Trang 1 của 2 trang 1 2 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 20 của 25
  1. #1
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Ngọc Hạp Chánh Tông

    NGỌC HẠP CHÁNH TÔNG
    Tu sĩ Viên Tài - Hà Tấn Phát

    Khổ hạnh đạo mầu đã mấy niên,
    Am tranh cảnh vắng, phận hầu yên.
    Kệ kinh những tưởng xa trần tục,
    Nghiên bút vẫn còn vướng nợ duyên.
    Chẳng qua vì nặng nguồn xây dựng,
    Tấc đất, ngọn rau nghĩa đáp bồi.
    Chút đỉnh gọi là duyên văn tự,
    Dám đâu so sánh bực cao minh.


    Tu sĩ Viên Tài
    Bái bút.

    TỰA


    Kính thưa quí độc giả,

    Bổn sách Ngọc Hạp Chánh Tông(1) này là một bổn sách cổ từ lâu đời bằng chữ Nho, mà thuở xưa các cụ thường dùng để trạch tuổi, coi ngày, coi giờ, coi cưới gả, coi làm nhà, coi xuất hành, mở cửa hàng, coi phương hướng và so đôi tuổi trai và gái kết hôn cùng nhau cho được phù hạp về cung mạng thuộc Ngũ hành khắc và hạp.

    Bổn sách Ngọc Hạp là một bổn sách rất quí báu, hậu thế cũng chưa ai làm nối theo mà bỏ không dùng bổn ấy làm gốc. Nhà làm sách Ngọc Hạp và Bát Trạch(2) đã thông Thiên văn rành Địa lý, am hiểu vũ trụ biến đổi, lại rành rẽ về Lịch số học mới làm ra được; phải hiểu cả Âm Dương thuộc Ngũ hành khắc hạp v.v...

    Tôi, ngày nay đem ra trình bày bổn sách này được là vì trong gia đình tôi đã có sẵn bổn cũ và tôi cũng nhờ học thêm với nhiều người trong mười mấy năm nay, cho nên sự kinh nghiệm của nghề nghiệp làm cho tôi phấn khởi trong lòng, nên tôi mới dám đem ra trình bày hầu cống hiến quí vị coi theo mà dùng trong khi cần các việc mà tôi đã kể trên. Và tôi không phải có ý chí khoe khoang, nhưng sự thật tôi đã từng gầy dựng cho nhiều gia đình danh vọng về khoa so đôi tuổi cưới gả đặng thành tựu đàng hoàng hiện nay trong cả giới văn và võ.

    Trong khi trình bày quyển Ngọc hạp này, tôi có hai điều mong ước: Một, là bây giờ nền Nho học càng ngày càng thối bộ, tôi muốn lưu lại một đôi phần trong khoa này cho quí vị nào có cần đến cũng đỡ bớt sự phiền phức. Hai, là tôi đã kinh nghiệm thật đúng, cho nên tôi mới mạnh dạn trình bày để cho những vị tân học ngày nay có dịp khảo xét thêm cho biết coi người xưa truy nguyên có đúng hay không. Về điểm này tôi xin để thời gian chứng minh sự thật... chớ hiện nay phần đông vì khoa học tiến mạnh, làm cho thiên hạ say mê nền Tân học, còn cái gì thuộc về cũ - mà nhứt là những gì nghe ra như huyền bí - thì người ta có dạ nghi ngờ, mà nghi ngờ cũng có lý... Riêng tôi, tôi lấy lương tâm chức nghiệp mà hoàn thành quyển Ngọc hạp này.

    Tôi không thêm một lời nào theo ý riêng của tôi, và tôi không dám tưởng tượng mà tạo ra một chữ.

    Và khi dứt lời, tôi xin kính cẩn cảm ơn những vị nào đã để mắt xem quyển sách này trong khi cần đến nó.

    Nam Mô A Di Đà Phật
    Viên Tài Hà Tấn Phát
    Tu sĩ Tịnh Độ Tông Việt Nam
    Kính tựa

    (1) Tôi có chụp hình quyển Ngọc Hạp Chánh Tông để làm bằng và có mấy trương của quyển Bát Trạch ở trương kỷ

    (2) Sách Bát Trạch cũng chuyên coi về Địa lý.

    PHẦN I

    NGỌC HẠP CHÁNH TÔNG

    LỄ NGHI và HÔN NHÂN


    1.- LỄ NGHI

    Lễ Nghi, cũng như Luân Lý và Luật Pháp, là những lề thói thường dùng lâu rồi thành thói quen có những sự kiện để đối đãi với nhau trong một xã hội cốt sao cho phải lẽ. Có câu rằng: "Phép không có chỗ nào là chẳng kính, lễ không có chỗ nào là chẳng nghiêm...".

    Ngày xưa, cuộc đời được thái bình nhàn nhã, trên thì vua quan xa xí, dưới thì đám phú hào cũng bày vẽ nọ kia.

    Người xưa chế lễ cũng tùy theo hoàn cảnh xã hội, cốt sao cho thích hợp với tâm lý mọi người.

    Bóng thời gian qua, những động lực dẫn đạo của xã hội rất mạnh, đã làm rung chuyển hết thảy những cái gì xây dựng trên nền lễ giáo của thời xưa.

    Những lễ nghi phức tạp và có những thói tục rườm rà phiền phức của thời xưa mà bây giờ thành ra trở ngại và gay go.

    Như thời xưa, thì cuộc hôn nhân của con cái, quyền định đoạt đều do nơi cha mẹ, phận làm con không được cãi. Vì xưa kia chịu ảnh hưởng của giáo lý Khổng, Mạnh cũng có phần ràng buộc khó khăn lắm, nhưng dầu sao đi nữa, cũng ít xảy ra những tình tệ như ngày xưa.

    Ngày xưa, việc hôn nhân của con do nơi cha mẹ định liệu, vì cha mẹ là người có kinh nghiệm hơn, ấy cũng là điều cần lắm. Vả lại, thời xưa đạo làm con lớn lên cốt lo ăn học cho thành tài để lập thân báo hiếu và trả nghĩa chung cho xã hội hưởng nhờ, chớ những thói dâm loàn, ong bướm cũng ít ai nghĩ đến... Còn cha mẹ mà giành quyền lo lắng cho con, chỉ muốn có một điều là:

    "Nuôi con những ước về sau,
    Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi".


    2.- HÔN NHÂN

    Cưới vợ bạn sẽ chọn thiếu nữ nào?
    Người thiếu nữ phải dịu dàng nhưng không yếu đuối, người thiếu nữ phải có cương nghị nhưng... không quá cứng rắn với một thân hình tượng trưng phái yếu, thiếu nữ cần có nghị lực để chế ngự mình, hay là để đối phó với bên ngoài; sự dịu dàng và cương nghị phải đồng đều. Thiếu cương nghị thành ra yếu đuối, mà quá rắn rỏi thành ra nông nổi.

    Nếu người thiếu nữ được học rộng thì tốt, được đẹp càng hay, giàu nghèo không sao, chẳng quan hệ gì. Sự khôn ngoan có cần không? Có thì được lắm chứ,nhưng tình yêu có khi cần những sự hiền đức, liêm chánh, thanh tịnh hơn sự khôn ngoan; mà liêm chánh, hiền đức và thanh tịnh đó mới là sự khôn ngoan trên các cái khôn ngoan.

    Lấy chồng, cô sẽ chọn thanh niên nào?
    Tấm lòng và sở thích của cô đã định cho cô phải tránh những người thế nào và chọn thanh niên như thế nào?

    Cô có nghĩ chăng người chồng của cô sẽ phải là một thanh niên mạnh khỏe, có nghị lực, thích hoạt động, có một cơ sở? Được như thế, đời mới có thể được bảo bọc, che chở. Sức khỏe là nền tảng của nguồn nghị lực,nhưng không phải là bảo đảm của sự hoạt động. Một thanh niên có nhiều nghị lực nếu không biết ứng dụng cho thích hợp, cũng thành tai hại. Thế nên, ngoài sức mạnh của thân thể thanh niên cần có một nghị lực ở tinh thần, để biết tự chủ, khống chế mình trở thành hữu ích và người tốt.

    Nếu có một người chồng biết tận tụy vì cô, cô là người tốt phước. Người đàn bà cần có những đức tánh về trung tín và hy sinh mà đàn ông ít khi sánh bằng. Các cô phải chú ý về điều này để tạo hạnh phúc trong gia đình cho những ngày mai hậu.

    Từ tình ái đến hôn nhân
    Ái tình không đi đến hôn nhân có thể trọn vẹn không? Nhứt định là không? Vì yêu nhau mà chẳng có ý định cùng nhau chung sống để đi đến hôn nhân là yêu một cách thoáng qua, yếu đuối và giả dối.

    Cụ Nguyễn Du rất am hiểu tâm lý và cũng hiểu lẽ biến dịch, cho nên có những câu:

    E khi chắp cánh liền cành,
    Mà lòng rẽ rúng sẵn dành một bên.

    Bởi thế cho nên bổn phận của người con gái có những câu dặn lòng:

    Đêm khuya gác bóng buồng the,
    Ngọc vàng mình phải nâng niu lấy mình.

    hay là:

    lời thệ hải minh sơn,
    Làm con trước phải đền ơn sanh thành.

    Vậy ái tình mà không kết thúc bằng hôn nhân là không thiêng liêng, không phải ái tình chơn chánh, chỉ là một trạng thái dục vọng.

    Yêu nhau mà không có ý định cùng nhau chung sống từ lúc má đỏ đầu xanh, cho đến cơn da mồi tóc bạc, đó là sự phỉnh gạt các cô, các cô hãy cẩn thận.

    Bây giờ là đời mới, tôi cũng rất tán thành sự tự do chọn lựa rồi đi đến hôn nhân chơn chánh; những sự luyến ái quá tự do mà tôi tưởng rất có tệ hại ở tương lai, các cô cũng nên tránh. Các cô nghĩ sao?

    Viên Tài

    Những câu Ca dao và Tục ngữ về đạo Phu Thê

    Lương duyên do túc đế,
    Giai ngẫu tự nhiên thành.
    (Tục ngữ)

    Phải duyên ngàn dặm cũng gần,
    Trái duyên dẫu gặp mấy lần cũng xa.
    (Ca dao)

    Người ta trong đạo vợ chồng,
    Hoa thơm phong nhụy trăng vòng tròn gương.
    (Kim Văn Kiều)

    Râu tôm nấu với ruột bầu,
    Chồng hòa vợ thuận, gật đầu khen ngon.
    Ca dao.

    Trai thì trung hiếu làm đầu,
    Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
    (Lục Vân Tiên)

  2. #2
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    HÌNH THỂ CỦA QUẢ ĐỊA CẦU
    Theo Lịch số học của Á Đông và cũng gọi là Tiên Thiên Bát Quái.


    Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.

Tên hình: Bátquái.jpg
Lần xem: 18
Cỡ: 107.9 KB
ID: 1141

    Nguyên văn của Bát Quái thuộc Ngũ Hành như vầy:

    Càn tam liên, Tây Bắc, Tuất Hợi.
    Khản trung mãn, chánh Bắc, đương Tý.
    Cấn phúc quản, Đông Bắc, Sửu Dần.
    Chấn ngưỡng bồn, chánh Đông, đương Mẹo.
    Tốn hạ đoạn, Đông Nam, Thìn Tỵ.
    Ly trung hư, chánh Nam, đương Ngọ.
    Khôn lục đoạn, Tây Nam, Mùi Thân.
    Đoài thượng khuyết, chánh Tây, đương Dậu.

    HÌNH THỂ CỦA QUẢ ĐỊA CẦU
    Theo Lịch số học của Á Đông là hình Bát Quái

    Cung Càn, hướng Tây Bắc, thuộc tuổi Tuất Hợi.
    Cung Khảm, chánh hướng Bắc, thuộc tuổi Tý
    Cung Cấn, hướng Đông Bắc, thuộc tuổi Sửu, Dần.
    Cung Chấn, chánh hướng Đông, thuộc tuổi Mẹo.
    Cung Tốn, hướng Đông Nam, thuộc tuổi Thìn, Tỵ.
    Cung Ly, chánh Nam, thuộc tuổi Ngọ.
    Cung Khôn, hướng Tây Nam, thuộc tuổi Mùi, Thân.
    Cung Đoài, chánh Tây, thuộc tuổi Dậu.
    Đây là giải nghĩa đủ tám cung là hình thể của quả địa cầu theo Lịch số học Á Đông (tức hình Bát Quái). Mỗi cung thuộc về hướng nào và hướng ấy thuộc về tuổi nào (là Địa Chi nào).

    - Càn: Trời (le ciel).
    - Khảm: Nước (les liquides: l'eau).
    - Cấn: Núi (les plissements: plateaux et montagnes).
    - Chấn: Điện (l'électricité: tonnerre et foudre).
    - Tốn: Gió (l'air: le vent).
    - Ly: Lửa (la chaleur: le feu).
    - Khôn: Đất (la terre).
    - Đoài: Đầm (les dépressions: mares et lacs).

    HÌNH THỂ CỦA QUẢ ĐỊA CẦU
    Thuộc Ngũ Hành(1)

    - Cung Càn, Đoài thuộc hành Kim.
    - Cung Khảm, thuộc hành Thủy.
    - Cung Khôn, Cấn thuộc hành Thổ.
    - Cung Ly thuộc hành Hỏa.
    - Cung Chấn, Tốn thuộc hành Mộc.
    Trên đây là giải nghĩa tám cung, cung nào thuộc về hành nào trong Ngũ Hành.

    (1) Bát Quái (tám cung) nghĩa là cũng như hình thể của quả địa cầu là trái đất chúng ta đang ở đây. Nơi tròng giữa có hai thể Âm và Dương giao nhau mà sanh tồn, cũng như điện lực phải có dây âm và dây dương (dây nóng và dây nguội) điều hòa mới phát ra điện lực (Négatif et Positif).

    MƯỜI THIÊN CAN HIỆP NHAU
    thuộc về Ngũ Hành

    - Giáp hiệp Ất thuộc về Mộc.
    - Bính hiệp Đinh thuộc về Hỏa.
    - Mậu hiệp Kỷ thuộc về Thổ.
    - Canh hiệp Tân thuộc về Kim.
    - Nhâm hiệp Quý thuộc về Thủy.

    MƯỜI HAI ĐỊA CHI XUNG NHAU
    thuộc về Ngũ Hành

    - Dần Mẹo thuộc Mộc.
    - Tỵ Ngọ thuộc Hỏa.
    - Thân Dậu thuộc Kim.
    - Tý Hợi thuộc Thủy.
    - Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thổ.

    THIÊN VĂN LẬP THÀNH

    THIÊN CAN(1) - ĐỊA CHI(2)
    - Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh , Tân, Nhâm, Quý là mười Thiên Can.

    - Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là mười hai Địa Chi.

    (1) Can: tức là Cán hay gốc, Thiên Can là gốc tự trời.
    (2) Chi: tức là Chi là Nhánh, Địa Chi là nhánh mọc ở Đất.

    CAN, CHI THUỘC ÂM DƯƠNG(1)

    * Thiên Can:

    - Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thuộc Dương.
    - Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thuộc Âm.
    * Địa Chi:

    - Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thuộc Dương.
    - Sửu, Mẹo, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thuộc Âm.
    (1) Theo luật sinh hóa của năm thể giao nhau mà sanh tồn, gọi là "Ngũ Hành", thì Thái Âm chịu ảnh hưởng của Thái Dương, gọi tắt là Âm Dương.

    Để sanh ra vạn vật gồm cả loài người, cũng như điện lực cần phải có dây nóng và dây nguội mới phát điện được. Trong thân thể ta cũng có đủ ngũ hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ. Nếu thiếu một thể nào thì ta phải bệnh hay chết, mà khoa học hiện tại vẫn chứng minh như thế.

    Như điện lực thì phải có dây Âm và dây Dương (dây nóng và dây nguội) (Négatif và Positif) mới sanh ra lửa đặng. (La raison de ceci "nombre 10" est que les nombres 1 et 0 indiquent les Forces primaires, positives et négatives de l'Univers. Ces forces peuvent également s'appeler "mâle" et "femelle". "1 = positif; 0 = négatif"). (Lý số học).

    CAN, CHI THUỘC NĂM HÀNH VÀ BỐN PHƯƠNG, BỐN MÙA

    * Thiên Can:

    - Giáp Ất thuộc hành Mộc là phương Đông.
    - Bính Đinh thuộc hành Hỏa là phương Nam.
    - Mậu Kỷ thuộc hành Thổ là Trung ương (luồng giữa).
    - Canh Tân thuộc hành Kim là phương Tây.
    - Nhâm Quý thuộc hành Thủy là phương Bắc.
    * Địa Chi:

    - Dần, Mẹo, Thìn thuộc hành Mộc giữ mùa Xuân là phương Đông.
    - Tỵ, Ngọ, Mùi thuộc hành Hỏa giữ mùa Hạ là phương Nam.
    - Thân, Dậu, Tuất thuộc hành Kim giữ mùa Thu là phương Tây.
    - Hợi, Tý, Sửu thuộc hành Thủy giữ mùa Đông là phương Bắc.
    Bốn Chi: Thìn, Mùi, Tuất, Sửu nói về vị đơn thuộc hành Thổ, là bốn tháng quí (bốn tháng cuối mùa là tháng Ba, tháng Sáu, tháng Chín và tháng Chạp); bốn phương duy (bốn phương giáp: Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam).

