới nhưng lúc đó tôi cũng đã gần ba chục tuổi đầu rồi và nhất là tôi lại là dân bị động viên nữa, vả lại tôi cũng đã là sĩ quan của tiểu đoàn nên tôi đã được Đại Uý Cần tiếp đãi rất tử tế

    Văn phòng của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nhìn thẳng ra cổng trại và cách cổng trại khoảng bốn, năm chục thước (mét). Bên trái văn phòng là mấy căn phòng, làm phòng ngủ cho Đại Uý Tiểu Đoàn Phó còn bên phải Văn Phòng là một dẫy mấy căn phòng dùng làm kho cho Ban 4, Ban Tiếp Liệu của tiểu đoàn. Sau lưng Ban 4 này là các khu dành cho Ban Quân Xa và các khu dùng làm hậu cứ cho ba Pháo Đội A, B, C. Ở với Đại Uý Cần được đâu 2 ngày thì tôi được phân phối về Pháo Đội B của Trung Uý Nguyễn Đôn Sâm.

    Cho tới thời điểm đó mỗi tiểu đoàn chỉ có 3 pháo đội tác chiến và 1 pháo đội chỉ huy, mỗi pháo đội tác chiến chỉ có 2 trung đội với 2 khẩu đại bác 105 ly cho mỗi trung đội. Mấy năm sau thì cách tổ chức này được đổi thành Tứ Tứ Chế, nghĩa là mỗi tiểu đoàn có 4 pháo đội tác chiến và 1 pháo đội chỉ huy. Mỗi pháo đội tác chiến có 4 trung đội cùng với 2 khẩu đại bác cho mỗi trung đội.

    Thế là tôi lại phải dời sang hậu cứ của Pháo Đội B này để chờ khi nào có liên lạc tôi sẽ dược đưa tới Pháo Đội B lúc đó đang đóng trong tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa). Vài ngày sau đó, Trung Úy Sâm cho người về lấy đồ tiếp liệu và đón tôi đi.

    Ở tiểu đoàn thì chưa thấy mùi vị gì của lính tráng cho lắm, vì ở đây sĩ các quan cũng như hạ sĩ quan và binh lính của tiểu đoàn có lối sinh hoạt như sinh hoạt của các công chức nghĩa là đến giờ thì tới làm việc và hết giờ thì ai về nhà nấy, hoặc về phòng của mình để nghỉ.
    Nhưng khi tới pháo đội rồi thì lại khác, nơi trú quân của pháo đội thì nhỏ. Thực ra đây là nơi trú quân của Trung Đội I-B, một vị trí lỉnh kỉnh đủ thứ với 2 khẩu đại bác 105 ly, 2 chiếc xe vận tải GMC, 1 chiếc xe Dodge-4, hầm chứa đạn, phòng ngủ cho binh lính, phòng ngủ cho sĩ quan.

    Tới vị trí pháo đội rồi, tôi phải trình diện Trung Uý Pháo Đội Trưởng Nguyễn Đôn Sâm. Ông này giới thiệu tôi với Thiếu Uý Trần Văn Thinh, trung đội trưởng Trung Đội I-B.

    Trung Úy Sâm là người Bắc, ông ta cỡ tuổi tôi hoặc hơn một hai tuổi là cùng. Trung úy này xuất thân từ Thủ Đức hay Đà Lạt, tôi cũng không để ý nữa. Thiếu Uý Thinh là ngưới Nam và ra trường khóa 7 Thủ Đức, thua tôi tới gần chục tuổi. Chẳng biết anh chàng Thiếu Úy Thinh này học hành đến đâu, tôi không hỏi làm gì, nhưng anh ta có tâm hồn thi sĩ lắm, vì trên bàn của anh ta, trên cuốn sổ ghi công việc hàng ngày, tôi thấy có câu thơ

    Tên tôi là Tăng gô
    Chỉ thích đi đề lô. (i)

    Chắc là anh ta mới giã từ chức vụ Đề Lô…và mới được cử lên làm trung đội trưởng. (i) Tăng gô là tiếng ngụy hóa chữ T (Thinh), còn đề lô là do tiếng Pháp D.L.O. hay "détachement de liaison et d’observation" nghĩa là biệt phái để liên lạc và quan sát pháo binh. Chức vụ này, trong quân đội Pháp thì do một vị sĩ quan có kinh nghiệm, là một trung úy thâm niên hay đại uý đảm nhiệm vì ông này phải theo chân Bộ Binh ra tiền tuyến, lấy tọa độ và tính toán đủ thứ rồi mới đưa các tính toán đó về cho ban tác xạ ở nhà, lính ở nhà chỉ việc theo những yếu tố của vị sĩ quan này để đưa vào súng mà bắn thôi…

    Trong quân đội Mỹ thì khác hẳn, việc đi theo Bộ Binh ra mặt trận lại do các sĩ quan mới ra trường lãnh, viên sĩ quan này được gọi là Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh (F.O. hay Forward Observer). Sĩ quan này thì chỉ có nhiệm vụ là theo sát bước tiến của Bộ Binh để khi cần, gửi về ban chỉ huy tác xạ ở phía sau những tọa độ muốn xin tác xạ. Theo cách của Mỹ thì mọi tính toán đều được làm sẵn và đã được ghi vào những cái thước gọi là thước đo… (Tôi cũng chẳng nhớ gọi là thước đo xạ bàn hay là thước gì nữa). Với tầm xa đo được trên xạ bàn, thước này cho biết là sẽ phải dùng thuốc nạp bao nhiêu cho mỗi loại đạn, đạn khói, đạn nổ chạm, đạn nổ cao hay đạn nổ chậm, nghĩa là loại đạn khi đã chạm mục tiêu và chui xuống đất rồi vài giây sau mới nổ. Mỗi trái đạn 105 ly có 7 gói thuốc nạp tất cả. Tầm bắn tối đa của 105 ly nòng ngắn là 11 km và phải bắn với thuốc nạp 7, tức là phải dùng cả 7 gói thuốc nạp.Với 155 ly đầu bạc thì tầm bắn tối đa là 15 km. Những thước đo này để sẵn ở ban tác xạ và bất cứ một hạ sĩ nào cũng có thể tìm ra những yếu tố để ra lệnh khai hỏa một khi đã có những tọa độ để ghi lên xạ bàn mà sĩ quan tiền sát tức là sĩ quan Đề Lô đưa về.

    Trong Trung Đội 1-B này, các ông hạ sĩ quan, tức là mấy ông trung sĩ đều là người Nùng, chỉ có hai ông hạ sĩ là người Nam còn binh lính thì hầu hết là người Nam và hình như chỉ có một tên là người Bắc, đó là Binh Nhì Toản, làm tài xế cho Thiếu Úy Trung Đội Trưởng Thinh.

    Tôi không hiểu là mấy trung sĩ người Nùng này học hành đến đâu, nhưng phải công nhận là họ rất thông minh. Khi vào việc, sĩ quan chỉ cần ra một lệnh vắn tắt thôi là họ sẽ thi hành một cách chu đáo. Tôi được Thiếu Úy Thinh kể lại rằng khi Trung Tá Nguyễn Đức Thắng (nguyên là sĩ quan Pháo Binh Khoá I Nam Định và ông ta đã nổi tiếng về bắn nhanh, bắn trúng từ thời Pháp) về làm tư lệnh Sư Đoàn 5, trước Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, ông Thắng thường cho mở những cuộc khảo sát mấy sĩ quan Pháo Binh bằng cách cắm một ngọn cờ lên trên một ngọn núi nào đó rồi bắt mấy sĩ quan và hạ sĩ quan Pháo Binh tìm tọa độ của nơi cắm cây cờ ấy. Lần nào cũng vậy, Trung Sĩ Tài của pháo đội này bao giờ cũng tính ra trước tất cả các vị sĩ quan. Biết là ông ta tính theo kiểu Pháp nhưng bảo ông ta chỉ cho biết là đã làm như thế nào thì ông ta chịu không chỉ được, nhưng kết quả mà ông ta tìm thấy lại là kết quả đúng nhất vì thường chỉ sai tối đa là 15 mét thôi, còn kết quả của các quan tìm ra thì sai… ít nhất là 50 mét. (Sau này tôi nghe nói là ông trung sĩ này cũng đào ngũ luôn, vì nhà mà vợ con ông ta ở đã bị đạn 105 bắn sập và chết hết. Rõ ràng là nhà vợ con ông ta ở đã bị bắn lầm, hồi đó Việt Cộng chưa có mở đại tấn công nên không thể có súng lớn để bắn vào nhà dân như sau này được!)

    Về Trung Đội 1 của cái Pháo Đội B này thì tôi đã biết rằng tôi sẽ là sĩ quan tiền sát của trung đội, chức vụ này đã dành sẵn cho những chuẩn uý mới ra trường, trừ khi có chạy chọt.

    Tuy rằng đã có mùi lính tráng ở cái pháo đội này nhưng vẫn chưa có mùi vị gì của chiến tranh cả vì vào thời gian đó, vào giữa năm 1963, chiến trường chỉ mới bắt đầu sôi động thôi chứ chưa ác liệt như về sau nên chúng tôi vẫn còn được hưởng một đời sống quân ngũ… thời bình trong một thời gian. Sáng sáng Thiếu Uý Thinh còn rủ tôi ra chợ Bà Rịa để ăn phở và dĩ nhiên là thiếu úy phải trả tiền vì có luật bất thành văn là trong mọi cuộc ăn uống như vậy, ai có cấp bậc cao nhất người ấy phải bao hết. Ngay hôm đầu tiên, sau khi ăn phở xong, Thiếu Uý Thinh hỏi tôi:

    - Có uống La De không?

    Tôi trả lời là không. Anh ta bèn bĩu môi chê tôi là “đàn bà, con trai mà không biết uống rượu! dở quá…”. Tôi trả lời rằng không phải tôi không biết uống La De mà tôi không muốn uống cái đó sau khi ăn phở, chứ rượu mà có gì không biết uống!

    - Có thật không, hôm nào đi uống thi với tao nhé.

    - Được hôm nào đi thì đi!

    Thế rồi vào một chiều nào đó hắn mang một phần ba chai Whisky Johny Đi Bộ cùng đi với tôi xuống Quận Đất Đỏ quan sát địa thế hay làm gì đó tôi không nhớ nữa, làm xong công tác đó hắn bèn rủ tôi tới một cái quán bên đường và thách tôi thi uống rượu với hắn.

    - Thế nào, cậu muốn uống sec hay uống với soda?

    - Tôi trả lời là…uống sec đi.

    Thế là chúng tôi chia nhau 1/3 chai rượu đó, cứ anh một ly, tôi một ly cho đến hết với đồ nhắm là đĩa đậu phọng rang.. Nhậu xong hai chúng tôi ra về dĩ nhiên là Thiếu Úy Thinh lái chiếc Jeep để về… nhưng tôi thấy chàng ta lái có vẻ loạng quạng nên tôi phải nói:

    - Cậu hay quá nhỉ! Uống thế mà không say, vẫn lái xe được. Thôi cậu để tớ lái thử xem là có lái được không nào, nếu thấy tôi không lái được thì cậu dành lại tay lái mà lái nhé!

    - Ừ cậu lái thử xem…và hắn để cho tôi lái về, hắn sang ngồi ghế bên cạnh.

    Tối đó về tới nhà tôi phải kêu mấy tên lính ra …khiêng thiếu úy vào phòng, lúc đó hắn xỉn quá rồi nên không còn biết gì nữa.

    Từ xưa tới nay tôi không thích uống rượu nhất là tôi càng uống thì mặt tôi càng tái đi, nên tôi lại càng không muốn uống. Thuốc lá và rượu cũng như bài bạc tôi đều chơi được hết nhưng không bất cứ một thứ gì có thể khiến tôi đam mê được cả. Về môn uống rượu thì sau này tôi còn bị một lần thử thách nữa với mấy người lính, tôi sẽ xin kể lại sau.

    2- Lần đầu tiên làm Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh (làm Đề Lô nói theo tiếng Pháp hay làm F.O. (Forward Observer) nói theo tiếng Mỹ)

    Lè phè như vậy được độ một hay hai tuần gì đó, một hôm tôi được Trung Uý Sâm cho lính đưa tôi lên Phòng Hành Quân Tiểu Khu Phước Tuy nhận lệnh hành quân. Đây là lần ra quân đầu tiên của tôi mà người Pháp gọi là baptême de feu.

    Pháo Binh đã có lệ là trong 3 lần xuất quân đầu thì vị sĩ quan mới ra trường được một sĩ quan cũ hay một hạ sĩ quan thâm niên hướng dẫn để chỉ bảo thêm những điều thực tế mà nhà trường không thể chỉ dậy được.

    Lần ra quân đầu tiên này của tôi là đi làm tiền sát Pháo Binh cho một đại đội Bảo An của Tiểu Khu Phước Tuy, và đã được Thiếu Úy Thinh đi kèm, hay còn gọi là đi doublure.

    Vì chỉ là cuộc hành quân trong ngày nên toán tiền sát Pháo Binh của chúng tôi chỉ gồm có 2 sĩ quan và 2 người lính, một người lính để mang máy truyền tin PRC-9 (Portable Radio C 9), theo để liên lạc với hậu cứ, nghĩa là với Trung Đội Súng ở nhà và với Phòng Hành Quân của Tiểu Khu còn người kia thì mang nồi niêu và gạo cùng đồ ăn cho cả 4 người để tới trưa thì lo cơm nước cho cả toán.

    Thường thì trong mỗi cuộc hành quân, sĩ quan tiền Sát phải mang theo phóng đồ hành quân và địa bàn. Nếu hành quân trong ngày thì chỉ cần hai người lính để mang máy truyền tin và đồ ăn theo, còn nếu cuộc hành quân kéo dài từ 2 ngày trở lên thì sẽ phải có 3 binh sĩ đi cùng: Một người mang máy, một người mang đồ ăn và một người mang đồ ngủ, đồ ăn và đồ ngủ cho cả toán vì… khi đụng trận, sĩ quan tiền sát phải lo theo dõi bước tiến của quân bạn (bộ binh), ấn định tọa độ rồi cùng với người lình mang máy liên lạc với trung đội súng ở nhà để xin tác xạ, hai người này chỉ mang theo súng Colt với 2, 3 băng đạn cho khỏi vướng, trong khi hai người lính kia thì mỗi người mang theo một khẩu Carbine và vài băng đạn tùy theo ý của họ vì cho tới thời gian này, cuối 1963, chưa có trận đụng độ lớn đáng kể nào xẩy ra cả.

    Sáng hôm đó, vào khoảng 5 giờ, toán tiền sát chúng tôi trình diện Đại Đội Bảo An tại một bến đò, rồi tất cả khoảng một trăm người chúng tôi cùng lên mấy chiếc giang thuyền để tới một cái đảo nhỏ nào đó mà nay vì đã lâu qúa nên tôi không thể nhớ được nữa. Mấy chiếc giang thuyền này khi tới mục tiêu đã phải tắt máy để thuyền trôi sát vào bãi cát cho chúng tôi lên bờ.

    Vì đã có Thiếu Uý Thinh làm trưởng toán và cũng vì đây là lần đầu ra quân nên mọi việc đều do thiếu úy này định đoạt, tôi không hề tham dự vào mà chỉ biết… đi theo và nghe lời dặn bảo của thiếu uý thôi, mà ông thiếu úy này lại không chỉ bảo tôi một chút gì về công việc mà một Sĩ Quan Tiền Sát phải làm cả; trái lại anh chỉ dặn tôi là “phải cẩn thận mìn bẫy, phải bước theo dấu chân của người đi trước cho chắc ăn để khỏi dẫm phải mìn”. Thế là tôi phải lò dò từng bước một theo dấu những vết chân trước in trên cát… Đi như thế độ 15 hay 20 phút gì đó, tôi thấy là mệt quá, nên sợ thì vẫn sợ, tôi bắt đầu bước càn đi chứ không lò dò như trước nữa. Đây chỉ là một cuộc hành quân bình định thường lệ và hôm đó không hề có một cuộc chạm súng nào cả, nó chỉ giống như một cuộc hành quân thực tập ở quân trường, chỉ khác là trong cuộc hành quân này tôi chẳng học hỏi thêm được gì về nhiệm vụ của một sĩ quan tiền sát cả ngoài cái… hồi hộp lo sợ lúc đầu. Chiều hôm đó mấy chiếc giang thuyền lại ra đưa chúng tôi trở về lại Phước Tuy. Tham dự cuộc hành quân hôm đó chỉ như đi dự một cuộc du lịch với đông người thôi.

    3/ Ra quân lần thứ hai.

    Vài tuần lễ sau tôi lại được cử đi làm tiền sát cho một cuộc hành quân khác, lần này là cuộc hành quân của sư đoàn và tôi được cử đi với một tiểu đoàn Bộ Binh và dĩ nhiên là vẫn có một sĩ quan đàn anh đi kèm. Lần này vị sĩ quan đi doublure với tôi là Chuẩn Úy Nguyễn Duy Trạch, một anh bạn trong Đại Học Xá Minh Mạng của tôi, anh đã phải đi khóa 13 Thủ Đức (Năm 1995 tôi đã gặp lại anh trên trường SFSU của San Francisco khi tôi đang học ở đó và anh thì đưa con gái anh tới nhập học. Nhưng lâu nay thì đã mất liên lạc). Gặp anh, chúng tôi chỉ nói đến những chuyện ở Đại Học Xá thôi, chứ không đả động gì đến cuộc hành quân cả, nghĩa là mọi việc của một sĩ quan tiền sát như xác định tọa độ hay liên lạc với hậu cứ đều do một mình anh Trạch lo hết, tôi chỉ như một người bạn đi theo chơi thôi. Hôm đó chúng tôi hành quân lên núi Thị Vải ở tỉnh Phước Tuy. Lúc đầu thì mọi việc đều tiến hành suông sẻ, nhưng đến khoảng 5 hay 6 giờ chiều, khi tiểu đoàn đã chọn được địa diểm dừng quân thì trên nguyên tắc, chúng tôi phải báo cáo địa điểm dừng quân cho Trung Đội Súng ở nhà biết, đồng thời phải gửi về tọa độ của những điểm mà chúng tôi muốn xin bắn quấy rối qua đêm - harrassing fires- đến đây thì có sự trục trặc về truyền tin xẩy ra: chúng tôi không thể liên lạc được với nhà, dù chúng tôi đã thay cái antenne lá lúa, dùng trong khi di chuyển, bằng antenne cần, nghĩa là bằng cái antenne dài, nhưng vẫn không gọi được. Chúng tôi nói với đại úy tiểu đoàn trưởng Bộ Binh thì mới biết rằng cả máy GR của tiểu đoàn cũng không liên lạc được với hậu cứ (máy GR = Ground Radio, là máy truyền tin lớn, chạy bằng điện quay tay, chỉ tiểu đoàn Bộ Binh mới có thể mang theo được vì cái máy phát điện khá nặng). Lúc đó trời lại tối nên phi cơ liên lạc L-19 cũng đã không còn thấy bay lên nữa. Bộ Binh mà không liên lạc được với Phòng Hành Quân Sư Đoàn cũng nhu Tiền Sát Pháo Binh chúng tôi mà không liên lạc được với súng ở nhà thì rất là nguy hiểm, giống như người mù đi trong con đường trong thành phố mà không có cây gậy dò đường. Sau này khi đã tham dự nhiều cuộc hành quân rồi tôi mới thấy rằng có nhiều vùng trời mà bao nhiêu tín hiệu hay lời nói phát đi từ những máy truyền tin, đều bị cản lại và không thể truyền đi được. Thí dụ như đang đi trong rừng cao su chẳng hạn, tôi đã thấy hầu như tất cả những tiếng nói phát ra từ các máy truyền tin đều bị hút đi mất tiêu, nhiều lắm là chỉ có thể liên lạc được với L-19 bay trên đầu là cùng.

    Hôm đó, trong lúc chúng tôi còn đang lo lắng với cái việc mất liên lạc này và trong lúc chúng tôi đang phải cố gắng gọi về nhà thì chúng tôi nghe đưọc tiếng trả lời trong máy, đúng là mừng hết lớn, chúng tôi còn phân bua là “Gọi các anh từ nãy đến giờ, nay mới nghe được các anh lên tiếng, mà các anh là ai vậy?” Chúng tôi cuối cùng phải hỏi vậy vì… tiếng trong máy nghe lạ hoắc, không phải là tiếng “nghe quen tai” của anh hạ dĩ Truyền Tin ở nhà. Cũng may mà chúng tôi còn chưa nói lên cái tọa độ điểm đứng của mình. Đáp lại câu hỏi của chúng tôi là mấy tiếng cười hề hề và lời chúc tụng “Thôi các anh ráng yên tâm đi và ngủ ngon đêm nay nhé!”. Nghe thấy thế tụi này sợ điếng người và dĩ nhiên là Chuẩn Uý Trạch phải báo ngay điều này với đại úy tiểu đoàn trưởng để ông lo xắp đặt phòng thủ cho kỹ hơn trong tình trạng “địch biết ta mà ta thì… chẳng biết gì cả”.

    Chúng tôi cũng xin ông đại úy tiểu đoàn trưởng là hạn chế tối đa việc cho lính biết điều này để cho họ khỏi mất tinh thần… Nhưng rồi đêm đó cũng qua không xẩy ra chuyện gì rắc rối thêm nữa và ngày hôm sau chúng tôi đã suống núi yên lành, không phải bắn một phát súng nào cả. Đó là hai cuộc hành quân đầu tiên của tôi khi tôi về với Pháo Đội B lúc pháo đội này đóng ở Tiểu Khu Phước Tuy (Bà Rịa).

    Tôi ở đây được… một, hai tháng gì đó thì được gọi về Tiểu Đoàn. Về đây, tôi chờ Trung Đội 2B về để sẽ được chuyển sang đó với trung đội trưởng là Thiếu Úy Hoàng Chính. Anh Chính này là Sĩ Quan Đồng Đế và anh ta hơn tôi khoảng 3 hay 4 tuổi gì đó (Trường Võ Bị Đồng Đế ở Nha Trang là trường dành cho các hạ sĩ quan được cho đi học để thành sĩ quan. Sinh viên sĩ quan ở đây cũng như sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức sẽ ra trường với cấp bậc Chuẩn Uý). Chuẩn Uý Trạch, không biết là thuộc Pháo Đội nào trong Tiểu Đoàn, lúc này cũng đang có mặt ở đây.

    4/ Trực phòng TOC của SĐ 5 BB.

    Trong khi chờ đợi như vậy, tôi phải tham gia trực phòng hành quân (TOC) của Sư Đoàn. TOC là chữ viết tắt của Tactical Operation Center. Trực liên tục 24 tiếng cùng với các Sĩ Quan của các Binh Chủng khác như Truyền Tin, Không Quân, Dù …, rồi Sau đó sẽ được nghỉ 24 tiếng. Phòng Hành Quân này là một căn phòng cao rộng và khá dài, mái tôn, vách ván.

    Trong thời gian chờ Trung Đội 2B về đón, tôi đã được hân hạnh đi trực phòng TOC một lần. Chúng tôi trực ở bên ngoài, bên trong là phòng thuyết trình hành quân. Trên bàn trực chúng tôi thấy có một tấm bảng đề “luôn luôn phải quân phục chỉnh tề”, như vậy nghĩa là không được cởi giầy, cởi áo trận để chỉ mặc T shirt nhưng đến trưa và nhất là dưới mái tôn thì trời rất nóng, nên tới khoảng 11 giờ trưa, thiếu tá trưởng Ban Trực hôm đó bảo chúng tôi là… chúng ta có thể cởi áo, miễn là đừng cởi giầy ra là được và chính ông ta cũng làm như vậy... mặc dù chúng tôi biết là tới 2 giờ chiều hôm đó sẽ có buổi họp hành quân ở phòng trong… Bất ngờ là mới tới 1 giờ Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đã từ trên Phòng Tư Lệnh xuống. Vừa thấy ông chúng tôi vội vàng vơ lấy mấy cái áo trận để khoác vội vào người. Thấy thế Đại Tá Thiệu chỉ cười và xua tay bảo “Các ông cứ tự nhiên đi, chúng tôi họp ở phía trong. Trời nóng quá mà”. Tôi tự bảo mình là… Ông này được! Sau này tôi còn biết được vài trường hợp khác nữa chứng tỏ là Đại Tá Thiệu này thực sự là có tư cách của một người làm lớn.

    Trong khi nằm chờ tại hậu cứ của Pháo Đội B, ngoài việc bị cắt đi trực phòng TOC của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tôi không phải trực một phiên nào ở Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh này hết, thế nhưng tôi vẫn có một cuộc họp mặt với các sĩ quan trong tiểu đoàn. Đó là trong một buổi tiệc mừng Chuẩn Uý Trạch lên thiếu úy. Bữa tiệc được tổ chức tại một quán ăn ở Biên Hòa và do Đại Uý Cần tiểu đoàn phó (chứ không phải Đại Uý Khải tiểu đoàn trưởng) chủ tọa. Hôm đó, tôi được chỉ định để gọi món ăn vì tôi có cấp bậc nhỏ nhất tại bữa tiệc và sau khi coi qua cái thực đơn của nhà hàng, tôi thấy có món đầu cá, tôi bèn… anh dũng… kêu 6 cái đầu cá cho 6 người! Tên “phục vụ” của nhà hàng còn đang ngẩn người ra thì Đại Uý Cần và mấy Sĩ Quan khác đã phá ra cười. Tôi còn đang ngơ ngác không hiểu gì cả thì Đại Uý Cần đã kêu lại là “Cho một cái đầu cá” rồi ông giải thích với tôi là "Gọi là đầu cá, nhưng là gần một con cá đó, chỉ không có cái đuôi thôi, ông gọi cho mỗi người một cái đầu cá thì bộ ông không cho ai ăn cái gì khác nữa sao?” Tới lúc đó tôi mới thấy cái ngố của mình. (Tuy rằng tôi đã từng ở trong Đại Học Xá Minh Mạng khá lâu, nhưng quý vị có tin được là tôi hãy còn “mán xá” lắm không! Tôi không biết nhẩy đầm này, không biết chơi xì phé này, không biết đánh mạt chược này, nghĩa là những cái mà ai cũng cho là Sinh Viên Đại Học Xá Minh Mạng phải biết và phải nổi hơn những người khác thì… tôi lại không biết, mà đến ngay cái khoản “tán gái” hay là “tìm bò lạc để đưa về phòng…” thì tôi cũng không biết nữa. Anh bạn Đỗ Quý Bái của tôi đã phải nói rằng “Nói chuyện với các cô mà thằng này chỉ nói đến bóng tròn với bóng rổ thì cô nào mà thương nó được”. Thực ra thì cho tới lúc tôi bị động viên vào Thủ Đức, tôi chưa tìm được đối tượng nào đáng để tôi phải có thái độ thích hợp. Cho tới lúc đó, nói thật ra là cô nào chịu tôi cũng được mà không chịu tôi cũng tốt thôi. Với cô nào tôi cũng làm ra vẻ là mình yêu cô ta hết cỡ, nhưng thật ra là chẳng yêu ai cả. Chính vì thế mà cuộc đời lính tráng của tôi rất là rất là…là gì nhỉ? À rất là ngang chẳng bao giờ tôi sợ mấy ông tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, hay pháo đội trưởng cả. Còn trung đội trưởng thì không có gì đáng nói vì họ chẳng làm gì có quyền lớn đối với tôi hết.

    5/ Coi một khẩu đại bác 105 trên đồi “Ba Trăm Chín Chục”.

    Đó là mấy kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã có được khi trở lại với tiểu đoàn. Về đây được ít lâu thì tôi được cho biết là tôi sẽ trở thành một khẩu đội trưởng và khẩu đội này của tôi sẽ đóng trên một ngọn đồi nào đó. Mấy ngày sau tôi lãnh một trung sĩ, một hạ sĩ và 2 hay 3 người lính của Trung Đội 2B để lên coi một khẩu 105 ly với vài người lính Bảo An đã chuyển sang từ lâu. Khẩu súng này đã được đặt sẵn trên đồi Ba Trăm Chín Chục, ngọn đồi này nằm giữa hai quận Tánh Linh và Hoài Đức thuộc Tỉnh Hàm Tân.

    Tên ngọn đồi là Ba Trăm Chín Chục, đó là để chỉ cao độ của ngọn đồi, tôi chỉ không biết rằng đó là ba trăm chín chục mét hay ba trăm chín chục yards thôi. Cái đồi này có cái tên đó từ trước hay là mới có đây thì tôi không rõ, có lẽ là tên này đã có từ trước, nếu thế thì 390 phải là 390 mét.

    Rồi một chiếc trực thăng H-26 đưa chúng tôi cùng quân trang, quân dụng cũng như thực phẩm gạo, mắm, muối… lên ngọn đồi đó. Chiếc trực thăng H-26 này giống hình một qủa chuối cong lại ở giữa và có 2 cánh quạt ở 2 đầu, ngay trên buồng lái., hình như tới giữa năm 1964 thì loại trực thăng này bị xếp xó không dùng nữa vì vừa kềnh càng, vừa yếu. Tới nơi rồi, trực thăng của chúng tôi đáp xuống bãi cỏ trước cổng của một căn trại và đã được một ông Thiếu Uý Bảo An ra đón vào. Căn trại nằm trên đỉnh ngọn đồi, quanh trại có một hàng rào sắt và dây kẽm gai bao bọc. Bên trong hàng rào là những căn hầm cho binh sĩ ở.

    Ngoài trạm gác tại Cổng Chính, trại còn có 4 lô cốt để gác tại 4 góc trại. Một khẩu đại bác 105 ly được đặt ngay trên đỉnh ngọn đồi, trong một vòng đất đã được đào xâu xuống chừng nửa thước. Cái vòng đất này còn được đào xâu xuống thêm để làm hầm chứa đạn. Phía bên trong và quanh hàng rào của trại là những căn hầm dùng làm phòng cho binh sĩ ở. Bảo vệ khẩu súng và Khẩu Đội Pháo của chúng tôi là 1 Đại Đội Bảo An có chừng năm, sáu chục người và do một thiếu uý chỉ huy

    Vì Khẩu Đội Pháo Binh cũ đã được rút đi trước khi chúng tôi tới, nên tôi đã nhận lại từ ông thiếu úy già này khẩu đại bác 105 ly với những dụng cụ liên hệ và vài tên lính Bảo An, họ đã được chuyển sang Pháo Binh để coi và lau chùi súng. Những người lính Bảo An này đều là dân Thượng, gia đình của họ sống trong những làng xóm quanh quẩn dưới chân ngọn đồi này. Họ là những người lính đã được đưa sang khẩu đội pháo binh này từ trước và nay thì được chuyển sang khẩu đội của tôi. Tuy rằng chỉ là một khẩu đội nhưng vì phải sống biệt lập nên tôi cũng có được một hạ sĩ truyền tin đi theo với đầy đủ máy móc truyền tin như là trang bị của một trung đội.

    Sau khi tạm thu xếp xong chỗ ăn chỗ ở cho cả Khẩu Đội thì việc đầu tiên mà tôi phải làm ở đây là thiết lập hệ thống truyền tin để báo cáo mọi diễn tiến với Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi và nhất là để liên lạc với hai vị Quận Trưởng Tánh Linh và Hoài Đức. Tôi còn phải đi gióng lại hướng súng nữa cho chắc ăn, kiểm kê lại kho đạn và rồi còn phải hỏi ông thiếu úy về tình hình trong vùng trước khi kiểm tra lại với hai vị quận trưởng Tánh Linh và Hoài Đức.

    Theo lời ông Thiếu Uý này thì tình hình ở đây rất yên ổn, binh sĩ trong trại muốn tắm thì cứ việc xuống tắm ở cái suối ở chân đồi phía sau, mà muốn cho chắc ăn thì mỗi lần đi tắm nên có vài người mang súng theo dể canh chừng và rồi chia nhau tắm và lấy nước lên nấu ăn, uống.

    Ông Thiếu Uý già này còn cho tôi biết là đến mùa gặt lúa của mấy người Thượng, nếu mấy mấy người lính Thượng có “Xin thiếu úy cho em được đào ngũ” thì tôi phải chấp thuận vì nếu không thì họ cũng bỏ về buôn làng của họ để giúp vợ con gặt hái và họ sẽ chỉ trở lại với mình khi họ đã gặt hái xong. Tôi còn được cho biết là dưới chân đồi phía trước là một cái thôn nhỏ nằm trên một Quốc Lộ chạy từ Sài Gòn ra Phan Thiết rồi Nha Trang….

    Khi đi tiền sát thì tôi để cho vị sĩ quan đi kèm với tôi làm hết, nhưng ở đây thì tôi là trưởng toán nên tôi phải lo toan đủ mọi việc.

    Theo như lệnh của tiểu đoàn thì khẩu đội của tôi có nhiệm vụ là phải yểm trợ hai Quận Tánh Linh và Hoài Đức, trong vùng mà khẩu đại bác 105 ly của tôi có thể bao quát được và phải bảo vệ còn có cả một vùng được gọi là…. vùng Tác Xạ Tự Do. Vùng tác xạ tự do là vùng mà dân chúng không ai được lai vãng và tôi muốn bắn vào đó lúc nào cũng được chẳng phải xin phép hoặc báo cho ai cả. Nhưng theo như ông thiếu úy của toán nằm bảo vệ chúng tôi cho biết thì… hình như mấy ông quận trưởng đều… có cho phép một số người được đi vào vùng này nói là để lấy măng, đốn gỗ... Tôi thì nghĩ rằng như thế thì không được, nên thỉnh thoảng tôi có thông báo cho mấy quan trung úy quận trưởng này là đến ngày ấy, giờ ấy tôi sẽ cho tác xạ vào cái vùng tác xạ tự do này.

    Có khi tôi có cho tác xạ vào vùng đó đúng vào ngày giờ mà tôi đã báo, nhưng cũng có khi không. Nhưng thường thường thì không bắn phá gì hết, nếu có bắn thì sau đó lại phải báo cáo là đã bắn vào những tọa độ nào, tiêu thụ bao nhiêu đạn và đạn loại nào… lôi thôi lắm. Thế là chỉ ít lâu sau đó tôi được các quan quận trưởng của hai quận này lần lượt đánh điện lên mời tôi tới quận để dự một bữa cơm thân mật. Tôi có đáp lại lời mời này nghĩa là có đến dự tiệc tại hai quận đó, về sau tôi còn nhận được những lời bắn tin xa gần bảo tôi đừng làm cái trò ấy nữa, nhưng tôi lờ đi coi như không hiểu gì cả và thỉnh thoảng tôi vẫn cho bắn vào cái vùng gọi là vùng tự do tác xạ của tôi, chỉ có điều là trước khi bắn ít nhất là một ngày, tôi đều có thông báo cho mấy vị quận trưởng này biết thế thôi.

    Muốn tới hai quận này thì tôi phải đi xuống chân đồi rồi đón xe đò rồi suôi hay ngược để tới một quận nào đó. Sau khi đã tới được 2 quận đó rồi, tôi thấy là con đường này rất an ninh, và nhất là… đã ở đây một thời gian khá lâu rồi mà không thấy có chuyện gì xẩy ra, nghĩa là tôi chẳng phải tác xạ để yểm trợ cho quận nào hết, nên tôi đã nổi máu Ba Gai (pagaille) và muốn dù về Sài Gòn chơi vài bữa. Thế là tôi sắp xếp nhờ ông trung sĩ của tôi tạm thay mọi mặt: Nếu có phải bắn yểm trợ ai thì nhờ ông tính toán và cho khẩu đội bắn dùm. Bắn theo cách của Mỹ thi rất dễ và với các ông trung sĩ thì ai cũng có thể bắn được hết, rồi tôi mặc thường phục, một cái quần kaki xanh, sơ mi trắng, giấy tờ mang theo là… cái thẻ sinh viên trường Khoa Học cũ. Những cái gì có hơi hướng nhà binh đều bỏ lại rồi mới xuống chân đồi đón xe về Saigon. Sau này tôi mới thấy rằng mấy cái việc phòng ngừa đó đều… vô ích vì ngay khi mình trèo lên xe thì… chú lơ xe cũng như những hành khách trên xe đã biết mình là ai rồi: Đón xe ở chân đồi Ba Trăm Chín Chục mà lại không phải là khách buôn quen thuộc thì là ai đây? Cần gì phải tới Rừng Lá khi bị Việt Cộng chặn hỏi thì mới lòi cái đuôi chuột ra! Nhưng cũng rất may là đã không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra cho tôi trong mấy lần nhẩy dù đó. Nếu có, thì giờ này chưa chắc đã có tôi ở đây để viết lên những dòng chữ này.

    Trong những cuộc nhẩy dù như vậy bao giờ tôi cũng tỏ ra ngoan ngõan dễ bảo, chú lơ xe đò chỉ tôi ngồi đâu là tôi ngồi đó không hề phàn nàn gì hết, mà tới chỗ mấy chú dân vệ xét giấy tờ tôi cũng để mặc họ làm việc, dù cho họ có hạch sách, mè nheo gì, tôi cũng lặng im không bao giờ có ý kiến, ý cò gì cả.

    Về sau tôi có được nghe kể lại một chuyện như sau: Chuyện kể rằng có vợ chồng một ông trung uý nào đó, cũng dùng xe đò trên con đường này, trước khi đến Rừng Lá thì qua một ấp kia, chiếc xe đò bị chặn lại và mấy ông Dân Vệ nhà ta hạch hỏi ông trung úy cái gì đó, lúc đó vị trung úy đang mặc thường phục và hình như mấy ông tướng Dân Vệ này còn lên tiếng mắng mỏ gì trung úy nhà ta nữa nên bà vợ đã to tiếng nạt lại mấy chú Dân Vệ “Các chú có biết là các chú đang nói chuyện với một trung úy không, sao các chú hỗn thế!”. Việc này khiến trưởng toán Dân Vệ phải ra xin lỗi vợ chồng trung úy này, rồi cho xe chạy. Bà vợ ông trung úy có vẻ bằng lòng lắm. nhưng khi xe chạy tới Rừng Lá thì bị mấy tên du kích chặn lại, mọi người phải xuống xe để chúng dẫn vào phía sâu trong rừng nghe tuyên truyền rồi mới xét lý lịch, bắt giữ những quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa, chỉ cho ra xe đi tiếp những thường dân mà thôi. Đến lúc này thì một hành khách đi trên xe chỉ ngay ông ông trung úy và nói lớn lên rằng ông này là trung úy đó. Dĩ nhiên là ông chồng trung úy bị dẫn đi nhưng bà vợ lại không bị gì! Không biết việc này có thật hay không. Nhưng để cho chắc ăn, chẳng bao giờ tôi tỏ ra mình là quan cách hết, mà tỏ ra quan cách với mấy anh lính Dân Vệ thì hãnh diện cái nỗi gì! Hơn nữa tôi nghĩ là mình cũng chỉ mới là chuẩn úy thôi, nghĩa là chỉ sắp là sĩ quan chứ đã là sĩ quan đâu mà hòng nạt nộ ai.
    Bài này đã được Bình Lặng điều chỉnh; 05-15-2011 vào lúc 08:21 PM. Lý do: Thể theo yêu cầu của tác giả

  3. Định sẵn ĐỜI SĨ QUAN TIỀN SÁT PHÁO BINH ( Ch. 3 )


    Thuần Phong
    Chương III

    1-Đảo chính ở Sài Gòn, anh em Tổng Thống Diệm bị giết ………………….. ..
    2-Vào Rạch Bắp với Th/Uý Chính, gặp Đ/Úy Thiết Giáp Hà Mai Việt ……….
    3-Vào mật khu Bời Lời với Binh Nhì Quân Dịch Lý Văn Lời ……….
    4-Cái Tết đầu tiên ngoài mặt trận, gặp Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Thành …………………

    Chương IV

    Chương 3

    Thời Kỳ sau Đảo Chánh 1/11/1963

    1- Đảo Chánh ở Sài Gòn, Anh Em Tổng Thống Diệm bị giết.

    Chẳng nhớ là tôi đã ở cái đồi “Ba Trăm Chín Chục” này bao nhiêu tháng nữa, tôi chỉ biết là tôi đã dù về Sài Gòn tới 3 hay 4 lần gì đó. Thường thường thì tôi dù về Sài Gòn để vào Đại Học Xá Minh Mạng chơi với anh em, nhưng lần cuối thì vì… trong đêm mồng Một tháng 11 năm 1963,trong khi tôi đang nằm suy nghĩ vớ vẩn trong căn hầm của tôi thì ông hạ sĩ Truyền Tin vào nói với tôi là “Saigon có đảo chánh rồi thiếu uý ơi”. Thế là tôi nhỏm dậy chạy sang Phòng Truyền Tin để nghe tin tức từ đài Sài Gòn qua cái máy truyền tin của khẩu đội.

