HÌNH TƯỢNG THƠ
Nguyễn Hưng Quốc


Những cách nói "trong thơ có họa" hay "thơ là họa cảm thấy" đã trở thành phổ biến đến nỗi ít có người nhớ được ai là tác giả đầu tiên. Mà, nghĩ cho cùng, cần gì nhớ. Có gì mới mẻ đâu? Từ nguyên thủy, khi thơ ra đời, họa đã đứng liền một bên. Trong Kinh Thi chẳng hạn, bài thơ nào cũng bộn bề hình ảnh. Hình ảnh có, trong thơ tự sự, Hình ảnh có, trong thơ trí tuệ. Hình ảnh có, trong thơ trữ tình. Hình ảnh không chỉ là đối tượng được mô tả trong thơ mà còn là một phương tiện biểu đạt tư tưởng và tình cảm trong thơ. Nhà thơ ngó vậy mà lại rụt rè. Hắn ít khi nói thẳng những gì mình nghĩ, mình rung động. Hắn mượn hình ảnh nói hộ. Ngay cả khi muốn trình bày một triết lý, nhà thơ cũng nói qua một hình ảnh:

Thế gian biến cải vũng nên đồi
Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô.
(Thân như chớp bóng có rồi không)
(Thiền sư Vạn Hạnh)

Cả Thái Bình Dương là hạt lệ
Mỗi người đi biệt một hành tinh.

(Hoàng Cầm)
Coi, có lạ không, cái người con trai hay con gái nào đó ở quê hương chúng ta một buổi chiều đứng thẩn thờ nhớ người yêu tự nhiên lại lôi mặt trời, lôi núi cao ra trách móc:

Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời không thấy người thương.

(Ca dao)
Lạ, nhưng đó mới là thơ.

Chưa hết. Nhà thơ tự cho mình như là Thượng đế chẳng bằng. Biển là của mặt đất. Chiều là của trời cao. Ấy vậy mà có nhà thơ cứ tỉnh bơ mang biển đặt giữa lòng người để cho biển lấp lênh vang tiếng sóng, đem ánh hoàng hôn xuống cho đậu vào trong mắt người, khiến mắt cũng buồn tênh nắng quái:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàn hôn trong mắt trong?

(Thâm Tâm)
Người đọc chỉ thấy nhà thơ đứng lặng. Sóng chao trong lòng, chiều nghiêng xuống mắt. Là đã thấy hiện hình tất cả nỗi ngậm ngùi và lưu luyến trong cuộc chia tay.

Trần Dạ Từ có hai câu lục bát thật dễ thương:

Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang.
Ủa, sao lại có tiếng ve đi lạc vào đây? Người ta chờ đợi mùa hè mới hôn nhau? Người ta chỉ hôn nhau dưới những tàng cây lá rậm? Đâu có. Nhà thơ nói dối đây. Tính cả thẹn, ông mượn tiếng ve kêu râm ran để nói lên cái hạnh phúc đến một cách bất ngờ trong rạo rực pha lẫn ngỡ ngàng bẽn lẽn của mình ở cái nu hôn thứ nhất trong đời. Làm gì có tiếng ve kêu. Chỉ có tấm lòng đang run lên vì niềm vui nở hoa thảng thốt.

"Thơ là họa cảm thấy". Ồ, cái câu nói đã thành danh ngôn của ai kia lại chẳng có gì thâm thúy mấy. Nó chưa nói hết được một mảy sự thật của hình tượng trong thơ. Họa? Thì đã đành. Nhưng sau họa lại là mênh mông một đại dương lòng người. Mà cái đại dương ấy mới là chính yếu. Thử đọc hai câu thơ tả cảnh này của Anh Thơ:

Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác
Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay.
Phải đâu chỉ có hoa mướp rụng hay lũ chuồn chuồn đang bay. Mà còn rất rõ cái không khí hiu hiu buồn lặng của mùa thu. Rồi còn cả cái tâm trạng bâng khuâng đến ngẩn ngơ của người đứng ngó.