    MƯỜI HAI THÁNG DỰNG ĐỊA CHI

    Nước Trung Hoa từ đời vua Phục Hy mới làm lịch, phân vòng trời đất làm mười hai phía, lấy mười hai Địa Chi phối với mươi Thiên Can mà đặt tên phía, định một năm mười hai tháng, căn cứ theo sao Bắc Đẩu chuyển lần, hễ dựng vô mỗi phía là một tháng. Bắc đầu từ phía Dần như vầy:

    - Tháng Giêng: dựng phía Dần, (là tháng Dần).
    - Tháng Hai: dựng phía Mẹo, (là tháng Mẹo).
    - Tháng Ba: dựng phía Thìn, (là tháng Thìn).
    - Tháng Tư: dựng phía Tỵ, (là tháng Tỵ).
    - Tháng Năm: dựng phía Ngọ, (là tháng Ngọ).
    - Tháng Sáu: dựng phía Mùi, (là tháng Mùi).
    - Tháng Bảy: dựng phía Thân, (là tháng Thân).
    - Tháng Tám: dựng phía Dậu, (là tháng Dậu).
    - Tháng Chín: dựng phía Tuất, (là tháng Tuất).
    - Tháng Mười: dựng phía Hợi, (là tháng Hợi).
    - Tháng Mười Một: dựng phía Tý, (là tháng Tý).
    - Tháng Chạp: dựng phía Sửu, (là tháng Sửu).
    Còn phối với mười Thiên Can thì bắt đầu từ tháng Giáp Dần rồi chuyển lần lần đi, tới tháng Mười Một là Giáp Tý, tháng Chạp là Ất Sửu, qua tháng Giêng năm sau là Bính Dần...

    Năm thì lấy hai chữ đầu Can, Chi mà đặt, khởi từ năm Giáp Tý rồi cũng chuyển lần đi, cứ mười năm là một Giáp, nghĩa là trải suốt mười Can, qua năm thứ mười một là Giáp Tuất; trải qua sáu Giáp tới năm sáu mươi là Quý Hợi (gọi là Lục Thập Hoa Giáp), thì qua năm sáu mươi mốt trở lại là Giáp Tý (Lịch Trung Hoa và lịch Việt Nam ta ngày nay đều theo như thế).

    HAI MƯƠI BỐN TIẾT KHÍ

    Lịch cổ rằng:

    - Tháng Giêng là tiết Lập Xuân, tiết Vũ Thủy.
    - Tháng Hai là tiết Kinh Trập, tiết Xuân Phân.
    - Tháng Ba là tiết Thanh Minh, tiết Cốc Vũ.
    - Tháng Tư là tiết Lập Hạ, tiết Tiểu Mãn.
    - Tháng Năm là tiết Mang Chưởng, tiết Hạ Chí.
    - Tháng Sáu là tiết Tiểu Thử, tiết Đại Thử.
    - Tháng Bảy là tiết Lập Thu, tiết Xử Thử.
    - Tháng Tám là tiết Bạch Lộ, tiết Thu Phân.
    - Tháng Chín là tiết Hàn Lộ, tiết Sương Giáng.
    - Tháng Mười là tiết Lập Đông, tiết Tiểu Tuyết.
    - Tháng Mười Một là tiết Đại Tuyết, tiết Đông Chí.
    - Tháng Chạp là tiết Tiểu Hàn, tiết Đại Hàn.
    Cứ mươi lăm ngày là một tiết, từ lúc ban sơ thì như vậy, sau vì ngày thiếu, tháng nhuần mà biến đi. Có năm tiết Lập Xuân ở trong cuối tháng Chạp năm trước, các tiết cũng lần lần xê dịch, cứ trải qua bốn năm lại hườn như trước; nghĩa là tiết Lập Xuân năm thứ năm lại ở đầu tháng Giêng.

    NHỮNG CÂU CA DAO VÀ TỤC NGỮ VỀ THỜI TIẾT

    Sáng sớm nhền nhện giăng tơ(1),
    Ngày ấy nắng tạnh chẳng mưa được nào.
    Sáng sớm nhền nhện nằm im,
    Ngày ấy mưa gió tưng bừng chớ lo.
    Cỏ chỉ mọc lan trắng ngần,
    Dầu trời đương hạn, rỉ mưa dầm dề.

    Chớp đêm nhay nháy, gà gáy thì mưa.
    Gió mai hiu hiu, diều kêu thì rét (lạnh).
    Mưa chẳng qua Ngọ, gió chẳng qua Mùi.
    Sáng ngày gió mai, sáng quay gió Nồm.
    Trăng quầng thì lặn, trăng sáng thì mưa.

    XEM THỜI TIẾT ĐỂ BIẾT MÙA MÀNG TỐT HAY XẤU TRONG 12 THÁNG
    (Theo Thiên văn cổ Trung Hoa)

    MÙA XUÂN

    - Tháng Giêng (đầu mùa Xuân):

    Ngẫm xem mùng Một đầu năm,
    Trời mù mù tối, tuyết đằm đằm bay.
    Được mùa triệu chứng tỏ bày,
    Ngày Lập Xuân lạnh, cấy cày nhẹ công.
    - Tháng Hai (giữa mùa Xuân):

    Tháng Hai nổi sấm đùng đùng,
    Gạo hơn thóc rẻ, ăn đong lo gì.
    Xuân phân mưa tạnh ít khi,
    Có ba ngày Mẹo, quả thì chín sai.
    - Tháng Ba (cuối mùa Xuân):

    Tháng Ba mùng Một mưa tai,
    Bệnh truyền nhiễm khiến mọi người sợ kinh.
    Gió Nam trong buổi Thanh Minh,
    Được mùa màng thỏa tấm tình nhà nông.
    MÙA HẠ

    - Tháng Tư (đầu mùa Hạ):

    Tiết Lập Hạ có gió Đông,
    Ít khi tật bệnh nhiễm trong thân người.
    Mùng Tám tạnh, hoa, quả sai,
    Canh Thìn, Giáp Tý(2), sấm thời lúa sâu.
    - Tháng Năm (giữa mùa Hạ):

    Mưa ngày Đoan Ngọ(3) cũng mầu,
    Sấm ngày Mang hiện, phòng thâu mùa màng.
    Hạ chí gió Tây Bắc sang,
    Rau dưa bị nắng, như rang héo tàn.
    - Tháng Sáu (cuối mùa Hạ):

    Trong ba ngày Phục(4)nóng rang,
    Ba đông sương tuyết, chứa chan lạnh lùng.
    Lúa không kết hột đâm bông,
    Mưa ngày Hạ chí niên phong cũng mừng.
    MÙA THU

    - Tháng Bảy (đầu mùa Thu):

    Lập Thu mưa gió tưng bừng,
    Thanh bông, hoa quả được chừng nửa thôi.
    Xử Thử không mưa, than ôi!
    Ví bằng kết quả ắt rồi rụng đi.
    - Tháng Tám (giữa mùa Thu):

    Thu phân mây trắng tứ bề,
    May mắn lúa muộn, dân quê reo mừng.
    Ví bằng mưa sấm tưng bừng,
    Sang Đông gạo kém, xiết chừng nao nao.
    - Tháng Chín (cuối mùa Thu):

    Mùng Một tháng Chín sương gieo,
    Ngày mùng Chín tạnh, Đông nào còn mưa.
    Mặt trăng đỏ, bệnh dây dưa,
    Sấm trong tháng Chín, gạo vừa giá cao.
    MÙA ĐÔNG

    - Tháng Mười (đầu mùa Đông):

    Lập Đông ngày Nhâm lo sao,
    Sang năm những lúa ruộng cao nhọc lòng.
    Gặp ngày Nhâm Tý hải hùng,
    Tai thương, tật bệnh, buộc lòng người lo.
    - Tháng Mười Một (giữa mùa Đông):

    Mùng Một tháng Một tính cho,
    Gió Tây trộm giặc, tuyết mù đậu ma.
    Đông chí tạnh, bóng ác nhòa,
    Sang năm hẳn hát khúc ca thái bình.
    - Tháng Chạp (cuối mùa Đông):

    Mùng Một tháng Chạp cho tinh,
    Gió Đông lục súc xem tình tổn thương(5).
    Tuyết thì đại hạn rõ ràng,
    Nhược bằng lạnh tẻ, mùa mang phong thu.

    (1) Nghĩa là nó giăng tơ làm ổ.
    (2) Ngày Canh Thìn, Giáp Tý và những tiết Thanh Minh, Lập Xuân, Lập Hạ, Mang Chưởng v.v... thì coi theo trong lịch Tam Tông Miếu có ghi rõ ràng.
    (3) Ngày Đoan Ngọ là ngày mùng 5 tháng Năm.
    (4) Là ngày Sơ phục, Trung phục và Mạt phục, xem trong lịch Tam Tông Miếu có ghi sẵn.
    (5) Nghĩa là gió thổi mạnh.

  3. #3
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    ĐÔNG TÂY GẶP NHAU VỀ LỊCH SỐ HỌC

    Người ta không lẽ sống u minh trong cõi thời gian không cùng không tận này mà chẳng hay rằng mình đã trường cửu được bao lâu. Vũ trụ có hai cái không cùng là Không gian và Thời gian (l'Espace et le Temps). Đã biết dùng thước để đo Không gian, tất phải nghĩ ra cách gì để đo Thời gian. Bởi thế, bao nhiêu thế hệ, học giả nối nhau tìm cách đặt lịch (calendrier) nhưng lấy gì làm bản vị (unité)? Đó là then chốt của phép đo thời gian; biết được điều ấy tức là tìm ra cách làm lịch.

    Xét nghiệm những hiện tượng của mặt trăng, mặt trời và cõi đất, đều khiến người xưa phải để ý trước nhứt là sự thay đổi của bốn mùa luân lưu trong một khoảng thời gian gần như nhứt định.

    Sự thay đổi của bốn mùa có ảnh hưởng trực tiếp ngay đến bản thân, nên dù người có lãng ý đến đâu, người tối dạ đến đâu cũng nhận thấy.

    Tiếp theo những ngày rét thấu xương vừa hết, một bầu trời đầm ấm hình như thấm nhuần vào thân thể ta một khí vị rất êm đềm nhẹ nhàng dễ chịu.

    Rồi ngày qua thấm thoát, lại đến độ nóng thiêu người... Chỉ ít lâu, mặt trời bớt nóng, người ta đã trút được cái khí nồng nực nặng nề mà sống thư thái những ngày nắng dịu khí buồn và những đêm gió mát trăng trong. Những cái vẻ buồn ngày một tăng thêm mà thành ra hãm cái hơi mát ngày một dịu lần mà thành ra lạnh.

    Người ta bước sang mùa rét được ít lâu, rồi lại đến ngày tươi đầm ấm.

    Bốn mùa cứ thay đổi như thế không ngừng, ảnh hưởng trực tiếp ngay đến thân thể con người, khiến người xưa để ý đến trước nhứt và nhận ra sự luân chuyển rất đều đặn của thời tiết hình như đã hạn định trong một khoảng bao nhiêu ngày đó.

    Tất cả cái then chốt trong việc làm lịch là biết được đích xác có bao nhiêu ngày trong bốn mùa ấy.

    Điều thứ hai đã làm chú ý người xưa là sự luân chuyển của bốn mùa, có ảnh hưởng thiết thực đến sống hàng ngày của con người và hoa quả, cây cối. Đã đến khi không thể sống nhàn nhã tự nhiên hái hoa quả rừng mà đủ ăn được, thì bấy giờ lại càng thấy sự cần thiết làm lịch để biết thời tiết mà trồng trọt, chăn nuôi.

    Những hiện tượng trong trời đất và cảnh vật chung quanh ta đều theo bốn mùa trở đi trở lại có thường độ, người xưa đếm ngay ra, ám nhận thấy thường độ ấy vào khoảng trên hay dưới 360 ngày chi đó.

    Nhưng làm lịch không thể nói phỏng chừng như thế được, phải biết đích xác bao nhiêu ngày là tròn hết một vòng luân chuyển của bốn mùa.

    Một sự nhận xét nông nổi tính ra vòng luân chuyển ấy ở trong khoảng 12 lần trăng tròn. Lại đến xem bao nhiêu ngày là một lần trăng tròn, người ta thấy đúng 29 ngày rưỡi.

    Vậy 12 lần trăng tròn là: 29,5 x 12 = 354 ngày. Người ta liền lấy cái khoảng 12 lần trăng tròn là 354 ngày làm một độ lịch gọi là một năm. Mỗi lần trăng tròn là một tháng, người Tàu gọi mặt trăng là Nguyệt, nên cũng gọi tên tháng là Nguyệt.

    Vì mỗi tuần trăng tròn là 29 ngày rưỡi lẻ loi, nên nhà làm lịch xê xích lại cho chẵn, cứ một tháng thiếu 29 ngày, lại có một tháng thừa là 30 ngày.

    Âm lịch 354 ngày dùng được ít lâu, người ta nhận thấy nó ngắn quá, năm tháng chóng hết, mà thời tiết cứ ngày càng lùi chậm lại. Theo lịch thì là giữa Hè rồi mà trời chưa bức, đã sang Đông rồi mà trời chưa rét.

    Quyển lịch năm thiếu ấy rất tai hại cho việc canh nông, sự chăn nuôi, trồng trọt, trái thời tiết sẽ làm giảm sút số hoa lợi; cuộc sinh hoạt vì đó thiếu thốn khó khăn. Cho nên ở những nơi dân cư trù mật, việc canh nông rất là hệ trọng, người ta đã phải cố gắng xem xét hiện tượng của vũ trụ và các vầng tinh tú để tìm thấy một quyển lịch đúng thời tiết.

    Từ thời đại rất sớm, người Trung Hoa, người Chaldéen đã rất giỏi về Thiên văn học.

    Âm lịch 354 ngày ngắn quá, người ta thí nghiệm thêm lần ngày ra khi tới số 365 ngày thì thấy thời tiết vừa sát đúng

    Sử ký Tàu chép: "Vua Thuấn sai họ Hy, họ Hoa xét tượng số các vầng nhựt nguyệt và tinh tú để làm lịch cho dân biết thời tiết mà trồng trọt, chăn nuôi".

    Một quyển số học tối cổ của Trung Hoa là Kinh Dịch nói về nguyên lý của vũ trụ và thế giới kể lại rằng: "Vua Phục Hy lên đỉnh núi, xét sự vãng lai của tinh tú, suy về lý do của vũ trụ rồi lập thành một bản đồ 64 quẻ, nói về sự biến hóa và sự luân hồi của thế giới vạn vật".

    Hiền triết đời sau cắt nghĩa thêm cho dễ hiểu: "Dịch hữu Thái Cực thị sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái" (Chu Tử).

    Dịch nghĩa: Nguyên lý của mọi sự hóa sinh trong vũ trụ là cái lý độc nhất, tuyệt đối, tự hữu, hằng hữu, vô thủy, vô chung, mà ta tạm gọi là Thái Cực (L'Être suprême, absolu en soi et éternel: Dieu). Do lý Thái Cực ấy sinh ra hai thể tương phản mà ta tạm gọi là Âm và Dương (deux forces opposéesL le Positif et le Négatif).

    Hai thể tương phản giao nhau thành ra bốn hiện tượng của thế giới là:

    - Lão Dương (vieux soleil).
    - Lão Âm (vieille lune).
    - Thiếu Dương (astres mineures).
    - Thiếu Âm (l'atmosphère: làn không khí bao bọc địa cầu).
    Bốn hiện tượng ấy lại giao nhau mà sanh ra tám thể:

    1.- Càn: Trời (le ciel).
    2.- Khôn: Đất (la terre).
    3.- Khảm: Nước (les liquides: l'eau).
    4.- Ly: Lửa (la chaleur: le feu).
    5.- Chấn: Điện (l'électricité: tonnerre et foudre).
    6.- Tốn: Gió (l'air: le vent).
    7.- Cấn: Núi (les plissements: plateaux et montagnes).
    8.- Đoài: Đầm (les dépressions: mares et lacs).
    Những thể ấy giao nhau mà hóa sanh ra vạn vật.

    Về Lý học, nói đến đây là đủ hiểu đại khái. Nhưng về số học người ta còn tính thêm nhiều: Tám quái giao nhau thành 64 quẻ, mỗi quẻ lại chia làm 6 hào, thành ra:

    - 6 hào x 64 = 384 hào.

    Quái khí khởi từ quẻ Trung Phu, trừ quẻ Chấn, quẻ Ly, quẻ Đoài và quẻ Khảm là bốn quẻ chánh, có 24 hào làm chủ 24 khí, còn thừa:

    - 64 quẻ - 4 = 60 quẻ.

    Mỗi quẻ là 6 ngày 7 phân, nhân ra:

    - 6,7 x 60 = 360 ngày 420 phân.

    Mỗi ngày có 80 phân, vậy 420 phân tức là 5 ngày 20 phân hay là 5 ngày và một phần tư ngày.

    Biết được số ấy, người ta nhận thấy rằng Âm lịch ngắn mất:

    - 365 ngày 1/4 - 354 = 11 ngày 1/4.

    Như thế, theo Âm lịch cứ một năm 12 tháng thiếu mất 11 ngày 25. Vậy trong 2 năm 7 tháng rưỡi tức là 31 tháng rưỡi, thì thiếu vừa vặn 29 ngày 50.

    - (12 tháng x 29 ngày 50) :(chia) 11 ngày 25 = 31 tháng rưỡi.

    Trong 31 tháng rưỡi, thiếu đúng 29 ngày rưỡi, tức là vừa đúng một lần trăng tròn. Cho nên muốn bù vào chỗ thiếu ấy để thời gian khỏi sai lẫn, nhà làm lịch cứ hai năm tám tháng lại có một tháng nhuần, rồi hai năm bảy tháng lại có một tháng nhuần.

    Như thế tức là những năm nhuần kia dài gấp 13 lần trăng tròn.

    Nhà làm lịch Tàu lại tính sẵn đủ cho một pho lịch 60 năm một vòng; đời sau cứ thế mà hàng năm in ra cho dân dùng.