    Đến khi đài này loan tin là anh em Ông Diệm đã bị giết thì tôi quyết định… lại dù về Sài Gòn một lần nữa. Phải nói thật rằng lúc đó nghe tin anh em Ông Diệm bị giết thì chúng tôi ai nấy đều hài lòng, không nghĩ rằng người hài lòng nhất phải chính là tên Cáo già Hồ Chí Minh. Tôi hài lòng vì vốn đã không ưa được cách độc tài gia đình trị và cái ý muốn của anh em ông ta, họ muốn toàn dân VN phải là con chiên ngoan ngoãn của Vatican, nhất là tôi không thể chịu được những lời tuyên bố láo xược của bà Cố Vấn Trần Lệ Xuân, vợ ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, chẳng hạn như là bà ta nói rằng người ta đã nướng nhà sư Thích Quảng Đức khi vị Sư này tự thiêu ở góc đường Phan Đình Phùng/Lê Văn Duyệt và còn nhiều lời tuyên bố láo xược khác nữa. Trong khi đó Hạ Sĩ Còn của tôi thì rất hài lòng vì ông ta là người theo đạo Hòa Hảo và ông ta vẫn oán hận ngấm ngầm hai anh em ông Diệm về việc đã giết Tướng Ba Cụt Lê quang Vinh của họ.

    Cuộc đảo chánh lôi họ ra khỏi cái ghế quyền lực tại miền Nam VN thì rất nên, nhưng giết chết anh em họ thì hơi kém chính trị, nhất là sau đó lại dùng toàn những người nô lệ chỉ biết cung phụng quan thầy Mỹ và quỵ luỵ trước thế lực của đồng đô la như mấy tướng, tá của nền Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam (tôi không muốn bàn về vấn đề chính trị ở đây, nên xin cho qua cái vụ này). Thế là ngay hôm sau, tôi đã xuống đồi để leo lên xe đò về Sài Gòn.

    Về đến Sài Gòn rồi, tôi vào ngay Đại Học Xá Minh Mạng để tán dóc với mấy anh bạn ở đó về cuộc đảo chính này, rồi sau đó đi lang thang trên đường Bonard để nghe ngóng xem có tin tức gì hay ho đặc biệt nữa hay không. Trong khi đang lang thang như thế thì tôi gặp Trung Uý Mầu, một trung úy của Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi. Ông này trợn mắt lên nhìn tôi và bảo tôi rằng "Tiểu đoàn sắp cho đón chúng mày về mà mày lại ở đây à! Có mau mau trở lại khẩu đội không, nếu không thì mày sẽ bị kẹt đấy!". Thế là tôi vội vàng ra xe đò để trở lại Đồi 390 ngay. Cũng may là hôm đó tôi về trại được chừng nửa giờ thì có một chiếc H 26 từ Biên Hòa bay lên để mang chúng tôi về lại tiểu đoàn.

    Trước đó ông trung sĩ của tôi đã cho anh em thu xếp mọi thứ gọn ghẽ và chỉ chờ có phi cơ tới là lên để về Tiểu Đoàn, dù không có tôi. Ông chỉ lo cho sự vắng mặt bất hợp pháp của tôi thôi, nên khi thấy tôi về kịp, ông ấy mừng qúa. Ông ấy hỏi tôi là “Tại sao thiếu úy lại biết mà về kịp vậy?”. Tôi cho ông ấy biết là ở Sài Gòn tôi đã gặp Trung Úy Mầu của tiểu đoàn và ông ấy bảo tôi phải về ngay vì hôm nay sẽ có phi cơ lên đón chúng ta về, do đó tôi mới biết mà về đấy chứ.

    Nhưng phi cơ tới mà chúng tôi cũng chưa về ngay được vì, cái ông phi công của chiếc trực thăng này không hiểu đã đáp xuống thế nào mà chiếc trực thăng H-26 đó đã bị gẫy một càng và đổ nghiêng xuống một bên. Thế là chúng tôi lại phải chờ hơn một giờ sau mới có một chiếc H-26 khác lên đưa chúng tôi về lại tiểu đoàn ở Tam Hiệp, Biên Hòa.

    Về Tiểu Đoàn rồi, chúng tôi sẽ nhập lại với Trung Đội 2B của Thiếu Úy Hoàng Chính và nằm chờ… trung đội cho người về đón. Trong khi nằm chờ như vậy tôi được biết là Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Đại Tá Nguyễn văn Thiệu có tham dự cuộc Chính Biến vừa qua và Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi cũng có kéo súng về Saigon. Như vậy thì tiểu đoàn tôi sắp có sự thay đổi nhân sự lớn đến nơi rồi. Nhưng những chuyện đó chẳng can dự gì tới tôi cả. Chuyện đó chưa sẩy ra thì Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đã được thăng thiếu tướng và chuyển lên làm tham mưu trưởng trong Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tại Sài Gòn. Người về thay làm tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh là Đại Tá Đặng Thanh Liêm (sau đó mới tới các Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn, Trần Thanh Phong…. vào những thời điểm nào thì tôi không biết vì những lúc đó tôi đang bận hành quân cùng với các tiểu đoàn Bộ Binh.

    - Mới đây anh Lư Diệp, bạn cùng khóa 14 Thủ Đức cho biết thêm là Ông Liêm dời sư đoàn vào khoảng tháng 4-1964, tiếp theo là Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn, ông này lại dời SĐ khoảng tháng 8 cũng năm đó 1964 để Ch.T. Trần Thanh Phong về SĐ từ đó cho tới cuối 1965).

    Tối hôm bàn giao đó, tôi và các Sĩ Quan trong Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh đều đã được hân hạnh tham dự bữa tiệc tiễn đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu về Saigon và đón Đại Tá Đặng Thanh Liêm, Tư Lệnh mới của Sư Đoàn.
    2- Vào Rạch Bắp trên Bến Cát với Thiếu Uý Chính và gặp Đại Uý Thiết Giáp Hà Mai Việt

    Sau đó vài ngày thì Thiếu Uý Chính cho xe về lãnh thêm pin cho Truyền Tin, lãnh thêm lương thực cho trung đội và đón chúng tôi đi. Khi đoàn xe chúng tôi tới Bình Dương, Hạ Sĩ Trưởng Xa hỏi tôi là “có cho đi tiếp hay không?” tôi hỏi lại là “Có đi được không?” thì ông ta nói là “đi được”. Tôi đúng là điếc không sợ súng, không biết rằng từ Bình Dương lên Bến Cát tuy chỉ chừng 20 Km thôi, nhưng xe rất dễ cán phải mìn, bẫy của tụi Việt Công, nếu không cho mở đường và dò mìn trước. Thế là vì tôi nói “đi được” nên họ đi tiếp. Khi chúng tôi lên tới Bến Cát rồi, ông Hạ Sĩ Trưởng Xa gọi vào cho Thiếu Uý Chính, nói là chúng tôi đang ở Bến Cát thì Thiếu Uý Chính gắt ầm lên trong máy “Chưa có mở đường mà sao ông dám cho đi ẩu vậy?”. Hạ Sĩ Trưởng Xa bèn trả lời là “Thiếu Úy Khôi bảo... cứ đi, nên tôi mới đi đấy chứ”. Tôi nghe thấy Thiếu Úy Chính nói tiếp “Thiếu úy ấy không biết thì ông phải biết chứ! Nếu lỡ có chuyện gì thì Ông chứ không phải thiếu úy ấy lãnh đủ đâu! Thôi đã lên tới đó rồi thì chờ ở đó vậy, khi nào mở đường xong mới được đi tiếp!”

    Thiếu Uý Chính không nói gì tới tôi vì rõ ràng là tôi có biết gì đâu. Nhưng dầu sao thì tôi cũng cảm thấy hơi nhột. Lúc đó tôi mới hỏi lại mấy người và mới biét là mình đã…làm sai, nhưng cũng may là không có chuyện gì xẩy ra cả! Có thể chiếc xe của chúng tôi đã lẻ loi xuất hiện một cách bất ngờ nên tụi du kích nằm bên đường đã không biết phải phản ứng như thế nào cho phải và đã để cho xe chúng tôi qua. Cái lệnh “cho tiếp tục đi” sai lầm của tôi đã suýt nữa gây nguy hiểm cho bao nhiêu người. Lúc đó tôi mới nhớ lại một bài học ở Thủ Đức: Trước khi ra một lệnh gì thi phải nghiên cứu kỹ lưỡng truớc đã, sau đó, phải cho kiểm soát lại rồi mới đưa ra.

    Với cái lệnh mới, bắt chúng tôi phải chờ, thì chúng tôi phải chờ thôi. Thế là chúng tôi phải chờ ở Bến Cát cho đến khi quãng đường dài 7 km ngắn ngủi từ Bến Cát tới Rạch Bắp được… cho mở ra bởi một Chi Đội M 113 (loại Thiết Vận Xa này xuống nước thì thành "tầu há mồm”), chúng tôi mới được đi tiếp.

    Tới nơi rồi, dĩ nhiên là tôi phải trình diện Thiếu Úy Chính, lúc này thiếu úy đang ở trên một chiếc xe Dodge, ngồi cạnh chiếc máy truyền tin và đang báo cáo việc chúng tôi tới nơi an toàn với tiểu đoàn. Sau đó, thiếu úy cho người mang đồ cá nhân của tôi vào căn lều của thiếu úy. Trung Đội đang ở giữa rừng nên mọi người đều phải ở trong lều.

    Trong lúc tôi và Thiếu Uý Chính còn đang hỏi thăm lẫn nhau thì chuẩn úy Tiền Sát của Chi Đội Thiết Giáp M 113 (mà tôi quên mất tên rồi) đến thăm tôi, trong khi tán dóc với tôi, anh để tay lên chiếc cọc để căng giây kẽm gai làm hàng rào chung quanh Trung Đội Pháo của chúng tôi, thì tay anh bị một con bò cạp khá lớn cắn phải. Thế là anh phải đi tìm ông Trợ Y của Chi Đoàn M-113 để xin thuốc.

    Anh ta vừa đi thì chi đoàn trưởng Chi Đoàn M-113 là Đại Uý Hà Mai Việt tới gặp tôi, nói rằng "Hôm nọ thằng Hải (Phạm Ngọc Hải, em bà Phạm Thị Tự, bạn cùng học PCB với tôi trước kia, về sau đã xong văn bằng Cử Nhân Khoa Học Tự Nhiên và đã phải đi Thủ Đức Khóa 13) nó bảo tao là nó có một thằng em sắp lên đây và nhờ tao chăm sóc dùm, hóa ra là mày". Tôi trả lời hắn là “Ừ, bây giờ thì tao đã lên, thế mày định chăm sóc tao thế nào đây?”. Tôi không nhớ là hắn đã trả lời tôi thế nào nữa (Hà Mai Việt cùng học Đệ Tam, trường Nguyễn Trãi niên khóa 1953-54 với tôi, nhưng khác lớp và hắn đã (được) động viên vào Khóa 5 Thủ Đức cuối niên khóa đó. Cấp bậc cuối cùng của hắn là đại tá. Hắn đã may mắn nhanh chân, dời khỏi Việt Nam sang Mỹ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, hiện ở Houston, Texas, nên đã không bị đi tù cải tạo).

    Gặp nhau sau hơn 9 năm xa cách, chúng tôi có bao nhiêu là chuyện để nói, nhưng rồi trời sắp tối, mọi người ai nấy đều có nhiệm vụ phải làm nên Đại Uý Việt phải về với Chi Đoàn của mình, còn tôi thì lúc đó mới có thời giờ đi thăm mọi nơi trong cái vị trí đóng quân của Trung Đội 2B của mình. Lần này là lần đầu tiên tôi lên Bến Cát, nhưng chỉ ở Rạch Bắp này có chừng 1 tháng thôi. Sau đó Trung Đội 2B, dĩ nhiên là trong đó có cả tôi, trở lại tiểu đoàn để chờ tham dự những cuộc hành quân khác.

    3- Vào Mật Khu Bời Lời với Binh Nhì Quân Dịch Lý Văn Lời.

    Về tiểu đoàn được vài ngày thì trung đội của chúng tôi được lệnh tham dự một cuộc hành quân với một chiến đoàn để đi tảo thanh mật khu Bời Lời. Mật Khu này nằm trong quận Trung Lập ở giữa Củ Chi và Trảng Bàng, nó nằm trên Quốc Lộ 1 từ Sài Gòn đi Tây Ninh.

    Lần này tôi lại đi tiền sát cho một tiểu đoàn của Trung Đoàn 7 Bộ Binh và người đi doublure với tôi không phải là một sĩ quan mà là một ông trung sĩ. Trung đội Pháo Binh chỉ có 2 sĩ quan, Thiếu Uý Chính và tôi. Thiếu Úy Chính là trung đội trưởng thì phải ở lại với súng ở Quận Trung Lập rồi, nên một trung sĩ, cũng lại là người Nùng, phải đưa tôi đi. Vì cuộc hành quân dự trù sẽ kéo dài 5, 6 ngày nên chúng tôi có 3 người lính đi theo, trong đó có tên “Quân Dịch Lý Văn Lời”. Tên Lời này rất khó bảo, sau này tôi mới biết rằng hắn đã trốn quân dịch nhiều lần, kỳ này vì đã quá mệt nên hắn không trốn nữa nhưng đi lính thì đi chứ chẳng coi các cấp trên, nhất là không coi Thiếu Uý Chính ra cái cóc gì cả! Thiếu úy này bảo hắn làm cái này, cái nọ thì thường là hắn không làm hay làm một cách bôi bác. Thiếu Uý Chính ghét hắn lắm và thường cắt hắn vào các toán tiền sát. Lần này hắn được cử đi theo tôi

    Sự hiện diện của một trung sĩ trong toán “đề lô” khiến cho vị đại úy tiểu đoàn trưởng Bộ Binh biết ngay tôi là một tên mới ra lò, nên sau khi xuất phát được chừng nửa giờ thi đại uý quay lại hỏi tôi:

    - Này thiếu úy Pháo Binh, chúng ta đang ở đâu vậy?

    -Thì tôi đang đứng với ông chứ ở đâu nữa!

    Trong đầu tôi thì nghĩ thế nhưng đâu dám nói ra và tôi phải quay lại đưa mắt cầu cứu ông trung sĩ của tôi. Ông này chỉ vội cho tôi một điểm trên phóng đồ hành quân, tôi phải tìm tọa độ cái điểm ấy rồi trả lời ông đại úy tiểu đoàn trưởng là chúng ta đang ở…..

    -Đúng rồi, chúng ta đang ở chỗ đó đó!

    Nói thế xong, ông ta lại quay lại điều động mấy đứa con (mấy đại đội) của ông.

    Đến lúc này ông trung sĩ của tôi mới bảo tôi rằng: “Thiếu úy phải theo dõi bản đồ chứ! Đây này, lúc nãy mình xuất phát ở bìa rừng từ cái ngã ba này, chúng ta đi theo cái phóng đồ về hướng này… và chúng ta đã qua những điểm mốc như… Giờ đây chúng ta tiếp tục theo hướng này, ông ta lại chỉ cái hướng đã được vẽ trên phóng đồ và chúng ta sẽ gặp những ngã ba ở bên phải này, rồi gặp cây Bàng Lăng bên trái đó…v.v. và vân vân. Từ bây giờ thì cứ khoảng 5 hay 10 phút hoặc khi gặp những điểm mốc nào đó thì Thiếu Uý phải dò lại cái bản đồ của mình một lần và nhất là thiếu úy cần phải đi sát ông thiếu úy Ban 3 của tiểu đoàn để theo kịp bước tiến của Bộ Binh, có như vậy khi đụng trận mình mới phản ứng kịp chứ!".

    Thế là từ đó tôi mới biết được cái công việc đầu tiên của một anh tiền sát là theo dõi bước tiến của quân ta và phối kiểm với bản đồ để có thể nhanh chóng xác định tọa độ, còn đến khi cần phải xin tác xạ thì không thành vấn đề đối với tôi.

    Dĩ nhiên là từ đó tôi phải luôn luôn theo dõi bản đồ để biết được vị trí của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn của chúng tôi cũng như của các Toán Tiền Tiêu tức là của các tiểu đội đi mở đường.

    Hành quân ở Bời Lời này thì lúc vào sẽ không gặp bất cứ một kháng cự nhỏ nào, nhưng khi rút ra thì thường là chiến đoàn phải để lại 2, 3 chục con… nghĩa là phải có khoảng 2, 3 chục mạng vừa bị chết vừa bị thương.

    Lần này cũng vậy chúng tôi không gặp khó khăn gì khi tiến vào và trong khi còn nằm lại trong đó, chúng tôi thỉnh thoảng gặp mấy tên du kích bắn A.K. lẻ tẻ chứ không có đụng lớn. Vào đây rồi thì “quân ta tha hồ mà bắt gà để ăn, vì đây rõ ràng là vùng của Việt Cộng mà! Gì chứ “bắt gà” thì Lý Văn Lời nhà tôi rành lắm, hắn nói “Tụi Bộ Binh ngu thấy mẹ cứ đuổi cho gà chạy tùm lum lên thì bắt làm sao được? Muốn có gà ăn thì phải chờ sẵn ở mộtt cái bụi nào đó, gà bị đuổi sẽ tìm mấy cái bụi để chui vào trốn, lúc đó mình chỉ quơ nhẹ một cái là được thôi!". Mấy ngày nằm trong Bời Lời này, toán Đề Lô chúng tôi được ăn gà thoải mái do công của tên Lời này.

    Hắn mang máy truyền tin, nhưng mỗi khi dừng quân để nghỉ trưa hay sửa soạn chỗ ngủ để qua đêm thì hắn giao ngay máy cho tôi để tôi liên lạc với súng còn hắn thì đi... bắt gà và làm gà. Ngay buổi trưa hôm đầu trong Bời Lời này, khi tôi và ông trung sĩ của tôi vừa gửi xong mấy báo cáo, thì chúng tôi đã thấy tên Lời sách một con gà đã làm lông sạch sẽ lên đưa cho tên làm bếp, hắn còn nói với tôi là tên X nhát quá, mới thấy tụi nó bắn tắc cù vài phát đã không dám ở dưới suối để cầm súng bảo vệ tôi để tôi làm gà nữa thiếu úy ạ!

    Tôi có tò mò hỏi: “Thế sau đó thì sao?”. Hắn nói “Thì kệ nó chạy đi núp, tôi vẫn tiếp tục làm gà và rửa gà chứ sợ gì chúng nó, tôi còn đi kiếm được một ít cải tầu bay để nấu canh nữa đây này. Chúng chỉ bắn hú họa thôi chứ có dám đàng hoàng nhắm bắn mình đâu mà sợ?” (Cải Tầu Bay là một thứ rau dại mọc trong rừng, khi nấu canh thì nó có mùi vị như rau cải cúc, trong Nam gọi là Rau Tần Ô).

    Đã là lính tác chiến thì phải biết đến thứ rau này vì nó mọc đầy dẫy trong rừng cứ việc lấy mà nấu ăn. Về sau hình như có lệnh cấm, không cho lính ăn rau này bởi vì ăn nó sẽ làm cho máu bị chẩy hoài khó đông lại khi bị thương).

    Như tôi đã nói ở trên, khi còn ở trong cái Mật Khu Bời Lời này thì vẫn không có chuyện gì xẩy ra hết, nhưng đến hôm chiến đoàn bắt đầu rút thì chiến đoàn chúng tôi mới bắt đầu bị tấn công. Khi rút ra chúng tôi phải qua một trảng trống, cái bãi trống này dài khoảng 100 mét, mà cứ mỗi toán lính chạy qua thì lại có một hay vài con bị lật vì bị bắn sẻ. Đây là lần đầu tiên tôi đụng trận, đụng với Chết Chóc nên tôi còn đang lính quýnh chưa biết làm sao thì toán đề lô của tôi đã… mạnh ai nấy chạy ào qua và bỏ tôi lại. Thấy không còn ai quanh mình, tôi càng sợ thêm thì tên Lời đã chạy trở lại chụp tay tôi kéo tôi đi, vừa chạy vừa lầu bầu: "Ông phải chạy theo chúng tôi chứ!” nhờ thế tôi mới theo kịp được toán của tôi an toàn.

    Quý vị nên biết rằng mỗi lần chạy qua cái trảng trống đó là một lần nguy hiểm chết người. Khi tên Lời kéo tôi chạy như thế thì một lính bộ binh trong đám cùng chạy ra lúc đó đã bị bắn hạ! Thế mà tên Lý Văn Lời này dám chạy trở lại để kéo tôi đi đấy!

    Hành động này nói là do tình huynh đệ chi binh thì không đúng, vì chúng tôi mới biết nhau lần này là lần thứ nhất, nghĩa là chúng tôi chẳng có tình gì với nhau cả. Sau này nghĩ lại tôi càng không hiểu là cái hành động này của tên Lý Văn Lời đã được thúc đẩy bởi cái gì? Bởi tinh thần trách nhiệm hay tinh thần gì đại loại như vậy của hắn chăng? Cái đó tôi thấy là lại càng vô lý vì nói về trách nhiệm thì chính tôi phải có trách nhiệm lo cho hắn chứ hắn thì có trách nhiệm gì đối với tôi đâu! Sau này chúng tôi trở nên rất tương đắc với nhau vì hai chúng tôi đều là kẻ bị bắt lính chứ chẳng có ai muốn đi lính cả.

    Tôi và tên Lời này còn đi hành quân với nhau khá nhiều lần nữa. Về sau hắn rất nghe lời tôi đến nỗi mỗi lần Thiếu Úy Chính muốn sai tên Lời làm việc gì thì thiếu úy đều phải nhờ tôi nói với hắn. Thiếu Úy Chính thường phàn nàn là tôi đã làm hư tên Lý Văn Lời này! Thật là oan cho tôi quá vì tôi có làm gì để ra ơn ra huệ cho hắn được đâu? Ở nhà với súng thì tôi chẳng có nhiệm vụ gì và như vậy tôi cũng chẳng có quyền hành gì thì làm sao ra ơn cho ai được, còn khi đã đi tiền sát thì tôi có thể làm gì để ra ơn cho mấy tên lính đi theo đây?

    Ra đến trung đội ở ngoài quận Trung Lập rồi, tôi thấy mấy ông trung sĩ vừa thu xếp hành trang để về vừa than phiền là: “Đây là chợ Trung Cộng chứ Trung Lập cái con mẹ nó. Tụi chúng cắt cổ mình chứ buôn bán cái chó gì!”

    Ở đây, trong khi chờ đợi mọi người để cùng ra về, tôi được ai đó cho biết là Trung Uý Thành, em của anh bạn Vinh, bạn đá bóng của tôi hồi nhỏ ở Hải Phòng, họ là con nhà hàng vàng Phúc Thành ở đường Võ Di Nguy Phú Nhuận gần ngõ Đội Có, đã đóng tại đây và cũng đã chết tại cái Quận Trung Lập này!

    Ngày xưa, hồi 1957 thì phải, tên Vinh đã nhờ tôi ký một tờ giấy chứng nhận rằng tôi đã dậy em Thành của hắn hết chương trình lớp Đệ Tứ rồi ra nhà Làng Phú Nhuận, cùng cái Chứng Chỉ Tú Tài Toán của tôi cho họ chứng thực, để em hắn kèm vào đơn xin đi Thủ Đức Khóa 8, chẳng hiểu cái tờ chứng thực đó có hiệu lực thế nào nhưng tên Thành này đã vào được Thủ Đức Khóa 8. Hồi đó vào Thủ Đức rất dễ cũng như hồi mấy năm 1947- 48 những ai ở ngoài Bắc mà muốn thi vào Trường Võ Bị Đà Lạt thì cũng rất dễ, chỉ cần nhờ một ai đó, giỏi Pháp Văn, đi thi dùm là xong. Trong thời gian mọi người mới hồi cư này, dân chúng trong vùng Tề chưa có các đi đông, đi tây (Carte d’idendité tức là Thẻ Căn Cước) gì cả, mà mỗi người trên 15 tuổi chỉ có một tờ giấy chứng nhận suông, không có cả hình nữa. Cứ cầm tờ giấy Chứng Nhận của một thí sinh nào đó là được vào thi thôi, ông Trung Tá T có nói với tôi là ông đã thi dùm nhiều lần như vậy và sau mỗi lần thi dùm như vậy, ông đã được đền ơn bằng một bát Phở.

    Trong trận vào Bời Lời đó, chiến đoàn chúng tôi bị thiệt khoảng 25 người vừa bị chết vừa bị thương mà chẳng hạ được hay bắt được một tên Việt Cộng nào cả, ngoài việc tìm thấy được căn hầm nào là cho ném vài qủa lựu đản xuống những căn hầm đó để phá thôi!

    Tôi còn phải theo Bộ Binh vào Mật Khu này hai, ba lần nữa, mà lần nào những Chiến Đoàn của Sư Đoàn 5 của tôi cũng phải ôm đầu máu ra về! Nhưng rồi tôi nghe nói là cái Mật Khu Bời Lời này cuối cùng cũng bị phá. Chỉ không biết là dưới thời của ai làm Tu Lệnh Sư Đoàn 5 thôi. Vị Tướng Tư Lệnh này (Chắc chắn không phải là Thiếu Tướng Trần thanh Phong rồi) đã dùng một chiến thuật mới. Ông vẫn cho một Chiến Đoàn vào đó, ở vài ngày rồi mới ra như những lần trước, chỉ khác là lần này khi đại bộ phận của Chiến Đoàn rút ra thì một Trung Đội Thám Báo, với quần áo như quần áo của tụi du kích Việt Công ở lại. Họ nằm rải rác trong Mật Khu chờ. Đến đêm khi tụi Việt Cộng tưởng là quân ta đã rút hết, chúng mới mò ra để định ăn mừng thì lần này chúng bị hốt trọn. Trung Đội Thám Báo đã lập được kỳ công, họ đã theo dõi kỹ nên đã phá được phần lớn những địa đạo của tụi du kích. Sau đó thì ra vào Bời Lời không còn khó khăn, nguy hiểm như trước nữa.

    Sau trận hành quân đó, Trung Đội 2B của chúng tôi lại trở về nằm tại Tiểu Đoàn, chờ lệnh. Trung Độì 2B của tôi tới Quận Nhà Bè và tôi tới nằm tại Kho Đạn Cát Lái. Lần này ở Tiểu Đoàn được vài ngày thì Trung Đội của tôi được lệnh tới Quận Nhà Bè để yểm trợ cho quận này. Thế là chúng tôi lại lên đường. Tới nơi, chúng tôi được chỉ định cho đóng tại một vị trí gần Quận, ở bên trái và sát ngay con đường từ Saigon xuống. Lần này tôi chẳng phải làm gì cả vì mọi việc đã có Thiếu Uý Chính lo hết.

    Tới đây tôi muốn nói đến một chuyện hơi tức cười nho nhỏ. Đó là việc phải lo thiết lập một đường giây điện thoại giữa Quận và Trung Đội Pháo chúng tôi, đường giây điện thoại này phải kéo từ quận ra đường cái rồi mới đưa vào chỗ chúng tôi. Vì còn phải sắp đặt mọi thứ như cho 2 khẩu đại bác 105 ly vào vị trí, gióng hướng súng, thiết lập xạ bản…, nên đến gần 1 giờ chiều chúng tôi mới cho chiếc xe Dodge 4 của Trung Đội đưa Hạ Sĩ Truyền Tin với một toán lính đi lập đường giây. Khoảng 1 giờ sau chúng tôi thấy ông Hạ Sĩ này hớt hơ hớt hải về tìm Thiếu Úy Chính để báo cáo là “chiếc xe Dodge đã đụng gẫy một cột đèn ở ngoài đường rồi”. Chúng tôi vội hỏi ngay rằng: “Thế, giây điện có bị đứt không? Và có ai bị gì không? Mà đường đông xe lắm hay sao?” thì được ông Hạ Sĩ này nói rằng: “Thưa các Thiếu Uý, đường thì rất vắng nhưng tên tài xế này lái xe dở qúa nên mới có chuyện, cũng may mà hắn đã de xe chầm chậm nên đã dừng lại kịp thời, cái đụng không mạnh lắm nên chỉ làm chiếc cột đèn bằng xi măng bị cong đi một chút thôi”. Chúng tôi chỉ biết lắc đầu và Thiếu Úy Chính phải đánh điện sang cho Quận để báo cáo việc rủi ro này.

    Lúc đó tôi không hiểu là tại sao trên cái bằng lái của tên tài xế này có tới 3, 4 dấu hẳn hoi mà sao hắn lại dở đến thế. (Về sau tôi mới biết là bằng lái xe nhà binh thi thường là được cấp phát vô tội vạ, chính tôi sau này, khi mới tái ngũ, cũng được một anh Trung Úy bạn, anh đã cùng trình diện tái ngũ ở Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đã lấy cho tôi một cái bằng lái xe Jeep mà tôi không cần phải thi mà ngay cả lái thử cũng không nốt, nghĩa là bằng thì cứ cấp mà không cần biết người được cấp là ai, mặt ngang mũi dọc như thế nào và…. cũng chẳng cần biết là đương sự có lái được hay không nữa!)

    Đến quận Nhà Bè này rồi là tôi được cử đi nằm tại Kho Đạn Cát Lái, lần này thì sẽ nằm ở đây lâu nhưng không phải xê dịch đi đâu cả mà chỉ nằm trong một căn phòng của kho đạn để khi cần sẽ xin tác xạ vào những hỏa tập đã định sẵn, rồi có thể cũng sẽ phải Điều Chỉnh đôi chút nếu cần, thành ra lần này tôi chỉ có một binh nhì theo và dĩ nhiên lại là Lý Văn Lời. Căn phòng chúng tôi được cấp là một căn phòng ở từng dưới trong một cái bâtiment xây cất từ thời Pháp, rất đẹp và rất tiện nghi.

    Ở đây vài ngày tôi thấy quá nhàn, không có việc gì phải làm cả nhưng cho dù là từ Cát Lái này về Sài Gòn rất gần, tôi cũng không thể bỏ về như khi ở trên đồi 390 được, vì nếu tôi đi mà không có chuyện gì thì không sao, nhưng nếu có chuyện gì thì chức quyền của Kho Đạn sẽ phải gặp ai đây ngoài tôi, thành ra ở đây tôi chỉ có thể đi loanh quanh trong cái phòng của tôi, hoặc ra đường và đi tới bến phà Cát Lái rồi về là cùng chứ chẳng đi đâu xa hơn được. Khi mới về Nhà Bè thì còn có anh bạn Đỗ Quý Bái đến thăm tôi, vì tới đó rồi tôi có xin phép Thiếu Uý Chính một buổi để về Sài Gòn, rồi vào Đại Học Xá Minh Mạng nói chuyện với mấy anh em ở đó nên họ mới biết tôi ở đâu mà đến thăm, còn lần này đến Kho Đạn Cát Lái thì mấy anh bạn của tôi chẳng ai biết gì hết cho nên không có ai đến thăm thì cũng phải thôi.

    4- Cái Tết đầu tiên ngoài mặt trận, gặp Y Sĩ Trung Uý Nguyễn Ngọc Thành, em của Tướng Nguyễn Đức Thắng.

    Nằm tại Kho Đạn Cát Lái được hơn một tháng tới gần Tết Giáp Thìn (ngày 1 tháng giêng Giáp Thìn nhằm ngày 13-2-1964) thì phải, Trung Đội 2 B của chúng tôi được gọi trở về Tiểu Đoàn, sau đó Trung Đội được phái đi đâu thì tôi không biết, riêng tôi thì phải nằm lại ở Tiểu Đoàn chờ lệnh. Tới gần Tết chúng tôi được bắt thăm để xem ai sẽ được về nhà ăn Tết trước, về nhà trước thì mồng 2 Tết phải lên, còn về nhà sau, nghĩa là về nhà từ mồng 3 trở đi thì được ở nhà lâu hơn. Tôi được đi trước nên 29 Tết tôi đã có mặt tại nhà rồi.

    Cho tới lúc này, chưa Tết nào là tôi không có mặt tại nhà cả. Nhưng lần này thì ngay chiều ngày 29 đó, xe từ tiểu đoàn về kêu tôi lên gấp, giây phép bị hủy bỏ và tôi phải lên tiểu đoàn ngay để đi đề lô. Tới Tam Hiệp rồi, tôi được đưa ngay sang một chi đoàn Thiết Giáp M-113, chi đoàn này nhận tôi xong là lên đường về Sài Gòn ngay, rồi vào nằm chờ trong Quân Khu Thủ Đô để khoảng 5 giờ sáng hôm 30 Tết, Chi Đòan chúng tôi xuất phát đi Đức Hòa, Đức Huệ. Tới nơi, tôi vừa nhẩy ra khỏi chiếc M-113 thì gặp ngay Y Sĩ Trung Uý Nguyễn Ngọc Thành cũng ở đâu vừa tới. Bác Sĩ Thành này có lẽ đã học trước tôi 2 hoặc 3 năm nhưng cùng là sinh viên của Đại Học Xá Minh Mạng. Thấy anh, tôi hỏi đùa anh rằng:

    "Sao ông không đi với ông Thắng mà lại đi với tụi M-113 này vậy?" – "Ông ấy điên thấy mẹ đi, ai mà chịu được! Cậu biết không, ngày xưa tao về với ông ấy và vào một sáng thứ Hai khi mọi người đã vào trong phòng sau khi chào cờ xong, ông ấy chửi tao: Anh em thì anh em ở nhà, chứ ở đây phải khác chứ, sao trung úy không chào tôi?”

    Tao tức quá đã trả lời rằng: “Thưa đại tá, tôi đã chào đại tá rồi, đại tá chưa chào lại tôi, tôi không nói thì chớ, sao đại tá còn mắng tôi?”. – "Thế à! Thế thì xin lỗi trung úy nhé", và ông ấy chào lại tao đấy. Lại nữa cứ nửa đêm khi nào ông ấy muốn có một Y Sĩ đi theo là ông ấy kêu tao dậy đi theo. Tao đã nói là sao đại tá không kêu tên Y Sĩ trực theo lại cứ kêu tôi. Cậu biết ông ấy trả lời sao không? Ông ấy đã trả lời là: "Bác sĩ là em thì tôi mới nhờ chứ, người khác thì tôi không muốn đâu!". – "Đấy mày xem, ông ấy như vậy thì ở với ông ấy thế đếch nào được!"

    Lúc này, chẳng hiểu ông Thắng đã lên Tướng hay chưa nữa! Tôi không biết hình dáng ông Thắng như thế nào chứ Bác Sĩ Thành thì rất là xinh xắn đẹp trai. Khi còn ở trong Đại Học Xá, anh Thành này rất tử tế với tôi, lần nào tôi thi PCB xong, anh cũng tới hỏi thăm tôi một cách rất ân cần, chỉ tiếc là lần nào tôi cũng làm anh thất vọng vì tôi chỉ thi rớt!

    Thế là vào ngày mồng một Tết năm Giáp Thìn đó, chúng tôi cùng ăn Tết ngoài mặt trận ở Đức Hòa hay Đức Huệ, tôi cũng không nhớ nữa. Trong cái trận đầu năm đó, chúng tôi chẳng thu được một kết qủa nào mà một anh lính lại bị chết vì vướng phải mìn treo. Trận đó chỉ mất có 3 ngày. Sau đó chúng tôi, nghĩa là Toán Tiền Sát Pháo Binh của tôi cùng chi đoàn M-113 trở về Biên Hòa và Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh cho xe ra đón toán Pháo Binh chúng tôi về Tam Hiệp.

  4. Định sẵn ĐỜI SĨ QUAN TIỀN SÁT PHÁO BINH (Ch 4)


    THUẦN PHONG

    Chương IV
    Tham gia các chiến dịch khác

    1- Vào chiến khu Dương Minh Châu .. .…
    2- Tr. đội 2B kéo súng vào làng để yểm trợ cho C.I.D.G. ………..
    3- Tr.đ. kéo súng lên phía Bắc núi Bà Đen ...
    4- Binh Nhì Quân Dịch ... Liễu bị chết vì mìn …

    Chương V



    Chương 4

    Tham Gia Các Chiến Dịch Khác

    1- Vào Chiến Khu Dương Minh Châu.

    (Lên Tây Ninh và làm Tiền Sát Pháo Binh cho Tiểu Đoàn 2/9 của Đại Úy Lê Nguyên Vỹ, vào Chiến Khu Dương Minh Châu, rồi vào Katum và làm Sĩ Quan Tiền Sát dài hạn cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân của Đại Úy Nguyễn văn Đương)

    Về tới Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh là chúng tôi lại trở lại với Trung Đội 2 B của Thiếu Uý Chính để mấy hôm sau, cùng đi Tây Ninh, tới nơi chúng tôi được cho ở trong một phần của cái lầu 2 của một cái bâtiment nằm trong một góc sân của tòa Tỉnh Tây Ninh. Tòa Tỉnh này nằm trên một ngọn đồi và lúc đó Tỉnh Trưởng Tây Ninh là Thiếu Tướng (Cao Đài) Lê văn Tất. Hai khẩu đại bác 105 của chúng tôi cũng được cho nằm ngay trong vòng rào của tòa Tỉnh.

    Lầu 2 của cái bâtiment kế cận thì đã dành cho Bộ Chỉ Huy của Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân với Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn văn Đương, Đại Úy Tiểu Đoàn Phó, mấy vị Thiếu Uý, cùng mấy người trong ban Cố vấn Mỹ.

    Từ đó tôi được chỉ định làm tiền sát viên cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân. Cùng với tiểu đoàn này, tôi thường vào làng Thanh Điền, nói đúng ra là vào mấy khu rừng thuộc làng Thanh Điền, hoặc hành quân quanh chân núi Bà Đen, vào Suối Vàng ở bên trái núi này nếu đi từ Tỉnh lên hay là vào Suối Đá ở bên phải. Như vậy là năm đó, năm 1964, tôi đã ra vào Suối Vàng cũng như Suối Đá nhiều lần.

    Trong năm đó, có một lần tôi được chỉ định đi theo Tiểu Đoàn 2/9 của Đại Uý Lê Nguyên Vỹ. Tôi còn nhớ là lần đó chúng tôi được lệnh cho lính mang theo lương thực cho 4 ngày hành quân, nhưng sĩ quan chúng tôi biết là cuộc hành quân chỉ kéo dài có 2 ngày thôi. Lần đó Sư Đoàn 5 Bộ Binh tung vào Chiến khu Dương Minh Châu của Việt Cộng một Chiến Đoàn với Chiến Đoàn Trưởng là Trung Tá Nguyễn văn Chuyên, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 Bộ Binh.

    Đến hôm thứ hai, chúng tôi bắt được một tên lính địch, hắn khai là Cố Vấn Trung Cộng nên đáng lẽ là cuối hôm đó chúng tôi trở ra nhưng vì tên Cố Vấn Trung Cộng này nên lại phải tiếp tục đi nữa. Đến ngày thứ 5 thì trên nguyên tắc là hết lương thực, nhất là ở cái Chiến Khu Dương Minh Châu này thì khó kiếm ra một dòng suối nào để lấy nước uống. Hồi đó, quân đội Mỹ chưa ào ạt đổ vào Việt Nam nên chưa có nhiều trực thăng để có thể tiếp tế nước uống dễ dàng. Chúng tôi rất là khổ sở về vấn đề nước này, tụi Cố Vấn Mỹ đã phải lấy cả nước đọng trên bãi nước bùn rồi thả một viên thuốc lọc vào rồi uống.

    Trưa hôm thứ 5 này, Đại Uý Vỹ nói với chúng tôi, mấy sĩ quan trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn là: "Từ bây giờ, các ông không được nói gì với mấy tên Cố Vấn đó nữa nhé! Nếu chúng có hỏi gì thì các ông cứ nói là không biết tiếng Mỹ cho tôi là xong.

    Tôi nói lại ngay rằng: "Vừa thôi chứ đại úy, hôm qua nói chuyện ào ào được, mà hôm nay lại không biết tiếng Mỹ thì có ai tin được không!”. Đại Uý Vỹ nói là: “Nếu thế thì các ông cứ trả lời là không biết gì hết, muốn gì, cứ hỏi thẳng tôi đi, và từ nay các ông ăn chỗ khác để tôi cho tụi nó ăn cháo với "chao" cho chúng nó biết mùi. Chúng nó có hỏi thì tôi nói là các ông được lính các ông cho ăn rồi”.

    - "Tôi thì dễ rồi, vì Toán Pháo Binh của chúng tôi vẫn ăn riêng mà, đại úy đừng lo!".

    Sau đó chúng tôi tiến vào Katum, dân chúng ở đây đã chạy đi đâu hết cả rồi. Đây đúng là một làng của Việt Cộng, vì trong mấy cái quán và mấy căn nhà mà chúng tôi vào đều thấy có kẻ trên cách những khẩu hiệu như “Hãy cố gắng làm cháu ngoan Bác Hồ”. Do đó Trung Tá Chuyên đã lờ đi cho lính tha hồ mà lấy bánh trái của tụi nó để lại cũng như tha hồ mà… bắt gà, bắt heo… trong khi đó thì Đại Uý Vỹ lại hầm hầm cầm cái roi quất túi bụi vào mấy tên lính của ông khi chúng đang đuổi gà. Đến chỗ tôi đứng, ông vừa dơ roi lên thì…lại phải hạ roi xuống và nhìn tôi, lắc đầu. Người mà vừa rồi Đại Uý Vỹ định quất đó lại là Trung Tá Chuyên nhà ta.

    Đại Uý Vỹ lắc đầu nói với tôi rằng: "Tụi nó vẫn còn lẻ tẻ bắn ra, không lo lục soát tiếp mà đã lo bắt gà rồi! Ông ấy (chỉ trung tá) mà còn làm thế thì tao còn chỉ huy thế đếch nào được nữa!".

    Trận đó thành ra mất 6 ngày và chỉ bắt được một tên địch, cái tên mà nó khai là Cố Vấn Trung Cộng nhưng không biết có phải đúng thật là cố vấn Trung Cộng không, còn quân ta thì vô sự. Nhờ trận này, tôi gặp được Đại Úy Lê Nguyên Vỹ lần thứ nhất. Tôi còn gặp lại ông một lần nữa ở Bến Cát sau này khi ông làm Quận Trưởng ở đấy.