Đọc Kiều, đến câu:

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Ai tinh ý cũng thấy ngay đó không chỉ tả cảnh mùa xuân mà còn là tâm hồn của Kiều, lúc Kiều còn ẩn náu bình yên giữa lầu khuê. Xa lắc mọi cơn gió bão. Ngát một màu xanh. Trắng một niềm hoa. Đa cảm nhưng còn ngây thơ lắm, Kiều ạ. Phải đợi đến lúc đi ra khỏi mấy bức rèm che, cùng mấy đứa em lang thang tảo mộ, chiều xuống, lòng cô mới biết thế nào là cái cảm giác "nao nao":

Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Rồi phải đợi đến lúc gặp Kim Trọng, nghe xốn xang một niềm rung cảm của nụ tình mới nở, cô mới biết đến sự bâng khuâng đấy nhé:

Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu, bóng chiều thướt tha.
Cô đã bắt đầu biết quan sát rồi đó, cô Kiều. Dòng nước không phải chỉ "uốn quanh" đâu, mà nó còn "trong veo" cơ. Mà "trong veo" đâu phải là một màu sắc như muôn vạn màu sắc khác. "Trong veo" còn là một sự lạnh buốt, một sư tê tái chờ đợi một ngày nào cô sẽ nhảy ùm xuống mà bơi. Sau cô, Nguyễn Khuyến cũng đã ứa nướt mắt vì cái "trong veo" đó: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo".

Cái hay của Truyện Kiều là ở chỗ: cảnh nào cũng phảng phất một tấm lòng đang rung ngân. Có người nói: "Hồn Nguyễn Du phảng phất trong mỗi trang Kiều".

Tôi đố họa sĩ nào vẽ được cảnh Hồ Dzếnh xúc động trước chiều thu:

Nơi tôi còn ít lá lòng
Chiều nay rơi nốt vào trong lá rừng.
Hay cái "hôn" của Cung Trầm Tưởng lên trời cao:

Chân phương lòng thấy nao nao
Với muôn thương mến lên cao hôn trời.
Nếu nhà thơ có lúc nào đó phải làm một họa sĩ, thì thơ yêu cầu nhà thơ, ngoài cảnh, phải "vẽ" lên được cái hồn của cảnh. Mùa thu từ xưa đã là nguồn cảm hứng lớn và dạt dào cho thơ. Thế nhưng bao nhiêu chữ đã chồng lên chữ, mùa thu vẫn thường xa hút. Đợi đến Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến chỉ cần phác họa ra ít nét. Là mùa thu đã hiện hình:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
In lên giữa bầu trời xanh ngắt, xanh vời vợi xanh, cao tuyệt mù cao, chỉ lưa thưa một vài nhánh trúc uốn cong như những chiếc cần câu lơ phơ lắc lay trong gió nhẹ. Thế đã là mùa thu. Mùa thu thanh, quạnh. Mùa thu rộng bầu trời, yên bóng là mà vẫn gây nên cảm giác nửa thực nửa hư.

Có khi nhà thơ phải giấu đi cái mình muốn "vẽ". Như Đoàn Thị Điểm, bà "vẽ" độ vang của tiếng trống giục:

Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt.
Người ta đã nghe ngay được những nhịp trống hối hả, giòn, mạnh, gắt vang vang trong đêm khuya ấy chỉ nhờ... một bóng trăng lay.

Bàng Bá Lân "vẽ" một làn gió nhẹ:

Êm êm sóng lụa trôi trên lúa.
Nhà thơ là họa sĩ ư? Ừ, thì tôi không cãi. Tuy nhiên đó là một họa sĩ trắng tay, không có chút xíu bột màu. Hắn phải chấm từng nét cọ vào giữa lòng mình để bôi từng mảng màu lên không gian. Để ngoại cảnh biến thành nhân cảnh. Và để nhân cảnh biến thành tâm cảnh.

Ở trên, tôi đã trình bày ba loại hình tượng trong thơ. Xin tóm tắt cho rõ:

1.- Hình tượng - Ý niệm
Là loại hình tượng nhằm cụ thể hóa một ý nghĩ, có khi, một cách thật thà như Nguyễn Bỉnh Khiêm trong câu thơ đã dẫn, có khi tinh vi hơn, gắn liền với cảm xúc hơn như câu thơ của Xuân Diệu:

Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung.
Hay câu thơ của Nguyễn Đức Sơn:

Anh đuổi hoài theo mây bạc lên cao
Tìm ảo ảnh bay trên bờ ảo ảnh.
Bậc thầy trong loại hình tượng này phải kể đến trước nhất là Nguyễn Gia Thiều, trong Cung Oán Ngâm Khúc:

Cái quay búng sẵn lên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.
2.- Hình tượng - Cảm xúc
Là hình tượng, là cảnh vật nhưng ở đây mỗi nét chấm phá đều ẩn khuất cảm xúc của con người. Đây là loại hình tượng phổ biến nhất trong thơ. Cái khó nhất là nhà thơ phải nhạy bén phát hiện được những chất thơ dấu kín bên trong mỗi cảnh, vật để người đọc cũng xúc động như mình. Nói về cuộc sống ẩn cư, những câu thơ sau đây của Nguyễn Trãi vừa đẹp vừa giàu cảm xúc biết bao nhiêu, dù ngôn ngữ trong bài thơ này, xin nhớ, đã cách chúng ta gần sáu trăm năm:

Hái cúc ương lan hương bén áo
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
Đàn cầm suối trong tai dội
Còn một non xanh là cố nhân.
3.- Hình tượng hóa cảm xúc
Ở đây không phải ngoại cảnh được mô tả mà là chính cảm xúc bên trong được tượng hình hóa thành ngoại cảnh. Các câu thơ của Thâm Tâm, của Trần Dạ Từ hay của Hồ Dzếnh vừa dẫn ở trên là thuộc loại này. Tác dụng loại hình tượng này khá cao. Nó làm cảm xúc trở thành cụ thể hơn, bóng bẩy hơn, dễ lắng sâu vào lòng người đọc hơn. Đọc hai câu thơ này của Nhã Ca thì đủ thấy:

Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ.
Nỗi cô đơn và sự phiền muộn không còn trừu tượng nữa. Chúng đã hóa hình.

Loại hình tượng này, những người mới bắt đầu làm thơ hình như ít sử dụng. Cũng đúng: nó khó. Dễ trở thành sáo.

Sự phân biệt như trên là đứng về phương diện ý nghĩa. Đứng về phương diện vị trí, tôi cũng muốn phân biệt thành hai loại hình tượng khác nhau: một, hình tượng - tứ, hai, hình tượng - họa. Hình tượng - tứ là loại hình tượng lớn, quán xuyến toàn bộ bài thơ, trở thành một "nhân vật" trung tâm của bài thơ, trực tiếp thể hiện tứ thơ. Hầu hết những gì được mô tả trong những bài thơ ta một nhân vật hay vịnh một sự vật đều là hình tượng - tứ. Hình tượng ông đồ trong bài thơ "Ông Đồ" của Vũ Đình Liên là một hình tượng - tứ. Hình tượng con hổ trong bài thơ "Hổ nhớ rừng" của Thế Lữ cũng là một hình tượng - tứ. Bài thơ "Qua vườn ổi" của Hoàng Cầm có một hình tượng - tứ đẹp và hàm súc:

Cách xa ba bước qua vườn ổi
Chị xoạc cành ngang em đứng trông
Xin chi một quả non
- Quả non còn xanh chát
Xin chị một quả ương
- Quả ương chim khoét thủng
Xin chị một quả chín
- Quả chín quá tầm tay

Lẽo đẽo em đi đường, may sao
Cúi nhặt chiều sương dăm quả rụng.
Quả ổi là hình tượng - tứ. Nó là biểu tượng của hạnh phúc. Hạnh phúc, nếu có chăng, đều do mọi người tự lượm nhặt lấy, một cách tình cờ và hiếm hoi, đôi lúc, còn muộn màng nữa, giữa bóng xế của chiều sương đời mình.

Hình tượng - họa phổ biến hơn. Bài thơ nào cũng có. Nó là những chi tiết có hình ảnh trong suốt bài thơ. Nó không được trực tiếp thể hiện tứ thơ, song lại góp phần xây dựng là tứ thơ trở thành đa dạng, sinh động giàu âm điệu và lung linh màu sắc. Các nhà thơ trẻ hiện nay ít chú ý khai thác loại hình tượng này nên thơ dễ bị khô, cứng. Trong bài thơ "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu, mùa thu là hình tượng - tứ. Xuân Diệu khai triển hình tượng - tứ ấy bằng nhiều hình tượng - họa khác nhau: rặng liễu, lá vàng phai, hoa rụng, gió rét, trăng trở thành ngẩn ngơ trong sương nhạt, những nàng thiếu nữ thẩn thờ đứng bên cửa, mơ màng... Mùa thu cũng là loại hình tượng - tứ của bài "Thu", nhưng ở đây, Xuân Diệu khai thác những hình tượng - họa khác:

Nõn nà sương ngọc quanh thềm dậu
Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì
Hư vô bóng khói trên đầu hạnh
Cành biếc run run chân ý nhi.

Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà
Buồn ở sông xanh nghe đã lại
Mơ hồ trong một tiếng chim qua.

Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm
Hây hây thục nữ mắt như thuyền
Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
Sương ngọc, nắng nhỏ, khói bay, cành biếc, ý nhi, chiều xuống vội, tiếng chim hót mơ hồ từ xa xa, hoa cúc nở vàng như áo trạng nguyên... Cái tài của nhà thơ là tìm những hình tượng - họa vừa cụ thể vừa tiêu biểu cho cảnh thu lại vừa gợi lên được cái không khí lặng lẽ, buồn buồn, lúc nào cũng gợi một chút bâng khuâng của cảnh sắc thu Việt Nam.

Hình tượng - tứ chủ yếu là kết quả của trí tuệ. Hình tượng - họa là kết quả của sự quan sát, khám phá, nhập thân, tưởng tượng. Cái đẹp của hình tượng - tứ chủ yếu có ý nghĩa của nó. Cái đẹp của hình tượng - họa chủ yếu ở chất thơ tinh khôi mới phát hiện lần đầu từ hằng hà những cảnh vật quen thuộc trong thiên nhiên.
Hình tượng được xây dựng, trước hết nhờ tài quan sát. Đương nhiên. Tất cả hình tượng - họa sắc nét trong bài thờ của Xuân Diệu được dẫn ở trên đều được ghi nhận - ngay chính từ cuộc sống. Tài hoa của mỗi người được đo lường ở chỗ hắn có tinh nhạy để nắm bắt được những hình ảnh có chất thơ ấy hay không.

Nhưng, nói như trên không có nghĩa là nhà thơ chỉ cần quan sát giỏi. Đã hẳn điều đó cần, rất cần. Song còn cần hơn nữa, nhà thơ phải biết cảm xúc và đặt cảm xúc mình chan hòa trên thiên nhiên. Cũng ở bài thơ trên, để ý mà xem, ở ngoại cảnh chỉ có sương, có nắng, có khói, có cành biếc và chim, nhưng cái "nỏn nà" của sương "đậu", cái "bâng khuâng" của "nắng nhỏ", cái "lỡ thì" của "chiều buông", cái "hư vô" của "bóng khói", cái "run run" của cành biếc mỗi lầm chim ghé lại... đâu phải ở ngoại cảnh. Mà chính là ở trong lòng nhà thơ.

Cho nên, với mức độ nhiều hay ít, mọi cảnh vật trong thơ đều được nhân cách hóa. Đó cũng là biện pháp quen thuộc để xây dựng hình tượng thơ. Có sự nhân cách hóa rõ ràng:

Mặt trời say nắng tắm ven sông
Nước thẹn bâng khuâng ửng má hồng
Bầy sẻ về đâu cười khúc khích
Rủ nhau lúa chín trộm vài bông.

(Trần Huyền Trân)
Có sự nhân cách hóa kín đáo:

Ái ân bờ cỏ ôm chân trúc.
(Thế Lữ)
Cao Tần biến cây bông giấy thành một con người trong bài thơ mang giọng tinh nghịch rất thời đại nhưng lại có phong vị rất Đường thi:

Tưởng ta nhớ chú lắm sao
Này cây bông giấy bên rào năm xưa
Chẳng qua trời đổ cơn mưa
Thì thương cành mọn đong đưa một mình.
Người ta cũng có thể dùng ẩn dụ hay hoán dụ, hai biện pháp thông thường trong nghệ thuật tu từ để xây dựng hình tượng thơ. Ẩn dụ là sự chuyển hoán tên gọi một sự vật sang một vật khác tương tự hay chuyển một khái niệm trừu tượng sang lãnh vực cụ thể. Dùng hình thức ẩn dụ, Hồ Xuân Hương gọi mặt trăng là "trái": "Một trái trăng thu chín mõm mòm", Hàn Mặc Tử đặt một nhóm từ mới khá độc đáo: mùa xuân chín: "Khách xa gặp lúc mùa xuân chín". Dưới ngòi bút của Nguyễn Khuyến, chiếc thuyền nhỏ bập bềnh trên sóng nước, từ xa trở thành một chiếc lá: "Một lá về đâu xa thăm thẳm". Chế Lan Viên thời tiền chiến, có câu thơ dùng nhiều ẩn dụ, lạ thì có lạ nhưng hơi cầu kỳ:

Trưa gọi kêu, nâng ngực gió lên trời
Bên vú trái tròn, lá bỗng run môi.
Hoán dụ là hình thức biểu đạt một khái niệm khác có chung với nó một quan hệ tất yếu hoặc giữa nguyên nhân và kết quả, hoặc giữa vật liệu và thành phẩm, giữa vật chứa và lượng chứa. Đó là định nghĩa thường hay thấy ở các quyển tự điển tiếng Việt. Huy Cận rút khái niệm "bờ cỏ màu xanh" thành "bờ xanh" khiến câu thơ hàm súc hơn: Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng". Xuân Diệu sử dụng biện pháp hoán chuyển một cách tài tình trong bài thơ ngắn này:

Anh cầm mùi dạ lan hương
Trong tay đi đến người thương không cùng
Dạ hương thơm nức lạ lùng
Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương.
Người ta cũng có thể cường điệu kên một chút để có một hình tượng đẹp:

Bây giờ tôi chỉ còn một mảnh trời xanh
cho em lau mặt
Tôi chỉ còn tôi
cho em đo những bước ra đi.

(Thi Vũ)
Khó khăn nhất trong loại hình tượng này là biết dừng lại đúng chỗ để không sa vào sự ồn ào khoa trương. Cường điệu như Nguyên Sa trong hai câu thơ này là vừa phải, nghe dễ thương:

Nắng Saigon anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
Cũng có rất nhiều nhà thơ thường sử dụng đến một biện pháp khác để xây dựng hình tượng thơ. Đó là sự so sánh. Tôi chưa có đủ tài liệu để tra cứu xem có phải trước đây, ngày xưa, người ta chỉ so sánh giữa hai cái cụ thể với nhau hoặc giữa một cái trừu tượng với một cái cụ thể chẳng:

So sánh giữa hai cái cụ thể:

Hà hoa hồng tự nhan
(Hoa sen đỏ như má hồng)
(Hồ Tông Thốc)

Gió chiều như hơi thở
(Nhất Hạnh)

Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi.
(Xuân Diệu)
So sánh giữa một khái niệm trừu tượng với một cái gì cụ thể hơn:

Sầu đông càng lắc càng đây
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

(Nguyễn Du)

Hồn tôi lưới nhện giăng ngoài song thưa.
(Hà Huyền Chi)

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
(Xuân Diệu)

Mùa xuân tròn trịa
Như bụng mang thai...

(Huy Cận)

Làm thân con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày.

(Nhã Ca)
Tôi có cảm tưởng, chỉ trong thế kỷ này, mới bắt đầu thể loại so sánh thứ ba: so sánh giữa một vật cụ thể với một ý niệm trừu tượng. Có lẽ - tôi không chắc Hàn Mặc Tử là người sử dụng đầu tiên:

Mới lớn lên trăng đã thẹn thò
Thơm như tình ái của ni cô.
Theo chiều hướng này, chúng ta bắt gặp nhiều câu thơ có sự so sánh đầy sáng tạo:

Những cánh cò trắng như giấc mộng.
(Văn Cao)

Hoa cúc vàng như nỗi nhớ day dưa.
(Tế Hanh)
Nguyễn Đức Sơn, nhà thơ có nhiều hình tượng ngang ngược nhất Việt Nam cũng sử dụng cách thức so sánh này và để lại một câu thơ dễ thương vô cùng:

Buồn như hồi môi dại mới xin yêu.
Điều này phải chăng thể hiện xu hướng ngày càng nhiều hình tượng trừu tượng hóa trong thơ? Có điều, hiện nay, người ta dễ thấy các nhà thơ hay nhìn mọi sự dưới ánh mắt tâm trạng rõ hơn ngày trước. Cụ thể nhất là sự xuất hiện những màu sắc mới trong thơ gần đây:

Nhìn theo chỉ thấy một màu buồn thiu.
(Lâm Hảo Dũng)

Ôi những khoảnng đồng xanh
Ngát một màu tưởng nhớ.

(Như Chi)

Bảo rằng thu, ừ, thì thu
Nắng mưa gì cũng một màu nhớ thương.