    Người Chaldéen cũng làm âm lịch 354 ngày, nhưng không có pho lịch sẵn, cứ bao giờ các nhà thiên văn cộng vào thấy vừa thiếu trọn một tuần trăng tròn, thì tâu lên nhà vua, nhà vua lại giáng chỉ cho dân thêm tháng nhuần thứ 13 ấy vào.

    Thứ lịch mới này, tháng tính theo độ số của mặt trăng là Âm lịch, còn năm thì theo độ số của mặt trời để hợp thời tiết bốn mùa là Dương lịch, nên gọi là Âm Dương lịch, hay Nhật Nguyệt lịch (Calendrier luni-solaire).

    Trong khi người phương Đông theo độ số mặt trăng, thì người phương Tây ra sức xem xét mặt trời.

    Lịch La Mã (Calendrier Romain) làm từ đời vua Romolus (735-714 trước kỷ nguyên Tây lịch), chỉ có 300 ngày chia làm 10 tháng.

    Vua sau là Numa Pompitius (714-671 trước kỷ nguyên Tây lịch) thêm vào hai tháng nữa. Tất cả thành 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, cộng là 360 ngày.

    Tới năm 708 lịch La Mã, danh tướng La Mã là César (101-44 trước kỷ nguyên Tây lịch) sửa đổi lại lịch cũ cho hợp với độ số của mặt trời, tính cứ thấy một vòng một năm là 365 ngày và 1/4 ngày, Jules César liền đặt lịch mới là 365 ngày, còn 1/4 ngày ngày lẻ góp 4 năm lại đúng một ngày lẻ, cho vào cuối tháng Hai (Février) gọi là ngày nhuần.

    Lịch ấy theo độ số của mặt trời, nên gọi là Dương lịch do Jules César làm ra, cũng gọi là lịch Julien. Đó là lịch ngày nay đang dùng.

    Kể số ngày, thì lịch Julien cũng giống như Âm Dương lịch dài 365 ngày thêm 1/4 ngày. Nhưng năm tháng đi sai nhau nên bốn mùa và hiện tượng thiên văn chỉ khác nhau.

    Nhật Nguyệt lịch tính theo độ số mặt trăng, nên đầu tháng là đầu tuần trăng non, giữa tháng là tuần trăng tròn, cuối tháng là tuần trăng khuyết.

    Lich Julien chỉ theo độ số mặt trời, nên không hợp với các tuần trăng tròn khuyết, bởi vậy không thể xem vầng trăng mà đoán được ngày tháng trong lịch Julien, như theo Âm Dương lịch.

    Âm Dương lịch phối hợp cả độ số của hai vầng nhật nguyệt đối với dịa cầu, nên Nguyệt thực de lune) bao giờ cũng vào tuần trăng tròn (giữa tháng), Nhật thực (Eclipse de soleil) bao giờ cũng vào tuần trăng non (đầu tháng). Lịch Julien không theo độ số mặt trăng nên những hiện tượng thiên văn (phénomènes atmosphériques) ấy có thể xảy ra bất cứ ở ngày nào trong lịch, mà không nhất định ở giữa tháng, đầu tháng hay cuối tháng.

    Cứ theo lý ra thì một năm có bốn mùa, lịch phải đặt thế nào cho mùa Xuân đúng vào ba tháng đầu. Mùa Hạ dúng vào ba tháng sau. Mùa Thu đúng vào ba tháng dưới. Mùa Đông đúng vào ba tháng cuối cùng.

    LịcH Julien đặt sai hẳn cả:

    - Ngày 21 Mars là tiết Xuân phân (équinoxe de printemps).
    - Ngày 21 Juin là tiết Hạ chí (soltice d'été).
    - Ngày 23 Septembre là tiết Thu phân (équinoxe d'automne).
    - Ngày 21 Décembre là tiết Đông chí (soltice d'hiver).
    Thành ra đầu năm lịch, trời chưa sang Xuân, mà cuối năm lịch mới khởi đầu mùa rét...

    Lịch Julien bất tiện như thế, nên đến cuối thế kỷ thứ 18, những nhà cầm đầu cuộc cách mạng nước Pháp đã sửa đổi phép đo lường, lại nghĩ đến cách sửa đổi cả phép làm lịch cho phú hợp thời tiết bốn mùa.

    Quốc Gia Hội Nghị (La Convention Nationale) ban hành sắc lệnh cho dân quốc theo lịch mới từ ngày 24-11-1973.

    Lịch ấy gọi là lịch Dân quốc (calendrier républicain) khởi đầu năm từ ngày Thu phân (22 Septembre) chia làm 12 tháng, mỗi tháng chẳng 30 ngày, còn thừa 5 ngày lẻ kia dùng để mở hội nghị kỷ niệm Dân quốc.

    Mười hai tháng ấy không gọi là Giêng, Hai, Ba, Tư... gì cả, cứ theo thời tiết thế nào thì đặt tên tháng như vậy. Nhà thi sĩ Fabre d'Eglantine (1750-1794) dự bàn việc chánh trị, có chân trong Quốc Gia Hội Nghị, dặt cho 12 tháng ấy những cái tên rất nên thơ:

    1.- Mùa Thu:

    - Vendémiaire: mois des vendanges, tháng hái nho.
    - Brumaire: mois des brumes, tháng sương móc.
    - Frimaire: mois des frimas, tháng sương mù.
    2.- Mùa Đông:

    - Nivose: mois des neiges, tháng tuyết trắng.
    - Pluviose: mois des pluies, tháng mưa sa.
    - Ventose: mois des vents, tháng gió thổi.
    3.- Mùa Xuân:

    - Germinal: mois des germinations, tháng nẩy mầm.
    - Floréal: mois des fleurs. tháng nở hoa.
    - Prairial: mois des prairies, tháng cỏ xanh non.
    4.- Mùa Hạ:

    - Messidor: mois des moission, tháng gặt hái.
    - Thermidor: mois de la chaleur, des bains, tháng nồng nực.
    - Fructidor: mois des fruits, tháng quả chín.
    Mỗi tháng chia làm 3 lần 10 ngày, thi sĩ cũng bỏ cái lối chia làm tuần lễ: Lundi, Mardi... kia đi, mà đặt cho 10 ngày những cái tên cũng rất nên thơ:

    - Primidi: mùng Một.
    - Duodi: mùng Hai.
    - Tridi: mùng Ba.
    - Quartidi: mùng Bốn.
    - Quintidi: mùng Năm.
    - Sextidi: mùng Sáu.
    - Septidi: mùng Bảy.
    - Octidi: mùng Tám.
    - Nonidi: mùng Chín.
    - Décadi: mùng Mười.
    Về Lịch số học đến đây thì quí vị đã hiểu đại khái. Còn về Dịch học của Á Đông thì sâu xa lắm và viết ra cho hết không tiện, nên chỉ tóm tắt mà thôi.

    VÀI LỜI CÁO LỖI

    Vì những vị tân học ngày nay cũng có một phần ít không rành về danh từ trong chữ Nho, nên buộc lòng tôi phải chua ngoại ngữ vào thêm chỗ giảng về Bát Quái Ngũ Hành và bài hiểu thêm về Lịch số học. Đó cũng chẳng ngoài ý của tôi muốn cho quí vị rộng hiểu thêm và cũng muốn ghi lại công khó của người xưa, dầu sao cũng có một đôi phần hữu ích vậy.

  4. #4
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    COI CHO BIẾT TUỔI, MẠNG, NĂM SANH CỦA NAM NỮ
    (Nam Nữ coi chung)

    Đây là bản liệt kê tính sẵn từ 01 tuổi đến 100 tuổi. Rồi cứ mỗi năm tính lên một tuổi là đúng. Bảng này lập thành vào năm Mậu Tuất tức là nhằm năm 1958 dương lịch.

    - 1958 - 015 tuổi: Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình Địa Mộc, khắc Sa Trung Kim, con vua Thanh Đế, phú quí.

    - 1957 - 016 tuổi: Tuổi Đinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc Thích Lịch Hỏa, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1956 - 017 tuổi: Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc Thích Lịch Hỏa, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1955 - 018 tuổi: Tuổi Ất Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim, khắc Thạch Lựu Mộc, con vua Bạch Đế, an mạng, phú quí.

    - 1954 - 019 tuổi: Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, khắc Thạch Lựu Mộc, con vua Bạch Đế, an mạng, phú quí.

    - 1953 - 020 tuổi: Tuổi Quý Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, trường mạng.

    - 1952 - 021 tuổi: Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, trường mạng.

    - 1951 - 022 tuổi: Tuổi Tân Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1950 - 023 tuổi: Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1949 - 024 tuổi: Tuổi Kỷ Sửu, cung Đoài, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Xích Đế, phú quí.

    - 1948 - 025 tuổi: Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Xích Đế, phú quí.

    - 1947 - 026 tuổi: Tuổi Đinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1946 - 027 tuổi: Tuổi Bính Tuất, cung Tốn, mạng Ốc Thượng Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1945 - 028 tuổi: Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, từ tánh phú quí.

    - 1944 - 029 tuổi: Tuổi Giáp Thân, cung Khôn, mạng Tuyền Trung Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, từ tánh phú quí.

    - 1943 - 030 tuổi: Tuổi Quí Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1942 - 031 tuổi: Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1941 - 032 tuổi: Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa, con vua Bạch Đế, trường mạng.

    - 1940 - 033 tuổi: Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa, con vua Bạch Đế, trường mạng.

    - 1939 - 034 tuổi: Tuổi Kỷ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Đầu Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1938 - 035 tuổi: Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Đầu Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1937 - 036 tuổi: Tuổi Đinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, cô quạnh.

    - 1936 - 037 tuổi: Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, cô quạnh.

    - 1935 - 038 tuổi: Tuổi Ất Hợi, cung Đoài, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc Sa Trung Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh

    - 1934 - 039 tuổi: Tuổi Giáp Tuất, Càn, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc Sa Trung Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1933 - 040 tuổi: Tuổi Quý Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa,con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1932 - 041 tuổi: Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa,con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1931 - 042 tuổi: Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàn Thổ, khắc Tuyền Trung Thủy, con vua Huỳnh Đế, cô quạnh.

    - 1930 - 043 tuổi: Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàn Thổ, khắc Tuyền Trung Thủy, con vua Huỳnh Đế, cô quạnh.

    - 1929 - 044 tuổi: Tuổi Kỷ Tỵ, cung Cấn, mạng Đại Lâm Mộc, khắc Đại Trạch Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1928 - 045 tuổi: Tuổi Mậu Thìn, cung Đoài, mạng Đại Lâm Mộc, khắc Đại Trạch Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1927 - 046 tuổi: Tuổi Đinh Mẹo, cung Càn, mạng Lư Trung Hỏa, khắc Kiếm Phong Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1926 - 047 tuổi: Tuổi Bình Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hỏa, khắc Kiếm Phong Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1925- 048 tuổi: Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim, khắc Bình Địa Mộc, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1924 - 049 tuổi: Tuổi Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, khắc Bình Địa Mộc, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1923 - 050 tuổi: Tuổi Quý Hợi, cung Cấn, mạng Đại Hải Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế. quan lộc tân khổ.

    - 1922 - 051 tuổi: Tuổi Nhâm Tuất, cung Đoài, mạng Đại Hải Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, quan lộc tân khổ.

    - 1921 - 052 tuổi: Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc, khắc Bích Thượng Thổ, con vua Thanh Đế, cô quạnh.

    - 1920 - 053 tuổi: Tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, khắc Bích Thượng Thổ, con vua Thanh Đế, cô quạnh.

    - 1919 - 054 tuổi: Tuổi Kỷ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hỏa, khắc Sa Trung Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1918 - 055 tuổi: Tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hỏa, khắc Sa Trung Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1917 - 056 tuổi: Tuổi Đinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ, khắc Dương Liễu Mộc, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1916 - 057 tuổi: Tuổi Bình Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ, khắc Dương Liễu Mộc, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1915 - 058 tuổi: Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Đại Khê Thủy, khắc Sơn Hạ Hỏa, con vua Hắc Đế, phú quí.

    - 1914 - 059 tuổi: Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Đại Khê Thủy, khắc Sơn Hạ Hỏa, con vua Hắc Đế, phú quí.

    - 1913 - 060 tuổi: Tuổi Quý Sửu, cung Tốn, mạng Tang Đố Mộc, khắc Ốc Thượng Thổ, con vua Thanh Đế, quan lộc tân khổ.

    - 1912 - 061 tuổi: Tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Đố Mộc, khắc Ốc Thượng Thổ, con vua Thanh Đế, quan lộc tân khổ.

    - 1911 - 62 tuổi: Tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, khắc Đại Lâm Mộc, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1910 - 063 tuổi: Tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Kiếm Phong Kim, khắc Đại Lâm Mộc, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1909 - 064 tuổi: Tuổi Kỷ Dậu, cung Ly, mạng Đại Trạch Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, quan lộc.

    - 1908 - 065 tuổi: Tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Đại Trạch Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, quan lộc.

    - 1907 - 066 tuổi: Tuổi Đinh Mùi, cung Đoài, mạng Thiên Thượng Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, tân khổ.

    - 1906 - 067 tuổi: Tuổi Đinh Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Thượng Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, tân khổ

    - 1905 - 068 tuổi: Tuổi Ất Tỵ, cung Đoài, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc Xoa Xuyến Kim, con vua Xích Đế, tân khổ.

    - 1904 - 069 tuổi: Tuổi Giáp Thìn, cung Khảm, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc Xoa Xuyến Kim, con vua Xích Đế, tân khổ.

    - 1903 - 070 tuổi: Tuổi Quý Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim, khắc Lư Trung Hỏa, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1902 - 071 tuổi: Tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim, khắc Lư Trung Hỏa, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1901 - 072 tuổi: Tuổi Tân Sửu, cung Đoài, mạng Bích Thượng Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, quan lộc cô quạnh.

    - 1900 - 073 tuổi: Tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, quan lộc cô quạnh.

    - 1899 - 074 tuổi: Tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Địa Mộc, khắc Sa Trung Kim, con vua Thanh Đế, phú quí.

    - 1898 - 075 tuổi: Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình Địa Mộc, khắc Sa Trung Kim, con vua Thanh Đế, phú quí.

    - 1897 - 076 tuổi: Tuổi Đinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc Thích Lịch Hỏa, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1896 - 077 tuổi: Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc Thích Lịch Hỏa, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1895 - 078 tuổi: Tuổi Ất Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim, khắc Thạch Lựu Mộc, con vua Bạch Đế, an mạng phú quí.

    - 1894 - 079 tuổi: Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, khắc Thạch Lựu Mộc, con vua Bạch Đế, an mạng phú quí.

    - 1893 - 080 tuổi: Tuổi Quý Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, trường mạng.

    - 1892 - 081 tuổi: Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, trường mạng.

    - 1891 - 082 tuổi: Tuổi Tân Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1890 - 083 tuổi: Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1889 - 084 tuổi: Tuổi Kỷ Sửu, cung Đoài, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Xích Đế, phú quí.

    - 1888 - 085 tuổi: Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Xích Đế, phú quí.

    - 1887 - 086 tuổi: Tuổi Đinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1886 - 087 tuổi: Tuổi Bính Tuất, cung Tốn, mạng Ốc Thượng Thổ, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1885 - 088 tuổi: Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, từ tánh phú quí.

    - 1884 - 089 tuổi: Tuổi Giáp Thân, cung Khôn, mạng Tuyền Trung Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, từ tánh phú quí.

    - 1883 - 090 tuổi: Tuổi Quý Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1882 - 091 tuổi: Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu Mộc, khắc Lộ Bàn Thổ, con vua Thanh Đế, trường mạng.

    - 1881 - 092 tuổi: Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa, con vua Bạch Đế, trường mạng.

    - 1880 - 093 tuổi: Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa, con vua Bạch Đế, trường mạng.

    - 1879 - 094 tuổi: Tuổi Kỷ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Đầu Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1878 - 095 tuổi: Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Đầu Thổ, khắc Thiên Thượng Thủy, con vua Huỳnh Đế, phú quí.

    - 1877 - 096 tuổi: Tuổi Đinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, cô quạnh.

    - 1876 - 097 tuổi: Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, cô quạnh.

    - 1875 - 098 tuổi: Tuổi Ất Hợi, cung Đoài, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc Sa Trung Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1874 - 099 tuổi: Tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc Sa Trung Kim, con vua Xích Đế, cô quạnh.

    - 1873 - 086 tuổi: Tuổi Quý Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1872 - 087 tuổi: Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, khắc Phúc Đăng Hỏa, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1871 - 088 tuổi: Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ, khắc Tuyền Trung Thủy, con vua Huynh Đế, bần cùng.

    - 1870 - 089 tuổi: Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ, khắc Tuyền Trung Thủy, con vua Huynh Đế bần cùng.

    - 1869 - 090 tuổi: Tuổi Kỷ Tỵ, cung Cấn, mạng Đại Lâm Mộc, khắc Đại Trạch Thổ, con vua Thanh Đế trường mạng.

    - 1868 - 091 tuổi: Tuổi Mậu Thìn, cung Đoài, mạng Đại Lâm Mộc, khắc Đại Trạch Thổ, con vua Thanh Đế trường mạng.

    - 1867 - 092 tuổi: Tuổi Đinh Mẹo, cung Càn, mạng Lư Trung Hỏa, khắc Kiếm Phong Kim, con vua Xích Đế, cô bần.

    - 1866 - 093 tuổi: Tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hỏa, khắc Kiếm Phong Kim, con vua Xích Đế, cô bần.

    - 1865 - 094 tuổi: Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim, khắc Bình Địa Mộc, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1864 - 095 tuổi: Tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, khắc Bình Địa Mộc, con vua Bạch Đế, phú quí.

    - 1863 - 096 tuổi: Tuổi Quý Hợi, cung Cấn, mạng Đại Hải Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, quan lộc tân khổ.