    Về sau tôi nghe nói là về lại Bến Kéo rồi, đại úy cố vấn Mỹ làm tờ trình xong có đem lại cho Đại Uý Vỹ, nói là:

    - Đại úy xem xem tôi báo cáo có được không?

    - Cảm ơn đại úy, nhưng đó là việc của ông chứ đâu phải là việc của tôi.

    - Xin đại úy cứ xem để biết là tôi nói có đúng không!

    - Cái đó tôi không cần biết, tôi chỉ biết là tôi đã thi hành đúng những gì mà cấp trên của tôi ra lệnh thôi, còn báo cáo thế nào là tuỳ đại úy.

    Thế là đại úy cố vấn Mỹ đành chịu thua.

    Vài hôm sau đại úy cố vấn Mỹ lại nói với Đại Uý Vỹ rằng: "Ngày mai tôi đi phép, đại úycó muốn mua gì ở P.X. không, tôi sẽ mua cho đại úy".

    - Cảm ơn đại úy, tôi không muốn mua gì cả!

    - Thế đại úy có muốn một cái radio không?

    - "Radio thì tôi đã có rồi" và Đại Uý Vỹ chỉ cái radio Ấp Chiến Lược đang để trên bàn: "Nó kia kìa".

    - Không, tôi muốn nói là cái radio bỏ túi để mang theo khi hành quân kia.

    - À! Như thế thì không được, vì chính tôi đã ra lệnh cho lính của tôi là trong lúc hành quân thì phải tuyệt đối giữ im lặng, không được mang radio theo để nghe, nếu tôi lại mang một cái theo thì còn chỉ huy ai được nữa.

    - Đại úy có muốn mua rượu không, Johny Walker chẳng hạn.

    - Cảm ơn đại úy không.

    - Tôi thấy đại úy có uống ruợu mà!

    - Phải, tôi có uống nhưng mà là thứ kia cơ. Ông chỉ chai rượu đế trên bàn.

    Đại úy cố vấn không dụ Đại Úy Vỹ gì được hôm đó, nhưng đến hôm về ông ta mang đưa cho Đại Uý Vỹ mấy bịch thuốc lá Malboro, Camel…và mời Đại Uý Vỹ chọn một thứ. Nhưng Đại Uý Vỹ chỉ cảm ơn và trả lại hết. Đại uý cố vấn nói: “Tôi biết là Đại Uý có hút thuốc mà sao đại úy lại không lấy cái nào vậy?”

    - Phải, tôi có hút chứ, nhưng tôi hút huốc này này, và ông đưa ra một gói “quân tiếp vụ đen”

    Câu chuyện tôi được nghe kể lại là như vậy, nhưng có thật hay không thì tôi không biết. Vị nào ở với Đại Úy Vỹ trong thời gian ấy xin cho biết là thế nào. Nhưng tôi xin nói rõ là câu chuyện khi còn đang hành quân ở Chiến Khu Dương Minh Châu thì có thật 100% vì chính tôi có mặt tại chỗ lúc đó.

    2- Trung Đội 2/B kéo súng vào làng để yểm trợ cho C.I.D.G.

    Thấm thoắt tôi đã đi với Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân trên Tây Ninh này được một năm. Tôi còn nhớ là hồi đó, sau vài lần tôi trổ tài gọi Trung Đội Pháo Binh bắn, Đại Úy Đương đã thấy tôi vừa bắn nhanh vừa bắn trúng, rồi lúc nào cũng thấy tôi nhanh nhẩu và vui vẻ nên đã gọi tôi là "người Đẹp Pháo Binh". Đi với Tiểu Đoàn này chừng vài ba tháng, Đại Uý Nguyễn Văn Đương có nói với tôi rằng: “Để tôi xin phụ cấp Biệt Động Quân cho Thiếu Uý Khôi vì ông đã và sẽ còn đi với chúng tôi dài dài”. Thế rồi mấy tháng sau ông nói: “Họ đã từ chối lời xin của tôi nhưng thôi được, tôi sẽ xin cho Thiếu Uý một cái huy chương vậy”. Nhưng kết qủa vẫn là không có gì và tôi vẫn đều đều theo Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân của ông đi hành quân những làng loanh quanh tỉnh lỵ Tỉnh Tây Ninh như vào Thanh Điền, qua chơi Suối Vàng, Suối Đá… Kể ra tôi đã làm Tiền Sát Pháo Binh cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân trên vùng Tây Ninh này được một năm.

    Một hôm, Trung Đội 2 B được lệnh gọi tôi về để cùng kéo súng đi vào một làng nào đó mà tôi đã không nhớ tên, đặt súng tại đây để yểm trợ cho mấy toán CIDG - Civil Intelligent Defense Groups - đi hành quân lục soát mấy điểm trong vùng, quanh Tỉnh Tây Ninh.Mấy toán lính này hình như do Mỹ trực tiếp chỉ huy và trả lương, họ không cần F.O. nghĩa là họ không cần Sư Đoàn cung cấp sĩ quan tiền sát Pháo Binh nên mấy hôm đó tôi được ở nhà với súng.

    Ngay sáng hôm thứ hai ở đây, khi tôi còn đang nằm ngủ trên cái ghế bố thì chú Lý Văn Lời đã kêu tôi dậy:

    - Thiếu úy, dậy đi ăn sáng với em!

    - Tao hết tiền rồi!

    - Em biết, em đã lục cái bóp của thiếu úy rồi. Lần này em mời thiếu úy mà!

    Thế là tôi dậy, đánh răng, rửa mặt xong là theo tên Lời này ra một cái quán ở trong làng. Vừa thấy chúng tôi ra, mấy anh trung sĩ, hạ sĩ và binh sĩ của Chi Đội M 113 đi theo bảo vệ trung đội Pháo Binh reo ầm lên: "A, Thiếu Uý Khôi ra rồi, thiếu úy lại đây với tụi em".

    Tôi còn đang lung túng không biết là họ sẽ cho mình ăn cái gì đây thì đã thấy tên Lời kêu chủ quán mang ra cho tôi một xị đế và một đĩa đậu phọng rang. Vừa mới thức dậy mà uống rượu đế thì… chịu gì nổi. Nhưng không uống với họ thì không được nên tôi đành phải ngồi xuống nhậu với họ. Hồi đó tôi còn khỏe, mới có 30 tuổi chứ mấy, nên hôm đó tôi đã làm 2 xị đế mà cuối cùng vẫn tỉnh bơ đứng lên ra về được, dĩ nhiên là sau đó tôi được anh em binh sĩ trong trung đội cũng như của chi đội M 113 hết lòng tán thưởng, họ cho tôi là thiếu úy rất chịu chơi. Nhưng về đến trung đội rồi thì tôi đã phải nằm lăn ra… ngủ.

    Đúng lúc đó, Thiếu Úy Chính lại bảo tôi rằng:

    - Bạn ở nhà coi trung đội dùm tôi, tôi ra Tây Ninh một chút nhé!

    - Không được đâu, tôi đang say và buồn ngủ đây, tôi không thể làm gì được đâu!

    Hắn nhìn lại tôi không biết là tôi say thực, mặt tôi chỉ tái đi thôi chứ không có đỏ, hắn không nghĩ là tôi nói thật nên hắn cứ đi và còn quay lại nói với tôi rằng:

    - Thôi giúp mình một tí đi mà!

    Trưa hôm đó, từ Tây Ninh về, hắn thấy tôi vẫn còn nằm, hắn mới hỏi mấy người ở nhà, lúc đó hắn mới biết là tôi nằm li bì từ sáng. Đến chiều khi tôi tỉnh hẳn rồi hắn mới nói:

    - Tôi tưởng là cậu nói đùa chứ đâu có biết là cậu say thực!

    - Cũng may là hôm nay không có chuyện gì xẩy ra hết, nghĩa là không có ai đòi gặp trung đội trưởng cả và hôm nay cũng không có ai gọi xin bắn nữa. Mà dù có xin bắn thì mấy ông trung sĩ của chúng ta cũng dư sức làm đâu cần tới sĩ quan.

    Chúng tôi đóng ở làng đó khoảng 4, 5 ngày, khi cuộc hành quân của CIDG xong là trung đội lại trở về toà Tỉnh Tây Ninh.

    3- Trung Đội 2B lên phía bắc núi Bà Đen, chuẩn úy Khóa 14 Thủ Đức được thăng thiếu úy.

    Một tuần lễ sau khi trở về từ cái làng nọ, Trung Đội 2/B của chúng tôi được tăng cường thêm Chuẩn Uý Tuyến, cùng Khóa 14 với tôi. Vài hôm sau thì chúng tôi được lệnh kéo súng qua Suối Đá, lên phía bắc Núi Bà Đen để yểm trợ cho một cuôc hành quân khác, cuộc hành quân này do mấy sĩ quan Mỹ trực tiếp chỉ huy, họ không cần F.O. (Forward Observer), nên tôi và anh Tuyến được ở lại với súng.

    Trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Mỹ này, không có thông dịch viên nên khi họ cần bắn là một đại úy sang trực tiếp nói với chúng tôi. Trong 3 sĩ quan chúng tôi thì Thiếu Uý Chính không nói được tiếng Mỹ đã đành, còn Chuẩn Úy Tuyến lại là Giáo Sư Trung Học dạy Pháp Văn nhưng chẳng biết sao cũng không thích nói tiếng Mỹ thành ra tôi phải ra nói vậy. Do đó cứ nửa đêm nửa hôm, bất cứ lúc nào cần xin tác xạ là ông đại úy Mỹ kia cũng tìm Chuẩn Uý Khôi để đưa ra những tọa độ xin bắn, rồi còn mang cả máy truyền tin sang để tôi theo Sĩ Quan F.O. của họ mà điều chỉnh, bắn loại đạn nào, bắn xa hơn hay gần hơn bao nhiêu yards, sang phải, sang trái bao nhiêu yards.

    Trong khi còn đang dự cuộc hành quân này thì hai chuẩn úy Khóa 14 chúng tôi được tiểu đoàn thông báo lên là chúng tôi đã được thăng thiếu úy thực thụ kể từ ngày hôm đó 15/6/1964.

    Bà vợ anh Tuyến khi theo chồng lên Tây Ninh đã mang theo một bản photocopy về cái nghị định thăng chúng tôi lên cấp thiếu úy, mua sẵn mấy cặp lon thiếu úy và anh ta chia cho tôi một cặp. Thế là đêm hôm đó, ngay khi nghe được tin từ tiểu đoàn gọi lên, chúng tôi tự động gắn lon cho mình không có nghi lễ gắn lon nào cả. Hôm sau, khi biết chúng tôi vừa được thăng cấp, mấy sĩ quan Mỹ đều sang ngỏ lời chúc mừng.

    Cuộc hành quân này kéo dài khoảng mười ngày, nghĩa là trung đội Pháo Binh của chúng tôi ở trên phía bắc Núi Bà Đen này khoảng 10 ngày. Khi viên Đại Uý Mỹ sang nói với chúng tôi là sáng hôm sau chúng ta sẽ trở lại Tây Ninh, chúng tôi cho thu xếp mọi thứ để hôm sau ra về.

    Sáng hôm sau trước khi lên đường, chính tôi có nói với binh sĩ trong trung đội là “Mình ở đây lâu như vậy thì trên đường về, thế nào tụi nó cũng gài sãn mìn, bẫy để chờ chúng ta đó, vậy tất cả phải đi bộ hai bên đường để dò dây mìn, chỉ một mình Tài Xế mới ngồi trên xe để lái thôi”.

    Nghe thấy tôi nói thế, chẳng ai còn muốn ngồi trên xe nữa. Cần nói rõ thêm là lính Pháo Binh, trừ toán Đề Lô ra, còn thì mọi người đều ngồi trên xe khi di chuyển chứ không bao giờ phải đi bộ cả. Nghe thấy tôi nói, chú tài xế của cái xe Jeep chở 3 sĩ quan chúng tôi cũng xin xuống đi bộ, thế là chính tôi phải lái cái xe Jeep đó với Thiếu Úy Chính, Trung Đội Trưởng, ngồi bên cạnh, còn Thiếu Uý Tuyến thì cũng phải xuống đi bộ với lính. Theo sau xe tôi là chiếc xe Dodge truyền tin rồi tới 2 chiếc xe GMC chở đạn và kéo hai khẩu đại bác 105 ly nòng ngắn. Chúng tôi đi chầm chậm cùng nhịp độ với lính đi hai bên đường, họ vừa đi vừa nhổ những cây đậu phọng bên đường, lấy những hạt đậu phọng sắp già để ăn sống.

    4- Binh Nhì Quân Dịch Liễu bị chết vì mìn.

    Nhưng gần tới Suối Đá thì trời đổ mưa, chúng tôi đã phải cho đoàn xe ngừng lại để mọi người leo lên lấy "poncho" (áo mưa). Mọi người lấy áo mưa xong rồi lại xuống xe đi hai bên đường như trước, chỉ có Binh Nhì Quân Dịch Liễu là không chịu xuống mà vẫn ngồi lại trên xe, nhặt đậu phọng ăn. Sau đó tôi lại cùng với đoàn xe tiếp tục đi, nhưng chỉ đi được một quãng ngắn là chúng tôi nghe thấy một tiếng nổ lớn, dĩ nhiên là đoàn xe phải ngừng lại.

    Lúc đó chúng tôi mới thấy là chiếc GMC kéo súng ngay sau chiếc xe Dodge Truyền Tin đã cán phải mìn, nẩy tung lên và hất văng tên Mành xuống đất. Thiếu Uý Chính và Y Tá vội xuống xe tới cứu cấp tên Liễu nhưng vô hiệu, hắn đã bị tung lên khá cao nên bị rơi xuống rất nặng và …đã không còn thở được. Chúng tôi phải quay ra nhờ bên lính Mỹ cho Y Tá tới xem dùm, nhưng chẳng ai còn có thể giúp gì được nữa! Lúc đó Thiếu Uý Chính mới cho tôi biết là… sau cuộc hành quân này tên Liễu sẽ đưọc giải ngũ vì thời gian quân dịch của hắn đã mãn!

    Chính cái xe Jeep mà tôi lái đã cán phải trái mìn đó trước nhưng vì xe tôi nhẹ nên đi qua được không sao. Trái mìn đó chúng dành cho… súng đại bác 105 ly chứ nếu không thì tôi đã qua chơi Suối Đá thật rồi chứ không phải là tên Liễu bất hạnh kia đâu, khẩu súng bị hư hại nặng nhưng đối với sự viện trợ của Mỹ thì hư hao một khẩu đại bác 105 ly đâu có nghĩa lý gì! Ngoài tên Liễu đó ra, trung đội Pháo của chúng tôi không một ai bị hề hấn gì hết, kể cả tài xế chiếc xe kéo súng bị mìn đó. Hắn chỉ bị tung người lên, cái nón sắt trên đầu đụng phải cái mui vải của xe nên hắn chỉ bị hết hồn thôi!

    Ra tới Suối Đá rồi, viên đại úy Mỹ lại gặp tôi và xin số quân của tôi nói là để xin một cái "bronze star" (anh dũng bội tinh với ngôi sao đồng) cho tôi. Tôi không cho ông ấy số quân của tôi, đối với tôi thì huy chương của ai cho cũng chẳng có giá trị gì cả, nhưng tôi cũng cảm ơn ông ấy và nói rằng thay vì cho tôi cái huy chương đồng đó thì xin các ông lo cho gia đình tên lính mới bị chết của chúng tôi. Ông ta bằng lòng giúp cho gia đình tên Liễu đó. Còn riêng đối với tôi thì ông ta lại đưa tôi vào một kho võ khí của Mỹ, thiết lập trên một cái xe lớn, lấy một khẩu súng Carbine M-2 (Bán Tiểu Liên) và đưa cho tôi. Tôi đã nhận khẩu Carbine này. Sau này gia đình tên Liễu có được người Mỹ trợ cấp không thì tôi không biết vì sau cuộc hành quân đó trung đội còn ở lại Tây Ninh vài tháng nữa, riêng tôi thì lại tiếp tục làm Tiền Sát Viên cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân cho đủ một năm.

    Nhưng rồi chúng tôi cũng dời bỏ Tây Ninh, về lại Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh ở Tam Hiệp. Hình như sau đó tôi được cử đi làm tiền sát cho một tiểu đoàn trong Trung Đoàn 7 Bộ Binh của Trung Tá Nguyễn Văn Tư. Tiểu Đoàn (2/7 thì phải) này lên nằm trên đường giữa Bình Dương và Bến Cát, giữ an ninh con đường này trong một thời gian khá lâu, một hay hai tháng gì đó. Sau 1, 2 ngày, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nằm tại một chỗ gần con đường, chỉ để cho mấy đứa con đi lục soát chung quanh, nên tôi rất nhàn, ngày ngày chỉ ngồi tán dóc với đại úy tiểu đoàn trưởng (người Nùng), nói chuyện với các cố vấn Mỹ mà toán trưởng là Đại Uý Rever (về sau nghe nói là ông đại úy này về với Tướng Westmoreland ở Sài Gòn) và nhất là tôi hay nói chuyện với vợ chồng Thiếu Úy Sơn Ban 3. Lúc này biết tôi đã nộp đơn xin giải ngũ nên Đại Uý Rever có hỏi tôi là:

    - Giải ngũ về rồi thì Thiếu Uý sẽ làm gì?

    - Thì tôi sẽ xin đi dạy học cho một trường Trung Học Công Lập nào đó.

    - Thế thì tiền lương tháng sẽ được bao nhiêu?

    - Về lương một tư nhân dạy giờ ở Trung Học Đệ Nhất Cấp thì cũng vào khoảng lương thiếu úy của tôi bây giờ.

    - Thế ông có muốn làm cho Embassy không, tôi sẽ giới thiệu ông về làm tại đó mà lương bổng thì gấp 6, 7 lần lương giáo sư Trung Học đó. Ông nghĩ sao?

    - Cảm ơn đại úy, Anh Văn của tôi kém lắm, không làm ở đó được đâu.

    - Tôi thấy là Anh Văn của thiếu úy như thế là đủ rồi và vừa làm vừa học thêm chứ có sao đâu.

    - Cảm ơn Đại Uý, tôi nhiều tuổi rồi, làm sao có thể học lại được nữa.

    - Thế thì tuỳ Thiếu Uý nhưng nên nhớ là lúc nào thiếu úy đổi ý thì nhớ nói với tôi nhé.

    Không bao giờ tôi có ý định đi làm “Sở Mỹ” nên tôi cũng không tính đến chuyện sau này liên lạc với ông ta làm gì.

    Câu chuyện trên đã làm tôi nhớ mãi tiểu đoàn này, còn một chuyện nữa cũng không làm tôi quên được cái thời gian ở đây, đó là chuyện vợ chồng Thiếu Úy Sơn. Anh bạn này là Sĩ Quan Thủ Đức cùng Khoá 14 với tôi nhưng kém tôi tới 9, 10 tuổi và là dân tình nguyện. Không biết là hai người họ đã gặp nhau trong trường hợp nào rồi lấy nhau, không hiểu họ có giá thú hay không nữa. Cha mẹ Thiếu Úy Sơn có thể là không đồng ý nhưng họ vẫn thương nhau nên đã lấy nhau và vì lính tác chiến không lúc nào được ở yên một chỗ nên Sơn đã đưa vợ đi theo hành quân với mình luôn mà không ai nói năng gì vì ngay cả đại úy tiểu đoàn trưởng cũng như Trung Tá Nguyễn Văn Tư, trung đoàn trưởng của Trung Đoàn 7 này lại cũng luôn luôn dẫn gái theo trong hầu như trong mọi cuộc hành quân.

    Không biết là Thiếu Uý Sơn có được ăn lương vợ như mọi sĩ quan khác hay không, có thể là không, hình như vợ anh ta là con cái của dân Bắc Kỳ 41 và lại còn là dân ở trong Bến Cát nữa, nên dù anh có đơn xin cưới thì Bộ Quốc Phòng cũng bác, vì cái lý lịch của người vợ. Nhưng dù người vợ không ăn lương thì Thiếu Uý Sơn cũng xoay cho vợ mình được lãnh lương của một binh nhì vì tôi đã thấy vợ anh cũng thực sự cầm súng chiến đấu bên chồng như một người lính của tiểu đoàn vậy. Mấy tháng sau, khi tôi đi làm Tiền Sát cho tiểu đoàn khác thì tôi được biết là vợ chồng Thiếu Uý Sơn đã có một đứa con. Vợ anh đã có mang khi chúng tôi còn đang nằm giữ an ninh cho con đường từ Bình Dương lên Bến Cát. Nhưng ít lâu sau tôi lại nghe là trong một đêm nào đó, tiểu đoàn của anh bị tấn công và vợ chồng anh đã bị chết. Tôi có hỏi người đưa tin đó về đứa con của vợ chồng Thiếu Úy Sơn thì mới hay là đứa nhỏ cũng bị chết luôn trong trận đó!
    Bài này đã được Bình Lặng điều chỉnh; 05-16-2011 vào lúc 06:49 PM. Lý do: Thể theo yêu cầu của tác giả

  5. Định sẵn Đời Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh (Ch. 5)


    THUẦN PHONG
    Chương 5
    Hành Quân vào Chiến Khu Đ
    1- Suýt bị lôi thôi vì bắn quấy rối.
    Vào cuối năm 1965, tôi được nghỉ tại chỗ chừng vài ngày rồi lại phải đi làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 1/7 của Đại Uý Phúc. Lần này chúng tôi tới làng… bên cạnh quốc lộ 1 gần Hóc Môn. Đây là một làng của chính quyền miền Nam nhưng lại không được an ninh cho lắm nên chúng tôi có bổn phận tới lập lại an ninh cho làng này.
    Sau khi tiến vào làng, bộ chỉ huy Tiểu Đoàn chọn cái đình của làng này làm nơi tạm trú. Lúc này là lúc tôi phải bàn với Đại Uý Phúc để lập mấy hỏa tập quấy rối. Tôi phải biết chỗ đóng quân của các toán bộ binh ở đâu thì mới thiết lập các hỏa tập này để bắn quấy rối địch trong đêm được. Thế rồi vào khoảng 8 giờ tối hôm đó, tôi xin tác xạ vào vài hỏa tập kia. Và khoảng chừng nửa giờ sau thì chúng tôi thấy… một toán dân đốt đuốc khiêng một người bị trúng đạn Pháo tới chỗ của chúng tôi, nói là chúng tôi đã bắn phải dân làng. Đại Úy Phúc phải ra xin lỗi họ, hứa là sẽ cho chở người bị thương đi bệnh viện và sẽ không cho bắn bừa bãi nữa.
    Đại Uý gần như đã phải năn nỉ họ hết gần 1/2 tiếng đồng hồ họ mới chịu ra về, chỉ để người bị thương và… bà vợ của anh ta nằm lại trong cái nhà ngang chỗ chúng tôi ở để chờ Trực Thăng đến bốc anh ta đi bệnh viện, chúng tôi cũng ngầm chỉ thị một Hạ Sĩ xuống coi chừng họ ở cái nhà ngang tối thui này. Thực ra thì làm gì có trực thăng nào sẽ xuống vào giờ này để chở một người dân bị thương đi bệnh viện. Chúng tôi đã tính là cứ để anh chàng bị thương này ở đó rồi mai lấy xe đưa anh ta về một bệnh xá nào đó tại Hóc Môn. Chúng tôi còn đang cảm thấy hơi lung túng về vụ này thì anh Hạ Sĩ của chúng tôi lên nói với Đại Úy Phúc là:
    - Đại Uý ơi, mình không bắn lầm đâu, tụi nó chính là Việt Công đó!
    - Tại sao anh biết?
    - Dạ, tại con vợ nó ghen nên mới mè nheo thằng chồng, mà cũng vì em ngồi trong xó tối nên nó tưởng không có ai nên nó mới nói với thằng bị thương là “đồng chí gái đó có gì hơn tui mà đồng chí nỡ bỏ bê tui, rồi tui sẽ nhờ đồng chí…giải quyết dùm”, chúng nó nói đồng chí này đồng chí nọ cho nên em mới biết chúng là Việt Cộng chứ.
    - Thế bây giờ chúng đã biết là bị lộ chưa?
    - Dạ chắc là chưa đâu vì con mụ đang nổi cơn ghen và em cũng len lén lên đây thì làm sao chúng biết được.
    - Tốt, anh cứ xuống đó âm thầm theo dõi bọn chúng, mình sẽ cho người canh chừng chúng đêm nay rồi mai sẽ đưa chúng ra, nói cho dân làng biết chúng là ai, sau đó sẽ giao chúng cho Ban 2 của Sư Đoàn.
    Tới lúc đó tôi mới được yên tâm. Chỉ có Đại Uý Phúc và mấy Sĩ Quan của ông là phải một mặt lo báo cáo lên Phòng Hành Quân của Sư Đoàn và một mặt phải lo điều động một toán lính xuống canh chừng mấy tên Việt Cộng giả dạng dân lành kia.
    Nhân cái vụ này, tối hôm sau Đại Uý Phúc lấy một tiểu đội đi cùng với ông để tính đột kích một vài nơi ngoài đầu làng. Đại Uý hỏi tôi là có muốn đi với ông không. Dĩ nhiên là tôi phải trả lời là có. Thế là vào khoảng gần 10 giờ tối hôm đó chừng hơn 10 người chúng tôi, coi như ngậm tăm lên đường, len lỏi qua những gốc tre để ra đầu làng, nhưng chẳng may là có một anh lính không biết làm sao đã dẫm lên một cành tre khô do đó đã gây ra một tiếng động lớn giữa đêm thanh vắng, thành ra cuộc đột kích đêm đó… đi không lại về không!
    Hôm sau tên Lý văn Lời của tôi có cằn nhằn tôi là:
    - Mình đi với Tiểu Đoàn chứ có đi với Trung Đội đâu mà đêm qua Thiếu Uý cũng nhận đi như vậy?
    - Tại chú không hiểu đấy, chú phải biết là mình đi với Tiểu Đoàn nghĩa là phải đi với Tiểu Đoàn Trưởng đó. Dù ông ta đi một mình thì mình cũng phải đi theo chứ đừng nói là đi với một Trung Đội nữa. Hôm qua ông ấy hỏi mình là lịch sự đấy, mình mà không nhận đi với ông ấy thì ông ấy sẽ kêu Sư Đoàn ra lệnh cho mình phải đi chứ không phải là mình không nhận đi là được ở nhà đâu. Mà ông ta là Đại Uý, ông ta còn đi được thì sao mình lại không đi được!
    2- Về Bình Dương
    Ở cái làng này chừng mươi ngày thì có Tiểu Đoàn
    Bộ Binh khác đến thay. Còn tôi lại trở về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi để cùng với Trung Đội 1 B của Thiếu Uý Thinh đi Bình Dương. Thế là cả Pháo Đội B với Đại Uý Pháo Đội. Trưởng Nguyễn Văn My đi Bình Dương (Trung Uý My dạy Trung Uơng Tác Xạ ở Dục Mỹ về thay Trung Uý Nguyễn đôn Sâm từ lúc nào thì tôi không biết và nghe nói là Trung Uý Sâm đã sang Tiểu Đoàn 38 Pháo Binh, nhưng lúc này đã lên Đại Uý chưa thì tôi cũng không hỏi làm gì). Lên tới Bình Dương thì Pháo Đội B của chúng tôi được chỉ định cho đóng ở phía sau Trường Công Binh sát một con sông nhỏ mà tôi không nhớ là sông gì nữa. Lúc này Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã di chuyển lên đóng trong Phú Lợi.Tư Lệnh Sư Đoàn là Thiếu Tướng Trần Thanh Phong. Ông Tướng này là Tây lai nên rất đẹp trai. Nhưng ngoài cái đẹp trai này thì ông Tướng nhà ta chẳng có một cái gì đáng cho ta nói đến cả nếu không là cái ngu dốt và cái hách xì xằng Chính cái ngu dốt này đã làm chết không biết bao nhiêu binh sĩ dưới quyền ông ta, còn cái hách sì xằng thì lại giết chính ông ta sau này đấy! Ông này chết khi đã được thăng lên cấp Trung Tướng và đã dời Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Và rồi về sau ông Tướng Phong này đã được cử làm Bộ Trưởng Xây Dựng Nông Thôn.
    Một hôm, Trung Tướng Bộ Trưởng Trần Thanh Phong làm một cuộc thanh tra ở Phan Rang hay Phan Thiết, tôi không biết. Tỉnh này có 2 phi trường, một phi trường sát ngay bờ biển và một phi trường nằm trong tỉnh. Nghe nói là hôm đó viên Đại Úy Phi Công

    chở ông Bộ Trưởng định cho phi cơ hạ cánh ở cái phi trường gần biển, nhưng khi đã xuống thấp, ông Bộ Trưởng không thấy ở đó có cờ quạt dàn chào để nghênh đón ông nên đã lấy cây gậy Trung Tướng gõ vào đầu Đại Úy Phi Công bảo phải vào phi trường trong tỉnh. Đại Úy Phi Công vội kéo cần điều khiển cho phi cơ bay lên nhưng rủi cho họ là một cơn gió mạnh từ ngoài biển đã thổi tới, khiến cho chiếc phi cơ bị đổ xuống và Đại Uý Phi Công cũng như ông Trung Tướng Bộ Trưởng Trần Thanh Phong bị tử nạn ngay lúc đó). Còn cái bất tài của ông ta thì sau này tôi sẽ xin lần lượt nêu rõ cho quý vị thấy.