(Cung Vũ)

Quay nhìn lại thấy hàng rau
Ô hay ngọn lá ướt màu hư linh.

(Huy Tưởng)
Bên cạnh những biện pháp quan sát, nhân cách hóa, dùng ẩn dụ và hoán dụ, cường điệu, so sánh, người ta còn có thêm một biện pháp nữa để xây dựng hình tượng thơ, đó là sự liên tưởng. Liên tưởng để nắm bắt mỗi quan hệ ngầm ẩn dấu giữa hai hiện tượng ngỡ xa cách nhau. Chúng ta ai lại chẳng nhìn đến cả hàng vạn lần cảnh nắng soi trên vách thế nhưng chỉ Nguyễn Công Trứ là thấy:

Mặt trời đẻ trứng gà trên vách (*)
(*) Câu này trong bài "Hàn Nho Phong Vị Phú" viết là: "Bóng nắng rọi trứng gà trên vách" (Chú thích của Thanh Tùng).

Tiếng gà gáy xảy ra cùng lúc với vầng trăng lặn tạo cho Hàn Mặc Tử sự liên tưởng kỳ thú:

Tiếng gà gáy rụng trăng đầu hạ.
Ánh chiều lấp lánh trên cánh chim đang chao bay giữa không gian gợi cho Huy Cận sự liên tưởng là hoàng hôn đang rơi xuống từ cánh chim nghiêng:

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Cũng Huy Cận khi nhìn gió thổi theo chiều ngang và sóng dậy theo chiều đứng đã liên tưởng đến hình ảnh một bài thơ với vần bằng và vần trắc:

Gió thổi vần bằng, sóng dồi vần trắc
Chiếc võng thơ giữa hai vần dìu dặt.
Màu đen trên mái tóc thề, vẻ xanh xao trên đôi môi mọng một người con gái hiện lên trong thơ Bích Khê một vẻ đẹp đầy mộng:

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Một hai chiếc lá vàng rụng trên vai áo, với Nguyễn Đức Sơn trở thành:

Cả mùa thu vàng rụng xuống đôi vai.
Đây là biện pháp khó nhất trong việc xây dựng hình tượng thơ: đòi hỏi nhiều tài hoa. Cần phải có óc liên tưởng bén nhạy, cần có trí tưởng tượng phong phú nếu không, dễ trở thành ngô nghê.

Có lẽ không phải hiện nay, mà, tôi nghĩ, thời nào cũng thế, có vô số người định làm thơ mà không bao giờ quan tâm đúng mức đến việc xây dựng hình tượng thơ cho đẹp và sắc, trong khi, dù theo bất cứ quan điểm sáng tác nào, hình tượng vẫn luôn là một trong những yếu tố quyết định giá trị của thơ. Ngược lại, không hiếm người với tham vọng tạo cho mình một dáng vẻ riêng, ham hố dựng lên những hình tượng ngữ là tân kỳ nhưng thực ra lại rất xa thơ, thậm chí phi thơ.

Vấn đề sáng tạo hình tượng, nghĩ cho cùng, là vấn đề cách nhìn. Chúng ta quen nhìn mọi vật trên mặt đất theo hướng từ dưới lên trên. Nhìn một dòng sống đang chảy cuồn cuộn, một nhà thơ đời Đường có cảm giác con sông đang chảy vắt lên mây trắng (Hoàng hà viễn thưởng bạch vân gian). Cao Bá Quát lại có cảm giác nhìn một thanh gươm lấp loáng sựng sững giữa nền trời xanh (Trường giang như kiếm lập thiên thanh). Những hình ảnh đẹp. Tuy nhiên, cách nhìn như vậy đến một lúc nào đó hết còn là sự sáng tạo, trở thành nhàm. Chế Lan Viên có một thời tuổi nhỏ quẩn dưới chân mấy ngọn tháp chàm ở Qui Nhơn mà vẫn không dựng nổi một hình tượng nào cho độc đáo:

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian.
Chỉ cần thay đổi cách nhìn. Nhìn ngược lại. Nhìn từ trên cao nhìn xuống. Nhìn cái nhìn của trăng, của sao, của nắng lộng, của sương buông, lần đầu tiên, Văn Cao làm cho những ngọn tháp chàm mòn mỏi quạnh quẽ kia bỗng dưng hóa thành thơ, đọng lại hoài trong trí nhớ của con người:

Từ trời xanh
rơi
vài giọt tháp chàm.
Vấn đề sáng tạo hình tượng cũng là vấn đề tư tưởng. Cũng là thời gian nhưng Dương khuê chán chường buông trôi như một xác lá chết chỉ thấy:

Năm năm tháng tháng ngày ngày
Lần lần lữa lữa rày rày mai mai.
Trần Dần cùng quẫn bế tắc chỉ thấy:

Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã.
Thanh Nam bi quan:

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ.
Phạm Công Thiện chán nản:

Hơi thở giết thời gian.
Thi Vũ nhiều niềm tin:

Mặt trời nhìn hoa đếm tuổi.
Thời tiền chiến, có hai nhà thơ yêu trăng và viết về trăng hay nhất: Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử. Nhưng hai người khác nhau biết mấy. Ánh trăng nhạt, với Xuân Diệu:

Trăng vừa đủ sáng để gây mơ.
với Hàn Mặc Tử:

Ánh trăng mỏng quá che không nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời van vỉ của hư vô.
Cảm xúc khác nhau, cách nhìn trăng của họ cũng khác nhau. Xuân Diệu thường tả ánh trăng, bóng sáng của trăng; Hàn Mặc Tử thường nhìn ngay vào mặt trăng, quầng trăng. Xuân Diệu tìm đến với trăng để say một vẻ đẹp vô ngần trong trời đất. Hàn Mặc Tử tìm đến với trăng để quên lãng các nỗi đau vô tận của cuộc đời. Với Xuân Diệu, trăng là tình nhân, trăng chấp cánh cho mộng bay cao. Với Hàn Mặc Tử, trăng là một sự cứu rỗi; trăng hư ảo hóa mọi nỗi đọa đày và khổ nhục.

Hình tượng là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị của thơ. Nhưng đừng ham hố. Hình tượng nên gợi hơn là tả. Hình tượng trong thơ không là một phó bản của thiên nhiên mà là một biểu hiện của lòng người. Hình tượng mở ra một khung cảnh nhưng qua khung cảnh ấy, mục đích chủ yếu là dẫn người đọc tiếp cận với tâm tư nhà thơ. Thư không đòi hỏi người ta phải tả một làn mây y hệt như làn mây đang bay lãng đãng trên bầu trời. Mà chỉ yêu cầu tả đúng cái làn mây nào đó đang bềnh bồng, thấp thoáng trong lòng.

Thơ tả cảnh của Huy Cận thời tiền chiến thường có tính chất "phi ngã": chỉ có cảnh chứ không có người:

Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây cả trời chiều
- Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.
Chỉ có trời cao với mây bay và chim bay, chỉ có lũng thấp với nai, với suối, với lá vàng và những cành cây khẳng khiu. Hoàn toàn không có con người. Bởi con người đã nhập hồn vào với cảnh. Bởi cảnh đã hóa thành người. Cái không gian bỗng dưng buồn bã ấy, có phải không, chính là tấm lòng nhà thơ bỗng dưng đâm ra bâng khuâng? Hình tượng trong bài thơ nhiều song lại rất mờ, cứ hư hư ảo ảo như không có thật để cho cái cảm giác hiu hắt của tác giả nổi lên, lan ra man mác, đọng lại trong lòng người đọc một dư âm ngậm ngùi.

Ở đây, cảnh chỉ là cái cớ. Hình tượng trở thành biểu tượng.

Hàn Mặc Tử có bốn câu thơ đầy ý nghĩa:

Nói trăng rằm là nói cuộc đoàn viên.
Nói trăng khuyết là nói lời chia biệt
Không thấy mộng là tình chưa thắm thiết
Vắng hương hồn e gió bớt say sưa.
Trong Truyện Kiều có hằng hà những hình tượng đẹp. Và không có hình tượng nào được dựng lên một cách ngẫu nhiên. Hình tượng nào cũng bàng bạc cảm xúc và biểu hiện rõ rệt một tâm trạng. Khi Kiều rời nhà đi theo Mã Giám Sinh:

Đoạn trường thay lúc phân kỳ
Vó câu khập khểnh bánh xe gập ghềnh.
Người ta nghe được tiếng vó câu khua. Người ta thấy được chiếc xe đang bị dằn xóc. Nhưng người ta cũng "nghe" được cả tiếng khóc đau đớn đến não nề của Kiều. Và người ta cũng "thấy" cả hình ảnh nàng Kiều mảnh mai yếu ớt đang run rẩy theo từng cơn thổn thức.