    - 1862 - 097 tuổi: Tuổi Nhâm Tuất, cung Đoài, mạng Đại Hải Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa, con vua Hắc Đế, quan lộc tân khổ.

    - 1861 - 098 tuổi: Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc, khắc Bích Thượng Thổ, con vua Thanh Đế cô quạnh.

    - 1860 - 099 tuổi: Tuổi Canh Thìn, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, khắc Bích Thượng Thổ, con vua Thanh Đế cô quạnh.

    - 1859 - 100 tuổi: Tuổi Kỷ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hỏa, khắc Sa Trung Kim, con vua Xích Đế cô quạnh.

  5. #5
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    HÔN NHÂN THUỘC NGŨ ĐẾ
    Lấy nhau tốt hay xấu

    Quí vị xem lại bảng tính tuổi ở trên để được biết mấy tuổi và con của vua Đế nào?

    XÍCH ĐẾ:

    Con nhà Xích Đế cưới con nhà Xích Đế: thì chồng vợ trước nghèo khổ, sau phú quí và đông con (Tốt).

    Con nhà Xích Đế cưới con nhà Huỳnh Đế: thì chồng vợ trước nghèo sau đặng giàu sang (Tốt).

    Con nhà Xích Đế cưới con nhà Bạch Đế: thì chồng vợ hay bất hòa, luôn luôn hay tranh cãi (Xấu).

    Con nhà Xích Đế cưới con nhà Thanh Đế: thì chồng vợ trước cũng như sau, đều đặng hoàn toàn hạnh phúc và sang giàu (Thật tốt).

    Con nhà Xích Đế cưới con nhà Hắc Đế: thì chồng vợ thường bất hòa, khó được lâu bền, rồi phải phân ly (Thật xấu).

    HUỲNH ĐẾ:

    Con nhà Huỳnh Đế cưới con nhà Huỳnh Đế: thì chồng vợ làm ăn đủ dùng; tuy chẳng dư dã, nhưng vợ chồng đặng vĩnh viễn (Tốt).

    Con nhà Huỳnh Đế cưới con nhà Xích Đế: thì chồng vợ trước làm ăn trung bình, từ ba mươi tuổi trở lên sẽ đặng phú quí vinh hoa (Thật tốt).

    Con nhà Huỳnh Đế cưới con nhà Bạch Đế: thì chồng vợ đặng giai lão, nếu sanh con trai đàu lòng sẽ đặng giàu to (Tốt).

    Con nhà Huỳnh Đế cưới con nhà Thanh Đế: thì chồng vợ ăn ở rất xung khắc, rồi sau cũn gphải phân ly hai ngã (Thật xấu).

    Con nhà Huỳnh Đế cưới con nhà Hắc Đế: thì chồng vợ cũng đều khắc về mạng, hay tranh cãi (Thật xấu).

    BẠCH ĐẾ:

    Con nhà Bạch Đế cưới con nhà Huỳnh Đế: thì chồng vợ trước cũng như sau, đều đặng giai lão và giàu sang phú quí (Thật tốt).

    Con nhà Bạch Đế cưới con nhà Xích Đế: thì chồng vợ rất xung khắc, gặp nhiều tai họa (Thật xấu).

    Con nhà Bạch Đế cưới con nhà Bạch Đế: thì chồng vợ cũng đều xung khắc và gặp tai họa luôn, rồi sau cũng phân ly (Thật xấu).

    Con nhà Bạch Đế cưới con nhà Thanh Đế: thì chồng vợ trước và sau cũng chẳng khá, nhưng đặng bền lâu (Xấu).

    Con nhà Bạch Đế cưới con nhà Hắc Đế: nếu sanh dặng con trai đầu lòng sẽ đặng giàu sang, làm ăn thịnh vượng (Tốt).

    THANH ĐẾ:

    Con nhà Thanh Đế cưới con nhà Huỳnh Đế: thì chồng vợ rất khá giả, làm ăn thạnh phát, lắm của nhiều con (Thật tốt).

    Con nhà Thanh Đế cưới con nhà Xích Đế: thì chồng vợ đặng thuận thảo và hạnh phúc (Thật tốt).

    Con nhà Thanh Đế cưới con nhà Bạch Đế: thì chồng vợ trước phải nghèo, từ ba mươi tuổi trở lên sẽ đặng khá (Tốt).

    Con nhà Thanh Đế cưới con nhà Thanh Đế: thì chồng vợ ăn ở không đặng bền lâu, sau có thể chia ly mỗi người mỗi ngã (Thật xấu).

    Con nhà Thanh Đế cưới con nhà Hắc Đế: thì chồng vợ được hoàn toàn hạnh phúc giàu sang (Thật tốt).

    HẮC ĐẾ:

    Con nhà Hắc Đế cưới con nhà Huỳnh Đế: thì chồng vợ trước phải chịu nghèo khổ, đến ba mươi tuổi trở lên sẽ dặng khá (Tốt).

    Con nhà Hắc Đế cưới con nhà Xích Đế: thì chồng vợ xung khắc và kỵ nuôi con vì khó sống được đến lớn (Thật xấu).

    Con nhà Hắc Đế cưới con nhà Thanh Đế: thì chồng vợ dặng thuận hòa và sẽ giàu sang phú quí (Thật tốt).

    Con nhà Hắc Đế cưới con nhà Bạch Đế: nếu sanh con trai đầu lòng thì làm ăn phát đạt (Tốt).

    Con nhà Hắc Đế cưới con nhà Hắc Đế: thì chồng vợ đặng hạnh phúc, bền duyên và phú quí (Thật tốt).

    Quí vị nên chú ý: Mỗi câu trên đây nói người chồng thuộc con nhà Đế nào, rồi cưới vợ thuộc con nhà Đế nào mới được bền duyên hay phân ly, tốt hay xấu.

    Thí dụ: Con nhà Hắc Đế (là người chồng cưới con nhà Hắc Đế (là người vợ) thì vợ chồng đặng hạnh phúc v.v...

    Quí vị coi như thế mới đúng nghĩa, nếu nghĩ ngược lại là sai.

    XEM COI TÁM CUNG CỦA MƯỜI HAI TUỔI

    Bài này để xem mười hai tuổi sanh thuộc tám cung theo Bát Quái và làm nhà trở cửa cái theo hướng sanh(1). Còn mặt bếp chỉ có hai hướng thuận là hướng Đông và Tây mà thôi (Hỏa môn triều Đông, triều Tây, sách Bát Cẩm Trạch Minh Kiểng).

    (1) Về phương hướng chỉ kể tuổi của người đàn ông mà thôi. Khi nào người đàn bà độc thân mới lựa phương hướng theo tuổi đàn bà.

    CUNG CÀN:

    Cung Càn số này thuộc Kim,
    Người có nghề nghiệp tinh chuyên đủ điều,
    Hướng sanh cho thuận mới bền,
    Thiên thời, địa lợi, nhân hòa làm nên.
    Cửa cái Tây Bắc ngó ra,
    Bốn phương thuận tiện làm ăn vững bền.
    Số này sau có đất điền,
    Tha phương tự lập chẳng nhờ đệ huynh.
    Xét xem căn số nợ duyên,
    Trai thay đổi vợ, gái thì truân chuyên.
    Tuổi nhỏ đau ốm liên miên,
    Lắm lần tai ách tưởng chầu Diêm vương.
    Số này trường thọ sống lâu,
    Khi thác con cháu phò quan linh đình.
    Có nhạc, có trống, có Sư tăng,
    Tụng kinh phổ độ hồn về Tây phương.

    Tuổi Tuất, Hợi làm nhà trở cửa về hướng Tây Bắc hay là hướng Đông Bắc cũng khá.

    CUNG KHẢM:

    Cung Khảm chánh Bắc hướng sinh,
    Cửa cái đúng hướng thuận hòa làm nên.
    Số này thuộc Thổ tánh hiền,
    Ý hòa, trí sáng, tánh tình hiền lương.
    Ăn ở thuận ý hương lân,
    Chẳng hay tranh cãi, chẳng hề tham lam.
    Xét xem căn số nợ duyên,
    Tình đầu lỡ dở, hiệp hòa duyên sau.
    Đến đâu cũng gặp bạn lành,
    Đỡ nâng mọi việc, lập thân xứ người.
    Tuổi này trường thọ niên cao,
    Khi thác con cháu đón đưa linh đình.
    Có nhạc trống đến đưa linh,
    Có sư phổ độ hồn về Tây phương.
    Số thọ sáu mốt (61) mà thôi,
    Ăn ở hiền đức sống ngoài bảy mươi.

    Tuổi Tý làm nhà trở cửa về hướng chánh Bắc hay là hướng Đông Bắc cũng được.

    CUNG CẤN:

    Cung Cấn số này luận ra,
    Cung này thuộc Thổ, Đông Bắc hướng sanh.
    Số này xuất ngoại làm nên,
    Vì có nghệ thuật tinh chuyên hơn người.
    Đến đâu cũng được yêu vì,
    Làm ăn mọi việc chỉ nhờ người dưng.
    Căn duyên chồng vợ thuận hòa,
    Con cái có ít gia đình yên vui.
    Số gái cũng được vinh sáng,
    Có chồng quyền quí, môn đình được an.
    Số thọ ghi bảy mươi ba (73),
    Khi thác cũng được họ hàng đưa đông.
    Có nhạc trống có Sư tăng,
    Tụng kinh phổ độ hồn về Tây phương.
    Khá nên tích thiện tu thân,
    Ngày sau con cháu hưởng nhờ phước dư.

    Tuổi Sửu và tuổi Dần làm nhà trở cửa cái về hướng Đông Bắc hay Tây Bắc cũng được.

    CUNG CHẤN:

    Cung Chấn thuộc Mộc, chánh Đông,
    Người sanh cung ấy sáng thông ai bì.
    Cửa cái trời mọc là hay,
    Làm nên sự nghiệp an khương gia đình.
    Số này cũng lắm gian truân,
    Tha phương lắm nỗi, phong sương hải tần.
    Cung mạng lỡ dở duyên đầu,
    Duyên sau chấp nối thuận hòa yên vui.
    Số gái cũng số thanh cao,
    Có chồng quyền tước dự hàng công khanh.
    Của, con có sẵn tuổi già,
    Khi ra phong nhã, khi vào hào hoa.
    Số thọ ghi sáu mươi ba (63),
    Tu nhân tích đức sống ngòai bảy mươi (70).
    Cháu con đưa đám đủ đông,
    Hòa thượng dẫn độ đề phan độ hồn.
    Cung Chấn thuộc Mộc số này,
    Mộc thì khắc Thổ, thác vào tháng năm.

    Tuổi Mẹo làm nhà trở cửa cái về hướng chánh Đông hay là Đông Nam cũng được khá.

    CUNG TỐN:

    Cung Tốn thuộc hướng Đông Nam,
    Chánh Bắc sanh khí, thuận hòa bình an.
    Số này tuổi nhỏ gian nan,
    Nhiều lần tai ách, nhờ Trời lại an.
    Tánh nóng, dạ sáng, khôn ngoan,
    Chiêm bao cũng trúng, nghi ngờ cũng y.
    Thiếu niên lắm lúc gian nguy,
    Tơ duyên tráo chác, e khi đổi dời.
    Trở về tuổi lớn gặp thời,
    Làm ăn thịnh vượng, môn đình an khương.
    cung này cũng được thọ trường,
    Số trên bảy chục (70), hồn về Tây phương.
    Bốn người con cháu khóc thương,
    Có nhạc trống, phách, hương lân ngậm ngùi.
    Hòa thượng dẫn lộ độ vong,
    Theo sổ sách chép, thác vào mùa Đông.

    Tuổi Thìn và Tỵ làm nhà trở cửa cái về hướng Đông Nam.

    CUNG LY:

    Cung Ly, chánh hướng Nam phương,
    Ai nhằm cung ấy tánh người nóng thay.
    Số này con trai khó nuôi,
    Qua hạn bốn tuổi lớn lên nên người.
    Số gái cũng lắm truân chuyên,
    Nợ duyên lắm lúc long đong thảm sầu.
    Căn trời số dịnh vậy thì,
    Trai thay đổi vợ, gái thì lao đao.
    Tuổi thơ chẳng đặng phỉ nguyền,
    Tuổi già hưng thạnh, môn đình sum vinh.
    Cho hay số phận tự Trời,
    Gian nan lúc nhỏ, hòa vui cơn già.
    Số này sống sáu mươi ba (63),
    Ăn ở nhân đức sống ngoài bảy mươi (70).
    Khi thác gặp tiết Đông thiên,
    Cháu con đưa đón, cảm thông vô hồi.
    Có cổ nhạc, có Sư tăng,
    Tụng kinh phổ độ hồn về Tây phương.

    Tuổi Ngọ làm nhà trở cửa cái về hướng chánh Nam là hướng sanh hay Đông Nam cũng khá.

    CUNG KHÔN:

    Cung Khôn thuộc hướng Tây Nam,
    Người sanh cung ấy lắm lần tân toan.
    Số này tuổi nhỏ không yên,
    Đôi ba lần khá, có rồi lại tan.
    Số trai, vợ đôi, vợ ba,
    Số gái, duyên phận vui chiều buồn mai.
    Trung niên an phận hòa hài,
    Cách nhà, xa xứ ra ngoài lập thân.
    Sớm khuya lo liệu ân cần,
    Chồng hòa vợ thuận, cháu con cũng hòa.
    Số người hậu vận làm nên,
    Vì trước đã có căn lành trồng sâu.
    Đại số sáu mươi (60) mà thôi,
    Có căn tu niệm sống ngoài bảy mươi (70).
    Khi thác cháu con đủ đông,
    Có Sư phổ độ, trống kèn lung tung.

    Tuổi Mùi và Thân làm nhà trở cửa cái về hướng Tây Nam hay là Đông Nam cũng khá tốt.

    CUNG ĐOÀI:

    Cung Đoài thuộc Kim, chánh Tây,
    Người sanh cung ấy, số sau thanh nhàn.
    Tuổi thơ lắm lúc tai nàn,
    Nhờ có hồng phước nạn nào cũng qua.
    Đệ huynh nghịch ý ở xa,
    Tha phương tự lập của tiền làm ra.
    Vợ chồng lỡ dở nhiều phen,
    Khi tan, khi hiệp đôi lần mới nên.
    Số này cũng khó nuôi con,
    Chừng một hai đứa, dắt dìu tuổi cao.
    Tuổi thọ được sáu mươi ba (63),
    Có làm ân đức sống gnoài bảy mươi (70).
    Khi cất đám được rỡ ràng,
    Hòa thượng cổ nhạc, láng giềng đưa đông.
    Cung Kim khắc Hỏa rõ ràng,
    Thác vào mùa Hạ, Thiên tào số ghi.

    Tuổi Dần làm nhà trở cửa cái về hướng chánh Tây là hướng sanh hay là Tây Bắc cũng khá.

  6. #6
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    LUẬN VỀ TÁNH TÌNH VÀ VẬN MẠNG
    Của mỗi người chịu ảnh hưởng của Ngũ Đế

    Ngũ Đế là: Thanh Đế, Huỳnh Đế, Bạch Đế, Xích Đế và Hắc Đế. Quí vị xem trở về "Bảng tính tuổi từ một đến 100 tuổi" ở phần trước, thì được biết là con của ông vua nào (năm nhà Đế). Rồi quí vị xem ở đây thì biết phải chịu ảnh hưởng thế nào?

    CON NHÀ THANH ĐẾ:

    Người có tánh hòa nhã, điềm đạm, giàu tưởng tượng, dung hòa, thích cảnh u nhàn tịch mịch, ham ngao du nơi non cao biển cả, trầm tư mặc tưởng một mình, hay cảm động trước cảnh hoang tàn mồ mả, rất cảm hứng những áng văn chương tuyệt tác, thích những tranh cổ tự ngàn xưa, yêu mến loài vật, thường dễ cảm và tôn kính những chỗ đền thờ, lăng miếu, ưa xem những loại sách về triết lý, luân lý, đạo giáo v.v...

    Về hình dáng thì yểu điệu, gương mặt tròn, nước da trắng, môi son, bàn tay mềm mại, ngón tay mũi viết, mũi sọc dừa, đi đứng tề chĩnh, ăn nói nghiêm trang, mừng giận chẳng lộ ra ngoài mặt. Nếu là người đàn ông, phần nhiều thích những nghề như giáo sư, họa sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ; đa tình lắm nhưng lại bạc số.

    Nếu là đàn bà thì rất giàu tình cảm, yêu mến gia đình, có tánh nhát, vẻ mặt sầu não, không có chí tranh đấu, thiếu kiên nhẫn, biết an phận thủ thường, sạch sẽ, chính chắn, khéo léo; không được siêng năng nhưng có trật tự; chung tình, hơi ghen ngầm, đông con cái.

    Phần đông, con nhà Thanh Đế đều ưa tôn giáo, ham chuộng sự cúng quảy tổ tiên, thích cặm cụi tỉ mỉ, làm việc nội trợ, thêu thùa khéo, ham chưng diện cho con cái, biết trang trí trong nhà bông hoa tranh ảnh, không ưa những cảnh náo nhiệt; chẳng muốn chứng kiến những cảnh rùng rợn, lòng từ ái, liêm chánh, ít gặp tai nạn.

    Con nhà Thanh Đế nếu chịu ảnh hưởng xấu thì dễ bị sự cám dỗ sa ngã. Người đàn ông thì họ rất quỉ quái, lừa đảo, gian ngoa thường gạt gẫm rồi phụ bạc người đàn bà.

    Chịu ảnh hưởng xấu, nghĩa là sanh trưởng trong gia đình hàn vi thiếu sự giáo dục, không đủ phương tiện để học hành, chẳng có nghề nghiệp tinh chuyên để lập thân v.v... và chẳng hạn lúc tuổi nhỏ gần gũi với đàn bà nên dễ bị hư thân mất nết, đó gọi là ảnh hưởng xấu.