    Về đây được ít lâu thì Trung Đội 2 B của Thiếu Uý Chính được thêm một Chuẩn Uý Khoá 17 tới tăng cường. Chuẩn Uý này tên là… Huy.
    Huy là một sĩ quan trẻ, khoảng 20 tuổi và là dân tình nguyện. Anh chàng Huy này tới Pháo Đội hôm trước thì hôm sau bà mẹ của anh ta lên thăm. Hai mẹ con còn đang nói chuyện thì Pháo Đội nhận được lệnh phải cử một toán tiền sát đi hành quân trong ngày. Dĩ nhiên là Chuẩn Uý Huy phải đi chuyến này và tôi là sĩ quan đi cặp với hắn.
    Trong khi tôi sửa soạn hành trang và xem lại cái phóng đồ hành quân thì ông Trung Đội Trưởng Hoàng Chính của tôi cứ lải nhải với tôi trước mặt hai mẹ con Chuẩn Uý Huy là: “chỗ này đánh lớn thì không có đâu, nhưng rất dễ bị mìn bẫy hoặc bị bắn sẻ, bạn phải cẩn thận lắm mới được! Bạn nên…”. Tôi thấy là anh chàng Chính này hơi không được tế nhị mấy vì những lời anh ta nói ra chỉ làm cho bà me của Chuẩn Uý Huy lo sợ chứ chẳng giúp ích gì cho tôi hay cho ai cả.
    Tôi đã phải nói với anh ta: “Yên chí, tôi biết rồi bạn khỏi phải nói nữa”, rồi tôi quay ra nói với bà mẹ của Chuẩn Uý Huy là “Bác yên chí, đi với cháu thì sẽ không có gì hết, chỉ đến chiều là chúng cháu sẽ trở về an toàn thôi. Bác cứ hỏi mấy tên lính hay đi với cháu này thì biết”.
    Thế là tên Lý văn Lời không đợi hỏi đã mau mắn nói ngay rằng “đúng thế, đi với Thiếu Uý Khôi của cháu thì rất là an toàn, bác đừng sợ gì cho Thiếu Uý Huy hết. Bác cứ chờ đây, chiều nay chúng cháu sẽ về thôi mà”.
    Và quả thật, chiều hôm đó chúng tôi đã trở về an toàn. Đây là trận đầu tiên, cũng là trận độc nhất ở Bình Dưong mà tôi tham dự. Sau trận này, khỏi nói thì quý vị cũng biết là bà mẹ của Chuẩn Uý Huy này có cảm tình tốt với tôi như thế nào. Rồi mấy Thứ Bẩy sau bà đều lên thăm Chuẩn Uý Huy, bà không nghĩ rằng lính chiến như tụi tôi thì làm gì có Thứ Bẩy, Chủ Nhật và rồi bà mời tôi về nhà một bà em của bà ở Saigon khi nào tôi đi phép, bà nói thẳng với tôi là bà muốn giới thiệu tôi với cháu gái của bà.
    Tôi cũng đã có về nhà đó ở trong cái cư xá trông sang Nhà Thờ Ba Chuông ở đường Trương Minh Giảng, Saigon. Tôi đã được giới thiệu với cô em họ của Chuẩn Uý Huy, em này tên là Minh, em rất đẹp, có lẽ em là cô gái đẹp nhất (về sắc, còn về nết thì tôi chưa biết) mà tôi đã quen biết trong đời. Chúng tôi đã đi Ciné với nhau nhưng cuối cùng thì chúng tôi… lại không có duyên với nhau, dù chúng tôi người nào cũng mến nhau vì… sau kỳ nghỉ phép đó, tôi phải tham dự mấy mặt trận liên tiếp, với rất nhiều biến cố dồn dập xẩy ra, nhất là từ cái trận cuối cùng khi tôi còn ở cái Sư Đoàn 5 này, đó là trận Dầu Tiếng với mấy trăm người bị chết. Rồi ngay sau đó, tôi lại đã phải thuyên chuyển ra Quân Đoàn II ở Pleiku nên chúng tôi đã không có dịp tiếp xúc nhiều với nhau.
    Gần một năm sau khi tôi được giải ngũ thì tôi đã không thể nhớ gì đến chuyện đó, nên đã quên không đi tìm em nữa.
    Ít lâu sau tôi được chính thức trở lại Trung Đội 1B với Thiếu Uý Thinh. Điều này có nghĩa là từ nay tôi không còn ở cùng một trung đội với Chuẩn Uý Huy và tôi sẽ không còn đi cặp với Chuẩn Uý Huy lần thứ hai.
    3- Vào Chiến Khu Đ.
    Tại Bình Dương, binh sĩ thường hay ra chợ chơi,
    có những sĩ quan ra chợ chơi nhưng không đeo lon lá gì cả, để nếu có những hành vi bê bối vì say sỉn thì không bị mắc cỡ. Đã có nhiều sĩ quan bị bắt trong những vụ bê bối này nhưng rồi Quân Cảnh lại phải thả họ ra vì nhu cầu trên chiến trường đòi hỏi. Thấy thế Thiếu Tướng Tư Lệnh bèn ra một nhật lệnh là các sĩ quan phải thêu cấp bậc của mình vào áo. Ông ta không biết đến cái tai hại của việc này trên trận địa. Đã có một trung uý vứt vội được cặp lon của mình trước khi bị Việt Cộng bắt mà rồi không bị chúng bắn chết đấy!
    Đại Uý My đọc xong cái Nhật Lệnh đó, đã nói với chúng tôi là “Các ông thêu lon vào một cái áo để mặc ở đây, còn khi nào đi hành quân thì lại mặc bộ khác rồi mang cặp lon rời vào là xong thôi”.
    Trong thời gian ở đây, tôi đã nhờ được một Đại Uý Cố Vấn Mỹ (của một Tiểu Đoàn Bộ Binh nào đó mà tôi đã quên mất, lúc tôi làm sĩ quan tiền sát cho họ) mua ở P.X. của họ một cái máy ảnh hiệu Petri. Có cái máy ảnh này rồi mới thấy cái tốn kém của việc chơi máy ảnh. Thứ nhất là mình luôn luôn nôn nóng muốn xem cái tài chụp ảnh của mình ra sao, nên luôn luôn muốn chụp cho chóng hết cuốn phim 24 poses trong máy.Thứ hai là chụp xong cho lính thì ai cũng nói: "Thiếu Uý cho em xin môt tấm, đưa tấm hình cho họ xong thì lại, Thiếu Uý ơi, cho em xin thêm một tấm nữa". Rửa và in hình thì tôi phải bỏ tiền túi của tôi ra nhưng đưa hình cho họ thì… đưa không, mặc dù có nhiều lần họ đòi trả tiền cho tôi, nhưng chả lẽ tôi lại lấy của mỗi người họ một vài đồng bạc. Tôi làm được điều này vì tôi còn độc thân mà lại chẳng phải gửi tiền về nuôi ai cả, trái lại mỗi lần về nhà, tôi còn nã thêm tiền của bố mẹ tôi là khác nữa!
    Do đó đối với anh em binh sĩ trong Pháo Đội thì tôi khá rộng rãi trong vấn đề tiền bạc. Nhất là đối với mấy tên thường đi trong toán Tiền Sát của tôi thì lại càng thích tôi lắm. Tôi là kẻ thích ăn ngon nên trước mỗi cuộc hành quân tôi đều đưa tiền cho tên Lý văn Lời để mua trên nửa kilô thịt heo cùng hành mỡ… để chúng tôi ăn trong cuộc hành quân đó. Trong mọi cuộc hành quân, toán Tiền Sát của tôi bao giờ cũng ăn riêng với nhau chứ không ăn cùng Bộ Binh.
    Dạo này chúng tôi đã nghe phong thanh rằng Sư Đoàn sẽ mở một trận lớn nay mai, chỉ không biết ở đâu thôi nên chúng tôi đã sẵn sàng chờ lệnh gọi. Thế rồi một hôm tôi được cử đi với Đại Đội 5 Thám Báo. Chúng tôi phải ra nằm chờ tại một cánh rừng ở Phú Lợi mất vài ngày, chờ gì thì tôi không biết. Trong khi chờ đợi như vậy tôi thường hay tán dóc với mấy người trong toán Cố Vấn Mỹ, người mà tôi hay nói chuyện với là một anh Hạ Sĩ da trắng. Trong câu chuyện với anh có lần tôi đã dùng câu "in spite of the fact that", anh ta bèn hỏi tôi là tôi cũng biết dùng chữ này à! Tôi nói tôi đã là Sinh Viên Đại Học từ gần 10 năm nay rồi và trong khi học ở Trung Học tôi đã có học Anh Văn, tôi còn nói thêm rằng tôi là người bị động viên và anh ta cũng nói rằng anh ta cũng "being drafted into the US Armed Forces", anh ta nói là anh ta đã có Master Degree. Sau đó chúng tôi thân nhau hơn.
    Cuối cùng thì không phải là trực thăng bốc chúng tôi đi mà chúng tôi phải ra Bình Dương để lên Giang Thuyền đi lên Chiến Khu Đ. Khi đoàn thuyền cặp vào bờ cho chúng tôi xuống, tôi thấy là khi lên các giang thuyền này thì lính tráng trông có vẻ đông đảo lắm mà đến khi đổ bộ xuống bãi thì sao mà ít ỏi thế. Thực ra thì số người vẫn như cũ nhưng đối với cánh rừng rộng mênh mông của Chiến Khu Đ, nơi đổ quân này, thì đoàn quân trở nên lạc lõng. Lúc đó tôi mới nói với anh chàng Hạ Sĩ Mỹ kia là:
    - Nếu mình có cái Movie Camera để ghi lại cảnh này thì tốt qúa.
    - Thiếu Uý không có à. Sao Thiếu Uý không mua một cái?
    - Chúng tôi đâu có P.X. như các anh mà mua được.
    - Để tôi sẽ mua cho Thiếu Uý một cái.
    - Nhưng mà tôi không có dollars Mỹ .
    - Tôi sẽ đổi cho Thiếu Uý.
    - Anh định đổi cho tôi bao nhiêu tiền VN một dollar?
    - Thiếu Uý sẽ đưa cho tôi VN$ 60 để lấy US$ 1 đỏ.
    - Không được, tôi vẫn đổi VN$ 100 cho US$ 1 đỏ, anh lấy thế thì không đúng với giá thị trường.
    - Không, tôi sẽ đổi cho Thiếu Uý theo giá chính thức là US$ 1 = VN$ 60. Thiếu Uý cứ nhận đi, chẳng lẽ Thiếu Uý lại muốn tôi tặng Thiếu Uý cái movie camera nữa hay sao!
    - Được, cảm ơn anh trước.
    Khi mọi người đã xuống bãi hết, Trung Uý Đại Đội Trưởng mới cho lệnh từ từ tiến vào rừng. Chừng 4, 5 giờ chiều, chúng tôi gặp một căn nhà lá, trong đó có 2 mẹ con một cô gái, cô ta chừng hơn 20 tuổi, mặt mũi, người ngợm khá xinh đang núp dưới hầm (mẹ con thật hay không thì không biết). Mấy anh lính đưa họ lên gặp Trung Uý Trung Đội Trưởng để ông này hỏi họ vài điều cần thiết, nhưng họ một mực nói họ là dân làm rừng ở đây và không biết gì hết. Chúng tôi đoán chắc họ là liên lạc viên của Việt Cộng gài lại để theo dõi chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng lờ đi vì không có chứng cớ gì để giữ họ, mà bắt giữ họ cũng không ổn, lúc đó đã tối, rừng rất dầy nên nơi này trở nên tối. Xin trực thăng để đưa họ về Phú Lợi sẽ không được, còn dắt họ theo thì vừa phiền toái vì phải cắt người canh giữ, vừa nguy hiểm.
    Chúng tôi chỉ nghỉ ở đây khoảng nửa giờ rồi lại tiếp tục tiến để tới gặp Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 8 của Trung Tá Chuyên, chỉ ngầm để lại vài người theo dõi 2 người đàn bà này.
    Tới 6, 7 giờ tối hôm đó chúng tôi gặp được Trung Tá Chuyên rồi từ đó chịu sự điều động của Trung Tá theo như dự lệnh. Đại Đội 5 Thám báo ở với bộ Chỉ Huy Trung Đoàn để các binh sĩ của Trung Đoàn đi lục soát quanh vùng. Họ đã cố gắng để tiến qua con rạch tên là Rạch Sơn, nhưng không qua nổi vì hỏa lực của đối phương khá mạnh. Chúng nấp ở đâu không biết nhưng lính của ta mà cứ mới xuống sát con rạch tính lội qua là bị bắn hạ, đã có nhiều người bị chết và bị thương.
    4- Suýt chết ở Chiến Khu Đ.
    Chiều ngày hôm sau, ngày thứ hai của cuộc hành quân, Thiếu Tướng Trần Thanh Phong bay từ Phú Lợi vào. Trung Tá Chuyên trình bầy diễn tiến cuộc hành quân lên Thiếu Tướng thì ông Tướng này hỏi Trung Tá là:
    - Tại sao không tiến qua Rạch Sơn như trong kế hoạch.
    - Thưa, chúng tôi không qua nổi vì hỏa lực của chúng ở đó mạnh lắm.
    Cùng lúc đó thì một Hạ Sĩ bị thương vì toan tính qua con rạch được khiêng về. Trung Tá trình việc này lên Ông Tướng thì được ông ta bảo là:
    - Sĩ Quan có chết thì cũng phải sang đó cho bằng được.
    Chúng tôi còn đang bực bội vì cái lệnh đó thi tôi nghe có một tên lính ở đâu đó chửi đổng “Đù mẹ nó, có giỏi thì sang đi ở đó mà lớn lối!”
    Đang đứng ở đó thì dĩ nhiên là ông Tướng cũng nghe được câu chửi thề đó nhưng… làm gì bây giờ. Nếu là một sĩ quan nào đó ở đây chửi thì còn có biện pháp được, chứ đây là do một tên lính chửi thì biết nó là đứa nào đây. Hỏi ra thì… chỉ ê mặt chứ chẳng làm gì được vì sẽ chẳng có đứa nào nhận, thành ra ông Tướng nhà ta đành phải lờ đi, nhưng ông không quên trả thù bằng cách bắt đoàn quân phải ở lại thêm một ngày chứ không dược về ngày hôm sau như trong dự lệnh.
    Lời chửi đổng của anh lính nào đó, đúng ra là cái lệnh miệng do tức tối mà thốt ra của ông Tướng này đã cứu hầu hết chúng tôi khỏi bị xóa sổ bộ đời. Khi ra về chậm một hôm như vậy, vì mới chỉ đi được độ một giờ là chúng tôi gặp một dẫy những hố cá nhân trên đường về chờ sẵn chúng tôi. Bọn Việt Cộng chỉ vừa mới rút khỏi những cái hố đó vì chúng đã không thấy chúng tôi ra về như tin tức chúng nhận được. Chúng không hiểu là chúng tôi sẽ ở lại bao lâu nên sáng hôm đó chúng mới rút đi. Nhưng chúng cũng chỉ vừa mới rút đi chừng mưoi, mười lăm phút trước thôi, thành ra khi chúng tôi đi lên thêm một chút là chúng đã quay lại và hai bên đã tao ngộ chiến. Đại Đội 5 Thám Báo chúng tôi đi mở đường nên chúng tôi đụng trận trước. Tôi vừa gọi xin tác xạ vừa tìm chỗ nấp vì chúng tôi đang bị đạn bắn từ trước mặt và từ hai bên hông. Toán Tiền Sát chúng tôi đã xuống một cái hố khá rộng và nhất là khá sâu, có thể sâu tới 3 hay 4 mét, trông như là một cái ao cạn, nhưng đạn vẫn bay veo véo về phía tôi nên tôi đã nghĩ là mình thế nào cũng chết trong trận này… đã thế thì tao có chết, chúng mày cũng phải chết theo với tao một số chứ, thế là tôi hỏi tên Lời, tên đang mang máy truyền tin và đang ở bên tôi:
    - Ê, lên không mày?
    - Ông lên thì tôi cũng lên chứ, việc gì còn phải hỏi.
    Thế là chúng tôi leo lên khỏi miệng cái hố bom đó rồi tìm một cái gốc cây, dựa vào đó rồi dựng cái antenne cần lên để xin tác xạ ngay vào chỗ tôi đang đứng. Operator ở nhà kêu lên rằng tôi cho tọa độ sai rồi, đó là chỗ mà Thiếu Uý và quân ta đang đứng. Tôi phải hét lên rằng đúng đó là nơi chúng tôi đang đứng, nhưng chúng nó cũng đang tràn ngập nơi này và chúng tôi cũng đã nấp an toàn rồi. Lúc đó ở nhà mới thỏa mãn đơn xin tác xạ của tôi và đạn mới rót tới khiến cho chúng phải rút sau mấy tràng đạn của tôi.
    Trong trận này, địch quân tổn hại thế nào thì tôi qủa tình là tôi không biết, nhưng Đại Đội 5 Thám báo của tôi thì… Một lính Mỹ bị chết, anh Hạ Sĩ Mỹ của tôi thì bị thương nặng, Trung Uý Đại Đội Trưởng thì không việc gì, nhưng Trung Uý Đại Đội Phó thì bị thương hơi nặng. Chỉ có toán Tiền Sát 4 người chúng tôi là hoàn toàn vô sự.
    Anh Hạ Sĩ trong toán Cố Vấn Mỹ bị thương nên được chở ra Đệ Thất Hạm Đội rồi về Mỹ luôn, thế là tôi không có được cái máy quay phim như đã mong muốn.
    Về tới Pháo Đội, kể lại chuyện này mọi người mới thấy là lời chửi đổng của ai đó rất đáng được tuyên dương và ai cũng nói là tôi đã rất may mắn… vì đạn pháo bắn vào chỗ mình như vậy mà vẫn không sao!
    5- Làm Sĩ Quan Liên Lạc cho Trung Đoàn 8, đi Paris Tân Quy và chú nhóc Liên Lạc Việt Cộng.
    Về với Pháo Đội ở Bình Dương được ít lâu thì một hôm tôi được cử làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh đi với Trung Đoàn 8 Bộ Binh của TrungTá Nguyễn Văn Chuyên. Trung Đoàn này có nhiệm vụ tiến về Paris Tân Quy lập một căn cứ ở đây.
    Sáng hôm đó, chúng tôi xuống giang thuyền từ chợ Bình Dương đi ngang qua sông để về phía Paris Tân Quy. Đi được vài cây số (km), thì chúng tôi tạm dừng lại để ăn trưa và sửa soạn chỗ ngủ qua đêm. Trung Tá Chuyên muốn cho lục soát cẩn thận nơi này trước khi tiếp tục. Ông muốn con đường từ Bình Dương tới Paris Tân Quy phải được luôn luôn có an ninh. Cơm nước xong chúng tôi vừa lo báo cáo về Sư Đoàn, vừa lo sắp đặt chỗ ngủ. Chỗ ngủ của Trung Tá Chuyên được dặt nơi gốc một khóm tre già, dĩ nhiên là tôi cũng phải chọn một gốc tre gần đó để nghỉ.
    Khoảng 3, 4 giờ chiều hôm đó, Thiếu Úy Tính, Trưởng Ban 3 của Trung Đoàn, kéo về chỗ chúng tôi nghỉ một trung Sĩ của Trung Đoàn cùng với một thằng nhỏ chừng 12, 13 tuổi, vừa đi vừa lấy một cành tre quất bồm bộp vào đít ông trung sĩ, mồm la hét “Tôi sẽ nói với Trung Tá phạt ông thật nặng vì ông đã dọa nạt thằng nhỏ này, nó còn bé thì ông phải biết thương nó chứ”.
    Quay lại phía thằng nhỏ, anh nói “được rồi, anh sẽ phạt ông Trung Sĩ này cho em”. Sau đó anh đưa viên Trung Sĩ cho Trung Tá xin ông phạt nặng viên Trung Sĩ này và kéo chú nhỏ ra một chỗ xa, thủ thỉ nói gì với nó thì chúng tôi không biết. Ông Trung Sĩ này dư biết là Thiếu Uý Tính đang… dụ dỗ trẻ con nên cũng làm bộ tỏ ra sợ sệt bị phạt lắm và hết lời xin lỗi ông Thiếu Uý, hứa là sẽ không dám tái phạm nữa: một cành tre nhỏ mà đập suôi vào bộ đồ treillies thì… chỉ có con nít mới tin là ông ta bị đánh thực.
    Độ một tiếng đồng hồ sau, Thiếu Uý Tính nhà ta đưa thằng bé lại ngay chỗ Trung Tá Chuyên đang ngồi, cùng định ngủ qua đêm, để thằng bé chỉ cho mọi người một cái miệng hầm ở ngay dưới gốc khóm tre già, được nguỵ trang rất khéo đến nỗi tên lính của Trung Tá loay hoay ở đó khá lâu để sửa soạn chỗ ngủ cho Trung Tá mà cũng không biết. Thế là Thiếu Uý Tính ra lệnh cho lính ném mấy qủa lựu đạn xuống trước rồi mới cho lính xuống lục soát. Thằng nhỏ cũng còn chỉ ra vài miệng hầm nữa quanh đó.
    Thật là hú vía, nếu không có thằng nhỏ đó thì không biết là đêm đó chúng tôi sẽ ra sao! Tối hôm đó, thằng nhỏ được ngủ trong lều cùng với Thiếu Uý Tính. Hai chiếc poncho hợp lại làm mái, trời mưa thì căng võng còn trời khô ráo như thời gian này thì trải cái gì đó xuống đất làm chỗ nằm, thế là chúng tôi có được một tấm lều. Tối đó Thiếu Uý nhà ta nói chuyện với nó khá khuya.
    Hôm sau thì trực thăng từ Bình Dương vào chở thằng bé về Phú Lợi. Lúc đó chúng tôi mới đi gặp Thiếu Uý Tính và hỏi anh ta về cái vụ thằng bé con này thì được anh ta cho biết là: “Hôm qua tôi thấy Trung Sĩ….đang quát nạt thằng nhỏ mà thằng này có vẻ ngang bướng, chẳng có vẻ gì là sợ ông Trung Sĩ này cả, thì tôi biết ngay chú bé là ai rồi, nên tôi mới biểu diễn một màn kịch như các bạn thấy đấy, rồi tôi kéo thằng nhỏ ra một chỗ… cho nó ăn một gói cơm sấy cùng với thịt hộp, rồi dần dà dụ nó nói ra tên cái đơn vị Việt Cộng nào đang hoạt động ở vùng này, mới đầu thì chỉ mong có thế thôi, không ngờ thằng bé đã không những khai ra tên cái đơn vị Việt Cộng ở vùng này mà còn tự thú rằng mình là liên lạc viên của bọn chúng, rồi còn nói là sẽ chỉ ra mấy cái hầm hố của tụi nó nữa, nó còn nói là những cái hầm này có nhiều lối ra vào lắm. Nếu chiều qua chúng ta không phá hủy kịp thời mấy cái miệng hầm đó thì… chúng ta chắc là bị tiêu tùng hết trong đêm qua rồi".
    Thiếu Uý Tính còn nói tiếp: - Tối qua, tôi mới hỏi nó là tại sao lại tin theo tôi vậy thì nó trả lời rằng… "Tụi nó (Việt Cộng) ăn hiếp em qúa, chúng nó thấy em bé nhỏ thế này mà còn bắt em hàng ngày đi bộ cả chục cây số để đưa thư đi và lấy thư về mà không hề cho em cái gì cả, em đã sùng chúng từ lâu rồi nhưng chưa có dịp, nay có các anh đến đây thì em sẽ theo các anh đâu còn sợ chúng nữa.”
    Chúng tôi hỏi tiếp: "Thế còn thằng bé thì sẽ thế nào?". Thiếu Uý Tính nói là “Mình chỉ biết báo cáo về Sư Đoàn vụ này, còn họ sử làm sao thì mình không biết”. Về sau tôi nghe nói là vì nó sợ rằng nó sẽ bị tụi Việt Cộng trả thù nên nó đã nài nỉ xin Sư Đoàn nhận nó làm lính… và cuối cùng thì Sư Đoàn đã phải chấp nhận sử dụng thằng bé này (mà rất tiếc là vì đã lâu qúa rồi nên tôi đã quên mất tên của nó) như một tên Hạ Sĩ thám báo, nó được ăn lương Hạ Sĩ, nhưng cuối cùng thì sau vài năm gì đó, nó cũng đã bị chết trong một cuộc trực thăng vận ở chiến khu Đ.
    Trường hợp bất hạnh của thằng bé này chính là trường hợp chung của trẻ con Việt Nam ở vùng quê xôi đậu trong thời này. Gần như tất cả tụi nó đều được trở thành Nhi Đồng Cứu Quốc dù tụi nó có muốn hay không./.

  6. Định sẵn

    Chưong 6
    Hành Quân tới Phú Hòa Đông

    1- Vài cô Nữ Trợ Tá Xã Hội.

    Ở đây tôi muốn nói đến cái ngu dốt của mấy tên nhà báo ngoại quốc, chúng đã đem cái lý luận của một xứ văn minh và nhất là đang thái bình áp dụng vào một nước có chiến tranh nhất là lại đem áp dụng vào cuộc chiến Ý Thức Hệ giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam, trong đó tụi Cộng Sản miền Bắc là tụi luôn luôn coi thường dư luận, coi thường mọi Công Ước Quốc Tế. Mấy tên nhà báo ngu đần này mạnh miệng chê bai quân đội Miền Nam Việt Nam, nói rằng họ dã man đã bắn giết đến cả đàn bà, con nít. Họ không hiểu rằng với chủ trương "toàn dân kháng chiến", tụi Việt Cộng đã xử dụng mọi lứa tuổi, mọi giới tính trong cuộc chiến này để phục vụ chúng. Trường hợp thằng nhỏ mà tôi vừa nói ở trên chỉ là một trong hàng ngàn thí dụ. Tôi sẽ kể thêm vài thí dụ khác về những cán bộ gái và cán bộ nhí của tụi chúng.

    Gặp trường hợp vừa rồi nên chúng tôi càng phải cẩn thận hơn, nghĩa là chúng tôi đã tiến rất chậm, nói đúng hơn là bộ chỉ huy trung đoàn đã phải nằm tại chỗ dừng quân đầu tiên này mất 4, 5 ngày để cho lục soát lại con đường và nhất là để chờ lệnh mới của sư đoàn. Trong thời gian này tôi và Trung Uý Y Sĩ Luân của trung đoàn thường hay theo toán nhà bếp của trung đoàn ra chợ Bình Dương chơi. Nhưng rồi thì chúng tôi cũng được lệnh tiếp tục tiến. Tới ngã tư Paris Tân Quy rồi, chúng tôi bắt đầu dùng xe ủi đất của Công Binh để đắp tạm một cái thành cho bộ chỉ huy của trung đoàn.

    Khi cái tường thành được đắp xong, toán Công Binh được hộ tống đưa trở ra Saigon và chúng tôi phải bắt đầu tu sửa lại những căn hầm cá nhân mà công binh đã làm sẵn cho chúng tôi trên tường thành, như là phải lấy tôn che lại rồi đặt những bao cát lên trên để làm mái cho căn hầm.

    Ở đây chừng một tháng và khi mọi việc coi như đã ổn định thì tôi được lệnh sang làm tiền sát cho Tiểu Đoàn 2/8 với Đại Úy Nguyễn Văn Của để sửa soạn trở lại làng Tân Thạnh Đông.

    Chúng tôi chưa đi thì có phái đoàn của mấy cô trong ban Xã Hội từ sư đoàn xuống thăm. Đại Uý Của nói với Trung Tá Chuyên là: "Lính của tôi không cần xoa dầu Cù Là, nếu họ muốn tới thăm và ủy lạo chúng tôi thì xin phép trung tá cho họ đi theo chúng tôi làm một cuộc hành quân nhỏ ra đầu làng này".

    Vì thấy tình hình dạo này đã được yên nên Trung Tá Chuyên chấp thuận lời đề nghị này ngay và mấy cô Nữ Trợ Tá Xã Hội đã đi hành quân với chúng tôi, dĩ nhiên là mấy cô này đi cùng với chúng tôi trong Bộ Chỉ Huy của tiểu đoàn.

    Mấy hôm trước thì yên tịnh thật nhưng hôm nay thì hơi khác, vừa ra đến con đường mòn dẫn tới Củ Chi thì đã có tiếng "tắc cù", tiếng súng của Việt Cộng. Đối với lính chúng tôi thì quen rồi, biết rằng đó chỉ là mấy tên du kích muốn bắn sẻ thôi, nhưng chúng tôi vẫn phải nằm xuống, nòng súng hướng về phía địch. Riêng tôi thì tôi vẫn phải sửa soạn xin tác xạ vào một vài điểm, nếu thực sự có đụng lớn. Chỉ mấy cô Nữ Trợ Tá Xã Hội là hết hồn thôi! Họ bò sát vào chúng tôi, mặt cô nào cô nấy tái xanh, tái xám…

    Cái cô bám sát lấy tôi chỉ muốn tôi lên tiếng với cô cho cô ta đỡ sợ, nhưng tôi còn phải tiếp xúc với trung đội Pháo của tôi ở nhà chứ. Anh chàng Bộ Binh nằm bên cạnh lúc đó nói nhỏ với tôi rằng: "Thiếu Uý có muốn không? Em sẽ móc cô này cho thiếu úy". Lúc đó tôi đã trả lời anh ta rằng: "Mấy cô này thì dù có thật là đẹp đi nữa thì tôi cũng không dám sờ tới huống chi…".

    Cũng may cho các cô là chỉ sau vài tiếng súng lẻ tẻ đó tụi Việt Cộng nằm im luôn. Và chúng tôi đã làm chủ tình hình lại ngay, do đó chỉ độ một giờ sau là chúng tôi đã đưa mấy cô trợ tá này trở lại trung đoàn để họ trở về sư đoàn với một kỷ niệm khó quên.

    Thường thì mấy cô chỉ đến thăm binh sĩ ở các nhà thương, nhiều lắm là tới tặng hoa, tặng qùa cho binh sĩ tại hậu cứ thôi, chứ chưa bao giờ phải ra mặt trận như lần này hết.

    Về sau chúng tôi có thắc mắc với nhau là nếu trận hôm đó có điều gì xẩy ra cho mấy cô Trợ Tá Xã Hội thì không biết Trung Tá Chuyên và nhất là Đại Uý Của sẽ phải trả lời với sư đoàn ra sao đây!

    Sau trận đó, tôi cùng Tiểu Đoàn 2/8 đi về làng Tân Thạnh Đông. Làng này bây giờ đã có sinh hoạt khá hơn xưa nhiều, lại còn có một cô gái rất đẹp đang làm chủ một quán nước ngoài chợ. Binh lính của Tiểu Đoàn thường hay vào ngồi ăn uống ở quán của cô ta. Sĩ quan chúng tôi cũng có ra ăn uống ở đó vài lần. Tôi phải công nhận rằng cô ta đẹp thật, cô ta có cái đẹp thùy mị chứ không sắc sảo, ai thấy cũng phải thương, nhưng hồng nhan bạc mệnh. Sau một cuộc hành quân trở về, chúng tôi nghe tin là cô đã tự tử chết, lý do là thất tình chi đó.

    Ở đây Đại Uý Của phải thường xuyên mở những cuộc hành quân để lung kiếm Việt Cộng trong vùng. Có một lần, khi tiểu đoàn chúng tôi ra đến đầu làng, cho tới lúc đó thì chúng tôi vẫn chưa thấy gì và vì vậy, mấy người trong Bộ Chỉ Huy của tiểu đoàn ỷ y đứng dăng hàng ngang trên một bờ ruộng thì hai phát "tắc cù" ở một gốc tre nào đó bắn ra nhắm và viên đại úy cố vấn Mỹ, vì ông này cao to hơn cả, làm đứt cái quai nón sắt của ông ta. Lúc này quân ta mới ào lên lục soát mấy gốc tre trước mặt và sau đó lôi ra hai chàng trai, trông đặc sệt bần cố nông. Lúc đưa hai tên này tới trước Đại Uý Của, chúng vẫn làm ra vẻ ngây thơ sợ sệt, mồm luôn luôn nói rằng: "Chúng em đang làm ruộng thấy các ông tới nên sợ quá phải chui vào bụi tre đó để nấp chứ chúng em có biết gì đâu".

    - Nói thật đi, nếu không thì đừng trách tụi tao ác.

    - Thật mà, chúng em đâu có biết gì mà khai. Có bắn chết chúng em cũng đành chịu chứ thực sự là không biết gì để khai cả!

    - À, chúng mày thách tao hả?

    - Không, chúng em nói thật mà!

    - Được, thế thì…Thượng sĩ …

    Đại Uý vẫy gọi ông thượng sĩ của tiểu đoàn. Khi thượng sĩ đến, Đại Uý Của chỉ ngay một tên và:

    - Tao hỏi lần chót, mày có khai không?

    - Dạ xin đại úy xét cho, em không có gì để khai cả.

    - Thế thì thượng sĩ đem bắn bỏ thằng này cho tôi!

    Thượng sĩ bèn đem tên này ra đó một quãng vắng và bắn chết tên đó ngay.

    Tên kia thấy thế sợ quá nên mới vội vàng nói:

    - Đại úy đừng bắn em, để em khai.

    - Ừ được, chỉ cho chúng tao xem chúng mày dấu súng chỗ nào đi.

    Thế là tên còn lại này dẫn chúng tôi đến một gốc tre, không phải là cái gốc tre mà chúng đã nấp, chỉ cho chúng tôi cái miệng hầm được ngụy trang thật khéo rồi cùng với một tên lính của ta chui xuống lấy lên 2 khẩu súng A.K. mà nòng súng hãy còn ám khói. Một trong hai khẩu AK này suýt nữa đã làm chết ông đại úy cố vấn Mỹ của chúng tôi. Tên này còn chỉ cho chúng tôi tìm ra và phá hủy vài căn hầm cùng tịch thu một số súng A.K., lựu đạn và thuốc men nữa.

    Đến đây, tôi lại cần phải mở một cái ngoặc kép để có vài ý kiến với mấy anh nhà báo phương Tây ngu đần, ngu đần thực sự hay ngu đần giả đò vì đã nhận đút lót, qùa cáp, tiền bạc, kể cả gái của tụi Việt Cộng. Mấy anh nhà báo này chỉ biết đem áp dụng những giáo điều của thời bình vào thời loạn, nhất là lại vào cái cuộc chiến tranh Việt Nam với tụi man rợ Hồ Chí Minh và các đàn em của tên đồ tể này. Nếu mấy anh nhà báo khốn kiếp kể trên mà thấy vụ này thì chắc chắn là chúng đã ầm ĩ, rêu rao, xuyên tạc vụ này bằng cách cắt xén sự thật, chỉ nói đến việc bắn chết một tên nông dân chất phác mà lờ đi chuyện tên kia sợ chết, đã giúp quân ta phá hủy được bao nhiêu là cạm bẫy, tịch thu bao nhiêu là súng đạn của bên địch.

    Chuyện ông Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết tên Việt Cộng hồi Mậu Thân cũng vậy. Anh nhà báo kia chỉ trưng ra tấm hình ông Tướng Loan chĩa súng vào đầu tên tù binh chứ không đưa ra cái động cơ khiến cho Tướng Loan phải có hành động ấy.

    Một con người có lương tâm thì không bao giờ đi tường thuật một vụ gì mà lại không nói đầy đủ mọi diễn tiến của vụ đó, không kể là còn phải giữ công bình bằng cách không được đưa ra bất cứ lời nói nào có thể có ảnh hưởng tới sự xét đoán của đa số quần chúng.

    Tìm ra được một nhà báo có lương tâm thời này thì thật là không dễ. Tôi nêu ra vấn đề này ở đây và nhất là vào thời này thực ra chỉ cốt khiến cho mọi người nên tâm niệm rằng đừng bao giờ tin tưởng ở mấy anh nhà báo dù anh chàng này có nổi tiếng là lương thiện hoặc có huy chương về báo chí cao quý đến đâu cũng vậy. Khi đọc bất cứ một tin gì thì cũng nên hỏi là tin này đã đầy đủ chưa, có bị cắt xén đi phần nào không. Đó chính là cái ý nông cạn của tôi khi tôi kể lại câu chuyện không mấy đẹp ở trên trong cuộc đời lính chiến của tôi.

    2- Giải tỏa Phú Hòa Đông.

    Ở với Tiểu Đoàn 1/8 được khoảng một tháng gì đó thì tôi được gọi trở về pháo đội, lúc đó vẫn còn ở Bình Dương. Về nghỉ tại chỗ được vài ngày thì tôi lại khăn gói lên đường, lần này thì tôi đi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Chuyên, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 8 Bộ Binh. Kỳ hành quân này trung đoàn lên đường với 2 Tiểu Đoàn 1/8 và 2/8.

    Chúng tôi xuống thuyền từ Bình Dương để đi lên Phú Hòa Đông. Lên tới qúa Phú Hòa Đông, đoàn thuyền mới tắp vào bờ cho chúng tôi xuống. Dĩ nhiên là bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn phải đứng chờ ở bến sông vì vừa phải chờ cho tất cả xuống hết, vừa phải chờ đại đội tiền phong lên mở đường và thiết lập an ninh trước đã . Khoảng 1 giờ sau chúng tôi, nghĩa là toán Liên Lạc Pháo Binh cùng với bộ chỉ huy của Trung Đoàn mới lên. Trèo lên trên rồi, tôi mới thấy là nơi này trước kia hẳn là trù phú lắm, tôi nói trước kia vì… tôi chỉ thấy bây giờ ở đây những ngôi nhà gạch đổ nát
    3- Một trung sĩ mới ra trường bị chết vì bị pháo kích.

    Trong khi còn đang chờ đợi các toán binh sĩ của trung đoàn lên, mấy thầy trò chúng tôi ngồi nghỉ tạm tại một cái nền nhà, cạnh nơi Trung Tá Chuyên và bộ chỉ huy của ông nghỉ và khi tôi vừa báo cáo xong về Pháo Đội của tôi thì môt anh chàng trung sĩ còn trẻ măng và rất xinh trai của trung đoàn từ đâu đến chào tôi rồi nói: “Thiếu úy, cho em lĩnh lương”. Tôi còn đang ngơ ngác thì một tên lính khác của trung đoàn đến vỗ vai anh trung sĩ kia và nói: "Đây là thiếu úy Pháo Binh, không phải thiếu úy của mình đâu!”.

    Lúc đó tôi mới hiểu rằng đây là một trung sĩ mới ra trường, mới được đưa về trung đoàn. Thấy anh ta có vẻ lúng túng, ngượng ngùng, tôi bèn nói là: “Không sao, anh cứ ở đây đi, lát nữa thế nào thiếu úy của anh cũng tới đây mà, đừng lo”. Nhưng anh trung sĩ này mặt đỏ lên, lí nhí vài câu gì đó rồi bỏ đi. Anh ta dời xa tôi chừng 5, 7 phút gì đó thì chúng tôi nghe thấy mấy tiếng nổ rất lớn của súng cối Việt Cộng bắn vào chúng tôi. Mọi người lúc đó mới vội vã tìm chỗ nấp, tôi thì gọi ngay về Pháo Đội xin tác xạ vào mấy chỗ đã dự trù, dĩ nhiên đó chỉ là bắn hú họa chứ có biết tụi Việt Cộng ở chỗ nào đâu. Chỉ 2 phút sau là đạn pháo của tôi tới và tụi Việt Cộng ngừng bắn luôn.

    Tôi phải nói ở đây là mấy ông Bộ Binh rất thích có tôi là Sĩ Quan Tiền Sát hoặc Sĩ Quan Liên Lạc vì mỗi khi có chuyện là đạn pháo của tôi bao giờ cũng tới rất nhanh và có thể nói là khá chính xác. Từ khi nghe đến những câu chuyện về Trung Tá Nguyễn Đức Thắng, lúc này chắc ông ta đã là đại tá hay thiếu tướng rồi, nghe đồn là ông ta bắn vừa nhanh vừa chính xác, tôi đã nghĩ ông ta cũng là dân Toán như tôi, ông ta làm được như vậy thì tại sao mình lại không nhỉ!

    Thế là từ đó, trong mọi cuộc hành quân, tôi luôn luôn theo sát viên thiếu úy Ban 3 của Bộ Chỉ Huy để biết rõ vị trí của quân ta đang tiến tới đâu để khỏi bắn lầm. Ngoài ra tôi còn biết là ở nhà, nếu cuộc hành quân đã bắt đầu từ lâu mà không thấy ai gọi về xin tác xạ thì mọi người sẽ cho là vô sự và lính tráng ở nhà sẽ dời xa khẩu súng, về phòng nghỉ và có khi còn ra cả chợ chơi, nên sau đó ở ngoài mặt trận có gọi về thì không đủ người để thỏa mãn yêu cầu tác xạ ngay được. Đi đã lâu mà không có gọi về xin bắn thì súng vẫn để nguyên hướng lúc đầu, nay muốn bắn thì phải quay súng về hướng mới.

    Quay súng thì dễ thôi, 2 tên lính là đủ xoay khẩu đại bác 105 ly rồi nhưng xoay súng xong còn phải gióng hướng lại mà gióng hướng súng thì hơi lâu. Do đó tôi đã nói với Trung Đội Trưởng của tôi là: “Trong khi tôi đi với Bộ Binh thì bạn phải cho lính ở nhà, bạn phải theo dõi bước tiến của Bộ Binh mà tôi sẽ báo về đều dều để quay hướng súng theo chúng tôi khi cần. Nếu tôi xin bắn mà ở nhà bắn chậm thì tôi sẽ báo cáo thẳng với Phòng Hành Quân Sư Đoàn đấy. Bạn nên biết rằng đạn pháo của mình vừa làm cho địch quân sợ, vừa làm cho quân bạn lên tinh thần đấy.”

    Từ đó, khi ở ngoài mặt trận tôi luôn luôn đều đặn báo về trung đội súng vị trí mới nhất của tôi để họ hướng súng theo, cho nên tôi mà xin bắn là được thỏa mãn trong vài phút thôi. Trên nguyên tắc thì khi muốn xin bắn, tôi phải hỏi ý kiến của tiểu đoàn trưởng Bộ Binh, ông ta có đồng ý thì tôi mới được bắn. Lúc còn ở Tân Thạnh Đông với Đại Uý Của, lần đầu tiên chạm địch, đáng lẽ tôi phải xin phép đại úy trước rồi mới xin bắn, nhưng tôi thấy ông ta còn đang bận điều động các đại đội của ông nên tôi cho bắn luôn. Khi nghe tiếng đạn pháo của tôi nổ, Đại Úy Của dù đang bận cũng vội vàng quay lại hỏi:

    - Ai bắn thế?

    - Tôi bắn đó đại úy, đại úy đang bận nên tôi tự ý bắn đó, tôi đã phối hợp với thiếu úy Ban 3 rồi mới dám bắn chứ. Để lần sau tôi sẽ chờ lệnh của đại úy vậy!

    -Thôi khỏi, lần sau thiếu úy cứ việc bắn nếu đã phối hợp với Thiếu Úy…. Ban 3, khỏi cần phải hỏi tôi nữa.

    Trong khi đó tôi lại nghe thấy tiếng reo hò vui vẻ của anh em Bộ Binh khi họ nghe thấy tiếng nổ của đạn pháo bên mình. Thế là từ đó với Trung Đoàn 8 này tôi đều tự động bắn khi tôi thấy cần phải bắn, chẳng phải xin ý kiến ai cả.

    Trở lại câu chuyện chúng tôi vừa bị Việt Cộng pháo kích. Chỗ chúng tôi đứng thì không sao nhưng gần đó thì đã có người bị trúng đạn, rồi tôi lại nghe nói là anh trung sĩ mới ra trường vừa mới gặp tôi lúc nãy đã bị trúng đạn và chết rồi! Nếu anh ta ở lại với tôi, hoặc nếu anh ta đến gặp tôi chậm một chút thì đã không sao. Đây không phải là lần đầu tiên tôi thấy quân bạn bị chết, tôi đã nhiều lần gặp cảnh chết chóc này nhưng lần này là lần làm cho tôi xúc động nhất.

    Anh chàng trung sĩ xinh trai này hãy còn trẻ quá, tôi mong là anh ta chưa có vợ con gì. Mới ra trường đến nỗi chưa quen mặt ông Thiếu Úy của mình và ngay cả tiền lương trung sĩ đầu tiên cũng còn chưa được lãnh mà đã sớm giã từ vũ khí rồi! Lúc đó tôi có hỏi tên của anh ta, nhưng nay thì vì đã qúa lâu nên đã không thể nhớ gì được nữa.

    Sau đó, tôi cho tiếp tục bắn vào những nơi đã nghi ngờ khiến cho tụi Việt Cộng phải câm luôn để chúng tôi vào được Phú Hòa Đông ngay chiều hôm đó.

    Vào đây rồi chúng tôi mới thấy tụi Việt Cộng đã rêu rao câu:

    Phú Hòa Đông dễ tới, khó về.
    Khi đi lành lặn, khi về cụt chân.


    Chúng dám đặt ra câu vè đó để dọa mọi người dân cũng như quân đội của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Vì xã này gần Chiến Khu Đ nên bọn chúng coi như là đất của bọn Việt Cộng chúng. Trước kia thì có thể là như thế nhưng có mặt chúng tôi ở đây rôi thì tình hình sẽ phải thay đổi chứ!

    Ngay ngày hôm sau, chúng tôi đã mở những cuộc hành quân lục soát phía ngoài xã này, theo kiểu “tầm ăn dâu” nghĩa là trong mấy ngày đầu, Trung Tá Chuyên chỉ cho một trung đội ra lục soát ngoài vòng rào khoảng 500 thước thôi. trung tá cẩn thận như vậy là phải vì cái xã này đã ở ngoài tầm kiểm soát của chúng ta từ hơn một năm rồi còn gì. Trong mấy ngày đầu đó, Trung Tá Chuyên cũng ra ngoài cùng với một trung đội và dĩ nhiên là tôi cũng phải theo.

    Về sau, khi phạm vi chúng tôi kiểm soát được đã được nới rộng thì trong khi 2 tiểu đoàn của trung đoàn chia nhau đi lục soát chung quanh. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn chúng tôi ở lại trong xã để lo thiết lập hệ thống hành chánh ở đây. Chúng tôi cho lập lại trường học, dĩ nhiên chỉ là tiểu học thôi, với giáo viên được đưa từ Bình Dương lên.

    Công việc được tiến hành đều đặn như vậy được 6 tháng thì Pháo Đội B của tôi cho Thiếu Uý Tuyến, người đã cùng ở Tây Ninh với tôi khi trước lên thay. Tôi thì được trực thăng chở về lại Bình Dương ngay ngày hôm đó sau khi đã bàn giao mấy phóng đồ Pháo của mấy hỏa tập và cho anh Tuyến biết mấy điều quan trọng về tình hình nơi đây.

    Thế là sau 6 tháng nằm trong rừng, nay tôi mới được trở lại với đời sống văn minh. Gặp lại Đại Úy My, tôi liền hỏi ông ta là có thể cho tôi nghỉ phép mấy ngày được không. Ông ta trả lời là:

    - Sư đoàn đang hành quân mà, đi phép thế nào được!

    À mà được, tôi có quen một bác sĩ trong sư đoàn, để tôi nói ông ta cho anh cái giấy về Tổng Y Viện Cộng Hòa khám phổi thì chắc được đấy!

    Thế rồi, sáng ngày thứ Hai tuần sau, Đại Úy My đích thân chở tôi vào Phú Lợi, đi về phía Quân Y của sư đoàn để gặp vị bác sĩ quen của đại úy, nhưng mới qua cổng của sư đoàn được một lát thì chúng tôi gặp xe của Trung Tá Chuyên, thấy tôi, trung tá dơ tay vẫy và nói “Thiếu úy chờ tôi một chút nhé!”. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng chắc ông trung tá này lại cho mình đi ăn sáng đây chứ gì. Sau đó tôi không còn nhớ là chúng tôi có gặp bác sĩ và có được cái giấy phép về Cộng Hòa hay không vì khi về tới pháo đội thì đã thấy Thiếu Tá Thiệu, Pháo Binh Sư Đoàn đã đang chờ Đại Uý My ở đầu máy. Đại Uý My ra nói chuyện với Thiếu Tá Thiệu rồi thì lúc đó tôi mới biết rằng Trung Tá Chuyên đã ra xin với Pháo Binh sư đoàn là cho tôi trở lại với ông ta một thời gian nữa.

    Đại Uý My cho tôi gặp Trung Tá Chuyên ở đầu máy, tôi có nói là: "Tôi đã ở trong đó 6 tháng rồi bây giờ trung tá phải cho tôi nghỉ vài ngày đã chứ! Tôi đang tính về thăm nhà và tiện thể thăm mấy người bạn học cũ của tôi đây".

    Nghe thế, Trung Tá Chuyên đã phải xuống giọng nói với tôi: “Thiếu úy chịu khó giúp tôi một ít nữa đi. Tôi cũng muốn để thiếu úy nghỉ lắm chứ, nhưng chúng tôi không dám dùng cái ông thiếu úy mới tới thay thế thiếu úy nữa đâu, Thiếu úy biết không, hôm qua tôi bảo ông ấy cho bắn vài tràng quấy rối thì ông ấy cho bắn ngay cả vào cái trường học của xã, làm sập mất mấy phòng học. May mà hôm qua là Chủ Nhật đấy chứ nếu không thì nguy to rồi. Tôi chỉ còn cách là nhờ thiếu úy trở lại giúp chúng tôi một thời gian nữa thôi”.

    Ông ta còn dụ tôi: “Anh em trong đó tất cả đều mong chờ thiếu úy trở lại đó”.

    Kết quả là tôi lại phải khăn gói trở lại Phú Hòa Đông chỉ có khác một chút là lần này tôi trở lại đó với mấy tên lính khác. Tôi thì phải trở lại đã đành, mấy tên lính thì phải cho họ được thay thế chứ!

    Lần này thì tôi không nhớ là đã phải ở thêm trong đó bao lâu nữa, hình như là tôi còn phải ở đó cho tới khi trung đoàn trao lại cái Xã Phú Hòa Đông này cho một đơn vị nào đó. Rồi cuối cùng thì tôi cũng được trở lại pháo đội để được lãnh một cái phép ba ngày!

    Ba ngày phép trong tình trạng đó thực là hơi không đáng gì, nhưng 3 ngày ở Sài Gòn một cách hợp pháp như vậy thì rất đáng giá vì rất hiếm. Thường thường thì không bao giờ tôi về đây với một tờ giấy phép trong tay cả. Tôi luôn luôn tính toán để có thể có mặt trong mọi cuộc hành quân mà cần có tôi thôi. Nghĩa là tôi chỉ “nhẩy dù” sau khi đã vừa dự một cuộc hành quân nào đó. Nếu có cuộc hành quân tiếp thì chắc chắn là sẽ đến lượt một người khác. Mấy chuyên viên đề lô chúng tôi đều được pháo đội, trung đội luân phiên đưa vào các cuộc hành quân. Pháo đội không bao giờ bị kẹt vì sự vắng mặt của tôi hết.

    Chiều hôm đó, cầm được cái giấy phép trong tay rồi, tôi vội vã ra xe đò ngay không cần phải đợi đến ngày mai, mà cũng chẳng cần thay thường phục làm gì nữa. Hôm đó tôi về tới Sài Gòn hơi muộn, 7, 8 giờ tối gì đó. Với bộ đồ trận trên người, tôi vào Sài Gòn thật chẳng giống ai! Rồi vì về muộn như vậy, tôi chưa muốn về nhà ngay nên sau khi vào Thành Phố rồi, tôi bèn thả bộ trên đường Bonard. Lúc đó vào khoảng 9 hay 10 giờ tối và trời lại trở gió nên đường khá vắng, mấy tiệm cà phê bên đường đã sửa soạn đóng cửa. Bên vỉa hè và trên con đường từ Nhà Hát Lớn tới Chợ Bến Thành hình như lạc lõng chỉ một mình tôi. Đúng là đường thênh thang, gió lộng một mình ta! Qua một tiệm nước nào đó, tôi nghe vọng ra lời ca của một bài hát mà tôi không biết tên, tôi chỉ còn nhớ là còn nghe được câu "look for a star". Điệu nhạc thật buồn và hình như cũng muốn quấn quýt theo tôi, khiến lòng tôi thấy nao nao tưởng mình là một người nào khác, không nhớ rằng mình chỉ là một anh chàng sĩ quan với một cấp bậc nhỏ nhít qúa ư khiêm nhường. Nếu tôi là một thi sĩ thì biết bao nhiêu là vần thơ đã kịp ra đời, nhưng dù rất thích thơ tôi lại chẳng bao giờ biết làm thơ kể cả làm thơ Con Cóc!

    Ba ngày phép ngắn ngủi qua đi rất mau, lần này tôi phải trở về pháo đội ngay, không dám nán lại thêm một ngày nào nữa vì tôi biết là cuộc hành quân còn đang tiếp diễn mà Pháo Đội tôi lại chẳng còn ai để có thể được tung vào chiến trường làm Sĩ Quan Tiền Sát hay Sĩ Quan Liên Lạc được nữa!