Sau bữa tiệc tiễn hành ở trường đình, Kiều thực sự lên đường, thực sự đi xa:

Đùng đùng gió giục mây vần
Một xe trong cõi hồng trần như bay.
Hình như Kiều linh cảm được những giông bão sẽ ập đến cuộc đời nàng. Cha mẹ, anh em... một thoắt đã thành xa lắc. Kiều cảm thấy lẻ loi hơn bao giờ. Cần gì mà Nguyễn Du phải thêm cái từ chỉ số lượng "một" trước xe thành "một xe" chứ không phải là "chiếc xe" nếu Nguyễn Du không đồng hóa Kiều với hình ảnh chiếc xe nhỏ bé, trơ trọi đang lao đi vùn vụt giữa cõi "gió giục mây vần".

Cho nên nói đến hình tượng trong thơ, điều dó có nghĩa là nói đến một chút cảnh sắc của thiên nhiên, của cuộc đời cộng với trái tim của nhà thơ. Cũng như là họa. Chức năng của họa đâu phải là vẽ lại, vẽ cho thật đúng, thật tỉ mỉ từng chi tiết của cảnh vật, điều mà ai cũng thấy dễ dàng.

Hình tượng trong thơ là hình-tượng-biểu-tượng hóa, trước hết phải có giá trị thẩm mỹ và ngay sau đó, là giá trị biểu cảm. Hình tượng trong thơ là chân-dung-tâm-hồn nhà thơ.

Xuân Diệu đã có lần viết:

Đem mến yêu làm cho cảnh thêm xinh.
Lần khác, lại viết:

Hồn ơi, phong cảnh cũng là người.
Có một thời nào đó trong lịch sử nhân loại, có một số người coi chức năng chủ yếu của thơ là vẽ lại. Thơ là bức tranh, thuần túy chỉ là bức tranh bằng lời. Ngoài cảnh vật, không có gì cả. Nhưng cái thời ấy đã qua rồi. Qua lâu rồi. Mà cũng phải. Nếu thơ chỉ đơn giản là một sự vẽ lại, hay nói một cách hiện đại hơn, là một "phản ánh" thiên nhiên thì, thật ra, người ta đâu cần gì đến thơ. Tôi sẽ là một trong những người đầu tiên ném thơ đi, để tự mình mình, tôi sẽ nhìn vào cuộc đời, nhìn vào thiên nhiên để đọc tạm bài thơ dở dang của tạo hóa: bài thơ chưa kịp gieo vần.

----------------------

Một chiều thứ bảy, lang thang vào Thư Viện đọc sách, đến kệ đựng các sách thơ, lòng lại nghĩ đến anh Quận, chọn đại một cuốn ngẫu nhiên, đúng vào cuốn "Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ của Việt Nam", tác giả Nguyễn Hưng Quốc, Quê Mẹ xuất bản. Tìm một cái ghế gần cửa sổ, ngồi xuống lật vài trang đầu đọc sơ vài chương, đến chương "Hình Tượng Thơ", tác giả trình bày rất chi tiết những cấu trúc của thơ thật hay và đầy đủ những câu thơ trích dẫn để chứng minh. Một bài viết rất hữu ich cho những ai đang thập thò bước chân vào làng thơ, trong đó có tôi thỉnh thoảng cũng tập tành vài câu thơ "con cóc nhảy vô, nhảy ra". Mất gần nửa buổi trong Thư Viện để tìm hiểu, về nhà cặm cụi chép lại tiêu phí mất hai ngày. Ôi! Gánh ngà voi oằn hai vai, mỏi ngón tay, mờ hai mắt, ê cột sống, tê bàn tọa, làm một việc vô công rồi nghề cho mọi người thưởng thức, để đổi lấy giây phút sảng khoái cho tâm hồn, trí óc thêm sáng suốt, nếu không muốn trở thành ông cụ già lẩm cẩm, lụn bại, hom hem, lò dò chống gậy nhìn trời, than rằng: "Đời sao ngắn quá... Ta đứng nhìn ngày tháng lạnh lùng trôi..." Anh Quận ôi! Tha lỗi cho tôi đã nhắc đến anh.