    CON NHÀ HUỲNH ĐẾ:

    Người mà chịu ảnh hưởng của ông Huỳnh Đế thì tánh tình hoạt động mãnh liệt, minh mẫn sáng láng, can đảm liều lĩnh, gan dạ phi thường, thường tranh đấu quyết liệt, ích kỷ, ham đắm lợi mê danh.

    Người tướng dạng to lớn, sức vóc mạnh mẽ, bẩm thọ cương quyết, có tánh hung tợn. Đầu vuông, cổ tròn, tướng cao, ngón tay và bàn tay đều to lớn, giọng nói to, mạnh ăn, đi dứng lanh lẹ, tánh khẳng khái, ham chỉ huy chiến đấu, thích săn bắn, ưa võ nghệ, thích thể thao như chạy bộ, đua xe đạp v.v... Họ ít xúc động nhưng trung hậu tử tế, song lắm khi phẫn nộ đi đến ngang tàng. Phần đông họ không được nhã nhặn, nhưng thành thật; có mưu lược, những nghề mà thích nhất là: lái xe hơi, thầu khoán, kỹ nghệ, quân binh; tánh cương quyết, ít chịu thối bộ trước cảnh ngộ khó khăn, quyết làm thế nào cho đạt kỳ sở vọng mới thôi, khi phán đoán thì trầm tĩnh mà tìm chánh lý; những ông thẩm phán, các vị quan chức thuộc ngạch hành chánh đều chịu ảnh hưởng con nhà Huỳnh Đế cả. Họ rất nghiêm khắc và chẳng dung thứ những kẻ cường bạo, họ thường giữ tròn bổn phận, chuộng chánh lý, nhưng chẳng có tình cảm.

    Người đàn bà mà chịu ảnh hưởng của ông Huỳnh Đế thì tướng cao mảnh khảnh, tính nết đoan trang, nói rõ ràng từng chi tiết, siêng năng, cần kiệm, từ ái, ít bạn bè, chẳng e dè vì họ quá thành thật. Ăn uống đạm bạc, không cầu kỳ, lãnh đạm với chồng con, trong thâm tâm thì lại keo sơn chung thủy; ít để ý thày lay đến việc người khác, ít ưa hát xướng, không ham du ngoạn. Đặc tánh của họ là giữ của, không tín ngưỡng nhưng chẳng đánh đổ ai, vì quá tiết kiệm mà thành ra có phần khuyết điểm cùng họ hàng thân thích, mất cảm tình với bạn bè. Tóm lại người đàn bà thuộc ông Huỳnh Đế là người tề gia giỏ, một người rất xứng đáng trong gia đình.

    Người con nhà Huỳnh Đế phần đông có nước da màu mật ông ngâm ngâm đỏ. Đàn ông thì có râu nhiều, còn đàn bà thì tóc nhiều và cứng đen lánh, sanh đẻ cũng được dễ dàng, nuôi con rất giỏi, làm nghề chăn nuôi súc vật cũng đặng mau lớn không hao hụt.

    CON NHÀ BẠCH ĐẾ:

    Người có tâm linh, tánh khởi xướng khéo léo, ngoại giao giỏi, lanh lợi, tiên đoán, tiên kiến. Người con nhà Bạch Đế hay đa sầu,có khi lãnh đạm, khôn ngoan, đa mưu trí túc, cử chỉ khoan hòa, có đủ phương chước khuyến khích kẻ khác tự tính và kiên tâm cho đạt thành sở vọng; có đủ lý luận và quyến rũ bạn bè theo ý kiến của mình. Có lắm khi vì muốn đạt thành nguyện vọng, cho nên cũng dám làm đến chuyện phi pháp.

    Người có hình tướng nhỏ, đều đặn, cân đối, gương mặt vừa vặn, da trắng hồng,đôi mắt sáng, môi đỏ, tiếng nói thanh tao lãnh lót, hình dáng dễ thương.

    Người đàn bà con nhà Bạch Đế thường rất lãnh đạm về tình ái, thường hay lợi dụng tình cảm của kẻ khác mà làm cho ra tiền bạc, thường đứng trước quyền lợi của mình hơn là tình cảm, ưa nơi sang giàu quyền quí, tâm tánh lúc nào cũng muốn đào tạo cho thành một sự nghiệp to; bao giờ cũng muốn chiếm một địa vị lớn trong xã hội và luôn luôn muốn được phần ưu tiên trong mọi việc.

    Nhờ sự thông minh và cố gắng hiển nhiên, nên họ đặng đắc kỳ sở nguyện một cách dễ dàng, cũng có khi phải chịu thất bại vì quá tham mà gồm nhiều việc trong một lần, nhưng sau rồi họ cũng đạt được nguyện vọng của họ. Tuy tánh chẳng hung bạo, song không được cảm tình của bạn bè và trong gia quyến.

    Vì tánh quá cứng cỏi và hay kích bác người, hay ỷ lại nơi sáng kiến khôn ngoan, lời nói trôi chảy, cho nên cũng hay làm mất lòng người. Việc xã giao rất khéo, nếu thấy khi đã bị mất lòng người khác thì lại tìm cách khôn khéo hầu chuộc lại sự cảm tình cách dễ dàng.

    Nếu gặp hoàn cảnh thuận tiện thì họ có thể làm những nghề như: kỹ nghệ, thầu khoán, trạng sư, bác sĩ hay nhà toán học v.v... Nếu gặp cơ hội tốt, thì họ rất quỷ quyệt, xảo trá, lường lận, gian hùng như giựt nợ, lường gái, thụt két hay là tay ăn chơi phóng đãng, không biết bao nhiêu là vợ; vì họ chẳng chung tình với ai cả. Phần nhiều những tật xấu ấy không phải là tiền định mà chính là tại hoàn cảnh gây nên, hoặc tại thiếu giáo dục của gia đình hay cũng có thể do nơi xã hội đào tạo.

    CON NHÀ XÍCH ĐẾ:

    Người có tánh tình ngay thẳng, uy nghiêm, thanh toán mọi việc một cách trôi chảy, trọng kỷ luật; ít nói nhưng không kiêu hãnh.

    Người có thân hình hơi mập mạp, nước da sậm, đôi mắt sáng, tiếng nói lớn mà thanh tao, đầu cao, trán rộng và miệng cũng rộng, răng lớn, cằm vuông. Tánh người trầm tĩnh, thận trọng, dè dặt, có lòng tự ái, trường thọ, trong đời ít gặp tai nạn, làm giàu chậm nhưng vững bền, gặp cảnh khó đến mấy cũng đầy đủ cương nghị, chịu đựng nổi mọi sự cực nhọc, đầy lòng bác ái; ít nói nhưng hễ nói ra thì lời nói có đạo nghĩa và chân thật, lạc quan và rất tự tin nơi tài trí sẵn có của họ.

    Con nhà Xích Đế rất có hiếu nghĩa, yêu mến vợ con, chẳng lang chạ nhưng nghiêm khắc với phái yếu.

    Người đàn bà con nhà Xích Đế là một người vợ quí, mẹ hiền, một người nội trợ giỏi. Sanh đẻ dễ dàng, không hay đau ốm, nhiều hạnh kiểm tốt, chuộng thuần phong mỹ tục, chẳng hay xa hoa phung phí, tánh tiết kiệm thanh cần, không thích chưng diện son phấn; đầy đức hy sinh, chung tình, kiên nhẫn và trầm ngâm ít nói, làm việc nhiều, tha thiết yêu gia đình; dầu gặp hoàn cảnh éo le thế nào thì người cùng hưởng được hạnh phúc lúc tuổi già.

    Người đàn bà Xích Đế rất tôn trọng Trời Phật, kính yêu cha mẹ, ông bà và người già cả v.v... Thích nuôi súc vật trong nhà, ưa buôn bán, ăn uống đạm bạc đơn giản, không hay than phiền; dầu gặp cảnh ngộ nào cũng điềm tĩnh; ít hay giúp đỡ kẻ khác, nhưng không bao giờ lường lận ai.

    Có thể nói rằng con nhà Xích Đế là khuôn mẫu cho luân lý, tôn giáo, kỷ luật, công bình, liêm chánh, nhẫn nại, an phận và điều hòa.

    CON NHÀ HẮC ĐẾ:

    Người có tánh tình khô khan, nguội lạnh, giữ gìn, gắn bó, tích trữ của cải, nghiêm trang tề chỉnh, nhẫn nại mọi việc, đạm bạc đơn giản. Con nhà Hắc Đế gian nan cực khổ, có chí kiên gan, gánh chịu mọi sự cay đắng, có tánh cương quyết và chuyên cần, nhờ thế mà thành công trong mọi công việc làm, như những nhà thông thái, bác học, triết học, các tu sĩ của các tôn giáo, rất ưa những sách xưa, đồ cổ v.v... Có thể nói ràng con người Hắc Đế là một con người bảo thủ; những vị lương y đại tài, những nhà tu luyện khổ hạnh đều chịu ảnh hưởng của Hắc Đế.

    Con nhà Hắc Đế nước da đen lánh, tay chân thô kịch, ít nói, ăn uống đạm bạc, không hay chưng diện, tướng cao, răng dài, tóc cứng, gọn gàng, mau mắn, chẳng có mỹ thuật lắm, nhưng được siêng năng, tần tiện, trung hậu, bền chí, giàu lòng hy sinh cho gia đình, dạy dỗ con cái đúng lễ. Những người đi tu đều chịu ảnh hưởng của Hắc Đế, nếu họ bị thất bại việc gì. Trong đời, ít gặp sự may mắn, vì quá thành thật mà thường bị người lường gạt.

    Người đàn bà ưa nơi thanh tịnh, ưa cúng quảy thờ phượng ông bà Trời Phật. Còn đàn ông ở hoàn cảnh tầm thường thì phần đông ưa rượu chè, làm việc nặng nhọc, xã giao kém, ít nói nhưng cộc cằn, có khi đến thô bỉ; chẳng hay thày lay việc của người khác. Họ có thể trở nên hung ác, nếu gặp sự bức bách; lại cũng vì quá thành thật mà hóa ra lãnh đạm.

    ĐÂY NÓI VỀ PHẦN TƯỚNG
    THUỘC SAO NÀO THỦ MẠNG, HÌNH DÁNG RA LÀM SAO

    "Số bật cập Tướng, Tướng bất cập Số" là gì?

    Trước muốn rành về số cũng nên coi để biết cho hết bài này, nó cũng giúp ích cho quí vị đoán định số mạng của mình và của người. Khi quí vị muốn xem cho một tuổi nào, thì trước hết bạn xem người ấy được bao nhiêu tuổi, tuổi gì, mạng gì, cung nào, sanh về tháng nào, ngày nào, mùa gì, ẩn hình của giống chim thú nào v.v... Có người ở chỗ Cung thì tốt, mà thuộc Mùa thì lại xấu; còn người ở nơi Tháng tốt, mà ở Cung lại xấu v.v... cho nên cân qua chế lại mười phần mà chiếm được năm phần thì khá rồi; từ mười mà chiếm được sáu hay bảy phần thì tốt lắm; còn ai mà được trọn mười phần thì là số đại phú quí chẳng sai. Đó là về bên Số. Còn về bên Tướng là khác, cho nên có câu: "Tướng bất cập số, Số bất cập Tướng" là vậy.

    KIM TINH THỦ MẠNG

    Người da trắng hồng nhuận, bàn tay đỏ ao, răng trắng môi son, tướng mảnh khảnh không cao quá; đôi mắt vừa không lộ, lông mày vừa không khít khoảng trên sóng mũi tóc may đen mước không cứng quá, trán vừa vặn cân đối không cao quá mà cũng không phải trán vồ, mũi thẳng hai bên tròn đều; khi nói lúc nào cũng hòa nhã, nụ cười có duyên và tươi tắn. Gò má vừa không quá cao, có lắm cô khi cười lại có núm đồng tiền trông rất đẹp, cổ trắng hơi cao có ba lằn chỉ đẹp; hai vai không xuôi quá và cũng không ngang chàn, ngực nở đầy đặn, hông nở, trôn nở, bàn chân trắng gót đỏ ao là quí tướng; tiếng thanhvà trong trẻo. Đi đứng nhẹ nhàng tề chỉnh, ăn uống khoan thai.

    Đàn ông hay đàn bà thuộc Kim Tinh thủ mạng đều có tướng như trên.

    Xét về tướng thuộc Kim Tinh thủ mạng, nếu là người đàn ông thì họ kén vợ lắm, còn đàn bà rất kén chồng. Không phải họ quá ham giàu sang, mà chỉ thích bậc văn nhân quân tử. Bởi có câu: "Đàn bà mảnh khảnh lưng ong. Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con".

    Những người đàn bà Kim Tinh thủ mạng là một người khéo léo, chính chuyên, nếu họ là một ca sĩ thì giọng hát rất say mê. Còn người có học thức thì thích những loại sách nghiên cứu về thi văn, cùng là những loại sách về đạo giáo, triết lý v.v... Sự ăn mặc của họ rất thích hợp thời trang, trong nhà thường trang trí bông hoa đẹp. Chẳng những họ kỹ lưỡng cho họ mà thôi, trái lại còn đến kẻ ăn người ở cũng cho tha hồ chưng diện. Họ có tánh dễ dãi, tuy nghiêm trang mà không có tánh kiêu hãnh; lại có lòng nhân từ và bác ái.

    MỘC TINH THỦ MẠNG

    Người Mộc Tinh chủ mạng thì tầm thường, dáng người đĩnh đạc, da hơi đỏ hồng, khổ mặt nở nang đều đặn, đầu tròn, đôi mắt tròn, lỗ mũi ngay và cao, chơn mày thưa và đen, trán vừa vặn, gò má vừa xem, cằm hơi ngắn có duyên, răng nhỏ trắng trong, đôi môi vừa vặn. Người ít nói nhưng hễ nói ra thì rất thành thật, không khi nào nói chơi. Hai lỗ tai hơi cao, cổ vừa, vai hơi rộng, bàn chân dài, ngón tay dài, bàn tay hơi cứng, ngón tay cái đầu vuông. Tánh tình vui vẻ ngay thẳng, hơi giản dị song không quá cẩu thả.

    Những vị có chức phận, cầm quyền cai trị rất mực công chính, đa tình nhưng không lang chạ. Nếu họ là nhà mỹ thuật thì họ có tài sáng tác mà trở nên giàu sang.

    Người đàn bà Mộc Tinh chủ mạng mà có tướng tương đương như hình dáng của người đàn ông vừa nói trên, thì người ấy là một người đàn bà rất khó tánh, hay ghen ngầm và sâu sắc với chồng con và cùng người xung quanh họ, nhưng họ là một người giỏi về tề gia nội trợ và chính chuyên. Người không ưa nơi náo nhiệt, thường trầm ngâm, ưa nơi yên tịnh, họ thích chiêm ngưỡng nơi chốn giáo đường hay chùa chiền, lăng miếu. Họ rất tín ngưỡng Trời Phật, nhưng không quá mê tín, có thể nói họ là người chánh tín.

    Có lắm lúc cáu kỉnh, nhưng không có những giọng cay nghiệt, chẳng oán thù hay nghi oan. Họ ít khi dòm hành gia đạo của người khác, hơi cần kiệm nhưng không phải là người keo kiết, gian lận ai, có thể họ là người khuôn mẫu trong gia đình.

    Xử sự với đời, họ biết thủ phận, không quá xa hoa, chẳng so sanh phân bì với ai mà cũng không bao giờ gây gổ ai. Không bao giờ họ hứa sai lời cùng ai, họ rất tự trọng cho nên có khi họ rất nghèo túng. Dầu gặp cảnh nào, họ cũng cam thủ phận để qua cơn khốn đốn. Có thể nói rằng người ấy rất giảu nghị lực.

    Những người đàn bà như thế mới xứng đáng là một người vợ hiền, một người mẹ xứng đáng dạy dỗ đàn con sau này.

    THỔ TINH THỦ MẠNG

    Người mà sao Thổ Tinh thủ mạng có nước da đen, cao và ốm, đàu vuông, cằm vuông, lỗ mũi cao, tay dài, ngón tay cũng dài, mặt vuông, lưỡng quyền có xương, tóc đen cứng, đôi mắt hơi sâu, tròng đen trắng phân minh có tinh thần, vầng trán cao, miệng rộng, răng to, tiếng nói lớn, đi đứng mạnh dạn.

    Người Thổ Tinh thủ mạng tánh nết đứng đắn, gương mặt nghiêm trang có đượm vẻ buồn, ưa thích những việc của nhà canh nông hay là nhà chuyên môn những nghề nặng nhọc, thích cặm cụi làm công việc nặng nề. Họ thích nơi thanh tịnh u nhàn. Những nhà khai thác lâm sản, những vị tiều phu đều có Thổ Tinh thủ mạng cả. Tánh người rất tiết kiệm, ăn uống kham khổ, thích uống rượu, tín ngưỡng, những vịtu khổ hạnh thường cũng là vì sao Thổ Tinh thủ mạng.

    Người có sao Thổ Tinh thủ mạng thì tánh tình cứng cỏi, tâm chí thanh cao, nếu là nhà cách mạng thì cứng rắn như cụ Phan Bội Châu. Có thể:

    Phú quí bất năng dâm.
    Bần cùng bất năng di.
    Oai võ bất năng khuất.

    Người đàn bà Thổ Tinh thủ mạng thì số phận cũng long đong, thường chịu cảnh góa bụa lúc tuổi già, con cái ít, thân tình lạt lẽo, lúc tuổi nhỏ thì vui chiều buồn mai. Thích buôn bán, nuôi các loài vật, ưa tu hành, ghét nơi rộn rịp như hát xướng, kịch trường.