    Tới pháo đội, tôi lại được chỉ định làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 2/8, thế là tôi lại có dịp đi với Đại Úy Của để trở lại Tân Thạnh Đông. Về đây được ít hôm là chúng tôi lại cùng đi trở lên Phú Hoà Đông, ngang qua Paris Tân Quy. Lần đó tôi còn nhớ rằng trong đặc lệnh Truyền Tin thì tôi là có danh hiệu là Cúc Hương 14, trong khi đó thì Thiếu Uý Nguyễn đình Kỳ, một thiếu úy khóa 15, đi theo một tiểu đoàn khác với danh hiệu là Cúc Hương 15 và cùng lên Phú Hòa Đông, nhưng Tiểu Đoàn này chỉ đi bên cạnh sườn để coi như sẵn sàng yểm trợ cánh quân chính là Tiểu Đoàn 2/8 chúng tôi thôi. Chúng tôi đã lên và tiếp xúc được với Phú hòa Đông một cách an toàn, nghĩa là không có gì, ngay cả đến một cuộc đụng độ nhỏ nào hết.

    Sau đó chúng tôi trở về lại nơi xuất phát bằng con đường cũ vừa mới đi qua trước đây vài ngày nhưng nay bỏ trống. Khi trở về ngang Paris Tân Quy, tiểu đoàn tạm dừng bước để ăn cơm trưa. 3 thầy trò Pháo Binh chúng tôi ngồi nghỉ trong một căn nhà bên vệ đường, chúng tôi thấy trong nhà này có một bà già, một cô hình như là con dâu bà già kia cùng hai đứa trẻ cỡ 10, 12 tuổi. Trong khi bà già ngồi nói chuyện tầm phào với chúng tôi thì mấy đứa nhỏ và bà mẹ chúng kéo nhau chui xuống dưới 1 cái hầm ở ngay trong nhà.

    Báo cáo xong với hậu cứ là chúng tôi lấy đồ ăn ra tính ăn. Tôi lấy cái túi đeo lưng xuống và lôi ra một cái đùi gà luộc cùng cái cà mèn cơm, tôi và tên mang máy ngồi quay ra đường, chỉ có ông hạ sĩ già người Nùng của tôi là quay ngược lại, định mở túi đeo lưng của ông ta ra, thì ông ta chợt la lên:

    - Thiếu Uý à, ai kia mà đông thế!

    Linh tính chợt cho tôi biết rằng đó là Việt Cộng nên tôi nói ngay không suy nghĩ gì hết: “Việt Cộng đó, bắn đi” và súng của viên hạ sĩ trong toán Pháo Binh của tôi đã lên tiếng trước nhất.

    Lúc đó Bộ Binh mới hay và quay ra bắn tụi Việt Cộng khi chúng đang tính trèo qua bờ đê “Ấp Chiến Lược cũ ” để đánh úp chúng tôi.

    Khi tiếng súng hai bên nổ vang lên rồi thì tôi phải bỏ cái túi đeo lưng của tôi nằm tại chỗ để tôi cùng với tên lính mang máy kéo cái máy PRC 9 ra khỏi căn nhà nọ để kêu về trung đội xin tác xạ. Tôi đọc to tên mấy hỏa tập để tên kia gọi về. Tôi thấy hắn gào lên Cúc Hương, đây Cúc Hương 14 xin tác xạ, trả lời. Nhưng gào to đến đâu thì cũng vẫn không thấy ai trả lời. Tôi phải dành lấy máy để gọi thì chỉ nghe thấy tiếng văng vẳng của viên hạ sĩ Truyền Tin ở nhà. Tôi cũng phải hét to vào máy để ở nhà nghe được. Trong khi đó tôi lại nghe văng vẳng được lời Cúc Hương 14 im đi, để còn bắn cho Cúc Hương 15 chứ.

    Lúc đó tôi vừa tức vừa sợ. Tức vì mình đang bị trực tiếp đụng độ với Việt Cộng còn tụi Cúc Hương 15 ở ngoài đâu có bị gì, mà nếu có thì cũng bị nhẹ thôi, cái tên Kỳ này dành đòi bắn cho hắn, không cho ai len vào nữa, tôi còn sợ vì mình không xin ai yểm trợ được thì làm sao đẩy lui tụi Việt Cộng đây!

    Chỉ một lúc sau khi ở chỗ tôi tình hình đã hơi ổn, Trung Sĩ Ký ở gần đó đã lật gọng một số Việt Cộng khi chúng vừa ló đầu lên khỏi bờ đê. Lúc đó tôi mới lôi cái máy lại gần thì mới hay là vì quýnh quáng nên khi lôi cái máy ra theo, chúng tôi đã làm lệch cái tần số và vì vậy trung đội ở nhà đã không nghe được tiếng của tôi mà chỉ nghe được lời xin bắn của Thiếu Úy Kỳ thôi.

    Phải nói là số tôi thật may, nếu ông hạ sĩ của tôi mà cũng quay ra đường như tôi thì chúng tôi đã là mồi ngon cho mấy tên Việt Cộng kia rồi, có thể là chúng đã nhận được mật báo nào đó, biết tôi là sĩ quan, nhất lại là sĩ quan Pháo Binh nữa, nên chúng muốn diệt tôi trước. Sau này khi đã làm chủ tình hình chúng tôi có cho người xuống tính lôi mấy bà cháu nhà kia lên để hỏi thì họ đã biến đi đâu mất từ bao giờ rồi!

    Phải nói là tụi Việt Cộng đã không thể tiến về toán Pháo Binh chúng tôi được cũng là nhờ có Trung Sĩ Ký. Cứ tên nào nhô đầu lên là bị ông ta lúc đó đang nấp sau một mô đất, cho một phát vào đầu ngay. Nhưng sau khi hạ được vài tên, trung sĩ khoái quá nên đã quay lại kêu mấy người lính của ông: "Anh em ơi, quay lại xem tao hạ chúng nó này". Vì quay đi gọi mọi người nên đã không thấy được một tên Việt Cộng khác ló đầu lên và bắn một phát AK vào đầu viên trung sĩ của chúng ta.

    Thế là Trung Sĩ Ký đã ra đi, trong lòng rất vui vì đã cho mọi người thấy cái tài của mình!

    Lúc đó thì tôi đã điều chỉnh xong cái máy truyền tin của tôi rồi nên đạn pháo của tôi lại có hiệu qủa khiến chúng phải vội vàng rút, không kịp dẫn theo một trung uý của Tiểu Đoàn 2/8 (tôi đã quên mất tên trung uý này). Về sau trung uý đó nói lại rằng:

    - Tôi đã bị bọn chúng ào tới không kịp trở tay nhưng còn kịp dứt vội cặp lon ra vứt đi, quên mất không kịp vứt nốt khẩu Colt bên hông. Tụi nó có hỏi tôi

    - À, mày là sĩ quan phải không?

    - Không phải, tôi chỉ là binh nhì, tân binh quân dịch thôi!

    - Binh nhì mà có súng ngắn à!

    Chúng vừa cười vừa nói như vậy.

    Tôi đã phải nói thêm rằng:

    - Tôi mang máy truyền tin nên được phát cho khẩu súng ngắn đó.

    Chưa chắc chúng đã tin lời nói của tôi, nhưng vì chúng bị phản công dữ dội quá, mà đạn pháo của ta cũng tới tấp rót vào vị trí của chúng nên chúng đã phải rút lui, không kịp dẫn tôi theo. Nếu tôi không vứt đi kịp lúc cái lon trung uý của mình thì thế nào trước khi rút chúng cũng đã bắn bỏ tôi rồi, thật là hú vía!

    Đến đây mọi người mới thấy cái lệnh của ông Tướng Trần Thanh Phong thật là tai hại, đúng là đầu óc của một người chỉ ngồi ở văn phòng, chỉ biết ra lệnh mà không hiểu rõ cái lợi hại của cái lệnh mình ban ra. Nếu trung úy nọ cắm đầu làm theo cái lệnh nọ là thêu lon vào áo thì anh ta đã chết mất tiêu rồi! Chết mất một sĩ quan là mất đi một cấp chỉ huy mà đào tạo ra một cấp chỉ huy thì tốn rất nhiều tiền của. Một trung uý lại là một vị chỉ huy đã có một số kinh nghiệm dù chỉ là ít ỏi, thì cũng không phải là dễ dàng mà có được. Thường thường đây chính là những kinh nghiệm xương máu, mấy vị Tướng đi lính từ thời Pháp Thuộc, có thể là chưa ra trận bao giờ thì làm sao hiểu được.

    Không bao giờ ở trong thành phố mà tôi ra đường với bộ quân phục trên người mà không có cái lon thiếu úy. Dù đây chỉ là cái lon thấp nhất của một sĩ quan.Tôi luôn luôn giữ gìn tác phong của một quân nhân, nhưng tôi cũng không thêu lon vào áo vì không cần. Không thêu lon vào áo là nhát ư? Không phải vậy đâu!

    Trong bất cứ cuộc hành quân nào thì “toán Tiền Sát chúng tôi” cũng đi với Bộ Chỉ Huy, mà Bộ Chỉ Huy của … cho dù là đơn vị nhỏ nhất mà tôi phải theo là Đại Đội đi chăng nữa thì cũng không thể che dấu cái cương vị chỉ huy của mình được. Thật thế, đối với lính của mình thì dĩ nhiên họ biết ai là sĩ quan của họ rồi, đối với Việt Cộng thì các cần antennes của mấy cái máy truyền tin cũng cho chúng biết đâu là Bộ Chỉ Huy rồi. Bắn hạ được bất cứ ai trong toán này mà chả tốt, sĩ quan cũng được mà lính mang máy truyền tin cũng tốt, đâu cần phải tìm thấy sĩ quan mới bắn hạ.

    Như vậy, không mang áo có thêu lon ra trận không phải là nhát mà là cần thiết trong vài trường hợp như trường hợp của vị trung uý kia chẳng hạn.

    Phần lớn các quan từ trung tá trở lên đều nếu không là đi lính từ khố xanh, khố đỏ cũ thì cũng là dân tình nguyện vào trường Sĩ Quan Đà Lạt mấy khóa đầu. Khi xưa, lúc còn đánh nhau với Việt Cộng thì họ chỉ là thuộc cấp của mấy sĩ quan người Pháp, nếu họ có được tham dự một vài cuộc hành quân thì mọi quyết định trên chiến trường lại đều do các quan lớn Pháp đưa ra và họ chỉ biết cắm đầu tuân lệnh. Mà họ cũng chẳng dự được bao nhiêu trận thì Hiệp Định Genève đã ra đời, sau đó vì sống lâu lên lão làng nên bây giờ họ trở thành Tướng, Tá cả.

    Với những quá trình như vậy thì họ còn có thể có những quyết định gì gọi là khôn ngoan được. Nhưng thôi, nói nhiều về họ cũng chẳng ích lợi gì, bây giờ thì họ đang có quyền, có thế. Họ ra lệnh là mình phải theo thôi.

    Trận này chúng tôi bị thiệt hại khá nặng, bao nhiêu người bị chết, bị thương thì tôi không nhớ rõ nữa, sĩ quan thì chẳng mất một ai, nhưng chúng tôi đã mất đi Trung Sĩ Ký. Mất đi Trung Sĩ Ký là chúng tôi đã mất đi rất nhiều vì ông này không những là một hạ sĩ quan gương mẫu của Tiểu Đoàn 2/8 về tác phong mà về tài chỉ huy thì Trung Sĩ Ký cũng chẳng chịu thua bất cứ một hạ sĩ quan nào.

    Sau khi đã đẩy lui được tụi phục kích Việt Cộng rồi, chúng tôi phải lo đến vụ tản thương, khi xong suôi rồi chúng tôi mới tiếp tục đi trở về hậu cứ ở Tân Thạnh Đông. Tới đó rồi chúng tôi mới lại được biết là cô chủ quán đẹp nhất làng cũng đã vừa mới chết vì tự tử, nhưng chúng tôi cũng không còn tâm trạng nào mà nghĩ đến cô ấy nữa. Chúng tôi còn phải nghĩ đến những người bạn của mình vừa nằm xuống!

    Chương 7
    Gặp Y Sĩ Trung Úy Phạm Bá Lương

    Vài ngày sau thì Tiểu Đoàn 2/8 được lệnh rút khỏi cái xã này và trao nó lại cho một đơn vị nào đó đến thay. Toán Tiền Sát của tôi thì được gọi trở lại Pháo Đội để một lần nữa lên Bến Cát. Lúc này Pháo Đội B của chúng tôi đã có pháo đội trưởng mới, Đại Uý Khổng Năng Hạnh về thay thế Đại Uý Nguyễn Văn My. Đại Uý My đi đâu thì tôi không biết. Tất cả các thiếu úy tiền át của pháo đội đều có mặt để cùng lên Bến Cát. Thiếu Uý Kỳ cũng có mặt trong đám đó.

    Lên tới Bến Cát, pháo đội chúng tôi được chỉ định đóng ngay tại đầu Quận, bên trái con đường từ Bình Dương lên, sát ngay cạnh một bãi đất trống dùng làm bãi đáp cho Trực Thăng. Sĩ quan ch úng tôi thì được ở trong một toà nhà gạch của Pháp để lại. Tòa nhà này có 3 phòng ngủ và một phòng khách. Pháo Đội Trưởng lấy một phòng còn chúng tôi chia nhau hai phòng còn lại. Tôi còn nhớ là tôi cùng Thiếu Uý Hòa (khoá 9 hay 10 Pháo Binh Thủ Đức) nằm chung trong một căn phòng nhỏ, còn Thiếu Uý Kỳ nằm với ai ở phòng bên kia thì tôi không nhớ. Lên đây rồi là chúng tôi được lệnh yểm trợ cho Trung Đoàn 7 Bộ Binh với Trung Đoàn Trưởng là Trung Tá Nguyễn Văn Tư mà Bộ Chỉ Huy của Trung Tá nằm bên kia đường đối mặt với Pháo Đội của chúng tôi.

    Là lính chiến thì ở đâu cũng vậy, nhưng lần này thì đối với tôi có hơi vui vì Quận Trưởng ở đây bây giờ là Đại Úy Lê Nguyên Vỹ. Tuy chỉ đi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn của ông ta một lần hơn một năm về trước ở Tây Ninh khi Đại Uý Vỹ là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/9 ở Bến Kéo, tôi lại có vẻ thích cái tác phong của ông này.

    1- Gặp Y Sĩ Trung Úy Phạm Bá Lương.

    Tôi đã gặp lại được một người bạn cùng học ở Chu Văn An Hànội rồi Chu Văn An Saigon sau này. Chúng tôi học với nhau từ lớp Đệ Lục B1 trên đường Cửa Bắc Hànội nhưng nay thì anh đang làm Y Sĩ Trưởng cho Tr. Đoàn. Đó là Y Sĩ Trung Uý Phạm Bá Lương

    Lên đây, tôi đã được hân hạnh đi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Tư mấy lần nên đã thấy được là ông trung tá này là một sĩ quan người Nùng, ông ta quả thật đã là một cấp chỉ huy rất tồi. Mặc dầu là ông ta đã dự khá nhiều trận mạc nhưng lại chẳng có một chút kinh nghiệm nào! Không những thế, ông ta còn cái tật gái ghiếc nữa. Trong bất cứ cuộc hành quân nào từ 2 ngày trở lên, bao giờ ông trung tá này cũng đưa mấy cô gái theo, mấy cô này có thể là mấy cô nữ trợ tá xã hội hay là gái điếm thì tôi cũng chẳng hơi đâu mà tìm hiểu làm gì. Ngày xưa chắc ông trung tá này bị mấy quan Tây nạt nộ nhiều, nên bây giờ ngài rất thích ra oai nạt nộ những kẻ dưới quyền, như một cách trả thù cuộc đời. Xem mấy lần ông trung tá này bố trí quân phòng thủ qua đêm thì thấy cái tài của ông ta ngay!

    Có một lần trung đoàn phải hành quân lên Chơn Thành ở phía Bắc Bến Cát, khi bộ Chỉ Huy Trung Đoàn phải nằm qua đêm tại Bến Đồng Sổ, trung tá nhà ta đã cho mọi người rút vào nằm ở phía trong cái xã này. Lính gác thì nằm phía sau cái bờ đất bao quanh xã, nhìn ra ngoài để canh chừng Việt Cộng.

    Xin nói thêm là cái hàng rào cũng như hệ thống hào, hố của Ấp Chiến Lược cũ đã bị tên khốn kiếp Dương Văn Minh cho phá bỏ đi hết từ lâu. Ngày xưa, thời hai ông Nhu, Diệm thì khi đoàn quân tiến vào trong Ấp rồi thì coi như đã về tới nhà, nghĩa là không còn sợ mìn bẫy gì nữa, còn bây giờ thì Việt Cộng có thể chôn mìn ngay trong Ấp đấy!

    Ông trung tá này chắc đã tưởng rằng mình đang nằm trong một cái đồn, nên đã cho lính nằm chĩa súng ra từ phía trong, không biết rằng Việt Cộng có thể bò sát tới tận chân cái bờ đất nằm quanh xã, chờ đó để sẵn sàng tấn công mà lính canh ở phía trong không thể biết được!
    Đã bê bối, ngu dốt thì chớ, ông Trung Tá Nguyễn Văn Tư này lại còn một cái tật xấu nữa là coi thuộc cấp như tôi tớ trong nhà, hơi một chút không vừa ý là sẵn sàng mắng chửi như tát nước vào mặt người ta.

    Có một lần tôi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh ông ta, khi đã vào trong Bến Đồng Sổ rồi là tôi lùi lại phía sau ông ta khá xa và tắt máy Truyền Tin của tôi đi.

    Một lúc sau tôi gặp Thiếu Uý Kỳ, Sĩ Quan Tiền Sát cho cái Tiểu Đoàn đi cạnh Trung Tá Tư, Thiếu Uý Kỳ nói với tôi:

    - Chết ông rồi, trung tá gọi ông mãi mà ông không trả lời, ông tắt máy rồi phải không? Trung tá sẽ chửi ông cho mà coi!

    - À được, bạn đừng lo. Tôi sẽ có cách.

    Nói thế xong, tôi bảo tên mang máy lại rồi vặn cho trệch cái tần số đi một chút rồi mới tiến vội lên gặp ông trung tá. Gặp ông ta rồi, ông ta chưa hỏi thì tôi đã nói trước:

    -Trung tá gọi dùm về pháo đội của tôi hỏi xem là tại sao tôi gọi từ nẫy đến giờ nhiều lần rồi mà họ không trả lời gì cả!

    Và tôi lại cầm máy gọi về pháo đội ngay trước mặt ông ta và dĩ nhiên là vẫn không ai trả lời gì được. Thế là ông thiếu úy Ban 3 của ông ta lại lấy cái ống liên hợp của cái máy của tôi và cố thử gọi đi gọi lại vài lần nữa nhưng vẫn không có ai lên tìếng cả. Lúc đó thiếu úy này mới hỏi tới cái tần số của máy tôi. Lúc đó thiếu úy này mới nói rằng tần số của tôi là… Cái tần số trên máy của anh bị lệch đi rồi, thảo nào mà gọi không được.

    Tôi làm bộ cảm ơn anh ta và sửa lại cái tần số cho đúng rồi gọi về pháo đội. Lần này thì có tiếng trả lời rõ ràng và dĩ nhiên là Trung Tá Tư chẳng lên tiếng gì được.

    Trung đoàn trưởng đã vậy, trung đoàn này lại có một ông đại úy tiểu đoàn trưởng… cũng bê bối về gái và không biết phải nói thế nào về cái tài hành quân của ông ta đây!

    Một lần làm Sĩ Quan Tiền Sát cho ông đại úy này, trong một cuộc hành quân từ Bến Cát đi lên Chơn Thành. Chiều hôm đó sau khi đã qua Bến Đồng Sổ khá xa, tiểu đoàn phải dừng lại qua đêm tại một trảng trống chung quanh không có nhà cửa hay cây cối gì cả. Ông Đại Uý này đã ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nằm tất cả lên trên cái đường rầy xe lửa, cái đường rầy này sát với con đường cái đi lên Chơn Thành và cao hơn mặt đường chừng một mét. Đại úy nhà ta nói rằng nằm trên cao như vậy dễ kiểm soát mọi vật hơn. Tôi đã có nói lại rằng nằm trên cao thì dễ kiểm soát chung quanh thực, nhưng đồng thời cũng dễ bị làm mục tiêu cho tụi nó từ một cái hầm cái hố nào đó mà chúng đã nguỵ trang kỹ mà ta không thể trông thấy vào ban đêm được. Sao đại úy không cho chia ra làm 2 toán, mỗi toán nằm một bên đường rầy để quan sát hai phía có hơn không. Nhưng ông ta đã không nghe. Cũng may mà hôm đó không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra.

    Đại khái là phần lớn mấy sĩ quan từ cấp đại úy trở lên thời đó của cái Trung Đoàn 7 đều như thế cả, ngoại trừ Đại Uý Phúc. Người sau này đã bị tử trận trước khi được giải ngũ. Đại Úy Phúc bị động viên vào Khóa 5 Thủ Đức nên tới 1965 thì được giải ngũ theo đơn xin. Có nghe nói rằng đã có một đại úy khác tới thay thế nhưng cùng một lúc Tiểu Đoàn lại có lệnh hành quân. Vị Đại Uý mới mời Đại Uý Phúc đi cùng để chỉ bảo thêm cho ông ta và Đại Úy Phúc đã nhận lời để đi hành quân một lần ... chót và qủa thật đó là lần chót của Đại Uý Phúc vì ông đã bị tử trận trong trận này.
    Khi Pháo Đội chúng tôi mới lên Bến Cát này để đi theo Trung Đoàn 7 Bộ Binh một ít lâu thì Pháo Đội chúng tôi được lệnh sẵn sang yểm trợ cho một Đại Đội Bảo An, họ đang dùng giang thuyền để lên nằm tại Bến Súc. Sĩ Quan Tiền sát của Đại Đội này là một sĩ quancùng Khoá 14 với tôi. Đó là Thiếu Uý Quýnh. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng “đáng lẽ tôi phải được cho đi Bến Súc mới đúng, vì tôi đã đi hành quân những nơi nguy hiểm nhiều rồi nay là lúc phải cho nghỉ xả hơi một chút chứ”. Nhưng tôi cũng biết là không đời nào cái ông Đại Uý Võ Văn Sáng Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi lại làm như vậy. Chẳng bao giờ tôi chịu qùa cáp, biếu xén Bà Tiểu Đoàn Trưởng cả, thì làm sao Đại Uý Sáng ưa tôi nổi! Đại Uý Sáng này rất biết nghe lời vợ!
    Vì đi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh với Trung Tá Tư, tôi mới gặp lại Y Sĩ Trung Uý Phạm bá Lương, anh là Y Sĩ của Trung Đoàn. Lúc đó tôi mới biết là phòng của anh ta nằm ngay bên kia đường đối diện với mấy phòng của chúng tôi. Tôi có sang đó chơi với anh ta nhiều lần. Có một lần anh ta hỏi xin tôi mấy cái thùng đạn để làm tủ đựng thuốc. Tôi bảo anh ta cho lính sang chỗ tôi mà lấy. Thế là sau khi tôi về được một lát thì một cái xe cứu thương lù lù tiến vào Pháo Đội tôi. Tôi bèn ra lấy mấy cái thùng ván gỗ thông đưa cho người Y Tá mang về.
    Khi cái xe Jeep cứu thương ra về rồi, mấy ông Trung Sĩ của tôi mới phàn nàn tôi rằng: “Sao Thiếu Úy lại cho xe cứu thương vào đây thế! Như vậy sui lắm đó, không tốt đâu”. Lúc đó tôi mới thấy là mình đã qủa là vô ý và tôi đã phải nói với họ rằng: “Có tôi ở đây thì không sao đâu, số tôi tốt lắm, cứ yên chí đi!”
    Thế rồi vái tháng sau, vào một tối nào đó, Pháo Đội chúng tôi lại được lệnh sẵn sàng yểm trợ cho cuộc rút quân của Đại Đội Bảo An trước kia, từ Bến Súc trở về Bình Dương. Chúng tôi đã theo dõi cuộc hành quân ngay từ lúc đầu. Lời báo cáo đầu tiên Thiếu Uý Quýnh báo về là “Chỉ Huy Trưởng của Hải Đoàn đã từ chối không cho Đại Đội Bảo An lên chiếc thuyền Chỉ Huy của ông ta nên Thiếu Uý Đại Đội Trưởng Bảo An đã cùng Bộ Chỉ Huy Đại Đội, đưa toàn thể Đại Đội lên chiếc thuyền lớn đi đầu. Toán Tiền Sát Pháo Binh cũng lên theo.
    Cho đến khoảng 12 giờ đêm thì chúng tôi nghe thấy một tiếng nổ lớn từ trong máy truyền tin. Ngay lập tức Hạ Sĩ Còn, lúc đó đang là Hiệu Thính Viên của Pháo Đội, vội vàng lên tiếng gọi Thiếu Uý Quýnh nhưng không có ai trả lời, thế là chúng tôi phải lập tức báo cáo lên Sư Đoàn và báo cáo về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh.
    Tới lúc đó chúng tôi mới biết là chiếc thuyền lớn đi đầu chở toàn bộ Đại Đội Bảo An và toán Tiền Sát Pháo Binh đã trúng thủy lôi của Việt Cộng và đoàn thuyền đã phải dừng lại để thả phao cũng như cho người xuống sông lo cứu vớt những người bị rơi xuống nước. Chúng tôi ai ai cũng hồi hộp vây quanh chiếc máy truyền tin mong rằng sẽ có được tin tức tốt lành của toán Tiền Sát Pháo Binh. Nhưng chúng tôi chỉ nghe được những tiếng kêu gào khóc lóc thảm thiết của bà vợ Thiếu Uý Quýnh trong máy
    Hôm sau chúng tôi được biết rằng toán cấp cứu cũng không tìm thấy ngay cả xác của Thiếu Uý Quýnh nữa! Tới lúc đó, theo như tôi biết thì anh là người đầu tiên của Khóa 14 Pháo Binh chúng tôi trong cái Sư Đoàn 5 này bị tử trận.
    Sau này, đúng hơn là sau biến cố Tết Mậu Thân 1968, tôi bị tái ngũ rồi được biệt phái ngoại ngạch về trường Trung Học Nguyễn Trãi, tôi mới được biết thêm rằng có một người, cũng có mặt trên Hải Đoàn hôm đó, là anh bạn tôi, anh Bùi Hữu Soái, lúc đó là Thiếu Uý Khóa 13, đã giải ngũ (không bị tái ngũ) và đã trở lại nghề cũ làm Giáo Sư Toán tại trường Trung Học Nguyễn Trãi. Nhắc lại chuyện này với anh Soái, hiện nay đang ở Houston TX, lúc nào anh cũng nói rằng:
    - Nếu mày đi hôm ấy thì Pháo Binh đã không mất một Thiếu Uý rồi, vì dĩ nhiên là tao phải giữ mày lại với tao chứ đời nào tao để cho mày sang thuyền khác.
    Và dĩ nhiên tôi cũng đồng ý:
    - Đó là cái chắc, vì từ sau năm 1954 tới lúc đó, chúng mình có được gặp nhau để tán gẫu đâu!
    Chúng tôi cho rằng đó là cái số, mà đã là số mạng thì còn nói gì được!
    Ở trên Bến Cát này được vài tháng thì có một lần không hiểu tại sao trực thăng chở lương không thấy lên đúng hẹn khiến tôi gần hết cả tiền đi ăn sáng. Rồi một hôm tôi tình cờ đi ngang qua Quận Đường, chợt thấy Đại Uý Lê Nguyên Vỹ đứng chơi ở phía trước cửa Quận, tôi bèn dừng xe lại, lên gặp Đại Uý hỏi mượn Đại Uý vài trăm tiêu đỡ, thì Đại Uý nói rằng: “Tao cũng đang kẹt đây. Tao chỉ còn có $200, thôi thì chú lấy tạm một trăm đi" và Đại Uý Vỹ đưa cho tôi $100. Đó là lần sau cùng tôi gặp và nói chuyện với Đại Uý Vỹ vì sau này tôi giải ngũ rồi tái ngũ; nhưng lại biệt phái về làm nhà giáo nên không tiếp xúc với các ông nhà Binh nữa.
    Vì Pháo Đội của tôi nằm sát ngay bãi đáp máy bay trực thăng nên tôi thường thả bộ ra đây chơi, chuyện trò lăng nhăng với anh trung sĩ Mỹ đen coi cái bãi đáp này. Chúng tôi hỏi thăm gia cảnh của nhau, mới hay chúng tôi đều còn độc thân, dần dần chúng tôi trở nên thân nhau, thành ra khi nào tôi muốn nhẩy dù ra khỏi đây là anh Trung Sĩ này luôn luôn tìm cách cho tôi được ưu tiên lên cái trực thăng sớm nhất. Tôi còn nhớ là có một lần Đại Uý Hạnh của tôi có được cái phép nghỉ, Đại Uý bèn vào Trung Đoàn xin Thiếu Tá Cố Vấn Mỹ một cái lệnh để được một chỗ trên trực thăng về Phú Lợi.
    Ông Thiếu Tá Mỹ này đã đưa Đại Uý Hạnh ra tận bãi đáp, nói với Trung Sĩ để dành ưu tiên cho Đại Uý. Nhưng không hiểu tại sao đã có nhiều chiếc trực thăng đáp xuống rồi lên mà Đại Uý Hạnh của tôi vẫn chưa đi được. Có một lần vì chờ lâu qúa mà chưa thấy cái trực thăng nào tới, Đại Uý bèn chạy về tính tắm một cái cho mát đã rồi sẽ lại đi ra chờ. Về nhà chưa kịp cởi quần áo ra tắm thì đã nghe thấy tiếng phành phạch của một chiếc phi cơ tới, thế là Đại Uý nhà ta lại vội vàng chạy ra bãi đáp để rồi một lát sau lại trở về, vì lần nào cũng bị anh Trung Sĩ tại bãi đáp quên mất không dành chỗ cho Đại Uý. Lần này về tới phòng, ông ta làu bàu: "Tiên sư nó, tức thật, mình đã được Thiếu Tá Cố Vấn Chief của tụi nó đưa ra giới thiệu hẳn hoi mà nó vẫn không cho mình đi!".
    Tới lúc đó tôi mới nói:
    - Được rồi, Đại Uý cứ đi tắm đi rồi tôi sẽ đưa Đại Uý ra đó, chắc chắn là lần này Đại Uý sẽ đi được
    - Có chắc không đấy cha!
    - Chắc chắn mà, Đại Uý cứ tin tôi đi.
    Thế là Đại Uý Hạnh đi tắm, sau đó tôi theo Đại Uý ra sân bay để tôi giới thiệu với anh chàng Trung Sĩ ở đây rằng Đại Uý đây là Pháo Đội Trưởng của tôi và nhờ Trung Sĩ kiếm cho một chỗ trên trực thăng để về Phú Lợi. Tôi cũng đứng chờ ở đó luôn. Một lát sau có một cái máy bay tới và lần này thì Đại Uý Hạnh của tôi có một chỗ ngồi trên đó để về phép.
    Tôi thường nghĩ rằng muốn có vài chục lít săng để chạy xe thì nên hỏi xin ông Trung Sĩ coi kho là được, đừng bao giờ xin một cái lệnh từ ông Trung Tá cấp trên của ông Trung Sĩ này, vì ông Trung Sĩ có thể viện cớ là sắp có thanh tra nên không thể xuất kho được, kết qủa là ta chẳng được một giọt săng nào.
    2- Thiếu Úy Hòa, Sĩ Quan Tiền Sát và Y Sĩ Tr. Úy Phạm Bá Lương bị tử trận trên Ấp Bầu Bàng I .
    Như tôi đã nói ở trên là cứ sau một khoảng thời gian khá dài nào đó tôi thường tìm cách nhẩy dù về Saigon một lần. Lần này, sau một cuộc hành quân dài, tôi ra gặp ông Trung Sĩ Mỹ để xin một chỗ trên trực thăng về Phú Lợi. Yên chí rằng nếu có một cuộc hành quân nào nữa thì sẽ đến lượt Thiếu Uý Hòa đi.
    Ra đến bãi đáp trực thăng, tôi lại thấy có cả Y Sĩ Trung Uý Phạm Bá Lương ở đó, anh bạn tôi cũng muốn dù một chuyến về Saigon nên đã hỏi tôi là có xin đi nhờ tụi Mỹ được không. Tôi bảo là được, thế rồi tôi nói với anh chàng Trung Sĩ Mỹ ở đây là:
    - Lát nữa có máy bay tới thì cho chúng tôi xin 2 chỗ, cho tôi và cho Y Sĩ TrungUý bạn tôi, được không?
    - O.K. tôi sẽ cố.
    Một lát sau có phi cơ tới, ông Trung Sĩ Mỹ liền dành cho chúng tôi hai chỗ. Nhưng đến lúc này Y Sĩ Trung Uý Lương đã chùn lại không chịu đi nữa. Tôi hỏi:
    -Sao lại không đi nữa vậy?
    -Trung Tá Tư, ông ấy đi vắng, nếu tớ dù theo cậu thì rồi ông ấy về ông ấy sẽ chửi chết.
    - Đi lính bao nhiêu lâu rồi mà còn sợ chửi à! Cứ đi đi
    mai mốt có chửi thì mình cũng đi chơi được vài ngày, như thế là có lời rồi còn gì!
    - Thôi cậu đi một mình vậy, tớ không đi đâu.
    Thế là tôi lên ngay trực thăng một mình. Trực thăng đâu có đợi mình. Tôi không ngờ rằng lần đó lại là lần chót chúng tôi còn được nói chuyện với nhau.
    Lần này thì khác những lần trước, tôi về Saigon được hai ngày thì sáng ngày hôm thứ ba Đại Uý Sáng cho xe về tận nhà tôi để đón tôi lên Tiểu Đoàn, nhưng đã không gặp tôi nên đã phải nhờ ông cụ tôi thúc tôi lên gấp và cho tôi biết rằng Thiếu Uý Hòa cũng như Trung Uý Lương đã tử trận. Khi tôi đi chơi về thì ông cụ tôi nói lại như vậy nên tôi đã tính là phải lấy xe lên Tiểu Đoàn ngay, nhưng trước khi đi tôi cũng muốn ghé vào Tổng Y Viện Cộng Hòa một chút để xem có thể cúi chào Y Sĩ Trung Uý Phạm Bá Lương một lần chót không. Lúc đó tôi mặc quần áo Thiếu Uý Dù, đã có tới nhà quàn nhưng lại không biết là cái quan tài kia có phải là cái quan tài của anh bạn Lương tôi hay không, thật ra thì đúng là cái quan tài của Lương, nhưng vì tôi cũng đang luýnh quýnh nên rút cục tôi đã không được cúi chào anh bạn tôi lần chót.
    Hôm đó tôi mặc quần áo Dù. Các Sĩ Quan Tiền sát chúng tôi được phát mỗi người một bộ đồ dù, để khi nào đi với toán quân Dù thì có sẵn quần áo binh chủng này mà mang. Bộ quân phục này đã làm cho Đại Úy Võ Văn Sáng mắng tôi một trận khi tôi tới trình diện trên Tiểu Đoàn tại Phú Lợi. Sỉ vả tôi xong Đại Úy Sáng cho xe đưa tôi ra phi trường trực thăng của Sư Đoàn để tôi lên Bến Cát.
    Khi tôi từ Bình Dương vào Phú Lợi tôi thấy có một đoàn GMC chở đầy lính cũng đang trên đường lên Bến cát. Sau tôi mới biết đó là khoảng 400 tân binh quân dịch mới ra trường lên bổ sung cho Trung Đoàn 7. Trong khi đứng chờ trực thăng tại Phú Lợi, tôi đã trông thấy một Trung Uý khá đẹp trai cũng đứng chờ trực thăng như tôi để lên Bến Cát, lúc đó tôi đâu có biết rằng đó là Trung Úy Y Sĩ Nguyễn Văn Nhất, người lên thay thế Y Sĩ Phạm Bá Lương.
    Được vài tuần sau thì vị Trung Úy Y Sĩ này cũng bị chết trận trên Dầu Tiếng
    Lên tới nơi rồi là tôi lại trở về phòng của mình mà lúc này chỉ còn lại một cái giường nhỏ của tôi thôi. Cái giường của Thiếu Úy Hòa cùng những đồ đạc của anh thì đã được mang đi hết rồi. Thời gian đó, tôi đã quên đi câu chuyện là đã cho cái xe cứu thương đi vào Pháo Đội ngày nào, mà cũng may là mấy ông trung sĩ người Nùng của tôi cũng không ai nhắc tới việc đó nữa. Họ cũng đã quên đi hay họ không muốn nhắc lại trước mặt tôi thì qủa tình tôi không biết.
    3- Mất Đồng Soài.
    Sáng hôm sau, lúc tôi đang ngủ ngon thì tiếng ầm ầm của máy bay trực thăng lên xuống làm tôi phải thức dậy. Tôi ra hỏi Trung Uý Minh Trung Đội Trưởng Trung Đội 2/B - lúc này Thiếu Uý Hoàng Chính đi đâu thì tôi không nhớ nữa - thì Trung Úy Minh nói với tôi rằng: “Cậu không biết gì à, mất mẹ nó Đồng Soài rồi. Ông ấy (Khổng Năng Hạnh, Pháo Đội Trưởng) bảo tôi kêu cậu đi với Tiểu Đoàn 1/7 đó, nhưng tôi thấy cậu ngủ ngon qúa nên đã kêu thằng Hái đi thay rồi ”.
    Thằng Hái đây là Chuẩn Uý Hái của Tiểu Đoàn 38 Pháo Binh. Tiểu Đoàn này có một Trung Đội 155 đầu bạc nằm ngay trong Trung Đoàn 7 và chịu sự điều động của Pháo Đội Trưởng Pháo Đội B của tôi.
    Nếu lần đó tôi bị gọi đi thì không hiểu tôi có còn sống để hôm nay kể lại chuyện này hay không nữa!
    Qua trận này mọi người mới thấy rõ cái bất tài của ông Thiếu Tướng đẹp trai Trần Thanh Phong. Ai ai cũng biết câu công đồn đả viện của Việt Cộng rồi, thế mà ông Tướng này lại không tính đến chuyện đả viện của tụi nó mà chỉ biết xua quân vào tiếp viện cho Đồng Soài thôi làm cho cả trăm tân binh quân dịch mới ra trường bị chết một cách tức tưởi. Tôi nói là họ bị chết một cách tức tưởi vì với tình hình mà ai cũng thấy là nặng nề như vậy mà đẩy họ vào nhất là lại phát cho họ mỗi người chỉ có 4 qủa lựu đạn thôi, thử hỏi là họ bị chết như vậy có đúng là bị chết một cách tức tưởi không!
    Sau khi Tiểu Đoàn 1/7 được trực thăng vận vào tiếp viện Đồng Soài và bị đánh tan tành rồi thì Sư Đoàn mới kêu đến một Lữ Đoàn Dù lên nhập cuộc. Nhưng lúc đó thì thành phần chính của địch quân đã rút hết rồi còn đâu!
    Tôi không có được con số chính xác về thiệt hại bên quân bạn, nhưng biết rằng trong trận này Đại Uý Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng 1/7 đã bị hy sinh và Chuẩn Uý Hái thì mất tích luôn. Sau đó hỏi thăm về cái chết của Thiếu Uý Pháo Binh Hòa và của Y Sĩ Trung Uý Phạm Bá Lương tôi mới được kể lại là: Chiều hôm đó, Trung Tá Tư đã cho lệnh dừng quân tại Bầu Bàng I để nghỉ qua đêm và như mọi khi Trung Tá nhà ta vẫn cho lính gác nằm phía trong bờ đất đắp quanh làng của cái ấp này, chong mắt ra quan sát phía ngoài nên Việt Cộng đã nghiên cứu kỹ thói quen đó và cho lính của chúng bằng mọi cách nằm ngay sát phía ngoài cái bờ đất đợi tới sáng hôm sau khi mọi người mới thức dậy và còn đang lo đánh răng,rửa mặt, có người chưa kịp xỏ chân vào đôi giầy bottes de saut của mình, thì chúng bắt đầu tấn công. Bị đánh như vậy thì làm sao phản công kịp nên đã để bọn Việt Cộng tràn vào ngay Bộ Chỉ Huy mặc tình làm mưa làm gió. Thiếu Uý Hòa cũng như Bác Sĩ Lương ở trong đám này nên bị chúng hạ sát dễ dàng thôi! Đại Úy Nẫm Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn M 113 đi theo để hộ tống cũng bị chết trong trận này.
    Tôi chỉ thắc mắc là trong lúc này thi Trung Tá Tư cùng đám gái của ông ta ở đâu mà ông ta gần như không việc gì cả, chỉ bị bắn đứt có một ngón tay thôi. Đám gái của ông ta có ai bị gì không thì không thấy ai nhắc đến. Tôi còn được kể lại chuyện về một người đã may mắn sống sót được vì đã bị đẩy ra không cho chui vào một chiếc xe thiết giáp M 113. Anh chàng này là ai thì tôi không nhớ, chỉ nhớ là về sau anh ta đã kể lại cho bạn bè nghe rằng lúc đó, quýnh qúa anh ta chạy ra một chiếc M 113 nằm cạnh bờ rào và muốn chui vào để tránh đạn thì mấy người ở trong đẩy anh ta ra, rồi đóng cửa xe lại, thế là anh ta phải nhẩy đại xuống mương ở gần đó và bị mấy người mới bị bắn chết đè lên trên. Dĩ nhiên là anh ta phải nằm im giả vờ như cũng đã bị chết rồi. Một lúc sau anh ta nghe thấy một tiếng nổ lớn, âm vang như nổ trong một cái thùng nào đó.
    Về sau anh mới biết rằng tụi Việt Cộng trông thấy cái xe M 113 ở đó nên đã trèo lên mở nắp ở phía trên xe đó ra và quăng vào đó một qủa lựu đạn khiến cho mọi người trốn ở trong đó chết hết. Lúc đó anh mới mới thấy là mình đã gặp may. Nếu anh ta không bị đẩy ra thì anh ta đã tiêu đời rồi!
    Về Bác Sỹ Phạm bá Lương thì mới đây anh ruột của bác sĩ là anh Phạm Bá Đường có nói với tôi rằng:
    - Hồi ở Bến Cát, Đại Úy Quận Trưởng Lê Nguyên Vỹ có nói với Lương là ông ta muốn giúp Bác Sĩ mở một phòng mạch ở đó, nhưng Lương nó đã trả lời rằng "Tôi không thể lấy tiền của gia đình tụi lính được, chúng đã nghèo rồi mà mình lại lấy tiền của chúng nó thì coi sao được!".
    Khi nhắc đến chuyện ở Bầu Bàng I, anh Đường còn nói là: "Về sau ông Hạ Sĩ Y Tá của Lương có cho gia đình biết rằng Bác Sĩ Lương đã có mua ở Khu Dân Sinh một cái áo giáp, nhưng hôm đó Bác Sĩ lại không mặc và đã bị tụi Việt Cộng bắn trúng ngực, nếu có mặc cái áo giáp đó thì chắc đã không sao. Rồi sau đó khi Bác Sĩ Nhất lên thay thì đã luôn luôn mặc cái áo giáp đó trong mấy cuộc hành quân với Trung Tá Tư, có điều chiếc áo giáp đó cũng chẳng giúp được gì cho chủ nó. Bác Sĩ Nhất lần này lại đã bị bắn vào đầu, trong trận Dầu Tiếng!
    Nhớ lại lần đầu tiên tôi gặp Y Sĩ Trung Uý Nhất ở Phú Lợi khi chúng tôi cùng đứng đón Trực Thăng, tôi đã thấy đó là một Trung Uý đẹp trai nhưng lại có vẻ buồn buồn thế nào ấy, không ngờ rằng đó lại là một cái điềm báo trước sự không may cho chính bản thân Trung Uý Bác Sĩ Nhất và cho tất cả chúng tôi nữa.
    Nhắc đến mấy vị Bác Sĩ, tôi lại nhớ đến Bác Sĩ Minh (Dù). Anh này là người Trung và đã cùng ở Đại Học Xá Minh Mạng với tôi. Anh đã vào Quân Y và đã chọn binh chủng Dù, nên mới có tên là Minh Dù.
    Anh đã thấy tôi ở Bến Cát khi anh cùng với Trung Tá …… đưa Lữ Đoàn Dù lên đó sau khi Tiểu Đoàn 1/7 BB đã bị xóa sổ trên Đồng Soài. Mãi Sau này gặp lại nhau ở Đại Học Xá Minh Mạng, anh ta mới nói là: "Tôi thấy bạn trên đó mà không dám gọi, vì lúc đó bạn ăn mặc bê bối qúa, bạn đã không dùng dây thung gom quần lên, mà tên Trung Tá Lữ Đoàn Trưởng của tôi lại rất khó tính về ăn mặc". Lúc đó tôi mới nói: "Đúng rồi, trong những giờ nghỉ, tôi luôn luôn mặc quần áo như thế để đi chơi đấy!".
    Lữ Đoàn Dù này lên Bến Cát sau khi Tiểu Đoàn 1/7 đã bị đánh tan tành. Đại Uý Hùng Tiểu Đoàn Trưởng bị chết và Chuẩn Uý Hái Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh bị mất tích. Nghe nói là phải 3 hay 4 tháng sau Chuẩn Úy Hái mới trở về trình diện Tiểu Đoàn 38 Pháo Binh của anh và cho mọi người biết về những việc đã xẩy ra.
    Theo lời anh kể lại thì hôm đó, đoàn trực thăng chở Tiểu Đoàn 1/7 vào Đồng Soài. Khi chiếc trực thăng chở anh và Đại Uý Hùng sà xuống thấp để mọi người nhẩy ra thì anh thấy tụi nó (Việt Cộng) đầy đặc ở dưới, nên anh đã nói với Đại Uý Hùng là “Thôi đừng xuống Đại Uý ạ! Đại Uý có thấy là chúng nó đầy đặc ở dưới kia không? Nhưng Đại Uý Hùng lúc ấy nói rằng "Lính họ đã xuống hết rồi, mình không xuống thế nào được". Và rồi chúng tôi đã phải nhẩy xuống.
    Nhẩy xuống rồi, Hái nói: "tôi thấy gốc cây nào cũng có một tên Việt Cộng cầm súng A.K. hờm sẵn ở đó rồi, nhưng chúng không bắn chúng tôi ngay. Chúng chỉ bắt đầu khai hỏa bắn chúng tôi khi đoàn trực thăng đã lên cao và bay đi. Chắc chắn là chúng biết rằng nếu chỉ có một cái trực thăng nào đó bị bắn rớt thì tụi Mỹ sẽ cho từng đoàn phi cơ lên tàn sát chúng ngay, nên chúng đã để cho đoàn trực thăng bay đi mà không dám bắn hạ bất cứ một cái phi cơ nào, dù rằng đó là việc rất dễ làm đối với bọn chúng lúc đó.
    Xuống đất rồi tôi vội vàng tìm chỗ nấp để tìm cách bắn lại, tôi cũng chẳng biết rằng lúc đó Đại Uý Hùng ở đâu và ra sao nữa. Cầm cự với chúng được một lúc thì tôi thấy tụi Việt Cộng ào về một phía khác. Đến lúc đó, tôi thấy mọi sự đã hỏng rồi, địch đã tràn ngập chỗ chúng tôi đổ quân thành ra không thể dùng Pháo Binh được nữa mà chỉ còn có cách là cận chiến thôi. Khổ nỗi là chúng nó đang áp dụng chiến thuật biển người với quân số đông gấp mấy lần chúng tôi, như vậy thì chắc chắn là mình sẽ bị đè bẹp mất thôi nên tôi nghĩ ngay đến cái cách cuối cùng là phải tìm đường mà trốn thôi. Tôi đã phải cởi bỏ bộ đồ trận ra chỉ mặc quần sà lỏn, cởi trần chỉ mang theo một ít tiền, còn cái bóp thì vứt đi, mang theo cái địa bàn (Compass) để định hướng, rồi chạy ngược về phía chúng. Tôi phải cởi trần vì nếu còn mặc cái T shirt thì sẽ bị lộ, tôi lại còn chạy về phía chúng, có vậy thì mới mau chóng dời khỏi nơi đó được, mà gọi là chạy chứ có được ung dung mà chạy đâu, tôi đã phải vừa ẩn nấp vừa quan sát chung quanh, chỉ khi nào thấy thật là an toàn tôi mới dám dời chỗ, tôi đã mất mấy ngày, mấy đêm mới ra được đường lộ để tìm đường về nhà. Về nhà rồi, tôi hoang mang qúa nên đã tính đào ngũ luôn rồi đấy chứ! Đã nằm ở nhà mấy tháng nay, bây giờ trong lòng bớt sợ rồi, tôi mới dám nghĩ đến chuyện là nên ra trình diện.
    Tất cả những chuyện về Ấp Bầu Bàng I và Đồng Soài này, mãi về sau mới có người kể lại cho tôi nghe. Tôi còn quên kể lại một chuyện mà chuyện này lại đã xẩy ra khi Pháo Đội B của chúng tôi đã lên Bến Cát được một thời gian (giữa 1965). Sáng hôm đó, tôi sang Trung Đội 155 chơi, Trung Đội này đóng ở bên trong Trung Đoàn. Khi tôi sang tới nơi thì ngoài các Sĩ Quan của Trung Đội 155 ra, tôi còn gặp vài Sĩ Quan của Trung Đoàn 7 Bộ Binh và mấy Cố Vấn Mỹ nữa. Họ đang chăm chú nhìn lên trời về một phía xa. Tôi chưa kịp hỏi gì thì một Đại Uý của Trung Đoàn đã nói với tôi là: "Sắp có chuyện lạ xẩy ra đấy, hãy nhìn về phía kia kìa.”
    Khoảng 11 giờ hay hơn một chút trưa hôm đó, chúng tôi thấy ở trên trời về hướng bắc có mấy chiếc phi cơ lớn xuất hiện, thả một số bom xuống. Tới lúc đó, Thiếu Tá Cố Vấn Trưởng mới cho chúng tôi biết rằng đó là sự xuất trận của mấy chiếc phi cơ loại mới, phi cơ B-52. Nhưng mấy hôm sau chúng tôi lại được cho biết thêm rằng trong lần đầu xuất quân đó, đã có 2 chiếc B-52 đụng phải nhau nên đã bị rớt.
    Sau khi Lữ Đoàn Dù lên Bến Cát vài ngày, rồi rút đi thì Pháo Đội chúng tôi lại tiếp tục những nhiệm vụ thông thường là sẵn sàng yểm trợ cho Trung Đoàn 7. Lần này thì chúng tôi đã có Pháo Đội Trưởng mới. Đại Uý Thái lên thay Đại Uý Hạnh để đưa cả Pháo Đội lên Lộc Ninh. Lên đó rồi thì cứ từ 5 giờ chiều, chúng tôi về đóng tại sân bay của đồn điền Lộc Ninh để sáng hôm sau mới kéo súng vào một cánh rừng Cao Su nào gần tỉnh. Yểm trợ cho Trung Đoàn 7 Bộ Binh để làm gì lúc đó thì bây giờ tôi không còn nhớ nữa. Tôi không còn nhớ gì được bởi vì tôi không phải làm Tiền Sát cho ai trong mấy ngày hành quân đó.
    Chỉ lúc trở về lại Bến Cát thì sau khi qua Chơn Thành một ít lâu, toán Bộ Binh mở đường nói là có mìn bắt chúng tôi phải dừng lại để họ cho người gỡ mìn, chỉ khi nào xong chúng tôi mới được đi tiếp .