    Người đàn bà Thổ Tinh chiếu mạng cũng khá tốt, chính chuyên, trung hậu, trầm tĩnh, thanh cao, khoan dung, cẩn ngôn, cản hạnh, an phận và từ ái.

    THÁI DƯƠNG THỦ MẠNG

    Người sao Thái Dương thủ mạng thì hình dáng khôi ngô, nước da trắng, cao mảnh khảnh, tiếng nói thanh bai, răng trắng, môi đỏ, ngón tay dài, miệng vừa, cằm vuông, đi đứng đĩnh đạc, giao thiệp khéo, ăn nói có văn chương, nhưng không kiểu cách. Tóc không nhiều, hai lỗ tai vừa, lòng bàn tay cũng không mềm quá và không cứng quá, đôi môi cân đối, cổ cao vừa vặn, râu ít, ngực đều đặn, vai hơi vuông.

    Thái Dương thủ mạng thì thần khí sáng suốt, bình tĩnh, cang trực, không vội vàng, có chí tìm tòi những công việc khó khăn, có nghị lực chống chọi với sự khó khăn, có óc sáng tạo, có tài bắt chước, tiếng nói nhỏ mà vang và có oai. Có thể họ tự lập mà nên cơ nghiệp.

    Người Thái Dương thủ mạng có sự may mắn lạ thường, gặp sự bất ngờ mà làm giàu. Họ tự kềm chế ít khi lạm quyền, nhưng phần đông họ hay cảm về nữ sắc, cho nên họ có thể rất dễ vị nợ tình vương vấn, đôi ba vợ không chừng.

    Người đàn bà Thái Dương thủ mạng thì đoan trang lắm, đi đứng khoan thai, ăn nói tề chĩnh, giọng nói thanh tao, ít khi nóng nảy, ăn mặc đơn giản, thích ngao du sơn thủy hữu tình, thích văn chương, có óc mỹ thuật, ít ưa màu mè rực rỡ, đa cảm, hay tín ngưỡng, rất chung tình, có lòng bác ái, cũng ưa chuộng sự đẹp về hình thức nhưng ít hay chú trọng thái quá.

    Người đàn bà Thái Dương chiếu mạng cũng đứng về người phước đức, rất có tương lai sau này.

    THỦY TINH THỦ MẠNG

    Người sao Thủy Tinh chiếu mạng thì vóc người nhỏ, đều đặn, có duyên dáng, ai thấy cũng ưa nhìn, giữ được vẻ trẻ trung mãi, sắc da hơi trắng hồng nhuận, tóc đen lánh, trán cao vừa, mí mắt sâu, đôi mắt cũng hơi sâu, miệng vừa vặn, cằm hơi nhỏ, đi đứng mau mắn, ăn nói hoạt bát. Tuy dáng người thấp mà cân đối.

    Người như thế ăn nói khôn ngoan lịch thiệp, họ xã giao rất khéo, có nhiều mưu mẹo khôn ngoan. Những cô y tá, nữ điều dưỡng, cô đỡ phần đông đều có tướng như trên. Họ có những cử chỉ lanh lẹ, có thái độ tự nhiên làm cho người bệnh nhân vui vẻ, chẳng bao giờ thố lộ sự buồn ra ngoài. Họ ăn mặc rất đúng, sạch sẽ, kỹ lưỡng, biết trang trí trong nhà xem rất ngoạn mục, họ giao thiệp cùng bên nam giới chẳng e lệ rụt rè gì cả, họ thường pha trò rất duyên dáng khi nói chuyện, có lắm khi họ chế nhạo cũng khéo léo và rất có duyên nên chẳng ai giận.

    Người đàn ông Thủy Tinh chiếu mạng thì họ cũng có tánh như trên, họ có nghề khéo léo, hay chìu ý khách hàng nếu họ là một người buôn bán, họ rất được cảm tình của nữ giới. Nếu họ là họa sĩ thì họ thích cảnh sơn thủy, núi non, sông biển. Tuy họ là đàn ông nhưng họ rất thích chưng diện, ưa bông hoa màu sắc, ưa xem hát, du lịch và thích trẻ con hay là nuôi súc vật. Họ ăn nói tuy nhỏ nhen nhưng lý luận rất đúng, khi đấu khẩu với ai thì họ có thần thái tự nhiên, họ thắng đối phương một cách khéo léo.

    HỎA TINH THỦ MẠNG

    Người Hỏa Tinh thủ mạng thì tầm người cao lớn, tướng khỏe mạnh, gân guốc, da thịt rắn chắc, da đen hung hung, tay chân to lớn, lòng bàn tay cứng rắn và to, trán hơi vuông, đầu tròn trịa, tóc cứng, râu cứng, lông mày mọc ngang, môi hơi dầy, miệng rộng vừa, răng hơi to, cổ vừa không cao, cằm vuông, nở ngực, nở vai, hai bên hông nở nang, ăn uống mạnh dạn, lắm khi ghiền rượu, làm việc mạnh mẽ, chăm chỉ ít nói. Những nghề sở trường của họ như: canh nông, kỹ nghệ, ngành chuyên môn nặng nề, hay là quân binh võ tướng.

    Người Hỏa Tinh chiếu mạng tuy không hay nói lặt vặt, chẳng hay can thiệp chuyện của ai, nhưng khi họ nổi giận thì cộc cằn lắm. Họ ít ưa nói giỡn chơi, rất thành thật dung hòa, chí thiết cùng gia đình, cưng vợ mến con. Họ chẳng hay xa xỉ, không để tâm chuyện thị phi, có chí kiên nhẫn những việc khổ nhọc.

    Người dàn bà Hỏa Tinh chiếu mạng là người mạnh mẽ, ăn nói to tiếng nhưng thành thật, họ không chưng diện, người hơi thô khi mình nhìn họ, nhưng được cái đức tánh siêng năng, chân chánh, trung hậu, họ có lòng tín ngưỡng lắm, hiếu thuận mẹ cha, trọn đạo xướng tùy, hòa thuận hương lân và tiết kiệm. Họ rất đông con và nuôi con rất dễ, ít khi đau ốm, họ nuôi thú vật cũng đặng. Họ ăn uống rất dễ và rất khỏe, họ kém mỹ thuật, không trật tự, nhưng người dễ tánh. Họi nói rất nhiều nhưng chẳng oán giận ai bao giờ, chẳng thích thày lay việc người khác.

  7. #7
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    COI CHO TRẺ MỚI SANH
    COI CHO BIẾT NĂM SANH LÀ NĂM GÌ


    (Năm Âm lịch và năm Tây lịch đối chiếu)

    Bản kê tính sẵn trước sau 100 năm, kể từ năm 1958 cho đến năm 2058.

    - 1958 tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình Địa Mộc (cây trên đất bằng), xương con Chó, tướng tinh con Vượn.

    - 1959 tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Địa Mộc (cây trên đất bằng), xương con Heo, tướng tinh con Gấu.

    - 1960 tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ (đất trên vách), xương con Chuột, tướng tinh con Dê.

    - 1961 tuổi Tân Sửu, cung Đoài, mạng Bích Thượng Thổ (đất trên vách), xương con Trâu, tướng tinh con Đười Ươi.

    - 1962 tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con Cọp, tướng tinh con Ngựa.

    - 1963 tuổi Quý Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con Thỏ, tướng tinh con Hươu.

    - 1964 tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Đăng Hỏa (lửa đèn nhỏ), xương con Rồng, tướng tinh con Rắn.

    - 1965 tuổi Ất Tỵ, cung Đoài, mạng Phúc Đăng Hỏa (lửa đèn nhỏ), xương con Rắn, tướng tinh con Trùn.

    - 1966 tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thủy (nước sông Thiên Hà), xương con Ngựa, tướng tinh con Thuồng Luồng.

    - 1967 tuổi Đinh Mùi, cung Đoài, mạng Thiên Hà Thủy (nước sông Thiên Hà), xương con Dê, tướng tinh con Rồng.

    - 1968 tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Đại Trạch Thổ (đất nền nhà lớn), xương con Khỉ, tướng tinh con Lạc Đà.

    - 1969 tuổi Kỷ Dậu, cung Ly, mạng Đại Trạch Thổ (đất nền nhà lớn), xương con Gà, tướng tinh con Thỏ.

    - 1970 tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con Chó, tướng tinh con Cáo.

    - 1971 tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con Heo, tướng tinh con Cọp.

    - 1972 tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Đố Mộc (cây dâu), xương con Chuột, tướng tinh con Beo.

    - 1973 tuổi Quý Sửu, cung Tốn, mạng Tang Đố Mộc (cây dâu), xương con Trâu, tướng tinh con Cua Biển.

    - 1974 tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Đại Khê Thủy (nước ở khe lớn), xương con Cọp, tướng tinh con Trâu.

    - 1975 tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Đại Khê Thủy (nước ở khe lớn), xương con Mèo, tướng tinh con Dơi.

    - 1976 tuổi Bính Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con Rồng, tướng tinh con Chuột.

    - 1977 tuổi Đinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con Rắn, tướng tinh con Cú.

    - 1978 tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời), xương con Ngựa, tướng tinh con Heo.

    - 1979 tuổi Kỷ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời), xương con Dê, tướng tinh con Rắn.

    - 1980 tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con Khỉ, tướng tinh con Chó Sói.

    - 1981 tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con Gà, tướng tinh con Chó.

    - 1982 tuổi Nhâm Tuất, cung Đoài, mạng Đại Hải Thủy (nước biển lớn), xương con Chó, tướng tinh con chim Trĩ.

    - 1983 tuổi Quý Hợi, cung Cấn, mạng Đại Hải Thủy (nước biển lớn), xương con Heo, tướng tinh con Gà.

    - 1984 tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim (vàng dưới biển), xương con Chuột, tướng tinh con Chó Sói.

    - 1985 tuổi Ất Sửu, cung Tốn, Chấn, mạng Hải Trung Kim (vàng dưới biển), xương con Trâu, tướng tinh con Chó.

    - 1986 tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hỏa (lửa trong lư), xương con Cọp, tướng tinh con chim Trĩ.

    - 1987 tuổi Đinh Mẹo, cung Càn, mạng Lư Trung Hỏa (lửa trong lư), xương con Thỏ, tướng tinh con Gà.

    - 1988 tuổi Mậu Thìn, cung Đoài, mạng Đại Lâm Mộc (cây lớn ở rừng), xương con Rồng, tướng tinh con Quạ.

    - 1989 tuổi Kỷ Tỵ, cung Cấn, mạng Đại Lâm Mộc (cây lớn ở rừng), xương con Rắn, tướng tinh con Khỉ.

    - 19990 tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con Ngựa, tướng tinh con Vượn.

    - 1991 tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con Dê, tướng tinh con Gấu.

    - 1992 tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con Khỉ, tướng tinh con Dê.

    - 1993 tuổi Quý Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con Gà, tướng tinh con Đười Ươi.

    - 1994 tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi), xương con Chó, tướng tinh con Ngựa.

    - 1995 tuổi Ất Hợi, cung Đoài, mạng Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi), xương con Heo, tướng tinh con Hươu.

    - 1996 tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giang Hạ Thủy (nước mù sương), xương con Chuột, tướng tinh con Rắn.

    - 1997 tuổi Đinh Sửu, cung Ly, mạng Giang Hạ Thủy (nước mù sương), xương con Trâu, tướng tinh con Trùn.

    - 1998 tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Đầu Thổ (đất trên thành), xương con Cọp, tướng tinh con Thuồng Luồng.

    - 1999 tuổi Kỷ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Đầu Thổ (đất trên thành), xương con Thỏ, tướng tinh con Rồng.

    - 2000 tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con Rồng, tướng tinh con Rồng.

    - 2001 tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con Rắn, tướng tinh con Thỏ.

    - 2002 tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu Mộc (cây dương liễu), xương con Ngựa, tướng tinh con Cáo.

    - 2003 tuổi Quý Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu Mộc (cây dương liễu), xương con Dê, tướng tinh con Cọp.

    - 2004 tuổi Giáp Thân, cung Khôn, mạng Tuyền Trung Thủy (nước trong giếng), xương con Khỉ, tướng tinh con Beo.

    - 2005 tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thủy (nước trong giếng), xương con Gà, tướng tinh con Cua.

    - 2006 tuổi Bính Tuất, cung Tốn, mạng Ốc Thượng Thổ (đất ổ tò vò), xương con Chó, tướng tinh con Trâu.

    - 2007 tuổi Đinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ (đất ổ tò vò), xương con Heo, tướng tinh con Dơi.

    - 2008 tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hỏa (lửa sấm sét), xương con Chuột, tướng tinh con Chó Sói.

    - 2009 tuổi Kỷ Sửu, cung Đoài, mạng Thích Lịch Hỏa (lửa sấm sét), xương con Trâu, tướng tinh con Cú.

    - 2010 tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá), xương con Cọp, tướng tinh con Heo.

    - 2011 tuổi Tân Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá), xương con Thỏ, tướng tinh con Rái.

    - 2012 tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thủy (nước chảy dài), xương con Rồng, tướng tinh con Chó Sói.

    - 2013 tuổi Quý Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thủy (nước chảy dài), xương con Rắn, tướng tinh con Chó.

    - 2014 tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con Ngựa, tướng tinh con chim Trĩ.

    - 2015 tuổi Ất Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con Dê, tướng tinh con Gà.

    - 2016 tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi), xương con Khỉ, tướng tinh con Quạ.

    - 2017 tuổi Đinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi), xương con Gà, tướng tinh con Khỉ.

    - 2018 tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình Địa Mộc (cây trên đất bằng), xương con Chó, tướng tinh con Vượn.

    - 2019 tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Địa Mộc (cây trên đất bằng), xương con Heo, tướng tinh con Gấu.

    - 2020 tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ (đất trên vách), xương con Chuột, tướng tinh con Dê.

    - 2021 tuổi Tân Sửu, cung Đoài,mạng Bích Thượng Thổ (đất trên vách), xương con Trâu, tướng tinh con Đười Ươi.

    - 2022 tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con Cọp, tướng tinh con Ngựa.

    - 2023 tuổi Quý Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con Thỏ, tướng tinh con Hươu.

    - 2024 tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Đăng Hỏa (lửa đèn nhỏ), xương con Rồng, tướng tinh con Rắn.

    - 2025 tuổi Ất Tỵ, cung Tốn, mạng Phúc Đăng Hỏa (lửa đèn nhỏ), xương con Rắn, tướng tinh con Trùn.

    - 2026 tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thủy (nước sông Thiên hà), xương con Ngựa, tướng tinh con Thuồng Luồng.

    - 2027 tuổi Đinh Mùi, cung Đoài, mạng Thiên Hà Thủy (nước sông Thiên hà), xương con Dê, tướng tinh con Rồng.

    - 2028 tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Đại Trạch Thổ (đất nền nhà lớn), xương con Khỉ, tướng tinh con Lạc Đà.

    - 2029 tuổi Kỷ Dậu, cung Ly, mạng Đại Trạch Thổ (đất nền nhà lớn), xương con Gà, tướng tinh con Thỏ.

    - 2030 tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Xuyến Kim (xuyến bằng vàng), xương con Chó, tướng tinh con Cáo.

    - 2031 tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Xuyến Kim (xuyến bằng vàng), xương con Heo, tướng tinh con Cọp.

    - 2032 tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Đố Mộc (cây dâu), xương con Chuột, tướng tinh con Beo.

    - 2033 tuổi Quý Sửu, cung Tốn, mạng Tang Đố Mộc (cây dâu), xương con Trâu, tướng tinh con Cua Biển.

    - 2034 tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Đại Khê Thủy (nước ở khe lớn), xương con Cọp, tướng tinh con Trâu.

    - 2035 tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Đại Khê Thủy (nước ở khe lớn), xương con Mèo, tướng tinh con Dơi.

    - 2036 tuổi Bính Thìn, cung Khảm , mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con Rồng , tướng tinh con Chuột.

    - 2037 tuổi Đinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con Rắn, tướng tinh con Cú.

    - 2038 tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời), xương con Ngựa , tướng tinh con Heo.

    - 2039 tuổi Kỷ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời), xương con Dê, tướng tinh con
    rái.

    - 2040 tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con Khỉ, tướng tinh con Chó Sói.

    - 2041 tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con Gà, tướng tinh con Chó.

    - 2042 tuổi Nhâm Tuất, cung Đoài, mạng Đại Hải Thủy (nước biển lớn), xương con Chó, tướng tinh con chim Trĩ.

    - 2043 tuổi Quý Hợi, cung Cấn, mạng Đại Hải Thủy (nước biển lớn), xương con Heo, tướng tinh con Gà.

    - 2044 tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim (vàng dưới biển), xương con Chuột, tướng tinh con Chó Sói.

    - 2045 tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim (vàng dưới biển), xương con Trâu, tướng tinh con Chó.

    - 2046 tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hỏa (lửa trong lư), xương con Cọp, tướng tinh con chim Trĩ.

    - 2047 tuổi Đinh Mẹo, cung Càn, mạng Lư Trung Hỏa (lửa trong lư), xương con Thỏ, tướng tinh con Gà.

    - 2048 tuổi Mậu Thìn, cung Đoài, mạng Đại Lâm Mộc (cây lớn ở rừng), xương con Rồng, tướng tinh con Quạ.

    - 2049 tuổi Kỷ Tỵ, cung Cấn, mạng Đại Lâm Mộc (cây lớn ở rừng), xương con Rắn, tướng tinh con Khỉ.

    - 2050 tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con Ngựa, tướng tinh con Vượn.

    - 2051 tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con Dê, tướng tinh con Gấu.

    - 2052 tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con Khỉ, tướng tinh con Dê.

    - 2053 tuổi Quý Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con Gà, tướng tinh con Đười Ươi.