  7. Định sẵn

    Chương 8

    Trên Mặt Trận Dầu Tiếng

    1- Lên Dầu Tiếng
    Về Bến Cát được ít lâu thì Pháo Đội chúng tôi được lệnh đi Dầu Tiếng. Tiểu Đoàn Trưởng Võ Văn Sáng đã phân phối như sau: Tôi (Thiếu Uý Khôi, Pháo Binh Khoá 14 Thủ Đức) làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 2/7 mà Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Uý Lường (?). Thiếu Uý Kỳ, Pháo Binh Khoá 16 thì được cho làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Tung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh.

    Vì cũng thấy rõ ràng là sự phân phối này hoàn toàn không hợp lý, nên Đại Uý Sáng đã gọi phone cho tôi nói là: "Thiếu úy là sĩ quan đàn anh của Thiếu Úy Kỳ, lẽ ra phải để thiếu úy làm Sĩ Quan Liên Lạc bên cạnh Trung Tá Tư mới đúng, nhưng thiếu úy vừa thông minh lại vừa lanh lẹ hơn, nên thiếu úy hãy chịu khó đi với Tiểu Đoàn 2/7 nhé. Họ sẽ là tiểu đoàn đi mở đường từ Chơn Thành vào Dầu Tiếng, việc này Thiếu Uý Kỳ không thể bằng thiếu úy được đâu".

    Mọi người đều biết chắc là cái lý do mà Đại Uý Sáng đưa ra chỉ là giả tạo, cái lý do chính là bà vợ của cái ông Đại Uý Sáng này rất ghét tôi, tôi đã chụp hình đứa con nhỏ của hai ông bà này khi họ lên Bình Dương thăm pháo đội năm nào, nhưng tôi lại đã không đưa cho ông bà cái hình ấy dù bà ta có hỏi tôi.

    Tôi không đưa tấm hình ấy được vì tôi đã bỏ mất nó ở đâu đó rồi, nên bà đã ra lệnh cho ông ấy phải "trù" tôi như trước kia đã không cho tôi đi Bến Súc và lần này thì không cho tôi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh trung đoàn trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Đại Uý Thái Pháo Đội Trưởng và Trung Uý Thinh cũng như Trung Uý Minh và nhất là các binh sĩ trong toán của tôi đều bất mãn cho tôi, nhưng cũng không ai làm gì được. Riêng tôi thì cũng tốt thôi, tôi không hề hối hận vì đã làm mất lòng bà Tiểu Đoàn Trưởng. Ngay cả ông chồng của bà là ông tiểu đoàn trưởng, tôi cũng chẳng coi vào đâu.

    Thế rồi vào một buổi tối, tôi nói là buổi tối vì khi đoàn xe bắt đầu lăn bánh để lên Chơn Thành thì đã thấy mọi nhà trên Bến Cát bắt đầu lên đèn, cả Trung Đoàn 7 Bộ Binh và Pháo Đội chúng tôi đều lên xe, dĩ nhiên là tôi phải đi với Đại Uý Lường. Đoàn xe đi được chừng 15 hay 20 phút thì chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ ở một bên bìa rừng và đoàn xe phải tạm dừng lại chờ lệnh. Chúng tôi ai cũng phân vân không biết là địch nhiều ít thế nào.

    Một lúc sau chúng tôi được thông báo là cuộc chạm súng vừa rồi chỉ là do ngộ nhận, quân ta đã bắn lầm vào quân bạn. Toán lính mở đường đã nhìn thấy một vài cái nón tai bèo đang len lỏi ở phía xa trong rừng nên cho rằng đó là tụi Việt Cộng, đâu có biết rằng đó là toán Biệt Kích mà Sư Đoàn đã cho đi mở đường trước! Điều đang trách ở đây là Phòng Hành Quân trên Sư Đoàn đã không thông báo cho Trung Đoàn biết sớm để câu chuyện đáng tiếc khỏi xẩy ra.

    Chẳng biết là có bao nhiêu kẻ đã bị thương hay bị chết vì sự thiếu sót vừa nói, chỉ biết là sau đó khi có lệnh cho đoàn xe được tiếp tục di chuyển thì chúng tôi thỉnh thoảng có nghe thấy những tiếng lốp bốp ở dưói gầm xe do bánh xe đã cán vỡ sọ của mấy cái xác chết trên đường. Ai chịu trách nhiệm về những sự việc chết chóc kiểu này đây? Không hiểu là ông Thiếu Tướng Trần Thanh Phong nghĩ thế nào khi được báo cáo về vụ này nhỉ? Mới bắt đầu cuộc hành quân mà đã sui như vậy, không trách được là sau này…

    Tới Chơn Thành rồi, chúng tôi phải xuống xe và bắt đầu băng rừng về phía dầu Tiếng. Tiểu Đoàn 2/7 của tôi phải đi mở đường, nghĩa là phải đi trước vừa dò địch, vừa chặt cây, dọn đường cho Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn khác cùng Pháo Đội của chúng tôi theo sau …và rồi khi đến gần Dầu Tiếng, Tiểu Đoàn 2/7 sẽ dừng lại để chờ mọi người qua mặt, còn mình thì đi sau cùng.

    2- Trận mở màn trên Dầu Tiếng.

    Chật vật 3, 4 ngày đêm, chúng tôi mới vào được gần Quận Dầu Tiếng. Tới lúc đó Tiểu Đoàn chúng tôi lại phải dừng lại để trở thành Tiểu Đoàn bọc hậu cho Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn kia cùng Pháo Đội Súng của chúng tôi vượt lên. Đêm thứ nhất khi chúng tôi làm hậu đội thì không có chuyện gì xẩy ra, chỉ đến đêm thứ hai hay thứ ba gì đó, lúc cả Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn lẫn pháo đội của chúng tôi đang sửa soạn để hôm sau tiến vào Quận Dầu Tiếng thì có chuyện. Trong các cuộc hành quân, chúng tôi phải thức dậy hay đi ngủ theo mặt trời, cứ khi nào mặt trời bắt đầu ngả xuống là chúng tôi cũng sửa soạn chỗ ngủ và khi nào mặt trời sắp xuất hiện là chúng tôi đã phải thu dọn chăn màn hay nói cho đúng hơn là đã phải dọn dẹp đồ ngủ, như xếp võng và poncho lại, cho vào túi đeo lưng để sẵn sàng đi tiếp. Khoảng hơn 6 giờ tối hôm đó khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi sắp sửa ngủ thì mìn chiếu sáng mà chúng tôi đã gài sẵn ở chung quanh vị trí đột nhiên bắn vọt những tia sáng lên, cái đó cho thấy là nghĩa là tụi Việt Cộng đã mò tới và chúng đã vướng phải những cái mìn chiếu sáng kia. Chúng tôi ai nấy đều vội vàng vào tư thế chiến đấu, riêng tôi thì tôi đã phải gọi ngay về Trung Đội Súng tại Dầu Tiếng để xin sẵn sàng yểm trợ, đồng thời tôi cũng báo cho Pháo Đội của tôi lúc đó đang nằm bên cạnh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn để họ đề phòng.

    Tôi phải nói thêm là tôi không thể nhờ Pháo Đội này của chúng tôi để yểm trợ chúng tôi được, lúc đó mấy khẩu súng của Pháo Đội chỉ có thể trực xạ để bảo vệ chính mình thôi chứ không thể yểm trợ cho ai được hết vì súng đã chưa có gióng hướng.

    Anh em binh sĩ của tiểu đoàn có bắn ra những nơi mà mìn chiếu sáng đã bị đụng phải, đây dĩ nhiên chỉ là bắn vu vơ thôi, nhưng không thấy có bắn trả, tình trạng này kéo dài trong khoảng 5 hay 10 phút, khiến cho tôi nghĩ rằng mình không phải là mục tiêu của chúng, chắc chúng định đánh úp Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, do đó tôi gọi ngay về Pháo Đội cho Đại Uý Thái biết cái ý kiến của tôi. Tôi đã nhắc Đại Uý Thái là Đại Uý nên cho Pháo Đội sẵn sàng trực xạ, chúng nó sẽ hỏi thăm đại úy ngay bây giờ đó! Vài phút sau, phải, chỉ vài phút sau thôi là tôi đã nghe thấy có tiếng súng tay nổ ở phiá đó cùng với tiếng súng lớn bắn trực xạ nữa. Thế là tôi quay trở về chỗ ngủ của tôi để ngủ lại.

    Sáng hôm sau, mấy tên lính của tôi mới khen tôi:

    - Thiếu úy can đảm thật, tối hôm qua bắn nhau như thế mà thiếu úy vẫn ngủ được!

    Lúc đó tôi mới trả lời họ:

    - Lúc đó, nếu tao không ngủ thì còn làm được gì nữa đây, khi chúng đã gần như trộn lộn vào với chúng ta như vậy rồi. Lúc đó chẳng thể nào dùng Pháo Binh của mình được mà là phải dùng súng tay thôi, cái đó là việc của Bộ Binh, chỉ khi nào nó tới được chỗ này thì lúc ấy tao mới phải thức dậy chứ (sự thực thì tôi ngủ được là vì tôi rất dễ ngủ. Ở trong Đại Học Xá Minh Mạng mà không dễ ngủ thì chỉ có chết thôi. Nằm trong phòng mà đèn để sáng suốt đêm, thỉnh thoảng lại lào xào tiếng xoa mạt chược cộng với tiếng bàn tán ầm ĩ của ít nhất là bốn tay chơi bài thành ra không thể không dễ ngủ và do đó, dần dần thành quen thôi).

    Thế rồi cả trung đoàn chúng tôi sửa soạn kéo nhau vào Quận Dầu Tiếng. Trong khi sửa soạn tiến vào trong quận, đại úy tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2/7 có nói với chúng tôi (anh em trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn) là: “Chúng ta sắp có được một cái may lớn lắm, tao không hiểu là may như thế nào, nhưng chắc chắn là …rất may”.

    Tụi tôi có hỏi là “Tại sao đại úy lại nói thế?”

    Ông ta trả lời rằng “Tao đã kinh nghiệm nhiều lần rồi. Mỗi khi tao nằm mơ thấy một giấc mơ tương tự thì lần nào cũng gặp một cái may lớn. Tao nghĩ là trong mấy ngày tới chúng mình sẽ có được một cái may đặc biệt và bất ngờ”

    Lúc bấy giờ tôi mới nói là: “Vào Dầu Tiếng rồi thì tiểu đoàn mình được nghỉ lại ở đó trong khi mấy tiểu đoàn kia phải tiếp tục đi nữa, như vậy là chúng mình sẽ gặp may rồi chứ còn gì nữa!”

    Đại úy lắc đầu, nói rằng “Cái chuyện tiểu đoàn mình được nghỉ ở DầuTiếng thì là chuyện dĩ nhiên rồi, cái đó đã được định từ trước, đã có ghi sẵn trong Dự Lệnh Hành Quân. Cái may sắp tới của chúng mình là cái may khác cơ! Cái may mà chúng ta sắp gặp không phải là cái vụ chúng mình được nghỉ đâu".

    Nghe được lời khẳng định của Đại Uý như vậy, chúng tôi đều nghĩ rằng nếu đã chắc chắn là sẽ gặp được một cái may lớn thì tốt rồi còn phải thắc mắc làm gì nữa. Đã là sẽ gặp may thì gặp cái may nào mà chả được! Và với tinh thần vui vẻ nhờ những lời nói trên của Đại Uý Tiểu ĐoànTrưởng… chúng tôi tiến vào trong quận.

    Vào đến Dầu Tiếng rồi là Tiểu Đoàn 2/7 của chúng tôi được chính thức cho nghỉ tại quận vài ngày và chờ lệnh mới, đúng như đã định.

    Vào được trong quận và thu xếp xong chỗ nghỉ rồi, tôi mới đi sang Pháo Đội để hỏi thăm sự việc tối hôm trước, lúc ấy tôi mới biết được những chuyện như sau: Đại Uý Thái bị thương và đã được tản thương đi rồi, Thiếu Uý Kỳ thì không việc gì hết, nhưng chúng tôi đều không biết tại sao mà Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh lại cho Đại Uý Giỏi, Tiểu Đoàn Phó lên thay làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Tư, còn Th.Uý Kỳ thì được điều đi sang một mặt trận khác, đi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào đó mà nay thì tôi đã không còn nhớ được nữa.

    Đêm hôm trước tôi đã ngĩ rằng Đại Uý Thái sẽ báo cáo lên Tiểu Đoàn cũng như báo cáo lên Phòng Hành Quân Sư Đoàn về cái công của tôi là đã báo trước sự tấn công của Việt Cộng và đã đề nghị họ sẵn sàng trực xạ nên mới đẩy lui được tụi Việt Cộng, nhưng nay thì tôi đã không có được cái may mắn đó nữa rồi, Đại Uý Thái đã bị thương và Trung Uý Minh tạm thời lên làm Quyền Pháo Đội Trưởng.

    Về Thiếu Uý Kỳ đã được đưa đi nơi khác, thì mấy tên lính của tôi có nói với tôi rằng: “Rồi Thiếu Uý xem, tối nay Ông Kỳ lại chạy nữa cho mà coi!”

    Và đúng như vậy, tối đó chúng tôi lại được nghe thấy tiếng của Thiếu Uý Kỳ trong máy đang cuống quýt gởi điện văn xin tác xạ. Tiểu Đoàn của anh chàng này lại đang bị tấn công!

    Sau khi về Pháo Đội hỏi thăm mọi anh em xong, tôi mới thả bộ ra phố chợ Dầu Tiếng chơi. Phố này chỉ có một dẫy nhà nằm dài ở bên hông chợ, chợ ở đây thì nhỏ thôi. Hàng hóa thì không có gì mấy, nhưng nay thì lính tráng đầy đường. Mấy quán nước, hàng ăn đều chật ních những người là người, mà toàn là lính trận! Trong những quán nuớc này, có một quán được mấy ông Sĩ Quan mới tới chịu khó chiếu cố đến nhiều nhất, đó là quán của cô Dung. Cô này trắng trẻo và khá đẹp. Dĩ nhiên là Trung Tá Tư, Đại Uý Giỏi của tôi và Y Sĩ Trung Uý Nhất cũng vào quán này, tôi thì đã ra hơi muộn nên không còn chỗ nào để vào ngồi nữa. Thôi thì để hôm sau vậy, tôi đã nghĩ thế. Nhưng chỉ ít lâu sau tôi lại nghe thấy tiếng của một người lính trong quận nói với một người lính của Trung Đoàn 7 Bộ Binhh, một người bạn của anh ta rằng:

    - Bộ mày lại muốn hy sinh vì Tổ Quốc hay sao mà muốn dính vào con Dung này. Nó đã có 1 đứa con trai với một thằng Tầu rồi, nhưng thằng Tầu đó đã bỏ nó từ lâu, và sau này anh chàng lính tráng nào mà định sờ vào nó là đều được Tổ Quốc ghi ơn hết. Đầu tiên là một đại úy, sắp đến ngày ông ta cưới nó thì được lệnh đi hành quân và rồi ông ta đã đi luôn. Sau đó có một chuẩn úy trẻ, anh chàng này mới chỉ muốn cưới cô ta thôi nhưng cũng lại lãnh Tử Thương Bội Tinh! Ở đây ai mà chẳng thấy rằng cô ta quả là đẹp nhất quận này, nhưng có ai mà dám tính đến một chuyện gì với cô ta đâu.

    Hôm sau, tôi đã cố tình ra sớm nên đã vào được quán nước của cô Dung này. Cô ta là người Bắc, nhưng đã được sinh trưởng trong Nam. Tôi thấy cô ta quả thật là vừa xinh đẹp lại vừa dễ thương, ăn nói rất dịu dàng thế mà trời lại bắt cô ta chịu một số phận trớ trêu đến thế. Không biết sau này khi đã có thêm được một vài tuổi nữa cô ta có thoát khỏi được cái số phận hẩm hiu này không!

    Trong mấy ngày này, tôi cũng đã gặp được Thiếu Úy Phạm Oanh, Sĩ Quan Tiền Sát của Trung Đội đóng ở đây. Thiếu Uý Oanh xuất thân khóa 13 Pháo Binh nên sắp được giải ngũ. Chính anh Oanh này sẽ đưa tôi vào Trường Trung Học Nguyễn Trãi bên Khánh Hội sau này, khi tôi bị tái ngũ.

    3- Trung Sĩ Bường của Pháo Đội chúng tôi bị chết. Tới tảng sáng ngày thứ ba trên quận Dầu Tiếng thì chúng tôi bị pháo kích. Bộ binh thì không sao nhưng Pháo Binh của chúng tôi thì có chuyện. Trung Sĩ Bường thuộc Trung Đội của Trung Uý Minh đã bị trúng một mảnh đạn vào tim nên đã chết.

    Về cái chết của Trung Sĩ Bường này thì Trung Uý Minh có nói với chúng tôi là: “Đúng là cái số của nó bị chết thật. Trước ngày dời Bến Cát để lên đường, Trung Sĩ Bường đã được phép về thăm nhà và thường thì tên này luôn luôn tìm cách trốn hành quân, nên tôi đã nghĩ là hắn sẽ cố tình trễ phép để được ở lại Bến Cát, thế mà lần này hắn lại lên đúng hẹn kịp dự cuộc hành quân này để rồi bị chết. Hơn nữa, hắn lại sắp được giải ngũ đấy”.

    Lúc ấy Trung Sĩ Nhất Hao A Dưỡng cũng cho mọi người biết là: “Tôi và Trung Sĩ Bường đã cùng nằm trên một tấm ván kê sát cái xe Truyền Tin mà tôi lại nằm ngoài nữa trong khi anh Bường thì nằm trong. Khi nghe tiếng nổ tôi đã vội vàng lăn xuống đất, chui vào gầm xe để tránh đạn, chui được vào trong gầm xe rồi, tôi không thấy Trung Sĩ Bường nhẩy xuống mà vẫn nằm yên trên ván. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng tên này ngủ say thực. Tôi đâu có ngờ! Thật ra thì đạn đã nổ và mảnh đạn đã ghim vào người Trung Sĩ Bường rồi, tôi mới lăn xuống đất.Tôi đã thật may vì tôi thì nằm ở ngoài, thế mà tôi thì không sao trong khi anh ấy lại nằm ở bên trong, sát cái xe Dodge Truyền Tin thế mà lại bị chết!”.

    Sau mấy ngày nghỉ ở Dầu Tiếng, Trung Đoàn 7 Bộ Binh lại tiếp tục cuộc hành quân. Chiều hôm đó Trung Đoàn trừ (vì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ lại ở Dầu Tiếng) lên đường vào làng 13, Pháo Đội B thì tạm thởi nằm tại chỗ để yểm trợ cho cuộc di chuyển, vào khoảng 7 giờ sáng hôm sau mới lên đường để bắt tay với Trung Đoàn trên làng 13.

    Vào chừng 6 giờ sáng hôm sau thì dân chúng ở trong quận nghe thấy có tiếng súng nổ ran về phía làng 13. Chúng tôi biết ngay là đụng độ lớn đã xẩy ra nơi đó. Không biết rằng lúc này có ai ở Trung Đoàn gọi về xin bắn không. Nhưng nếu có thì cũng chỉ có 2 khẩu đại bác của Quận Dầu Tiếng là có thể thỏa mãn được thôi, 4 khẩu súng của Pháo Đội B/5 Pháo Binh thì không thể làm gì được vì đã được xếp càng móc vào xe và đã ra đường để sửa soạn di chuyển.

    Ngay lúc đó chúng tôi đã thấy là tụi Việt Cộng đã tính toán thật hay về giờ giấc, chúng không cần phải pháo kích vào Pháo Đội làm gì mà vẫn làm câm họng được 4 khẩu súng cơ hữu của Trung Đoàn. Phải tới nửa giờ sau Trung Uý Minh mới ra lệnh cho súng trở lại vị trí cũ, rồi cho gióng hướng lại, nhưng hình như chẳng có ai gọi về xin bắn cả. Một lúc sau chúng tôi mới thấy có phóng pháo cơ và Phi Cơ L-19 bay lên. Phóng pháo cơ thì lên để dội bom quanh làng 13 còn phi cơ quan sát L-19 thì lên thay các Tiền Sát viên dưới đất để tìm tọa độ thích hợp, gửi về cho súng đại bác ở Dầu Tiếng tác xạ.

    Mặc dầu rằng trên nguyên tắc thì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ, nhưng gặp trường hợp này thì ai trong chúng tôi cũng biết rằng cái phép nghỉ đó coi như bị hủy rồi, nên chúng tôi vội vã sửa soạn súng đạn để chờ lệnh lên đường. Nhưng ngay ngày hôm ấy, chúng tôi không nhận được bất cứ một cái lệnh nào. Chỉ ngày hôm sau chúng tôi mới có lệnh tiến vào làng 13. Tới lúc đó chúng tôi mới biết rằng gần như tất cả Trung Đoàn trừ, gần 800 người, đã bị tiêu diệt. Về Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn thì ít ra tôi cũng được biết Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh cùng với Đại Uý Pháo Binh Giỏi, Trung Uý Y Sĩ Nguyển Văn Nhất đều đã bị bắn chết. Chết chung trong đám này còn có 2 cô gái, thực ra là 2 con điếm mà Trung Tá Tư đã mang theo. Sau này tôi được nghe đồn rằng mấy cô này bị Việt Cộng bắn vì chúng cho rằng 2 cô đó là 2 cô Cán Bộ Hộ Lý.

    Trong trận này Sư Đoàn 5 Bộ Binh bị mất một số khá lớn quân nhân, từ Trung Tá đến Binh Nhì. Cũng chỉ sau trận này, mọi người mới vỡ lẽ ra rằng tên nội tuyến chính là tên trung sĩ Truyền Tin của Sư Đoàn, vì ngay sau đó tên trung sĩ này trốn luôn. Thảo nào mà mọi chi tiết của cuộc hành quân đều bị bên địch biết hết (đến đây, tôi nhớ lại vụ ông Tướng Trần Thanh Phong ngày xưa, đã tức mình vì bị một tên lính nào đó chửi đổng trên Chiến Khu Đ, nên đã ra ngay một cái lệnh miệng bắt Trung Đoàn 8 cùng với Đại Đội 5 Thám Báo chúng tôi phải ở lại thêm một ngày, khiến tất cả chúng tôi đã thoát được một trận phục kích quy mô. Lẽ ra, thông minh một chút thì sau nhận được báo cáo về việc chúng tôi có nhìn thấy những hố cá nhân đã được của tụi nó đào sẵn và chỉ ít lâu sau là có cuộc tao ngộ chiến hôm đó, thì toàn thể những sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của Sư Đoàn cũng như ông Tướng Tư Lệnh phải để ý xem là tại sao chứ!

    Các ông phải tự hỏi là: "Nếu đoàn quân đã ra về theo đúng như dự lệnh thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Có phải là cả đoàn quân đã bị tiêu tùng rồi không?" Và chỉ vì ở lại thêm một ngày theo lệnh miệng, không có trong dự lệnh, nên đoàn quân mới thoát được một cuộc phục kích lớn.

    Có tự hỏi như thế thì các ông mới biết rằng mọi quyết định gì của Sư Đoàn mà đã qua hệ thống Truyền Tin thì cũng đã bị nội tuyến thấy hết rồi. Như thế thì phải chịu khó báo ngay cho an ninh để họ điều tra tìm ra tên nào là nội tuyến chứ! Mặc dù không được học về an ninh nhưng ngu dốt như tôi thì cũng thấy là ông Tướng có thể loại ngay những người đi theo mình vào Chiến Khu Đ hôm đó khỏi danh sách những kẻ bị nghi ngờ. Còn lại thì dễ thôi.

    Lệnh Hành Quân thông thường sẽ phải qua những tay nào, sau đó ra vài cái lệnh giả, rồi theo dõi thì có ngay kết qủa chứ có khó gì. Nhưng nói đi thì phải nói lại, đầu óc của ông Tướng cùng như của mấy ông Tá trong Ban Tham Mưu của ông này thì làm sao có thể có được một ý kiến nào gọi là sáng suốt đây.

    Trong trận Dầu Tiếng này, không những địch có tin chính xác về mọi chi tiết về cuộc hành quân mà chúng còn nghiên cứu kỹ cả cái thói quen bê bối của cái ông Trung Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Tư nữa, nên chúng đã tấn công đúng lúc, khi mấy khẩu súng đã ra đứng trên đường, chờ di chuyển. Còn binh sĩ của Trung Tá trên làng 13 thì có người chưa kịp xỏ chân vào đôi bottes de saut, có người còn đang đánh răng… tất cả gần như chưa kịp thu dọn đồ ngủ. Như vậy thì còn đánh đấm làm sao được nữa!

    Khi Sư Đoàn cho phi cơ lên thì bọn Việt Cộng đã coi như thanh toán xong chiến trường và chúng đã phần lớn rút đi, chỉ còn lại một số nhỏ chưa kịp rút mà thôi.

    Ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi mới chính thức được lệnh tiến về làng 13 để diệt những tên địch còn sót lại. Lúc này Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng của chúng tôi mới nói là: "Các ông thấy chưa, tôi đã nói là mình sẽ gặp một cái hên lớn mà! Nếu mình cùng đi với Trung Đoàn thì chắc hôm nay tụi mình cũng đã bị tiêu tùng rồi". Lúc đó chúng tôi mới thấy được cái may mắn lớn của mình.

    Rồi ngay ngày đầu khi tới làng 13 chúng tôi đã bắt được một tên Việt Cộng, tên này đã bị mù cả hai mắt. Ông trung sĩ của tiểu đoàn lấy giây dù trói tay hắn lại một cách hơi thô bạo nên đã bị tên Việt Cộng này hằn học mắng cho là: “Tôi cũng là chiến sĩ như các anh mà các anh đối xử thế này à!". Tụi tôi ai cũng nóng mắt vì câu nói này nhưng chẳng ai trả lời hắn cả và vẫn để ông trung sĩ kia trói chặt hắn lại, không ai mềm lòng vì hắn bị mù đâu. Đối với tụi Việt Cộng vừa ngu xuẩn, vừa dã man này, thì nếu mình sơ hở một chút là khốn nạn với chúng nó ngay. Dắt tên đó đi theo mình thì mình phải trói hắn lại, nhưng có thể để cho hắn ở bên cạnh mình qua đêm không nhỉ? Đại úy tiểu đoàn trưởng có hỏi ý chúng tôi thì đượcThiếu Uý Ban Ba cho biết là không thể cho cọp ở bên mình được và anh ra hiệu cho ông trung sĩ đem hắn ra xa, bắn bỏ. Lúc đó chúng tôi đều nghĩ là nếu mình thương hại nó thì ai thương hại mấy trăm đồng bạn của mình vừa bị chúng tàn sát đây, hơn nữa dắt hắn đi theo thì có khi mình cũng bị hắn tìm cách giết luôn nữa không biết chừng.

    Những ngày sau thì không có chuyện gì đáng kể xẩy ra khi chúng tôi phải ngày ngày đi loanh quanh mấy làng 12 rồi làng 13, làng14, để làm gì nữa đây! Tụi chính quy Việt Cộng thì đã rút đi ngay từ sau khi chúng thành công lớn rồi, đâu còn lại ai nữa mà tìm. Tụi du kích thì lại càng dấu mặt đi chứ chúng đâu có dại gì mà dở thêm trò gì ra lúc này. Chúng biết là sư đoàn sẽ điều động môt lực lượng lớn mạnh lên để trả thù, nên mấy tên du kích này chắc chắn là đã có lệnh nằm im rồi. Nằm im nghĩa là không quấy rối thôi chứ không phải là không theo dõi quân ta.

    Thực vậy, trong khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi đi loanh quanh mấy làng 12, 13, 14 như vây thì luôn luôn chúng tôi thấy mấy cô gánh qùa bánh, báo chí đi theo để bán cho chúng tôi. Tôi đã nêu nhận xét này với Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng, nhưng ông ta cũng chịu thôi, không có cách nào cấm họ không theo chúng tôi được. Thành ra chúng tôi cũng phải lờ đi, chỉ bảo nhau là phải có ý tứ, không những chính mình mà còn phải bảo cả lính của mình là phải kín miệng, không được nói gì với những cô bán hàng này về sự đi đâu, về đâu và vào giờ nào, ngoài ra còn nếu có thể, thì cố thử dò xem tụi Việt Cộng bây giờ đang ở đâu và còn đang tính gì nữa.

    Cuối cùng thì Tiểu Đoàn 2/7 cũng được cho trở về Bến Cát để nghỉ, vì chỉ mấy hôm sau, Tiểu Đoàn 2/8 với Đại Úy Của và môt Trung Đoàn lính Mỹ lên Dầu Tiếng.

    Tiểu Đoàn 2/7 thì được cho nghỉ, nhưng tôi thì lại được chuyển sang làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Đại Úy Của, Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 2/8, mới được phái lên. Cùng với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, tôi tiến vào một cái biệt thự bỏ trống, khá lớn và khá đẹp của “Tây Đồn Điền”, tôi vào ngay cái phòng chính và chiếm một chỗ rất đẹp trong phòng để sửa soạn làm chỗ ngủ. Xếp dọn vừa xong thì Đại Uý Của bước vào, sau khi nhìn ngắm quanh phòng một chút, ông ta ra lệnh cho tôi tìm chỗ khác mà làm nơi ngủ, để chỗ đó lại cho ông ta. Dĩ nhiên là tôi phải bỏ lại chỗ đó, nhưng tôi rất bực vì cái giọng lớn lối ra lệnh của ông ta nên tôi thu dọn vật dụng của tôi xong, là tôi kéo 2 tên lính của tôi trở về vị trí đóng quân của Pháo Đội tôi ngay. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng khi Tiểu Đoàn này di chuyển thì tôi sang để đi theo cũng vừa vì Pháo Đội của tôi và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/8 này chỉ cách nhau chưa tới 100 mét.

    Mấy hôm sau, tôi được Thiếu Uý Mai văn Phú, cùng Khóa 14 Pháo Binh với tôi, đã theo Trung Đoàn 8 lên. Chỉ không biết là anh làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào. Anh Phú này cho biết là: "Ông Của không còn thương bạn như xưa nữa đâu”. Thiếu Uý Phú này đã được biết là Đại Úy Của đã từ lâu rất thích tôi vì cái khả năng bắn nhanh, bắn chính xác của tôi, nay thấy ông ta không thích tôi nữa nên mới nói cho tôi hay.

    Tôi đã trả lời Thiếu Úy Phú: "Ông ấy thương hay không thương tôi thì mặc xác ông ấy. Tôi đâu có cần ai thương đâu. Mà ông ấy có thương thì tôi được cái lợi gì đây? Trong mọi cuộc hành quân thì chính ông ấy phải nhờ tôi, chứ tôi đâu có nhờ gì ông ấy. Tôi đâu phải là đấy tớ của ông ấy đâu mà ông ấy muốn tôi phải làm cái này, cái nọ là tôi phải răm rắp làm theo. Tôi đâu có xin đi lính để cho ông ấy sai bảo. Về vấn đề chỗ ngủ thì nếu ông ấy đừng ra lệnh mà nói với tôi lịch sự một chút thì tôi cũng sẵn sàng nhường cái chỗ đó lại chứ giữ làm gì, nhất là tất cả chúng mình chỉ ở tạm đây ít lâu thôi chứ có phải là ở dài hạn đâu. Ông ấy đâu có biết rằng tụi mình chỉ chịu phục tùng cái “cấp bậc”của ông ấy trong lúc hành quân thôi, chứ cá nhân các quan lớn như ông ta thì chúng mình đâu có coi ra cái quái gì!".

    Tôi biết có nhiều tên hãy còn ngớ ngẩn. Ở ngay trong Pháo Binh mình chứ đâu xa, ỷ vào sự đã được đi lính trước, ỷ có cấp bậc cao hơn, nên đã tự cho là bậc thầy và gọi tụi mình là đệ tử nữa đấy! Tôi đã từng nghe thấy một tên Trung Tá Pháo Binh nói với ông Tướng Pháo Binh nào đó của hắn là: “Tôi có một tên đệ tử sang được Mỹ này, đã đi học lại và lấy được cái bằng …gì đó”. Ông ta muốn nói tới tôi đó. Ông ta tự coi là "Sư Phụ của tôi". Nhưng ông ta đâu có dạy tôi cái gì đâu. Hơn nữa về kinh nghiệm chiến trường thì liệu ông ta có hơn tôi được không? Ông ta đi lính từ thời Pháp mà vào thời đó thì chỉ những Đại Úy hay Trung Úy nhiều kinh nghiệm mới được cử làm Đề Lô, còn những Thiếu Úy mới ra trường như ông ta lúc đó thì lại chỉ nằm nhà với súng thôi, mà trong khi đó thì các Chuẩn Úy Pháo Binh mới ra trường sau này lại là những kẻ phải đi với Bộ Binh ra mặt trận. Vì thế các Chuẩn Úy này chắc chắn là có nhiều kinh nghiệm xương máu hơn các Sĩ Quan Pháo Binh cấp cao như ông Trung Tá kể trên chứ. Về vấn đề này thì ai là Sư Phụ của ai đây? Trong khi thực ra ông ta chỉ vì lớn hơn 1 hay 2 tuổi nên đã được đi lính sớm hơn tụi tôi, rồi vì chịu cơm nhà binh nên đã không xin giải ngũ và cuối cùng lên được chức Trung Tá để bây giờ lên mặt với mọi người.
    Hình như tôi chỉ đi với ông Đại Úy Của này đâu có 2 hay 3 trận ở trên Dầu Tiếng này thôi thì phải, vì mấy cuộc hành quân quanh vùng sau đó đều do một Trung Đoàn Mỹ, cũng được đưa lên tăng cường gần như cùng một lúc với mấy Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 8 Bộ Binh.
    Nói đến Trung Đoàn Mỹ này, tôi lại nhớ đến tinh thần chiến đấu và quân kỷ của họ. Nhiều người đã nói rằng: “Tụi lính Mỹ rất nhát gan trong các cuộc đụng trận.” Theo tôi thấy thì những người nào nói như vậy chỉ là những kẻ ăn ốc nói mò, chính bản thân tôi đã từng thấy tinh thần cao của các toán cố vấn Mỹ trong rất nhiều cuộc đụng trận ác liệt với Việt Cộng.

    Trong trận tôi đi với Đại Đội 5 Thám Báo mà tôi đã kể ở trên, khi cả Trung Đoàn 8 lẫn Đại Đội 5 Thám Báo bị tụi Việt Cộng nổ súng ở 3 mặt, thì mấy người trong ban Cố Vấn Mỹ đã anh dũng làm nhiệm vụ của họ, để rồi một Trung Úy Cố Vấn bị chết và một Hạ Sĩ bị thương nặng. Họ đã chẳng tỏ ra nhút nhát một chút nào hết.

    Ngày trước, khi tôi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân, tôi đã để ý và thấy rằng trong bất cứ cuộc đụng độ nào, khi nghe thấy tiếng súng nổ ở phía trước là toàn thể Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đều ào lên để nhận định tình hình hầu lấy quyết định. Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó, Thiếu Úy Ban 3 và toán Tiền Sát Pháo Binh của tôi thì phải nhào lên ngay đã đành, mà toán Cố Vấn Mỹ cũng hối hả chạy lên chứ họ nào có chịu thua ai đâu! Như vậy chứng tỏ là tinh thần của họ rất cao chứ không phải như ai đó đã nói nhảm.

    Còn về kỷ luật của họ thì tôi nghĩ lại mà cảm thấy thật là xấu hổ cho tinh thần quân kỷ của mình. Trong bản doanh của Mỹ, chúng ta có thể trông thấy một Trung Sĩ ghé đít ngồi lên mép bàn giấy của một vị Trung Tá để nói chuyện gì đó khi ông Trung Tá này đang ngồi trong bàn giấy của ông ta. Chịu khó để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng lúc đó họ đang nói chuyện với nhau trong tư cách bạn bè hay ít nhất đó là một câu chuyện riêng tư, không dính dáng gì tới công vụ hết, trái lại khi nói đến công vụ thì lại khác, lúc viên Trung Sĩ nọ vì công vụ, phải gặp một vị Thượng Sĩ thôi, thì cũng phải đứng nghiêm, dơ tay chào kính hẳn hoi, rồi sau đó muốn trình bầy cái gì thì mới trình bầy.

    Trong các cuộc hành quân, chúng tôi được lệnh là không được nằm trong nhà dân mà phải nằm ở ngoài đất trống, nhưng trong thực tế thì ít nhất bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn của chúng ta luôn luôn ngồi nghỉ trong một ngôi nhà nào đó cho mát. Quân đội bạn thì khác. Họ lúc nào cũng thi hành những mệnh lệnh ấy một cách triệt để. Hồi ở trên Dầu Tiếng tất cả chúng tôi đều đã thấy cảnh một Trung Tá Mỹ chịu ngồi, hoặc đứng cạnh một cái máy truyền Tin trong suốt mấy giờ liền (phiên trực của ông ta?) dưới một tấm vải dù ở trên đầu, ngay giữa đồng trống dưới trời nắng nực oi ả, nhiệt độ vào khoảng 40 độ C hay 104 độ F hay hơn, với quân phục gần như đầy đủ, có nghĩa là chỉ không mặc áo trận thôi, nhưng vẫn có mặc áo thung (T Shirt) ở trong.

    Thêm vào đó, lính Mỹ còn có tinh thần đáng ca ngợi là họ không bao giờ coi binh sĩ miền Nam Việt Nam như những kẻ dưới tay như kiểu quân đội Pháp đã coi thường những người lính khố xanh, khố đỏ của chúng ngày xưa. Thật vậy đã có nhiều lần, tôi thay mặt cho Pháo Đội sang họp hành quân bên Trung Đoàn bạn. Khi xe của tôi tới cổng trại, tôi nhẩy xuống đất, chưa kịp nói gì thì anh lính Mỹ gác cổng đã bồng súng lên nghiêm chỉnh chào tôi dù anh ta biết tôi chỉ mang cấp bậc Thiếu Uý.

    Với sự can thiệp của quân lực bạn, chúng tôi được rảnh rỗi nên tôi và anh bạn Phú mới gặp nhau (Nghe nói là sau biến cố Tết Mậu Thân, anh Phú cũng đã bị tái ngũ và cũng đã được biệt phái về dạy học như tôi, chỉ không biết là anh có sang được Mỹ này hay không thôi)

    Lúc này Pháo Đội B của tôi ra đóng ở ngoài Quận phía đi ra làng 13. Pháo Đội tôi đóng ở một bên, bên kia đường là Bộ Chỉ Huy của Lữ Đoàn hay Trung Đoàn Mỹ (Tôi cũng không rõ). Lúc này Pháo Đội Trưởng, Đại Úy Thái của chúng tôi đã trở lại Dầu Tiếng, nhưng chúng tôi lại gần như không có việc gì làm vì quân đội bạn đã không dùng đến Pháo Binh. Làm gì còn Việt Cộng nữa mà phải dùng đến đạn pháo!

    Ngày ngày, mấy sĩ quan chúng tôi chỉ để một người ở nhà với súng còn thì lấy xe ra chợ Dầu Tiếng chơi. Quận Dầu Tiếng này nằm bên cạnh một con sông khá rộng thành ra Công Binh đã phải thiết lập một cây cầu dã chiến để cho xe qua bờ bên kia, vùng đất của một cái xã nào đó của Quận. Tôi đã lái xe Jeep sang cái xã đó, nhưng lúc về thi Trung Úy Thinh (mới lên Trung Úy một ít lâu, ở trên Dầu Tiếng này) đòi lái về để trổ tài lái xe trên 2 tấm sắt bắt qua sông, mỗi tấm chỉ rộng đâu chừng 50 cm.

    Tuy không phải là dân Tâm Lý Chiến nhưng tôi và Trung Úy Minh cũng la cà vào chơi với những thư ký của đồn điền, hỏi thăm tình hình sinh hoạt của họ. Rồi có một hôm, vợ chồng một nhà nọ có hỏi ngược lại về cách sống của chúng tôi thì Tr. Úy Minh có nói là ăn uống thì hàng quán ở Quận này đã đủ sức cung cấp mọi thứ cho tất cả chúng tôi chỉ có điều là chúng tôi hơi thiếu nước để tắm thôi. Nghe nói thế, hai vợ chồng chủ nhân gia đình này vội nói ngay là “Trung Úy và Thiếu Úy cứ việc ngày ngày tới nhà này mà tắm, ở đây chúng tôi có nhà tắm khá tiện nghi cho quý vị dùng, đừng ngại gì hết”. Qủa là nhà tắm của họ có đầy đủ vòi sen, bồn tắm, chỉ không có nước nóng, nước lạnh thôi. Nhưng ở miền Nam Việt Nam này thì cần gì nước nóng cơ chứ!

    Thế là từ đó hai chúng tôi thường lại đó để tắm. Quý vị nên hiểu cho rằng Pháo Đội chúng tôi phải đóng ở một nơi trống trải, không có cây cối gì hết nên rất nóng nực mà nước lại phải lấy về từ khá xa, thành ra chúng tôi muốn dùng một cách không phí phạm, do đó có thể nhờ được một nguồn nước ở nơi khác là 2 chúng tôi sẵn sàng ngay.

    Tôi nói là 2 chúng tôi, như vậy nghĩa là không có Trung Úy Thinh, anh này có đến chơi nhà đó một vài lần, thấy nhà đó có con gái nên giữ ý không đến tắm, hắn có nói điều này cho chúng tôi biết, nhưng tôi và Trung Úy Minh có bảo hắn rằng hắn đã quá cẩn thận, vì cô gái kia chỉ là một đứa nhỏ mới chừng 12, 13 tuổi, mà trẻ Việt Nam 12, 13 tuổi thì hãy còn qúa nhỏ, việc gì mà phải quá giữ ý như vậy!

    Những ngày về sau, tuy rằng không có chuyện gì xẩy ra thêm nữa nhưng chúng tôi vẫn phải ở lại cái đất Dầu Tiếng này chờ các quan trên tìm quyết định. Chúng tôi, nói đúng hơn là Pháo Đội của chúng tôi, rốt cuộc đã phải ăn Tết ở trên Dầu Tiếng này.

    Trong một tháng trước Tết, chúng tôi có nhận đựơc một Công Điện từ Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh đánh lên, nói là: "Sĩ Quan nào muốn sang Pháo Binh Dù thì ghi tên”. Quên rằng mình đã nộp đơn xin giải ngũ từ mấy tháng trước, tôi vội gọi ngay cho Hiệu Thính Viên của Tiểu Đoàn yêu cầu ghi tên tôi vào danh sách đó nhưng anh ta vừa cười vừa nói rằng: “Thiếu úy cần gì phải sang Pháo Binh Dù nữa, thiếu úy dù từ lâu rồi còn gì”.

    Qua Tết được vài ngày, tôi nhận được Ccông điện gọi về trình diện tiểu đoàn để nhận lệnh thuyên chuyển sang Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh tại KonTum. Điều đó có nghĩa là tôi không được sang Pháo Binh Dù mà phải ra Vùng II.

    Thế là tôi tìm cách theo một cái trực thăng nào đó, dời Pháo Đội để về Tân Sơn Nhất, chứ không về ngay tiểu đoàn ở Phú Lợi.

    Chương 9

    Đổi qua Quân Đoàn II

    1- Ra Quân Đoàn II.

    Vì lần này tôi phải ra tận Pleiku nên chắc chắn là khó có thể dù về Sài Gòn đều đều như xưa được nữa, ngoài ra kỳ này từ Dầu Tiếng về, tôi còn được một bà mợ của tôi đưa đi giới thiệu với một cô… khá đẹp…và nhất là hai bên chúng tôi đều đồng ý chịu nhau. Nên sau vài ngày được chính thức nghỉ phép, tôi đã lên Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh ở Phú Lợi để nhận lệnh thuyên chuyển, tôi đã cố tình ở lại Sài Gòn khá lâu, tôi chỉ chịu lên đường sau khi đã ở nhà khoảng nửa tháng. Chỉ còn vài tháng nữa là tôi đã giải ngũ rồi việc gì còn sợ ai nữa!

    Tôi còn nhớ rõ hôm tôi lên lấy giấy thuyên chuyển, Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Võ Văn Sáng có nói với tôi là:

    - Thiếu úy cũng sắp được giải ngũ rồi phải không?

    - Đúng thế, xin cảm ơn đại úy đã cho tôi dời khỏi cái tiểu đoàn này, tránh khỏi bị cái ảnh hưởng của số sát quân của đại úy.

    Đại Úy Sáng lúc ấy tức lắm nhưng đành chịu không làm gì tôi được nữa rồi (khi ông này mới về thì đã xẩy ra một vụ chết người lãng xẹt. Một anh lính đứng gác ở ngoài cổng một pháo đội, tôi không nhớ là pháo đội nào và đang đóng ở Đức Hoà hay Đức Huệ thì phải, đã bị trúng một viên đạn từ bên kia sông bắn sang, trong khi tên Việt Cộng ở bên kia sông đã nhắm vào …ai đó trên một cái giang thuyền đang tuần tiễu ở giữa sông)

    Mãi sau này, lên tới KonTum được ít lâu rồi, tôi mới nghĩ ra rằng mình bị ra Vùng II là vì không những ông Sáng này rất ghét tôi mà còn vì ông ta không muốn tiểu đoàn ông ta mất người bởi vì trước đó ít lâu, tôi đã nghe nói rằng một thảm họa đã xẩy ra cho một đơn vị pháo binh ở vùng II. Tất cả các sĩ quan của một pháo đội nào đó đã bị tụi Fulrpo trong pháo đội của mình giết hết. Tôi đã không hỏi kỹ về việc này nên không có những chi tiết để trình bầy thêm.

    Tôi chỉ không ngờ rằng mình lại bị gánh chịu hậu quả của cái sự nổi dậy của mấy tên Fulro này! Thật thế, để bổ sung sĩ quan cho đơn vị bất hạnh trên, tôi đã bị đưa đi. Bộ Chỉ Huy Pháo Binh đã ra lệnh cho vài Tiểu Đoàn ở Vùng III phải chuyển vài sĩ quan trong tiểu đoàn ra Vùng II. Đại Uý Sáng nếu không đưa tôi đi thì chắc chắn là chỉ vài tháng nữa ông ta cũng không có tôi, bởi vì tôi sẽ hoặc là tôi được giải ngũ hoặc là tôi sẽ sang Pháo Binh Dù, nếu ông ta chấp nhận yêu cầu của tôi. Như vậy thì cử một ai khác ra Vùng II, Tiểu Đoàn sẽ phải mất thêm một Sĩ Quan nữa.

    Cái việc sắp được giải ngũ mà còn phải ra miền Trung quả là một vận may cho tôi. Trong mấy tháng ở Vùng II này, tôi đã không đụng một trận lớn nào cả dù rằng tôi đã có tham dự vài cuộc hành quân lớn.

    Tôi đã cố tình ở lại Sài Gòn khá lâu, không ra trình diện Pháo Binh Vùng II ngay vì "ba gai" (Pagaille) đã đành, mà cũng còn vì hồi đó đang có lộn xộn ở Sài Gòn do mấy cái vụ lên đường, xuống đường của mấy tụi chính trị, chính em, Phật Giáo… gì đó!

    Cuối cùng thì tôi cũng phải ra phi trường Phi Long để lấy máy bay lên PleiKu vào một ngày đầu Xuân. Lên tới phi trường PleiKu rồi mới thấy nản, lúc đó cả cái Phi Trường chỉ có một chiếc phi cơ Caribou chở tôi, vừa đáp xuống, đậu lẻ loi ở một đầu của phi trường trên một ngọn đồi khá cao. Lúc này trời hơi lạnh, khoảng trên dưới 60 độ F, trên trời thì chỉ có một mầu xám xịt, dưới đất thì gió lạnh thổi từng cơn, làm cho tôi càng cảm nhận thấy được cái trạng thái lẻ loi cô độc của mình! Mà hôm đó phi cơ cũng chỉ chở có vài người, đúng hơn là vài sĩ quan vừa từ Sài Gòn trở lên. Những người kia thì còn có xe ra đón, riêng tôi thì vì không lên đúng hẹn và cũng chẳng báo trước cho Pháo Binh Quân Đoàn biết nên không có ai ra đón cả. Nhưng là một thiếu úy sắp giải ngũ, nghĩa là cũng đã có đủ một số kinh nghiệm cần thiết để đối phó với những tình trạng như thế này, tôi đã lại một phòng có thể đó là phòng trực của Phi Trường, đúng ra thì đó là một phòng khá nhỏ ở một đầu phi đạo. Vào đây, tôi đã hỏi số điện thoại của Pháo Binh Quân Đoàn, rồi gọi về đó xin xe ra đón. Chừng 15 hay 20 phút sau, một chiếc xe Jeep đưa một vị trung úy ra đón tôi lên Quân Đoàn. Tới Quân Đoàn là tôi phải theo vị Trung Úy kia lên trình diện Trung Tá Pháo Binh Quân Đoàn (Trung Tá Lê Văn Thọ). Ông này thấy tôi là lên tiếng nạt tôi ngay, trách tôi là không chịu lên đúng hẹn. Tôi trả lời là:

    - Thưa trung tá, dạo này ở Sài Gòn lộn xộn lắm nên không thể có phi cơ để đi được.

    - Tại sao anh không đưa cái Lệnh Thuyên Chuyển ra để họ tìm cách cho anh đi. Tại anh không muốn đi ngay chứ gì?

    - Thưa trung tá, đây là lần đầu tiên tôi phải ra khỏi vùng, tôi đã không biết là có thể dùng cái Lệnh Thuyên Chuyển này để xin được phi cơ, nên tôi mới không làm đấy chứ!

    - Thôi được, anh ở tạm trên cái khu Vãng Lai này rồi sẽ đón xe lên trình diện Tiểu Đoàn 221 trên KonTum.

    Sau đó, ông ta bảo vị trung úy, người vừa đón tôi từ phi trường về, đưa tôi về phòng của trung úy đó trong khu Vãng Lai, ở ngay trong Quân Đoàn này. Thế là tôi về cùng ở chung phòng với vị trung úy này và một Trung Úy Pháo Binh khác nữa.

    Ngồi trong phòng nhìn qua cửa sổ, tôi thấy trời vẫn xam, xám một mầu, trên trời từng đám mấy bàng bạc vẫn còn treo lơ lửng, nên tôi không thể nào cố vui lên được. Tuy rằng trong phòng còn có hai người nữa, nhưng tôi chưa thể gần gũi với họ ngay lúc này dù đã được giới thiệu hẳn hoi. Nhưng dù là không thân thiết đi nữa thì đến giờ ăn chiều, hai vị trung úy cùng phòng cũng đưa tôi xuống phòng ăn để cùng dùng cơm chiều. Tôi theo họ vào phòng ăn nhưng tâm hồn cứ để tận đâu đâu, rồi ra lấy phần ăn một cách máy móc, cốt là để ăn cho xong còn về phòng nằm nghỉ

    Đối với tôi thì việc ăn cơm ở nhà bàn như thế này thì tôi đã quen từ mấy năm nay khi còn ở trong Đại Học Xá rồi, chứ đâu có lạ lung bỡ ngỡ gì, nhưng hôm nay thì hơi khác. Trong khi tôi còn đang chán đời như thế thì giữa những tiếng nói cười ồn ào của không biết bao nhiêu người đang ngồi ăn ở chung quanh, tôi chợt nhận ra mấy giọng nói đặc biệt của một dân Đại Học Xá Minh Mạng.

    Giọng nói của những kẻ coi trời bằng vung và nói bất cứ chuyện gì, dù vô lý đến đâu cũng… luôn luôn tỉnh bơ như nói về môt chuyện có thực, thí dụ như khi có người thắc mắc là cái Đại Học Xá này ở ngay sát nách với Viện Bài Lao Hồng Bàng mà sao tụi sinh viên chúng nó ở đó lại không bị gì nhỉ? Thì đã được trả lời là: "Các bạn phải biết rằng con đường Hùng Vương này là con đường một chiều, mà Đại Học Xá của tụi này lại nằm ở phía trên cái Viện Bài Lao kia thì con vi trùng lao nào dám đi ngược chiều sang Đại Học Xá được mà hòng chui vào phổi của anh em sinh viên chúng tôi, chúng phải sợ mấy ông Cảnh Sát Quận 5 chứ!

    Đại loại, giọng nói của các sinh viên Đại Học Xá Minh Mạng là như thế đó, nên rất dễ nhận ra, cho dù là giọng nói đó được phát ra giữa đám ba quân, như trường hợp chiều hôm nay chẳng hạn.

    Nhận ra giọng nói thân thuộc này rồi, tôi vội quay về phía những tiếng nói đó ngay và vô cùng vui vẻ nhận ra mấy anh bạn quen, họ đang đấu hót với nhau một cách rất hăng say về một vấn đề gì đó không biết. Đó là các Y Sĩ Đại Úy Trần Huy Thọ, Nguyễn Như Chương, Nha Sĩ Đại Úy Nguyễn Hữu Phú. Thế là tôi chạy ngay sang bàn họ, cho họ biết là tôi mới tới, rồi ngồi ở đó góp chuyện với họ.

    Tối hôm đó tôi sang phòng anh bạn Phú chơi và dù không biết đánh xì phé, tôi cũng nhập cuộc với họ, hôm sau là Chủ Nhật thì phải, để thua hết nhẵn tiền túi đến nỗi phải mượn của anh Phú 500 đồng bạc VN hồi đó, tương đương với 5 tô phở mà cho tới giờ này tôi cũng quên chưa trả cho anh một đồng nào! Hôm sau, anh còn nói với tôi là:

    - Sĩ quan việc gì phải ra đón xe để đi nhờ. Pháo đội của bạn phải cho xe lên đây đón bạn chứ. Bạn cứ ở đây đi, sáng sáng chịu khó dậy sớm một chút theo tôi ra thị xã và trong khi tôi làm việc thì bạn lấy xe của tôi mà đi chơi đến 11 giờ trưa thì tới đón tôi về. Khi nào có xe lên đón thì hãy đi.

    Thế là tôi làm đúng như lời anh Phú khuyên mà ở lại dong chơi thêm vài ngày trong cái thị xã PleiKu này.

    Ngay ngày hôm sau, một ngày Chủ Nhật, tôi được anh Phú và mấy anh kia đưa tôi ra thăm “Biển Hồ” của Pleiku. Lúc gần tới nơi, họ chỉ cho tôi thấy một cây hạt dẻ rất lớn (một cây cổ thụ) đứng sừng sững ở ngay giữa đường và bảo tôi: "Nếu bạn muốn thì có thể ra nhặt một ít hạt dẻ ở dưới gốc cây rồi mang về mà... luộc hay rang tùy ý".

    Nói thế nhưng họ vẫn đưa tôi ra thẳng cái Biển Hồ để cho tôi thấy cái rộng lớn của nó. Cái hồ này rộng thực, đứng bên này nhìn sang bờ hồ bên kia cũng như đứng trên bờ Hồ Tây, bên đường Cổ Ngư nhìn sang bờ đối diện vậy!

    Tối hôm đó, tôi còn được anh Chương đưa tôi về nhà anh ở gần chợ của thị xã để thăm bà nhạc và bà xã của anh. Ở đây tôi còn nhớ là đã được cho ăn một bát chè đường.

    Một bát chè đường thì có gì mà phải nhắc lại!

    Đúng thế, về vật chất thì thực không có gì đáng nói, nhưng các bạn nên hiểu cho rằng đã từ lâu tôi chỉ ăn uống trong rừng với lính tráng và tôi cũng đã nghĩ như vậy khi mới tới đây, chứ nào có biết là mình sẽ được dự một bữa ăn trong một không khí ấm cúng như thế này đâu!

    Ở chơi như vậy được vài hôm thì nhân có mở đường lên KonTum, Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh trên đó tính cho xe xuống đón tôi lên, sau khi cuộc mở đường (Quốc Lộ 14) đã hoàn tất, nhưng ngày hôm đó, một trung đội Pháo Binh của tiểu đoàn đang đóng ở quận Lệ Trung cũng có việc phải về tiểu đoàn nên đã tiện đường đón tôi đi luôn.

    Trình diện tiểu đoàn rồi, tôi lại được đưa về ngay cái Trung Đội đã đưa tôi lên, tức là cái Trung Đội ở Quận Lệ Trung. Quận này nằm sát ngay thị xã Pleiku, chỉ cách Pleiku có một cây cầu ngắn. Tuy là ở ngay sát Pleiku nhưng tôi đã không có dịp đi thăm lại các anh bạn Đại Học Xá của tôi nữa, ngay cả việc trở về Pleiku cũng không mấy khi thực hành được, vì cho tới lúc này tôi vẫn chưa phải là Trung Đội Trưởng nên không có xe để đi. Mỗi trung đội trưởng Pháo Binh có một cái xe Jeep riêng, tiền sát viên thì làm gì có xe riêng mà đi.

    Tới Quận Lệ Trung là tôi được giới thiệu với Trung Úy Nguyễn Văn Đương, Quận Trưởng của quận này, vì trung đội của tôi nằm ngay trong vòng rào của Quận. (12 năm sau, đúng hơn là vào đầu năm 1976, tôi đã có dịp gặp lại ông Quận Trưởng này ở trại Cải Tạo Tân Hiệp hay là trại Suối Máu, mà cấp bậc của ông cựu Quận Trưởng lúc đó lại mới chỉ là đại úy như tôi thôi, chức vụ thì đã được… thăng lên làm Phường Trưởng, chỉ có điều là Phường Trưởng ở một Phường trong Quận 5 Chợ Lớn thôi).

    Có 2 điều khiến tôi không thể dễ dàng quên được Quận này, đó là: Điều thứ nhất là về vấn đề ăn sáng. Cả Quận chỉ có một quán, gọi là quán ăn thì không được vì quán này tuy có bán nước mắm, tương, chao, trứng gà, trứng vịt, gạo, muối, bánh tráng… Đồ ăn sáng thì chỉ có một món coi như hủ tíu. Mà không phải ngày nào cũng có thứ hủ tíu đặc biệt này. Những hôm ấy, ông chủ quán thường xun xoe nói với chúng tôi là: "Xin lỗi trung úy và thiếu úy, hôm qua chúng em không đi chợ nên hôm nay không có hủ tíu cho quý vị". Thế là nếu chúng tôi muốn ăn sáng thì chúng tôi phải nhờ ông chủ quán chiên cho mấy quả trứng để ăn với bánh tráng, bánh mì cũng không có luôn.

    Điều thứ hai là thái độ của ông cố vấn Mỹ của Quận. Đối với ông cố vấn này thì kể từ ngày mới về Quận này, ai muốn nói gì với ông ta thì phải nói bằng tiếng Mỹ, nếu không thì phải nhờ thông ngôn, ông ta coi như không hiểu tiếng Việt. Thế nhưng, vào ngày ông ta mãn hạn trở về nước, vài tuần sau kể từ khi tôi tới Quận, quận trưởng có mở tiệc tiễn hành. Trong bữa tiệc, có một ông trung sĩ của Quận có rót một ly rượu và đưa lên mời ông cố vấn. Ông này đã nhận lấy ly rượu (đế) này và uống cạn, sau đó trả lại cho ông trung sĩ cái ly không và nói… “Đù mẹ nó, cay quá”. Tới lúc đó mọi người mới thấy là ông ta rất rành tiếng Việt chứ không phải là không biết.

    Sự việc này làm tôi nhớ đến hồi tôi còn học lớp PCB tại Faculté des Sciences ở Saigon. Hồi ấy giảng sư dậy môn Chimie Minérale là ông Léon Cossara, ông này có giọng đọc rất khó nghe. Một hôm, ngồi trong cái giảng đường lớn vừa mới xây xong, vào giờ Chimie Minérale. Ông thầy vừa nói xong một câu gì đó thì tôi nghe thấy ở phía sau tôi có tiếng “đọc như thế thì các bố đâu có nghe được”, tôi vội quay lại xem ai vừa há miệng chửi đó, thì mới biết đó là anh Lý Hồng Sen, em Bác Sĩ Lý hồng Chương vừa mới phát ngôn. Đại khái là ông Léon Cossara này luôn luôn bị chửi như thế.

    Có lẽ là thấy mình bị chửi nhiều quá, vì ai cũng cho là ông này không biết tiếng Việt nên…tự do chửi thẳng thừng không e dè gì cả, nên một hôm, ông ta dở trò điểm danh chơi, ông ta gọi đến tên …Mlle Công Tằng Tôn Nữ Nguyễn Thị Trí Tri thì mọi người mới ngớ ra, ông ta gọi không sai dấu một chút nào. Hóa ra là … Về sau hỏi ra mới biết rằng mẹ ông ta là dân…HUẾ đấy!

    Ngoài ra còn một việc nữa cũng làm tôi khó quên cái thời gian ở đây, đó là việc Trung Úy Trung Đội Trưởng, tên là Liêm hay Lễ, tôi đã quên mất rồi, đã dụ tôi rút đơn xin giải ngũ, anh ta sẽ nói với bác của anh ta là thiếu tá gì đó thăng cấp cho tôi lên trung úy sớm vài tháng (Còn chừng 3 tháng nữa là tôi đủ 2 năm thiếu úy thực thụ và sẽ được tự động thăng cấp lên trung úy) rồi ở lại làm trung đội trưởng trung đội này để anh ta lên sư đoàn với ông bác anh ta. Anh ta còn nói là khi đã ở trên Sư Đoàn rồi, anh ta sẽ hết sức nâng đỡ tôi. Tôi đã dứt khoát từ chối việc này vì thực sự là tôi đâu có muốn làm "quan".

    Thấy tôi không nghĩ đến chuyện thay hắn làm trung đội trưởng trung ssội này nên nhân môt hôm vào khoảng 9 hay 10 giờ gì đó, hắn cho hai chiếc GMC đi Quy Nhơn mà chẳng có công vụ gì hết, tôi tuy có hơi thắc mắc một chút nhưng vì không phải là việc của mình nên tôi cũng chẳng hỏi làm gì. Đến chiều khi những chiếc xe đó về, ông trung úy trung đội trưởng của tôi mới nói nhỏ với tôi là: "Mỗi tuần mình có thể cho hai chiếc xe của trung đội đi Quy Nhơn chơi để lúc về chở dùm mấy người bạn trong thị xã một ít hàng là trung đội mình cũng kiếm được một ít tiền tiêu vặt đấy!".

    - Thế, nếu hôm đó có lệnh di chuyển thì sao?

    - Trong trường hợp đó thì mình phải kêu chúng về ngay chứ, nhưng thông thường thì lệnh di chuyển cũng phải tới trước một ngày. Vả lại khi nào có hành quân thì ông bác tôi trên sư đoàn sẽ cho mình biết trước, nên bạn khỏi lo những việc vặt ấy.

    Hắn đã tưởng rằng vì cái lợi nhỏ đó tôi sẽ rút đơn xin giải ngũ để ở lại làm trung đội trưởng cái trung đội đó thay hắn và hắn sẽ được lên sư đoàn, nhưng hắn đã thất vọng vì tôi vẫn …không làm gì cả.

    Ở Quận Lệ Trung này được chừng một tháng thì tôi được lệnh đi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho một Chi Đoàn M-113 trong vòng nửa tháng. Lần này chúng tôi sẽ đi vào các quận Lệ Thanh, Đức Cơ. Đây chỉ là một cuộc hành quân bình định thông thường, đoàn M-113 của chúng tôi chẳng gặp địch ở đâu hết, chỉ có điều là trước khi vào thăm đồn Đức Cơ, đoàn thiết vận xa của chúng tôi đã phải chạy đi chạy lại, quần lên quần xuống cái bãi trống ở trước cổng cái trại Đức Cơ này nhiều lần để phá những cái mìn cá nhân, những cái mìn này đã do anh em binh sĩ trong đồn gài sẵn để ngăn không cho tụi Việt Cộng lại gần đồn. Thấy chúng tôi đến, ông trưởng đồn đã phải yêu cầu chúng tôi phá huỷ chúng đi trước khi cho anh em binh sĩ ra khỏi xe rồi dựng lều, dựng bếp nấu nướng.

    Nói đến nấu nướng, tôi lại nhớ đến tên Lý văn Lời ở Trung Đội 2B/51 Pháo Binh. Trong các cuộc hành quân, bất kể là đi với đơn vị nào, bộ binh, thiết vận xa, biệt động quân hay nhẩy dù, toán Tiền Sát chúng tôi bao giờ cũng ăn riêng với nhau. Như tôi đã nói ở trên, vì tôi là tên thích ăn ngon nên trước mỗi cuộc hành quân dài từ hai hay ba ngày trở lên, tôi luôn luôn đưa tiền cho một tên lính nào đó trong toán để hắn ra chợ mua một ít thịt heo một ít hành, mỡ vv …rồi về nhà kho hay rang sẵn mang theo, dĩ nhiên là đôi khi cũng có việc mấy tên lính của tôi đã có bắt gà để làm cơm, nhưng việc đó chỉ được làm tại những nơi như Mật Khu Bời Lời …, nghĩa là ít khi xẩy ra. Vào Chiến Khu Đ, nằm mở đường dài hạn trên con đường từ Bình Dương lên Bến Cát hay đi từ làng Tân Thạnh Đông qua Paris Tân Quy để lên Phú Hòa Đông rồi trở về…, thì hoặc lấy gà đâu ra để bắt hoặc ai cho phép bắt gà của dân. Thông thường thì tên Lời hay giúp tôi đi mua những thứ lặt vặt đó và luôn luôn chúng tôi có những bữa ăn ngon lành.

    Kỳ này cũng không ngoại lệ, khi được lệnh là sẽ phải đi với Thiết Vận Xa chừng 15 ngày là tôi đã đưa tiền cho tên lính đi theo để lo nấu ăn, bảo hắn ra Pleiku mua chừng một nửa ký thịt heo mang đi để chúng tôi sẽ cùng ăn, nhưng ngay từ bữa ăn đầu tiên tôi đã phải thất vọng tràn trề, tôi đã không thể nuốt trôi được nồi canh cải Tầu Bay nấu với thịt heo mang từ nhà vì …mặn ơi là mặn, thịt heo thì sắt qúa nhỏ và đã kho với muối. Lúc đó thì đành chịu vì không thể làm gì hơn được nữa rồi. Tôi chỉ tính rằng lần sau thì mình phải chịu khó kiểm soát trước mới được.

    Nhưng may mắn cho tôi là cuộc hành quân này là cuộc hành quân thứ nhất và cũng là cuộc hành quân cuối cùng của tôi ở cái Vùng II đất đỏ này. Đây đúng là vùng đất đỏ thực. Ngoài Pleiku, trời nắng thì mỗi khi xe chạy là bụi đỏ sẽ bốc lên đầy trời, còn nếu trời mà nổi cơn mưa ,dù chỉ là mưa phùn thôi, thì bùn đỏ sẽ bám chặt vào các bánh xe. Mang giầy trận mà đi bộ thì thật là vất vả.

    Trong mấy ngày đầu của cuộc hành quân thì trời khô ráo nhưng sau khi chúng tôi dời Đức Cơ được một ngày thì trời đã bắt đầu chuyển sang mưa và đất đỏ tuy không gây được trở ngại gì lớn cho đoàn Thiết Vận Xa nhưng đã gây khó khăn lớn cho chúng tôi mỗi khi phải nấu ăn cũng như phải dựng lều để ngủ qua đêm. Tìm đất để nằm đã khó mà đôi khi còn bị sự thay đổi của hướng gío làm chúng tôi mất ngủ luôn. Đã nhiều lần chúng tôi phải đóng cọc để căng võng thế nhưng cũng có lần nửa đêm gió đổi chiều nên đã tạt hết nước mưa vào chỗ chúng tôi nằm làm đêm đó mấy người chúng tôi phải thức luôn đến sáng. Thường thì chúng tôi chỉ căng mấy tấm Poncho làm như hai mái nhà để ngăn cản không cho mưa tạt vào mấy cái võng và đồ cá nhân đặt ở trong nhưng chừa hai đầu để chui ra chui vào chứ không bao giờ che kín cả bốn phía nên khi mà gió nổi cơn chuyển hướng thì…lãnh đủ.

    Như tôi đã nói ở trên, cuộc hành quân này cũng giống như một cuộc di hành xa thôi chứ không gặp một tên địch nào. Ngày cuối, trước khi trở lại Pleiku, đoàn xe đã dừng lại ở một buôn làng nào đó để anh em binh sĩ xuống mua mấy qủa mít rồi bổ ra ăn. Thú thực là tôi chẳng hiểu họ đã mua bán ra sao nhưng toán Tiền Sát chúng tôi cũng được anh em ở trong xe (xe của Thiết Đoàn Trưởng cùng với ban Chỉ Huy của Thiết Đoàn) đưa cho một nửa qủa mít và mặc dù là sau khi xuống xe rồi, tay ai cũng dính đầy đất đỏ nhưng chẳng có ai nghĩ đến chuyện phải rửa tay cho sạch mà chỉ chùi tay vào quần áo (trận) của mình, bóc lấy bóc để vài múi mít và đưa ngay vào mồm nhai, không hề nghĩ đến vi trùng vi triếc gì hết.

    2- Dời quận Lệ Trung, lên Kontum gặp Thiếu Úy Toàn.

    Về được quận Lệ Trung được vài ngày, tôi đã định là khi nào có dịp tôi sẽ theo mấy chiếc GMC đi Quy Nhơn chơi cho biết. Nhưng chưa kịp thực hiện việc đó thì tôi được lệnh dời trung đội để trở về tiểu đoàn ở trên Kontum. Trở lên đây rồi tôi mới gặp Thiếu Úy Nguyễn Quang Toàn, cùng là dân 14 Pháo Binh và cũng sắp được giải ngũ như tôi. Chúng tôi được gọi về lại tiểu đoàn để thỉnh thoảng đi trực ở Văn Phòng Tiểu Đoàn hay sang trực bên Tiểu Khu nằm ngay cạnh tiểu đoàn, chứ không phải đi tiền sát nữa.

    Trong mấy ngày rỗi rãi này, chúng tôi thường la cà mấy phố trong tỉnh chơi. Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh của chúng tôi và Tiểu Khu đều nằm xa phố chợ vì vậy nếu muốn ra chợ, chúng tôi phải xem có ai ra đó thì mới xin đi theo được. Ra tới chợ rồi mới thấy rằng cái tỉnh Kontum này rất sạch. Sạch sẽ hơn Pleiku nhiều. Đất ở trên này là đất cát trắng chứ không là đất đỏ như ở Pleiku nên đường xá trông đẹp con mắt lắm.

    Lên đây rồi, tôi cũng có ý muốn tới thăm nơi ngày xưa anh tôi đã đóng quân, nhưng tiếc thay là tôi đã không gặp một sĩ quan Biệt Động Quân nào thành ra không thực hiện được cái ý định đó. Chính ở trên Kontum này mà tôi đã chụp được một tấm hình “Th. Úy” rất đẹp, tiếc rằng tôi đã đốt nó đi mất khi… VC vào Sài Gòn năm 1975 rồi !!!

    Hơn nữa, chúng tôi cũng không ngờ là chúng tôi đã được Đại Úy Bửu Hạp, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh đã cho hai đứa chúng tôi nhận giấy giải ngũ và ra về trước ngày mà chúng tôi được chính thức một tháng.

    Sau khi trả hết quân dụng cho Tiểu Đoàn và nhận giấy giải ngũ, chúng tôi đã được dự một bữa tiệc tiễn hành do Tiểu Đoàn tổ chức với Chủ Tọa là Đại Úy Bửu Hạp. Trong bữa tiệc này Đại Úy có nói với chúng tôi là: "Tôi biết là các ông sắp giải ngũ mà khi sắp giải ngũ thì hay xẩy ra những chuyện đáng tiếc lắm, nên tôi đã đưa các ông về đây sớm để cho các ông được an toàn và tôi cũng được an tâm nữa. Trên nguyên tắc thì tháng này mới chỉ là tháng phép của các ông, nhưng chẳng lẽ tháng sau tôi lại bắt các ông ra đây một lần nữa để lấy giấy giải ngũ hay sao, nên tôi đã ký giấy giải ngũ cho các ông ngay từ bây giờ chứ chẳng phải là có gì đặc biệt với các ông đâu".