    - 2054 tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi), xương con Chó, tướng tinh con Ngựa.

    - 2055 tuổi Ất Hợi, cung Đoài, mạng Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi), xương con Heo, tướng tinh con Hươu.

    - 2056 tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thủy (nước mù sương), xương con Chuột, tướng tinh con Rắn.

    - 2057 tuổi Đinh Sửu, cung Ly, Giáng Hạ Thủy (nước mù sương), xương con Trâu, tướng tinh con Trùn.

  8. #8
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    COI CHO TRẺ MỚI SANH

    Bài dưới đây coi cho trẻ mới sanh đặng mấy lượng mấy chỉ và biết đặng sang hèn thế nào.

    Còn ngày giờ thì do nơi lịch quốc ngữ của Tam Tông Miếu. Bởi thứ lịch này cũng giống như lịch chữ Tàu, vì nhà làm lịch nói trên dịch đúng theo lịch Tàu đặng cho người Việt Nam chúng ta dễ hiểu.

    Bảng Tính số năm sanh tốt, xấu dưới đây rất quan trọng hơn hết trong số của Tam Thế Diễn Cầm và số Tử Vi.

    Bảng Tính số năm sanh tốt, xấu sau đây chẳng riêng để xem cho trẻ con mà thôi, lại còn để xem cho người lớn. Nếu quí vị nhớ đủ năm, tháng, ngày, giờ sanh thì xem đây cũng đúng vậy.

    TÍNH SỐ NĂM SANH TỐT, XẤU
    (Nam nữ coi chung)

    - Tuổi Giáp Tý: 1 lượng 2 chỉ; Bính Tý: 1 lượng 6 chỉ; Mậu Tý: 1 lượng 5 chỉ; Canh Tý: 7 chỉ; Nhâm Tý: 5 chỉ.

    - Tuổi Ất Sửu: 9 chỉ; Đinh Sửu: 8 chỉ; Kỷ Sửu: 8 chỉ; Tân Sửu: 7 chỉ; Quý Sửu: 5 chỉ.

    - Tuổi Bính Dần: 6 chỉ; Mậu Dần: 8 chỉ; Canh Dần: 9 chỉ; Nhâm Dần: 9 chỉ; Giáp Dần: 1 lượng 2 chỉ.

    - Tuổi Đinh Mẹo: 7 chỉ; Kỷ Mẹo: 1 lượng 9 chỉ; Tân Mẹo: 1 lượng 2 chỉ; Quý Mẹo: 1 lượng 2 chỉ; Ất Mẹo: 8 chỉ.

    - Tuổi Mậu Thìn: 1 lượng 2 chỉ; Canh Thìn: 1 lượng 2 chỉ; Nhâm Thìn: 1 lượng' Giáp Thìn: 8 chỉ; Bính Thìn: 8 chỉ.

    - Tuổi Kỷ Tỵ: 5 chỉ; Tân Tỵ: 6 chỉ; Quý Tỵ: 7 chỉ; Ất Tỵ: 7 chỉ; Đinh Tỵ: 6 chỉ,

    - Tuổi Canh Ngọ: 9 chỉ; Nhâm Ngọ: 8 chỉ; Giáp Ngọ: 1 lượng 5 chỉ; Bính Ngọ: 1 lượng 3 chỉ; Mậu Ngọ: 1 lượng 9 chỉ.

    - Tuổi Tân mùi: 8 chỉ; Quý Mùi: 7 chỉ; Ất Mùi: 6 chỉ; Đinh Mùi: 5 chỉ; Kỷ Mùi: 6 chỉ.

    - Tuổi Nhâm Thân: 7 chỉ; Giáp Thân: 5 chỉ; Bính Thân: 5 chỉ; Mậu Thân: 1 lượng 4 chỉ; Canh Thân: 8 chỉ.

    - Tuổi Quý Dậu: 7 chỉ; Ất Dậu: 1 lượng 5 chỉ; Đinh Dậu: 1 lượng 4 chỉ; Kỷ Dậu: 5 chỉ; Tân Dậu: 1 lượng 6 chỉ.

    - Tuổi Giáp Tuất: 1 lượng 5 chỉ; Bính Tuất 6 chỉ; Mậu Tuất 1 lượng 4 chỉ; Canh Tuất: 9 chỉ; Nhâm Tuất: 1 lượng.

    - Tuổi Ất Hợi: 9 chỉ; Đinh Hợi chỉ: 1 lượng 6 chỉ; Kỷ Hợi: 9 chỉ; Tân Hợi: 1 lượng 7 chỉ: Quý Hợi: 6 chỉ.

    SỐ THÁNG SANH

    Tháng giêng: 6 chỉ; tháng hai: 7 chỉ; tháng ba: 1 lượng 8 chỉ: tháng tư: 9 chỉ: tháng năm: 5 chỉ; tháng sáu: 1 lượng 6 chỉ; tháng bảy: 9 chỉ; tháng tám 1 lượng 5 chỉ; tháng chín: 1 lượng 8 chỉ; tháng mười: 8 chỉ; tháng mười một: 9 chỉ; tháng chạp: 5 chỉ.

    Nếu sanh về tháng nhuần thì tính như vầy: hễ sanh vào khoảng nửa trên tháng thì tính về tháng trước, còn khoảng nửa dưới tháng thì tinh về tháng sau.

    SỐ NGÀY SANH

    Mùng một: 5 chỉ, mùng hai: 10 lượng, mùng ba: 8 chỉ, mùng bốn: 1 lượng 5 chỉ, mùng năm: 1 lượng 6 chỉ, mùng sáu: 1 lượng 5 chỉ, mùng bảy: 8 chỉ, mùng tám: 1 lượng 6 chỉ, mùng chín: 8 chỉ, mùng mười: 1 lượng 6chỉ, mười một: 9 chỉ, mười hai: 1 lượng 7 chỉ, mười ba: 8 chỉ, mười bốn: 1 lượng 7 chỉ, mười lăm: 1 lượng, mười sáu: 8 chỉ, mười bảy: 9 chỉ, mười tám: 1 lượng 8 chỉ, mười chín: 5 chỉ, hai mươi: 1 lượng 5 chỉ, hăm mốt: 1 lượng, hăm hai: 9 chỉ, hăm ba: 8 chỉ, hăm bốn: 9 chỉ, hăm lăm: 1 lượng 5 chỉ, hăm sáu: 1 lượng 8 chỉ, hăm bảy: 7 chỉ, hăm tám: 8 chỉ, hăm chín: 1 lượng 6 chỉ, ba mươi: 6 chỉ.

    SỐ GIỜ SANH

    Giờ Tý: 1 lượng 6 chỉ, Sửu: 6 chỉ, Dần: 7 chỉ, Mẹo: 1 lượng. Thìn: 6 chỉ, Tỵ: 1 lượng 6 chỉ, Ngọ: 1 lượng, Mùi: 8 chỉ, Thân: 8 chỉ, Dậu: 9 chỉ, Tuất: 9 chỉ, Hợi: 6 chỉ.

    PHÉP TÍNH NHƯ DƯỚI ĐÂY:

    - Sanh năm Giáp Tý...: 1 lượng 2 chỉ.
    - Sanh tháng giêng....: 0 lượng 6 chỉ.
    - Ngày mùng Môt.......: 0 lượng 5 chỉ.
    - Sanh giờ Tý............: 1 lượng 6 chỉ.
    - Cộng là..................: 3 lượng 9 chỉ.

    Đoạn xem lời giải lập thành dưới đây, tìm đến lời giải chỉ số 3 lượng 9 chỉ thì sẽ được hiểu vận mạng trong một đời nên hư, tốt xấu v.v...

    LỜI GIẢI

    2 lượng 2 chỉ

    Số này thân hàn cốt lạnh, khổ sở linh đinh, quanh năm lo kiếm ăn độ nhật mà còn thiếu thốn, rồicó thể trở thành ăn mày vì số mạng vậy.

    2 lượng 3 chỉ

    Số này hễ mưu toan làm việc chi cũng khó nên được. Chẳng trông cậy nên anh em họ hàng, đành chịu tha phương cầu thực.

    2 lượng 4 chỉ

    Số này suy ra không có phước lộc gia đình, khó gầy nên sự nghiệp, không nơi nương cậy họ hàng cốt nhục, phải lưu lạc tha phương cầu thực tới già mà thôi.

    lượng 5 chỉ

    Suy ra số này tổ nghiệp suy vi, ít có phần gầy dựng nên gia đình được, họ hàng cốt nhục thì như than với giá, một đời khổ sở, chỉ tự mình tìm sự sống mà thôi.

    2 lượng 6 chỉ

    Số này trọn đời khốn khổ, một mình mưu tính công việc làm ăn luôn luôn nhưng chẳng thành. Nên lìa xa quê cha đất tổ mới hầu được đủ ăn và may ra lúc già được thanh nhàn.

    2 lượng 7 chỉ

    Số này một đời làm công việc ít có được người khác mưu toan giúp đỡ, khó nhờ cậy phước dức của tổ tông làm chủ trương cho. Chỉ tự lực một mình làm ăn, từ bé đến lớn chẳng có cái gì hay cả.

    2 lượng 8 chỉ

    Số này làm ăn lộn xộn rối ren như bòng bong, về sản nghiệp của tổ tông thì như giấc mộng. Nếu chẳng làm con nuôi người ta hay là không đổi họ thì cũng phải dời đổi gia cư tới đôi ba lần.

    2 lượng 9 chỉ

    Số nầy năm xưa thì lẩn quẩn chưa hề được hanh thông, dầu có công danh cũng trễ muộn, phải tới ngoài bốn mươi mới có thể đặng an nhàn, nhưng phải dời đổi nhà cửa hay đổi họ mới hay.

    3 lượng

    Số này lao lực phong trần, trong đời gặp lắm cảnh lầm than. Dầu có siêng năng hà tiện, tới tuổi gia chỉ đỡ ưu sầu chút đỉnh thôi.

    lượng 1 chỉ

    Số này cũng vất vả lao đao ví sanh kế, khó nhờ sự nghiệp của tổ tông mà nên nhà cửa. Từ nửa đời người trở lên mới đặng đủ ăn đủ mặc.

    3 lượng 2 chỉ

    Số này năm xưa gặp vận rủi, khó mưu đặng công việc gì. Về sau mới có tài lợi như nước chảy lần tới. Tử nửa đời người trở lên thì sự ăm mặc đặng no ấm, lúc ấy công danh lợi lộc sẽ hanh thông.

    3 lượng 3 chỉ

    Số này lúc ban sơ làm ăn công việc chi cũng khó thành, mưu tính trăm đường chỉ uổng công thôi. Tử nửa đời người sắp lên mới gặp vận hay sẽ tới như dòng nước chảy lại, sau này tấn lợi tấn phát đặng nhiều.

    3 lượng 4 chỉ

    Số này có phước đức tăng đạo, phải xa quê hương cha mẹ mà xuất gia nương cửa Phật, hằng ngày tụng niệm thì mới đặng y lộc viên mãn.

    3 lượng 5 chỉ

    Số này phước lượng sanh bình chẳng đặng chu toàn, chẳng hưởng phần căn cơ của tổ nghiệp truyền lại. Còn sự sanh nhai phải chờ khi vận tới rồi mới đặng no đủ hơn xưa.

    lượng 6 chỉ

    Số này một đời chẳng cần lao lực chi lắm, một tay gầy dựng nên gia nghiệp, cái phước chẳng phải vừa, vì sớm có ngôi phước tinh thường chiếu mạng, mặc dù cho làm qua trăm bề đều thành đạt.

    3 lượng 7 chỉ

    Số này làm chẳng đặng thành công, anh em ít giúp sức, chỉ một thân cô lập. Tuy rằng cũng có tổ nghiệp chút dỉnh, nhưng lúc lại thì rành rành đó, mà lúc đi thì chẳng biết hết bao giờ.

    3 lượng 8 chỉ

    Số này cốt cách rất thanh tao, sớm đặng thi đổ, tên họ ghi trên bảng vàng. Từ năm 36 tuổi, sẽ đặng phú quí vinh hoa.

    lượng 9 chỉ

    Số này trọn đời vận mạng chẳng thông đạt, làm việc thành rồi hư. Khổ tâm kiệt lực dựng nên gia kế, tới sau này cũng như giấc mộng.

    4 lượng

    Số này phước đức đặng lâu dài, nhưng xưa phải chịu qua nhiều nỗi phong ba vất vả. Sau này đặng hưởng an nhàn phú quí.

    4 lượng 1 chỉ

    Số này là người tài ba lỗi lạc, công chuyện trước sau chẳng đồng nhau; từ nửa đời sắp lên lại có phước tiêu dao, chứ chẳng như xưa kia vận chưa dạt.

    4 lượng 2 chỉ

    Số này sẽ đặng nhiều thỏa nguyện. Từ nửa đời người thì vận mạng đặng nên, lúc ấy tài lợi công danh thảy đều tấn phát.

    4 lượng 3 chỉ

    Số này là người tánh rất thông minh, làm việc lỗi lạc hiên ngang gần người sang quí. Một đời phước lộc tự trời định sẵn, chẳng cần phải lao lực mà tự nhiên đặng hanh thông.

    4 lượng 4 chỉ

    Phàm sự chi cũng bởi trời đem lại, chẳng cần cầu làm chi cho mệt, phước lộc về sau sẽ đặng hơn nhiều lúc khi xưa. Tuy rằng lúc trẻ cung Tài Bạch khó được như ý, nhưng tới tuổi già đặng an nhàn.

    4 lượng 5 chỉ

    Số này phần công danh lợi lộc trước phải tân khổ, sau này cũng phải bôn ba; số hiếm hoi con cái vì khó nuôi; anh em cốt nhục cũng phù trợ giúp sức.

    4 lượng 6 chỉ

    Số này đi đâu cũng đều đặng hanh thông, nhứt là đổi họ dời nhà lại càng thạnh vượng. Ăn mặc đầy đủ tự số trời định sẵn. Từ nửa đời người cho tới lúc già đồng một mực trung bình.

    4 lượng 7 chỉ

    Số này tính ra vượng lúc tuổi già, vợ con phú quí, vì nguyên có cái phước sẵn như nước chảy lại.

    4 lượng 8 chỉ

    Số này tuổi trẻ cũng như lúc lớn tuổi chẳng đặng hưng vượng. Anh em họ hàng đều không đặng nhờ cậy, giúp sức. Tới lúc già rồi mới đặng đôi phần an khương.

    4 lượng 9 chỉ

    Số này suy ra có hậu phước lắm, tự tay gầy dựng nên sự nghiệp vẻ vang gia đình. Người sang đều kính trọng. Một đời sung sướng.

    5 lượng

    Số này hằng ngày lao lực về đàng công danh tài lợi. Lúc nửa đời cũng có nhiều phen gặp phước lộc; tới lúc già có ngôi Tài tinh chiếu mạng sẽ đặng an nhàn.

    5 lượng 1 chỉ

    Số này một đời vinh hoa, mọi việc thảy đều tấn phát, chẳng cần lao lực tự nhiên hanh thông. Anh em, chú cháu đều đặng như ý, gia nghiệp và phước lộc đặng đầy đủ.

    5 lượng 2 chỉ

    Số này trọn đời hanh thông, việc gì cũng hay, chẳng cần nhọc lòng mà tự nhiên an ổn. Họ hàng cốt nhục thảy đều giúp sức, sự nghiệp hiển đạt.

    5 lượng 3 chỉ

    Số này xem ra khí lượng chân thật, nghiệp mà đặng phát đạt cũng nhờ ở trong đó. Phước lộc một đời có số định sẵn vinh hoa phú quí.

    5 lượng 4 chỉ

    Số này là người có tánh trung hậu và thanh cao, học hành minh mẫn, ăn mặc phong túc, tự nhiên an ổn, chính là người có phước trên đời.

    5 lượng 5 chỉ

    Số này lúc trẻ hằng bôn ba trên đàng danh lợi, nhưng uổng sức phí công mà thôi. Ngày kia phước lộc sẽ tới như nước chảy lại, rồi tự nhiên phú quí vinh hiển.

    5 lượng 6 chỉ

    Số này suy ra là người lễ nghĩa thông thái, một đời phước lộc, trải đủ mùi chua cay, nguồn tài lợi cuồn cuộn, an ổn và phong hậu.

    5 lượng 7 chỉ

    Số này phước lộc dẫy đầy, mọi sự hanh thông, vinh hiển mẹ cha, oai vọng chấn dương, người đều kính trọng, riêng chiếm bầu xuân.

    5 lượng 8 chỉ

    Số này là số bảng vàng áo gấm, quan cả khoa cao, phước lộc một đời tự nhiên đem lại, phúc thọ đầy đủ, danh lợi kiêm toàn.

    5 lượng 9 chỉ

    Suy ra số này là người diệu xảo không có thanh cốt, chẳng hẳn tài cao hộc rộng có phận khoa bảng, có mạng làm quan sang.

    6 lượng

    Số này tên đậu bảng vàng, lập nên công lớn, vinh quang tông tổ, điền sản phong túc, y lộc dư dã.

    6 lượng 1 chỉ

    Số này tư chất thông minh, học hỏi rộng rãi, tự nhiên vinh diệu, tên đậu bảng vàng. Dù chẳng được quan sang, chắc cũng là một nhà phú hộ.

    6 lượng 2 chỉ

    Số này phước lộc vô cùng, học giỏi làm nên, vinh hiển mẹ cha đai vàng áo gấm, phú quí vinh hoa mọi đường đầy đủ.

    6 lượng 3 chỉ

    Số này là số đậu khoa cao, làm quan lớn, giàu sang cực phẩm, toại danh thiên hạ, phước lộc phi thường, gia đình vinh hiển.