    Rồi vì tôi là người lớn tuổi hơn anh Toàn, nên tôi đã phải đứng lên ngỏ lời cảm ơn các vị sĩ quan trong tiểu đoàn, trong lời đáp từ tôi có đặc biệt cảm ơn sự lưu tâm của Đại Uý Bửu Hạp. Trong khi nói những lời cảm ơn đại úy, tôi đã tỏ ra hơi lúng túng, giọng nói thì nghẹn ngào. Phải thú thật là tôi chưa bao giờ thực sự bị xúc động đến như vậy.


    Chương 10


    Giã Từ Vũ Khí

    1- Trở lại đời sống dân sự.

    Hôm sau, mấy anh trong tiểu đoàn đưa hai đứa chúng tôi ra sân bay để xin hai chỗ cho chúng tôi về Sài Gòn. Nhưng khi ông trung sĩ coi sân bay trông thấy chúng tôi mặc quần áo dân sự đã bảo chúng tôi là muốn lên phi cơ quân sự thì phải là quân nhân mới được, nghĩa là phải mang quân phục. Thế là anh trung úy, người vừa mới đưa chúng tôi ra sân bay lại phải đưa chúng tôi trở lại tiểu đoàn để chúng tôi xuống Ban Tư mượn lại mỗi người một bộ đồ số 2 mang vào. Sau đó anh trung úy này lại đưa chúng tôi ra sân bay để chúng tôi chờ.

    Với bộ đồ số hai, không có cấp bậc, cũng chẳng có huy chương, chúng tôi lúc đó trông giống như hai tên binh nhì được đi nghỉ phép!

    Chừng nửa giờ sau là chúng tôi được lên một chiếc Caribou về Sài Gòn. Khi tới sân bay của Phi Trường Tân Sơn Nhất, khu quân sự, chiếc phi cơ hạ cánh cho chúng tôi xuống. Mấy sĩ quan Mỹ thì có xe Jeep ra đón còn chúng tôi thì dĩ nhiên là không có ai ra đón cả, mà chúng tôi cũng không dám xin đi nhờ xe của mấy anh bạn sĩ quan Mỹ vì lúc đó chúng tôi chỉ là hai tên binh nhì, nên chúng tôi đã quyết định là đi bộ ra cổng cho yên chuyện. Chúng tôi cũng không ngờ là hôm ấy đã phải đi xa đến thế. Chúng tôi đã phải mất đến gần nửa giờ mới ra tới cổng trại Phi Long.

    Thấy chúng tôi vai mang ba lô lếch thếch từ trong sân bay đi ra, toán lính gác ở cổng trại đã tròn mắt ra nhìn chúng tôi, chắc là họ thắc mắc về sự xuất hiện gần như bất ngờ của chúng tôi, binh nhì gì mà lại đi nhờ được phi cơ của Mỹ và đã đến đây rồi thì sao lại chẳng có ai cho xe ra đón rước thế này!

    Qua được cổng trại rồi là chúng tôi đã kiếm xe taxi để về nhà, về đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Nhà tôi thì ở gần rạp Ciné Văn Cầm còn anh Toàn thì ở trong Ngõ Hàng Goòng, ngõ này ở một bên đường Võ Di Nguy, phía bên kia là đường Nguyễn Minh Chiếu (hiện nay, tôi và anh Toàn đều đang ở Mỹ, tôi thì ở San Francisco, California, còn anh Toàn thì ở bên Mesa, Arizona)

    Cho tới lúc này, nếu tôi phải dùng đường hàng không để di chuyển thì tôi chỉ toàn được đi phi cơ quân sự không, chưa bao giờ tôi được trèo lên một chiếc phi cơ dân sự cả. Lần di cư vào Sài Gòn, tôi đã được phi cơ quân sự Pháp đưa tôi đi từ Phi Trường Gia Lâm. Và khi đã là lính thì phần lớn là đi trực thăng, đầu tiên là L-19 khi học quan sát bằng phi cơ khi còn ở Dục Mỹ, rồi chiếc trực thăng qủa chuối H-26 đã đưa tôi và vài người lên đồi 390, sau đó là mấy chiếc HU hoặc Chinook…, cuối cùng là chiếc máy bay vận tải Caribou chở tôi và anh Toàn từ Kontum về Tân Sơn Nhất vào cuối tháng 6 năm 1966. Từ đó thì tôi không còn có cái hân hạnh là được trèo lên một chiếc phi cơ quân sự nào nữa.

    Phi cơ quân sự thì không được đi nữa, nhưng quần áo lính thì tôi lại phải mặc thêm một lần nữa. Đúng là cái "số", nó bắt phải như thế. Khi trút bỏ quần áo lính, trả lại cho Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh, tưởng đã là xong. Thế mà lúc ra tới Sân Bay để xin phi cơ về Sài Gòn, họ lại bắt tụi tôi phải mặc quần áo lính vào thì mới được trèo lên phi cơ. Thành ra dù đã giải ngũ rồi, chúng tôi lại vẫn bị bắt buộc tái ngũ bởi cái biến cố Tết Mậu Thân sau khoảng một năm rưỡi được tự do.

    2- Làm đại diện sinh viên tại Đại Học Xá Minh Mạng và dạy học tại quận Nhơn Trạch.

    Trong một năm rưỡi tự do này, tôi đã trở lại cư ngụ trong Đại Học Xá Minh Mạng, ra ứng cử làm ssại diện cho sinh viên trong Đại Học Xá theo lời khuyên của anh em, nhất là của anh Nguyễn Thanh Hùng (anh là một kỹ sư Hoá Học của miền Bắc, vượt tuyến vào Nam năm 1958 qua đường Lào. Anh Thanh Hùng này đã là người ngâm thơ cho Đài Phát Thanh Sài Gòn trong mục Tao Đàn, tiếng nói thi, văn kim cổ miền đất Tự Do).

    Tôi còn nhớ là vào cuối tháng 12 năm 1966 và vào một tối thứ Bẩy trước ngày anh em Sinh Viên Đại Học Xá Minh Mạng bầu cử các chức vụ Đại Diện Sinh Viên và Thủ Quỹ cho Quán Cơm của họ, anh Thanh Hùng đã kéo Trịnh Công Sơn và Khánh Ly vào Đại Học Xá để làm một đêm "không ngủ" hầu giúp tôi thành công trong vụ bầu cử ngày Chủ Nhật hôm sau).

    Trong thời gian này, tôi cũng xin đi làm tư nhân dạy giờ cho một trường Trung Học ở Quận Nhơn Trạch, Biên Hòa. Hiệu Trưởng trường Trung Học Ngô Quyền ở Biên Hoà là ông …Bảo coi luôn cái trường ở quận Nhơn Trạch này. Mỗi lần tôi muốn tới quận Nhơn Trạch, tôi thường đi cái xe Lambretta cũ NA 1112A của tôi sang Cát Lái, chạy qua cái bâtiment của kho đạn mà tôi đã nằm ở đó mấy năm về trước, rồi qua phà. Sau khi qua phà, tôi còn phải đi thêm vài cây số nữa mới tới được cái trường mà tôi đã nhận dạy.

    Có một lần trên đoạn đường này, tôi đã gặp lại anh chàng Toản mà khi xưa đã làm tài xế xe Jeep cho Thiếu Úy Thinh, lúc này chú ta đã dời Pháo Binh về làm Địa Phương Quân ở quận này. Hôm tôi gặp chú ta là hôm chú ta đang gác trên con đường mà tôi phải qua để đến trường. Hôm đó chú Toản này đã dơ tay lên nghiêm chỉnh chào tôi, miệng thì hô "Chào thiếu úy". Tôi phải nói ngay với chú ta rằng: "Này, em nên biết rằng tôi đã giải ngũ rồi nhé, hơn nữa em gọi tôi như thế, tụi Việt Cộng nó để ý thì rất nguy cho tôi đó. Lần sau chỉ nên kêu “Chào Thày” thôi là được rồi".

    Nói thì nói thế, chứ thực ra tôi cũng chẳng sợ gì tụi Việt Cộng ở đây hết, con đường này gần kho đạn Cát Lái thì không an ninh sao được! Vả lại mỗi tuần tôi cũng chỉ sang đây có 2 ngày để dạy mỗi ngày 4 giờ về môn Toán cho lớp đệ Tứ thôi. Nhưng cuối cùng thì dạy ở đây cũng không được bền vì Biến Cố Tết Mậu Thân vào đầu năm 1968.

    3- Tái ngũ vì biến cố “Tết Mậu Thân”.

    Cái vụ Việt Cộng vi phạm trắng trợn vào Hiệp Ước Ngừng Bắn trong dịp Tết đã khiến tôi bị kêu tái ngũ. Có điều là lần này tôi đã trình diện tái ngũ tại Bộ Giáo Dục để đi làm Huấn Luyện Viên dạy Quân Sự Học Đường cho Sinh Viên Thủ Đô Sài Gòn theo thông cáo của Bộ Quốc Phòng. Cái thông cáo này đã được phổ biến trên hệ thống Truyền Hình, Truyền Thanh, kêu gọi các cựu quân nhân sinh từ 1935 trớ về sau phải ra trình diện tái ngũ, những ai là Sinh Viên hay Giáo Chức thì trình diện ở Bộ Giáo Dục. Lúc đó tôi vừa là sinh viên vừa là giáo chức, dù chỉ là Tư Nhân Dậy Giờ mà lại sinh vào năm 1935 (trên giấy tờ) nên tôi đã phải đi trình diện tái ngũ tại Bộ Giáo Dục.

    Cho tới lúc đó, tôi vẫn chỉ là thiếu úy thâm niên, trong khi các sĩ quan khóa đàn em của tôi, Khóa 15, Khóa 16 đã là trung úy. Khóa 14 chúng tôi chỉ còn thiếu hai tháng nữa mới đủ hai năm thiếu úy thực thụ, nghĩa là còn phải hai tháng nữa chúng tôi mới có thể là trung úy. Sĩ auan khóa đàn anh nay lại trở thành sĩ quan đàn em. Trớ trêu thế đấy!

    Mà muốn lên trung úy, chúng tôi phần lớn đã phải tự làm đơn lên Bộ Tổng Tham Mưu. Các vị thiếu tá, đại úy về coi chúng tôi thì một phần là họ cũng bỡ ngỡ chẳng hiểu gì về vấn đề này, phần nữa là họ đã không được chỉ thị gì từ cấp trên cả, nên họ đã không biết làm gì hết. Chính bản thân tôi, tôi cũng đã phải tự làm đơn xin thăng cấp rồi tự đi lên Tổng Tham Mưu nộp cho phòng quân số, sau đó tôi còn phải theo dõi và đã phải tự lên lấy quyết đinh thăng cấp.

    Vì vậy, khi đã cầm được quyết định này rồi là tôi tự động mang lon lấy, rồi sau đó mới đưa quyết định cho anh Sĩ Quan coi Ban IV để anh ta làm lương, chứ không đưa cái quyết định ấy cho ông thiếu tá đang coi tụi tôi. Ông thiếu tá này lúc đó đã không thể gắn cấp bậc cho tôi được vì có ai gửi cái quyết định thăng cấp của tôi cho ông đâu để ông có thể đưa ra trước mặt mấy tên trung úy, thiếu úy mới tái ngũ chúng tôi và đã như thế, thì làm sao ông dám gắn thêm cấp bậc cho tôi đây! Lúc đó chúng tôi đang đóng ở trường Trung Học Pétrus Trương Vĩnh Ký.

    Lúc đầu, tôi đã xin về trường Đại Học Khoa Học, tôi đã tính là sẽ ghi tên học cái lớp “Toán Học Đại Cương” ở đây, nhưng về sau tôi lại bị chuyển sang trường Pétrus Ký ở bên cạnh rồi cuối cùng thì về ở hẳn trong Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (lúc này đã dọn về đường Trần quốc Toản).
    Gọi là dạy quân sự cho sinh viên nhưng thực ra là trong mấy ngày đầu, chúng tôi chỉ dạy qua loa về mấy động tác của Cơ Bản Thao Diễn và cho dù có phát súng Carbine loại M-1 cho họ, nhưng hình như chúng tôi chỉ dạy họ cách tháo ráp khẩu súng đó một cách qua loa thôi.

    4-Tinh thần rất cao của anh em sinh viên Sài Gòn.

    Nhìn quang cảnh tại các phân khoa đại học Saigon mấy hôm đó, mọi người mới thấy là tinh thần của sinh viên Sài Gòn lúc đó lên rất cao. Họ đã tự ý đến trường rất đều đặn để dự những lớp huấn luyện do chúng tôi phụ trách. Nói chung thì phần lớn dân chúng ở Sài Gòn, ai ai cũng đều muốn góp sức với chánh quyền để tiêu diệt lũ côn đồ Cộng Sản. Những người như tôi chẳng hạn, nếu muốn thì cũng có thể không bị tái ngũ, vì tôi gần như là đứa con trai duy nhất còn lại trong gia đình: Anh tôi đã tử trận từ năm 1962, có một thằng em thì nó vừa bị tê liệt vừa bị mù. Nếu tôi nộp đơn xin miễn tái ngũ thì chắc chắn là được nhưng tôi vẫn ra trình diện tái ngũ để lại trở thành một tên lính như mọi người.
    Tôi còn nhớ là lúc đó anh Toản, một anh bạn khi xưa đã ở cùng dẫy trong Đại Học Xá Minh Mạng mà chúng tôi hay gọi là Cò Toản vì sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Luật, anh đã thi vào Cảnh Sát và nay đã ra trường và làm trong Cảnh Sát với chức vụ gì đó mà tôi không biết, Cỏ Toản có nói với tôi rằng: “Ông bảo ông Tam, anh của ông, xin cho ông vào, thì khỏi phải lại đi lính!”. Ông Tam, anh của tôi mà Cò Toản nói đây, là ônh Nguyễn Hồng Nhuận Tam (về sau tự ý đổi là Tâm), con ông bác tôi là ông Phó Chưởng Lý Tòa Thượng Thẩm Saigon Nguyễn Mạnh Nhụ, anh đang làm trong Tổng Nha Cảnh Sát, hình như đang làm Chánh Sự Vụ Sở Nghiên Cứu, Kế hoạch thì phải. Anh Tam mà xin cho tôi thì chắc chắn là tôi sẽ trở thành một Biên Tập Viên Cảnh Sát rồi, nhưng tôi đã trả lời anh Cò Toản này ngay lúc đó là: “Đi lính chết thì thôi, chứ tôi không muốn là Cảnh Sát".

    Bây giờ, nghĩ lại mới thấy rằng mình lúc đó đã hơi bất lịch sự với anh Cò Toản này, đáng lẽ là tôi cứ ừ ào cho qua chuyện, rồi không nói với ông anh họ mình là xong, chứ việc gì phải trả lời một cách bất lịch sự như vậy!

    Tinh thần của anh em sinh viên đại học không những chỉ thể hiện bằng cách đến trường đều đặn để được huấn luyện quân sự mà còn được biểu lộ qua việc họ đã đến trường để được mang súng đạn đi vào Chợ Lớn, nằm trấn trong vài căn nhà của dân chúng (dĩ nhiên là nhà mấy người Tầu) ở gần mấy con kênh, con rạch như ở bến Chương Dương hay bến Hàm Tử chẳng hạn. Trong mấy ngày này, những sinh viên Đại Học Saigon của chúng ta không phải chỉ đến để được tập họp ở trước cổng trường của mình rồi xếp hàng vừa đi vừa đếm 1, 2, 3, 4, 1, 2, 1, 2... trên những con đường đầy an toàn như họ nghĩ nữa.

    Ít ra là đã có một lần, trong khu vực mà tôi và Thiếu Úy Đồng cùng với 11 hoặc 12 sinh viên do tôi làm trưởng nhóm, Thiếu Úy Đồng làm phó, đã có lộn xộn xẩy ra. Hôm đó chúng tôi được chỉ định lên trên sân thượng khá cao trong một căn nhà một gia đình người Hoa, để nhìn xuống đường quan sát.

    Sáng hôm đó, sau khi tôi đã sắp đặt vị trí quan sát cho từng sinh viên và cũng đã có dặn hờ cho mọi người là khi thấy bóng dáng tụi Việt Cộng ở dưới đường thì phải báo động cho mọi người cùng biết. Nhưng tuyệt đối không được nổ súng bắn hoảng bắn tườu. Các anh chỉ được nổ súng khi tôi hoặc Thiếu Úy Đồng bảo bắn.

    Tôi nói là dặn hờ vì tôi nghĩ rằng làm gì còn Việt Cộng trong Thành Phố này nữa, chúng đã bị quân lính của ta dẹp hết rồi còn đâu. Vì đã nghĩ như vậy nên sau khi phân bố anh em xong, tôi liền bỏ đi tìm một anh bạn, cũng đang coi một nhóm sinh viên ở một con đường gần đó, để tán dóc chơi. Trong khi chúng tôi vừa mới nói với nhau được vái câu thì có tiếng súng nổ tại khu của tôi, thế là anh bạn tôi thì vội vàng trở lên với các sinh viên trong toán anh ta, còn tôi thì trước hết là lên đạn khẩu Carbine của tôi rồi sau đó men theo mấy căn nhà mà về chỗ của chúng tôi.
    Cũng may là khi tôi mò về thì anh em sinh viên từ trên cao đã thấy nên đã có anh xuống mở cửa cho tôi vào. (Lúc đó mọi nhà đều tự động đóng cửa lại ngay khi nghe thấy có tiếng súng của Việt Cộng nổ, tên Việt Cộng này thực ra là muốn nhắm bắn vào ai, hoặc vào cái gì thì chúng tôi không biết vì ngay sau đó thì Cảnh Sát Dã Chiến đã tới lục soát, để rồi đã chẳng thấy một tổn thất vật chất bé nhỏ nào cả.

    Anh em sinh viên thấy tôi khơi khơi đi về như vậy nên chịu lắm và đã có nói là “Thiếu úy can đảm thật!”. Họ đâu có biết rằng một vài tiếng súng lẻ tẻ này đâu có hù được tôi, hơn nữa cho dù có thêm nhiều tiếng súng nổ đi nữa thì tôi cũng vẫn phải mò về để lo cho anh em chứ, tôi là trưởng nhóm mà! Đúng như tôi đã lo, trở lại đây rồi, tôi đã thấy Thiếu Úy Đồng của tôi đang tái xanh, tái xám, quýnh quáng lên (hình như anh Đồng này lúc trước chỉ là Sĩ Quan Văn Phòng thôi, nghĩa là chưa ra trận bao giờ thì phải). Anh đã bắt các sinh viên phải vào vị trí của mình, lên đạn và chĩa súng xuống dưói đường. Thấy tình trạng đó, tôi vội vã bảo các anh em tháo gắp đạn trong súng ra, lấy cả viên đạn trong nòng súng ra nữa rồi chĩa súng lên trời bắn 2 phát an toàn, sau đó về lại vị trí của mình và nhìn xuống đường xem các anh em Cảnh Sát Dã Chiến làm việc.

    Hôm trước xẩy ra sự việc như vậy mà hôm sau các anh em sinh viên vẫn đến trường trình diện đầy đủ chứ không sợ hãi gì hết, điều đó đã chứng tỏ là tinh thần của họ rất cao có phải không các bạn!

    Cuộc hành quân trình diễn kiểu đó được vài hôm rồi cũng chấm dứt, chúng tôi lại tiếp tục trình diễn cách huấn luyện quân sự cho sinh viên tại các trường của họ. Tôi thì vẫn ở lại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và phụ trách huấn luyện quân sự cho các sinh viên của Học Viện. Trong thời gian này, các sinh viên cứ sáng tới, chiều về. Sáng sớm, họ tới trường, ăn sáng tại đây và vứt giấy gói bánh mì, lá chuối gói sôi đầy sân trường. Thấy thế ông Thiếu Tá coi chúng tôi đề nghị chúng tôi tìm biện pháp hòng chấm dứt tình trạng này. Sáng hôm sau, trước khi thực tập những động tác quân sự thường lệ, tôi đề nghị:

    - Tất cả các sinh viên hãy xếp hàng ngang ở một đầu sân vận động rồi từ từ tiến về đầu sân bên kia, vừa đi vừa cúi xuống nhặt tất cả rác rến trên đường đi của mình.

    Dĩ nhiên là các sinh viên đã phải làm y như tôi nói, nhưng tôi chợt thấy một anh sinh viên Q.G. Hành Chánh Khóa 14 ở đây nói với mấy bạn mình là: “Tụi nó ngu dốt mới vào lính mà chưa gì đã làm phách, bắt tụi mình phải thế này thế nọ”.

    Nghe thấy thế, tôi lại ngay anh ta và nói với anh chàng này rằng: “lát nữa, vào giờ giải lao, anh đến hỏi anh Minh, người phát lương cho các anh hàng tháng ấy, xem là anh ấy có biết Thiếu Úy Khôi là ai không rồi mai trả lời cho tôi nhé.”

    Sáng hôm sau, tôi không thấy cậu sinh viên Khóa 14 đó gặp tôi, chắc chắn là cậu ta đã biết tôi là ai đối với cái trường này rồi. Tôi vẫn cho họ đi nhặt rác như hôm trước, có điều là trước khi làm việc này, tôi đã nói cho họ biết là: “Cái trường này là trường của các anh, dù các anh chỉ học ở đây có 2 năm thôi, thì nó vẫn là trường của các anh, không phải là trường của chúng tôi. Các anh làm sạch cái trường này là các anh tự làm đẹp cho chính các anh chứ không phải là làm đẹp cho chúng tôi và các anh nên biết rằng tình trạng này sẽ chóng qua và chúng tôi sẽ không còn ở đây nữa đâu. Các anh bây giờ đã lớn rồi và sau này ra trường các anh lại sẽ giữ những chức vụ chỉ huy nữa, nên làm gì, nói gì cũng phải suy nghĩ cho chín chắn rồi mới nói, mới làm nhé !”

    5- Xin biệt phái ngoại ngạch.

    Thế rồi tình hình được ổn định lại, các trường học phải cho mở lại và chúng tôi đã dời trường Quốc Gia Hành Chánh để về đóng tại trường Trung Học Pétrus Ký. Về đây được ít lâu thì không biết anh bạn nào đã có ý kiến là: Chúng ta đã chiến đấu 4 năm rồi, nay là lúc phải nhường chỗ cho những người khác để họ ra chiến đấu cho được công bằng chứ! Sau đó là có phong trào xin biệt phái ngoại ngạch để những sĩ quan mà họ đã từng làm ở công sở nào thì xin lại được trở về làm việc tại công sở đó như nhà giáo thì được trở lại làm việc cho Bộ Giáo Dục.

    Tôi cũng tích cực tham gia phong trào xin biệt phái này vì thấy ý kiến trên rất xác đáng. Nhưng tôi sẽ xin về trường nào đây? Chẳng lẽ lại xin về trường ở quận Nhơn Trạch hay trường Ngô Quyền ở Biên Hòa? Tôi có nêu cái thắc mắc này với anh Oanh, anh này ở ngoài tuổi bị tái ngũ và đang làm giám thị cho trường Trung Học Nguyễn Trãi bên Khánh Hội, thì anh có nói rằng:

    - Nếu cậu muốn ở Sài Gòn thì cậu phải khai là đang làm Giám Thị cho trường Nguyễn Trãi, rồi tao bảo thằng Đàm nó xin về cho. Trường này đang cần một giám thị đấy, chứ khai là giáo sư của trường thì không được vì cậu đâu có dạy ở cái trường này bao giờ. Ai đã dạy học ở Sài Gòn thì phải có tên trên Bộ chứ, khai bậy là không xong rồi.

    Tôi liền trả lời:

    - Giám thị thì giám thị có sao đâu, miễn là được ở Saigon là tốt rồi, bạn nói với tên Đàm xin cho tôi nhé!”.

    Đàm này là anh Phạm Văn Đàm, Hiệu Trưởng Nguyễn Trãi, ngày xưa vào niên khóa 1955-56, anh học Chu Văn An lớp Đệ Nhất B-2 trong khi tôi học ở Đệ Nhất B-3 cùng trường. Anh đã học Sư Phạm ngay còn tôi thì lại chê cái nghề này để bây giờ lại phải nhờ anh ta. Thế là từ đó tôi quyết định xin về trường Nguyễn Trãi vì đang làm giám thị ở đây!

    Cuối cùng thì đơn thỉnh nguyện của tôi được chấp thuận và tôi được biệt phái ngoại ngạch về trường Nguyễn Trãi qua Bộ Giáo Dục. Bộ Trưởng Bộ này là ông Tăng Kim Đông đã ký vội quyết định cho chúng tôi trước khi ông ta dời nhiệm sở. Thế là từ tháng 9 năm 1968, tôi về Nguyễn Trãi làm giám thị và đồng thời nhận dạy Toán cho mấy lớp Đệ Nhất Cấp của trường này với tư cách của một tư nhân dạy giờ cho đến khi đi tù cải tạo, tức là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Miền Nam Việt Nam bị Đồng Minh Mỹ bán đứng cho Cộng Sản sau khi đã bắt tay được với Trung Cộng.

    Trong cuộc đời lính tráng của tôi, chỉ có bốn năm đầu tôi mới thực sự là lính trận còn tám năm sau tôi chỉ là một công chức quèn ở hậu phương dù có khoác áo lính.

    6- Những gì thu hoạch được trong đời lính

    Xin điểm lại những gì tôi đã thu hoạch được, những gì trong 4 năm tác chiến đó.

    - Về huy chương thì tôi đã có được 5 cái tất cả: 2 huy chương bạc và 3 huy chương đồng.

    Những huy chương này tôi đã được cấp trong những trường hợp hơi không hợp lý. Thật thế, lý do để cấp cái huy chương bạc đầu tiên cho tôi là tôi đã có công trong trận mà tôi đã đi với Đại Đội 5 Thám Báo và suýt chết trong Chiến Khu Đ; cái huy chương bạc thứ hai thì đã được trao cho tôi sau trận mở màn ở Dầu Tiếng. Trong 2 trận trên chúng tôi chỉ thua không, thế mà tôi lại được cấp huy chương đấy! Còn 3 cái huy chương đồng thì tôi đã không nhớ được là chúng đã được cấp cho tôi trong trường hợp nào nữa, nhưng chắc chắn là không phải vì chúng tôi đã thắng trận.

    Trong 4 năm làm lính chiến, tôi không bao giờ mong muốn có được bất cứ một cái huy chương nào cả, thế nhưng chính nhờ những cái huy chương này mà tôi được thăng cấp đại úy sau này, khi tôi đang là sĩ quan biệt phái ở Bộ Giáo Dục.

    Điểm thứ 2 mà tôi thu nhận được khi làm Sĩ Quan Tiền Sát là việc tôi nói năng vừa phải, không còn vội vàng hấp tấp như trước kia nữa. Nói chuyện trực tiếp với nhau mà nói nhanh thì khó cho người nghe rồi, còn nói chuyện qua máy mà nói nhanh thì tiếng nói sẽ bị biến dạng đi, không ai có thể biết là mình nói gì nữa. Muốn gửi điện văn xin bắn mà không nói chậm rãi rõ ràng là không được. Các bạn cứ thử nói nhanh qua điện thoại xem người nghe sẽ thấy thế nào.

    Điểm thứ ba, cũng là quan trọng nhất mà tôi đã thu hoạch được từ các chiến trường là lạnh cẳng. Nói đúng ra là lạnh hai gan bàn chân, thành ra cho tới bây giờ tối nào tôi cũng phải mang tất (vớ) đi ngủ, ngay cả lúc nằm trong mấy trại Cải Tạo!

    Ngày xưa, ở trường Pháo Binh Dục Mỹ, không biết vị Sĩ Quan Huấn Luyện Viên nào đã nói với chúng tôi là khi đi hành quân thì phải luôn luôn mang theo 2 đôi tất theo để mang đôi tất khô lúc đi ngủ. Tôi đã làm như vậy nhưng tất khô mà giầy ướt thì cũng như không vì gần như đêm đêm chúng tôi đã phải mang giầy mà ngủ. Kết qủa là bây giờ phải lãnh đủ!

    Bây giờ nhớ lại 4 năm chiến đấu đó, tôi thấy rằng mình qủa là đã may mắn hơn rất nhiều người. Trong Khoá 14 Pháo Binh của tôi thì nghe đâu là đã có nhiều anh em rũ áo ra đi từ mặt trận. Riêng ở Pháo Đội B/51 Pháo Binh thì các Thiếu Úy Quýnh, Thiếu Úy Hoà đã ra đi hơi sớm.

    Trung Đội Trưởng 2B Hoàng Chính của tôi thì nghe nói là anh ta đã bị tù vì đã nóng tính gây gổ rồi bắn què một binh sĩ của mình, anh bị tù bao lâu và tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh ta đang ở đâu cũng như đang làm gì và nhất là cuối cùng anh ta có ra khỏi được cái miền đất Việt Nam Cộng Sản để tới được một nơi của thế giới tự do hay không, thì tôi đã không nghe thấy ai nói đến.

    Trung Đội Trưởng 1B Trần Văn Thinh thì cả gia đình đã bị chết khi anh là đại úy pháo đội trưởng của một pháo đội đóng ở một quận nào đó trong một tỉnh, không biết có phải là tỉnh Mỹ Tho hay không nữa! Nghe nói là hôm đó anh đã lên tỉnh để lãnh lương cho pháo đội. Chắc anh ta đã cho rằng con đường từ Quận đó lên Tỉnh rất an ninh, nên anh đã chất cả vợ con lên xe để cho họ ra tỉnh chơi luôn thể, nhưng đến khi mang tiền lương của pháo đội về thì trên đường đi, đã bị một số người có súng chặn lại cướp hết tiền và hạ sát toàn bộ gia đình anh để phi tang. Sau này có dư luận cho rằng đám cướp đó chính là mấy tên dân vệ, chúng đã giả dạng Việt Cộng để đánh cướp và vì có lẽ đã bị anh nhận mặt nên cho chắc ăn, chúng đã giết hết cả nhà anh!

    Đại Úy Của thì đã lên đại tá, làm tỉnh trưởng Bình Dương hay Long Khánh gì đó nhưng đã chết trong tù Cải Tạo ở miền Bắc.

    Riêng về chú Lý Văn Lời thì sau khi hết hạn quân dịch, hắn lại không muốn trở về quê cũ của hắn nữa mà đã đăng vào Thủy Quân Lục Chiến để rồi trở thành thương phế binh vì đã bị què, đến lúc này thì hắn phải bị giải ngũ.

    Hồi có phong trào thương phế binh chiếm đất, cắm dùi ở Saigon (có thể là do ông Phó Tổng Thống râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ phát động để gây khó dễ cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thì phải) lúc đó tôi đã là trung úy và đang làm tại trường Nguyễn Trãi và dạy học tại mấy tư thục ở Sài Gòn, tôi đã gặp tên Lời này trong một tiệm ăn ở cạnh chợ Phú Nhuận khi tôi vào đó ăn tối, để rồi còn về chấm mấy bài thi của học sinh. Chú Lời cũng vào đó ăn, nên đã gặp tôi, chú ta bèn kéo tên bạn của chú ta, cũng là một thương phế binh, đến ngồi vào bàn tôi, giới thiệu tôi với anh bạn kia và nói một cách trịnh trọng rằng: “Thiếu úy muốn giết ai, cứ bảo em, tụi em sẽ giết tên đó cho thiếu úy. À, hôm nay tụi em đãi thiếu úy”. Tôi phải nói là: “Ừ, thế thì tốt, hiện thời thì chẳng có kẻ nào dám gây với tao hết, khi nào cần, tao sẽ kêu chú mày”. Ăn xong, tên Lời này đãi tôi thật, chú và tên bạn của chú ta ra chỗ trả tiền nhưng không trả gì hết mà chỉ nói gì đó với tên Tầu ngồi thu tiền rồi ung dung bước ra. Thấy vậy tôi biết ngay là chuyện gì đã xẩy ra và tôi phải ra quầy hàng đó để trả tiền nhưng người chủ này xua tay lia lịa bảo rằng mấy người kia đã trả hết rồi. Tôi phải bảo ông ta rằng: "Chúng là lính của tôi đó, ông đừng sợ gì cả, cứ lấy tiền đi. Nếu chúng có nói gì thì ông bảo chúng lại tìm tôi ở mà hỏi". Lúc đó ông ta mới dám nhận tiền.

    Tôi chỉ gặp tên Lời này có một lần đó ở Sài Gòn thôi. Về sau vì bận kiếm tiền bằng cách nhận dạy tư thêm tại các trường Nguyễn Bá Tòng ở đường Bùi Thị Xuân Sài Gòn, Đắc Lộ ở Ngã Tư Bẩy Hiền ..., chạy hết từ trường này đến truờng kia, hết công đến tư, nên đã không có thì giờ để nghĩ đến anh Lời này nữa. Không biết hiện nay chú ta đã ra sao.

    Câu chuyện lính tráng của tôi đến đây xin tạm ngưng và chân thành xin các bạn chỉ ra cho tôi biết những điều thiếu sót hoặc sai lầm trong câu chuyện này để tôi có thể sửa chữa.

    Ở đây, tuy phần lớn nói về Pháo Binh nhưng các bạn hẳn đã thấy rằng tôi chỉ nói về công việc của một Sĩ Quan Tiền Sát cùng với mấy tên lính trong cái toán nhỏ nhoi của hắn thôi, chứ không nói gì về sinh hoạt của những người được kêu là Pháo Thủ cả, vì những người này phần lớn là những kẻ đi theo súng, nằm với súng ở một nơi tương đối an toàn, với ít ra là có một chi đội M-113 bảo vệ dù đang ở một nơi nào đó gần tỉnh, trong khi đó thì tôi lại chưa bao giờ có dịp được làm trung đội trưởng để được ở hậu cứ với họ, hòng quan sát những sinh hoạt của những người được ở lại với súng này. Đây cũng là một điều tốt lành cho tôi vì thật ra thì có lẽ là tôi không có tài chỉ huy. Nói cho đúng ra là tôi có..nhu nhược, hay cả nể và… không thể tỏ ra cứng rắn khi ra một cái lệnh nào đó cho binh sĩ dưới quyền của mình được. Hơn nữa với cái tính gàn bướng và không biết nịnh nọt của tôi thì ông Tiểu Đoàn Trưởng nào lại muốn cho tôi làm trung đội trưởng vào thời gian này đây!

    Hết.

    Viết tại Mỹ sau khi đã dời Sài Gòn ngày 27-04-1990 và sang tới San Francisco ngày 04 tháng 5 năm 1990

    NGUYỄN VĂN KHÔI

    San Francisco, ngày 25 tháng 6 năm 2006.

    (Chân thành cảm ơn bạn Phạm văn Tuấn, người đã trình bày lại cuốn sách cho tôi, em Huỳnh Phi Long, bạn Phạm Bá Đường và bạn Trần Ngọc Thế đã chỉ cho tôi nhiều chỗ sai lầm để sửa lại

    Đặc biệt xin cảm ơn anh Lư Diệp người bạn cùng khóa 14 Thủ Đức và cựu Đại Tá Pháo Binh Hồ Sĩ Khải, vị tiểu đoàn trưởng Pháo Binh đầu tiên của tôi, về việc đã cho tôi biết rằng người đã thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu là Đại Tá Đặng Thanh Liêm chứ không phải là Đại Tá Trần Thanh Phong.)
    Xin các bạn đã đọc các bản trước tha lỗi

  8. #8
    Gia nhập
    Aug 2006
    Bài đăng
    462
    Bài từ Blog
    24

    Định sẵn

    Quote Trích đoạn bài viết của Hội Viên Thuần Phong View Post
    THUẦN PHONG
    Chương 5
    Hành Quân vào Chiến Khu Đ
    1- Suýt bị lôi thôi vì bắn quấy rối.
    Vào cuối năm 1965, tôi được nghỉ tại chỗ chừng vài ngày rồi lại phải đi làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 1/7 của Đại Uý Phúc. Lần này chúng tôi tới làng… bên cạnh quốc lộ 1 gần Hóc Môn. Đây là một làng của chính quyền miền Nam nhưng lại không được an ninh cho lắm nên chúng tôi có bổn phận tới lập lại an ninh cho làng này.
    Sau khi tiến vào làng, bộ chỉ huy Tiểu Đoàn chọn cái đình của làng này làm nơi tạm trú. Lúc này là lúc tôi phải bàn với Đại Uý Phúc để lập mấy hỏa tập quấy rối. Tôi phải biết chỗ đóng quân của các toán bộ binh ở đâu thì mới thiết lập các hỏa tập này để bắn quấy rối địch trong đêm được. Thế rồi vào khoảng 8 giờ tối hôm đó, tôi xin tác xạ vào vài hỏa tập kia. Và khoảng chừng nửa giờ sau thì chúng tôi thấy… một toán dân đốt đuốc khiêng một người bị trúng đạn Pháo tới chỗ của chúng tôi, nói là chúng tôi đã bắn phải dân làng. Đại Úy Phúc phải ra xin lỗi họ, hứa là sẽ cho chở người bị thương đi bệnh viện và sẽ không cho bắn bừa bãi nữa.
    .................................................. ..................
    Xin cho hỏi Thuần Phong (Khôi) có phải là khóa 14PB không? Tôi khóa 14 PB, về SĐ5BB nhưng ở TĐ5 Súng Cối 4.2”, sau này biến cải thành 52PB. Nếu đúng, xin IM cho tôi để mình liên lạc với nhau nhé.

    mc

  9. Định sẵn

    ĐÍNH CHÍNH

    Xin vui lòng sửa dùm vài sai lầm sau:


    Chương 2
    Về Tiểu Đoàn Pháo Binh

    1- Về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh.

    Mặc dù không chịu học hành gì cả nhưng ở cái trường quân sự này thì tôi không thể sortie latérale (học rớt vì thiếu khả năng) được, nghĩa là cuối khóa tôi vẫn sẽ bị gắn lon chuẩn úy, nghĩa là tôi vẫn đậu ra trường, chỉ có điều là đậu gần chót thôi. Nhưng dù là gần chót, nghĩa là không được ưu tiên chọn đơn vị, tôi vẫn được về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh ở Tam Hiệp, Biên Hòa. Có tên là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh là để phân biệt với Tiểu Đoàn 5 Súng Cối. Sau này, vào cuối năm 1964 thì phải, loại Súng Cối chuyển sang cho Bộ Binh nên Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh chuyển thành Tiểu Đoàn 51 Pháo Binh, còn Tiểu Đoàn 5 Súng Cối cũ thì trở thành Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh với súng 105 ly.

    Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh này lúc này là Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu mà về sau là Tổng Thống của Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam.

    Tôi sang Pháo Binh vì khi tôi từ Thủ Đức về đưa đám ông anh tôi, thì Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh tại Bộ Tổng Tham Mưu... Tới khi tôi ra trường, lên Bộ Tổng Tham Mưu để nhận sự phân phối, tôi mới gặp lại ông Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh trên Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc này tôi mới biết là chính ông Thiếu Tá Đông này đã đưa tôi sang Pháo Binh và rồi đưa về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh. Gọi là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh vì là Tiểu Đoàn súng 105 ly thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Quân Đoàn 3. Mỗi Sư Đoàn Bộ Binh thời đó có 1 Tiểu Đoàn PB (105 ly),1 TĐ Súng Cối (80 ly) và 1 ….
    XIN XÓA (80 LY) và
    THAY BẰNG (106 Ly)

    Chương IV
    Tham gia các chiến dịch khác

    1-Vào chiến khu Dương Minh Châu .. .…
    2-Tr. đội 2B kéo súng vào làng để yểm trợ cho C.I.D.G. ………..
    3- Tr.đ. kéo súng lên phía Bắc núi Bà Đen ...
    4-Binh Nhì Quân Dịch ... Mành bị chết vì mìn …
    XIN XÓA TÊN (MÀNH) và
    THAY BẰNG TÊN (LIỄU)

    Những trang sau, xin thay tên MÀNH bằng tên LIỄU.
    Xin quý vị tha lỗi vì những bất tiện nạy
    ngày 15 tháng 5 năm 2011
    THUẪN PHONG

  10. #10
    Gia nhập
    Aug 2003
    Địa điểm
    Dưới bóng cờ vàng
    Bài đăng
    3,134
    Bài từ Blog
    74

    Định sẵn

    Đã sửa lại như trên.

    Bẽn Lẽn

Bài tương tự

  1. Mùa Đông Binh Sĩ
    Bài do Bình Lặng viết trong diễn đàn Hùng Ca Và Những Tình Khúc Thời Chiến
    Trả lời: 9
    Bài mới nhất: 12-11-2013, 06:45 PM
  2. Binh khí
    Bài do concamap viết trong diễn đàn Thảo Luận Về Võ Thuật
    Trả lời: 3
    Bài mới nhất: 09-16-2009, 12:50 AM
  3. Hổ Cáp - Gia Đình 9 Kỵ Binh Cuối Tháng 4/75...
    Bài do yeuVNtudo viết trong diễn đàn Bài Viết Về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất: 07-20-2009, 10:24 PM
  4. Đơn Vị Không Có Binh Nhì
    Bài do Bình Lặng viết trong diễn đàn Bài Viết Về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất: 07-09-2009, 07:42 PM

Tags cho chủ đề này

Bookmarks

Nội quy dành cho việc đăng bài

  • Bạn không thể đăng bài
  • Bạn không thể đăng bài trả lời
  • Bạn có thể đăng tài liệu kèm theo bài
  • Bạn không thể điều chỉnh bài viết (của bạn)
  •