    6 lượng 4 chỉ

    Số này phú quí vinh hoa, ít ai bì kịp, oai quyền lộc vị, không kẻ sánh bằng. Áo tía đai vàng, ngôi cao chung đỉnh, trọn đời hạnh phúc.

    6 lượng 5 chỉ

    Số này suy ra phước lộc chẳng nhỏ, tài cao giúp nước, công cả yên dân, chức trọng trào đình, giàu sang tột bực, vang danh thiên hạ.

    6 lượng 6 chỉ

    Số này phú quí định sẵn tự trời, phước lộc hơn thiên hạ, quan cao quyền trọng, châu báu đầy nhà, ấm phong thê tử.

    6 lượng 7 chỉ

    Số này sanh ra tự nhiên có phước đức, điền viên gia nghiệp thật hưng long, trọn đời phú quí vinh hoa, muôn việc hanh thông hoàn hảo.

    6 lượng 8 chỉ

    Số này giàu sang tự trời ban, khỏi phải khó nhọc, gia tư có muôn vàng, nhưng mười năm sau chẳng còn như hồi trước, căn cơ tổ nghiệp trôi đi như thuyền trên mặt nước sóng bão.

    6 lượng 9 chỉ

    Số này là một vì sao y lộc ở nhân gian, một thân phú quí, mọi người đều kính nể. Tóm lại là phước lộc do tự trời định, an hưởng vinh hoa trọn đời.

    7 lượng

    Số này suy ra phước chẳng nhỏ không cần phải sầu lo làm chi cho mệt nhọc, vì trời đã định sẵn y lộc phong dinh, một đời vinh hiển giàu sang.

    7 lượng 1 chỉ

    Số này sanh ra rất khác với người thường, công hầu khanh tướng đều đặng hoàn hảo, một đời tự nhiên có phước tiêu diêu khoái lạc, cực phẩm hưng long.

  9. #9
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    24 GIỜ ĐỒNG HỒ SO VỚI 12 GIỜ ĐỊA CHI

    * BAN NGÀY:

    - 06 giờ sáng là giữa giờ Mẹo.
    - 07 giờ sáng là cuối giờ Mẹo (đầu giờ Thìn).
    - 08 giờ sáng là giữa giờ Thìn.
    - 09 giờ sáng là cuối giờ Thìn (đầu giờ Tỵ).
    - 10 giờ sáng là giữa giờ Tỵ.
    - 11 giờ sáng là cuối giờ Tỵ (đầu giờ Ngọ).
    - 12 giờ sáng là giữa giờ Ngọ.
    - 01 giờ chiều là cuối giờ Ngọ (đầu giờ Mùi).
    - 02 giờ chiều là giữa giờ Mùi.
    - 03 giờ chiều là cuối giờ Mùi (đầu giờ Thân).
    - 04 giờ chiều là giữa giờ Thân.
    - 05 giờ chiều là cuối giờ Thân (đầu giờ Dậu).

    * BAN ĐÊM:

    - 06 giờ tối là giữa giờ Dậu.
    - 07 giờ tối là cuối giờ Dậu (đầu giờ Tuất).
    - 08 giờ tối là giữa giờ Tuất.
    - 09 giờ tối là cuối giờ Tuất (đầu giờ Hợi).
    - 10 giờ tối là giữa giờ Hợi.
    - 11 giờ tối là cuối giờ Hợi (đầu giờ Tý).
    - 12 giờ khuya là giữa giờ Tý.
    - 01 giờ mai là cuối giờ Tý (đầu giờ Sửu).
    - 02 giờ mai là giữa giờ Sửu.
    - 03 giờ mai là cuối giờ Sửu (đầu giờ Dần).
    - 04 giờ mai là gữa giờ Dần.
    - 05 giờ sáng là cuối giờ Dần (đầu giờ Mẹo).

    XEM GIỜ SANH SANG HÈN CỦA MỌI NGƯỜI
    (Nam nữ coi chung)

    Đầu giờ Tý

    Đầu giờ khắc mẹ còn cha,
    Tánh nóng vội vã cùng là khắc thê.
    Hào con không hạp nam nhi,
    Họ hàng xung khắc, tha hương bồng bềnh.

    Giữa giờ Tý

    Giữa giờ, cha mẹ song toàn,
    Tánh tình vui vẻ thanh nhàn chung thân.
    Anh em gia đạo sung vinh,
    Tài hoa lại gặp má hồng yêu đương.

    Cuối giờ Tý

    Cuối giờ mồ côi mẹ cha,
    Anh em thì ít, ở cùng người dưng,
    Phu thế khắc đến hai lần,
    Nổi trôi số phận gian nan nhiều bề.

    Đầu giờ Sửu

    Đầu giờ, cha mẹ song toàn,
    Anh em đắc lực, họ hàng đông vui.
    Hai mươi tuổi đã nên người,
    Kiêm toàn văn võ nên trang anh tài.

    Giữa giờ Sửu

    Giữa giờ, cha mẹ song toàn,
    Tiền vận vất vả, gian nan nhiều lần.
    Anh em nào kẻ cậy trông,
    Một mình xung đột, lập thân vẫy vùng.

    Cuối giờ Sửu

    Cuối giờ, khắc cha tuổi nầy,
    Tiền vận cực khổ, gian truân hiểm nghèo.
    Bốn mươi tuổi, lộc tốt tươi,
    Trở về hậu vận, vinh hoa hơn người.

    Đầu giờ Dần

    Đầu giờ, cha sớm khắc rồi,
    Số cao phát muộn đã đành hậu lai.
    Tiền vận khổ sở mọi điều,
    Ngoài ba mươi tuổi hiển vinh, hiển tài.

    Giữa giờ Dần

    Giữa giờ, phú quí thiên ban,
    Đến ba mươi tuổi, công danh lẫy lừng.
    Anh em hòa thuận sung vinh,
    Thật là con một cháu đông đầy đàn.

    Cuối giờ Dần

    Cuối giờ, khắc mẹ chẳng hay,
    Vợ đầu con sớm, có rồi như không.
    Tiền vận vất vả không ngờ,
    Ba mươi sáu tuổi lập nên gia đình.

    Đầu giờ Mẹo

    Đầu giờ, khắc mẹ còn cha,
    Tánh hay nông nỗi chẳng nên trò gì.
    Anh em lãnh đạm vô nghì,
    Vợ chồng phải khắc đến lần thứ ba.

    Giữa giờ Mẹo

    Giữa giờ, cha mẹ chung cùng,
    Dù trai hay gái cũng là hiền nhân.
    Giàu sang phú quí vô ngần,
    Đến ba mươi tuổi lên đài vinh hoa.

    Cuối giờ Mẹo

    Cuối giờ, cha mẹ không toàn,
    Bôn nam tẩu bắc, lắm ngày tiêu tan.
    Hậu vận tài lộc phát liền,
    Vợ hiền con thảo một nhà thêm xuân.

    Đầu giờ Thìn

    Dầu giờ, cha mẹ an toàn,
    Tánh hay nóng nảy, kém người muộn sanh.
    Anh em không kẻ trung thành,
    Tiền vận bất lợi, giữ mình mới yên.

    Giữa giờ Thìn

    Giữa giờ, cha khắc lo phiền,
    Bạn bè sang trọng cơ đồ lập nên.
    Tiền vận du lịch giang hồ,
    Hậu vận thu xếp để cho vững bền.

    Cuối giờ Thìn

    Cuối giờ, khắc mẹ còn cha,
    Thông minh trí sáng việc lành làm nên.
    Bậu bạn lắm kẻ trung thành,
    Giàu sang cũng có, môn đình cũng vui.

    Đầu giờ Tỵ

    Đầu giờ, khắc mẹ chẳng sai,
    Vợ đầu con sớm không người đảm đương.
    Sau này phú quí vinh xương,
    Gái trai đều đủ thọ trường dài lâu.

    Giữa giờ Tỵ

    Giữa giờ cha mẹ song toàn,
    Có tài, có của sang giàu lắm phen.
    Họ hàng đông đủ như nêm,
    Lắm con nhiều cháu, căn nguyên vững vàng.

    Cuối giờ Tỵ

    Cuối giờ, cha khắc không toàn,
    Giàu sang phú quí, họ hàng kém xa.
    Anh em nào kẻ cậy nhờ,
    Tiền vận vất vả, sau đà mới nên.

    Đầu giờ Ngọ

    Đầu giờ, cha mẹ diên niên,
    Anh em hòa thuận lại thêm họ hàng.
    Trong nhà sẵn lắm của sang,
    Con con, cháu cháu, khôn ngoan đủ điều.

    Giữa giờ Ngọ

    Giữa giờ, cha đã sớm lìa,
    Lộc tài chẳng có ê chề nhiều phen.
    Ngoài ba mươi tuổi việc thành,
    Gái lấy chồng đẹp, trai thêm vợ hiền.

    Cuối giờ Ngọ

    Cuối giờ, mẹ khắc không toàn,
    Vợ chồng sớm khắc, sau này mới nên.
    Con đầu cửa sớm chưa yên,
    Hậu vận tiến đạt làm nên gia đình.

    Đầu giờ Mùi

    Đàu giờ, cha mẹ hội kỳ,
    Giàu sáng mà lại có bề thanh danh.
    Anh em lắm kẻ tốt lòng,
    Sau này phú quí vinh hoa hơn đời.

    Giữa giờ Mùi

    Giữa giờ, cha sớm lìa trần,
    Tánh hay rộng rãi, nhiều người mến yêu.
    Vợ đầu con sớm khắc xung,
    Hậu vận phát đạt đặng nhiều hiển vinh.

    Cuối giờ Mùi

    Cuối giờ, mẹ đã về Tây (chết),
    Anh em lãnhđạm không hay thương mình.
    Tiền vận như nước lao xao,
    Hậu vận phát đạt tự nhiên lập thành.,

    Đầu giờ Thân

    Đầu giờ, cha mẹ an khương,
    Thông minh mà lắm người khen đức dầy.
    Anh em vinh hiển giàu sang.
    Ruộng nương, của cải chất đầy trong kho.

    Giữa giờ Thân

    Giữa giờ, cha khắc phải lo,
    Anh em dòng họ chẳng yêu, chẳng hòa.
    Tiền vận khắc cả thê nhi,
    Tha phương xa xứ, sau thì lập nên.

    Cuối giờ Thân

    Cuối giờ, mẹ khắc khó yên,
    Họ hàng lãnh đạm, chẳng hay thương tình.
    Sanh con phá hại gia đình,
    Phải đi buôn bán một mình mới nên.

    Đầu giờ Dậu

    Đầu giờ, cha mẹ song toàn,
    Thông minh mà lại đặng ngay bạn hiền.
    Anh em dòng họ đến cầu,
    Vinh hoa phú quí an nhàn tự do.

    Giữa giờ Dậu

    Giữa giờ, cha khắc chẳng yên,
    Tánh hay rộng rãi lại chuyên làm nghề.
    Trước thì khắc cả thê nhi,
    Hậu vận sẽ đặng vu qui có ngày.

    Cuối giờ Dậu

    Cuối giờ, khắc mẹ chẳng may,
    Khắc vợ lâu ngày rồi lại khắc con.
    Tiền vận chìm nổi luôn luôn,
    Ngoài ba mươi tuổi bán buôn sang giàu.

    Đầu giờ Tuất

    Đầu giờ, mẹ khắc lo phiền,
    Tánh hay mau mắn, ai cầu được ngay.
    Có quyền, có tước mới nên,
    Tiền vận khó nhọc hậu lai thanh nhàn.

    Giữa giờ Tuất

    Giữa giờ, sớm đã khắc cha,
    Anh em chẳng đặng thuận hòa cùng nhau.
    Phu thê khắc đứa con đầu,
    Ngoài bốn mươi tuổi làm giàu tự nhiên.

    Cuối giờ Tuất

    Cuối giờ cha mẹ an khương,
    Tánh hay lanh lẹ vui cười như hoa.
    Anh em dòng họ gần xa,
    Lộc tài được giữ đề đa thọ trường.

    giờ Hợi

    Đầu giờ mẹ sớm qui thiên,
    Tánh hay rộng rãi lại thương người nghèo.
    Tiền vận vất vả lao đao,
    Hậu vận sung sướng được nhiều người yêu.

    Giữa giờ Hợi

    Giữa giờ, cha mẹ tuổi cao,
    Thông minh nói được người theo ngay về.
    Anh em hòa thuận vui tươi,
    Hậu vận giàu có không hề sai ngoa.

    Cuối giờ Hợi

    Cuối giờ, cha đã khắc rồi,
    Lòng lành quảng đại lắm người ngợi khen.
    Tiền vận vất vả truân chuyên,
    Vợ chồng sớm khắc, duyên sau mới thành.

  10. #10
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    XEM THÁNG SANH TÍNH SỐ SANG HAY HÈN
    (Nam Nữ coi chung)

    SANH THÁNG GIÊNG
    (Sanh tháng Giêng, thọ thai tháng Tư)

    Kiếp trước bố thí của tiền,
    Kiếp này sung sướng sang giàu vinh hoa.
    Xưa kia kiếp ở Kinh Châu,
    Lấy vợ xa xứ mới nên gia đình.

    SANH THÁNG HAI
    (Sanh tháng Hai, thọ thai tháng Năm)

    Tiền kiếp quê ở Tây Xuyên,
    Lòng thành hỷ xả, dâng hương Phật đài.
    Kiếp này đặng hưởng lộc tài,
    Làm lành làm phước, giàu sang thọ trường.

    SANH THÁNG BA
    (Sanh tháng Ba, thọ thai tháng Sáu)

    Kiếp trước vốn ở Tân Châu,
    Tánh hay bỏn sẻn, bạc bài sai ngoa,
    Kiếp này phải chịu gian nan,
    Khá nên tích đức mới yên tuổi già.

    SANH THÁNG TƯ
    (Sanh tháng Tư, thọ thai tháng Bảy)

    Kiếp xưa trưởng giả rất giàu,
    Kiếp này vui vẻ thông minh ai bì.
    Ngoài ba mươi tuổi làm nên,
    Cơ đồ hưng vượng vinh hoa một đời.

    SANH THÁNG NĂM
    (Sanh tháng Năm, thọ thai tháng Tám)

    Tiền kiếp quê ở Lãnh Nam,
    Là người ỷ thế làm nên sang giàu.
    Kiếp này mắc tật chân tay,
    Về sau mới đặng vinh quang thọ trường.

    SANH THÁNG SÁU
    (Sanh tháng Sáu, thọ thai tháng Chín)

    Kiếp trước cúng Phật dâng hương,
    Cho nên sung sướng giàu sang kiếp này.
    Nếu làm âm đức cho nhiều,
    Để dành hậu vận, chung thân thọ trường.

    SANH THÁNG BẢY[/B][B]
    (Sanh tháng Bảy, thọ thai tháng Mười)

    Hoài Nam, kiếp trước chẳng lành,
    Chẳng hay bố thí làm nhân giúp người.
    Kiếp này mắc bịnh liên miên,
    Khá nên tích đức để dành hậu lai.

    SANH THÁNG TÁM
    (Sanh tháng Tám, thọ thai tháng Mười Một)

    Kiếp trước có căn tu hành,
    Hay xem kinh kệ lại thương kẻ nghèo.
    Nên nay tài lộc trời ban,
    Ba mươi tuổi đã vinh sang ai bì.

    SANH THÁNG CHÍN
    (Sanh tháng Chín, thọ thai tháng Chạp)

    Ưng Châu, kiếp trước bất tài,
    Mượn kinh, vay nợ chẳng hề trả ai.
    Kiếp này lận đận gian nan,
    Nên đi xa xứ mới nên cửa nhà.

    SANH THÁNG MƯỜI
    (Sanh tháng Mười, thọ thai tháng Giêng)

    Sơn Đông, kiếp trước oai quyền,
    Kiếp này lẫm liệt danh vang ai bì.
    Chờ cho gặp hội Long vân,
    Về sau cũng được yên thân thanh nhàn.

    SANH THÁNG MƯỜI MỘT
    (Sanh tháng Mười Một, thọ thai tháng Hai)

    Vũ Lăng, kiếp trước không tài,
    Tánhthì trầm tỉnh lại hay nghi ngờ.
    Kiếp này trần bổng tân toan,
    Trở về vận cuối mới mong thanh nhàn.

    SANH THÁNG CHẠP
    (Sanh tháng Chạp, thọ thai tháng Ba)

    Tiền kiếp ăn ở hiền lành,
    Kiếp này làm cả, làm đầu hương thôn.
    Bạn bè họ mạc mến yêu,
    Về sau quyền quí chẳng ai dám bì.

    XEM 12 THÁNG SANH CỦA NAM NỮ
    ẨN VÀ BIẾN CỦA CÁC GIỐNG CHIM

    - Tuổi Tý:

    Sanh tháng giêng: Phượng hoàng.
    Sanh tháng hai: Sư tử.
    Sanh tháng ba: Kim kê.
    Sanh tháng tư: Bạch kê.
    Sanh tháng năm: Bạch yến.
    Sanh tháng sáu: Họa mi.
    Sanh tháng bảy: Sơn lộc.
    Sanh tháng tám: Khổng tước.
    Sanh tháng chín: Cưu bột.
    Sanh tháng mười: Châu tước.
    Sanh tháng mười một: Giốc ưng.
    Sanh tháng chạp: Bạch Hạc.

    - Tuổi Sửu:

    Sanh tháng giêng: Bạch Hạc.
    Sanh tháng hai: Phượng hoàng.
    Sanh tháng ba: Sư tử.
    Sanh tháng tư: Kim kê.
    Sanh tháng năm: Bạch kê.
    Sanh tháng sáu: Bạch yến.
    Sanh tháng bảy: Họa mi.
    Sanh tháng tám: Sơn lộc.
    Sanh tháng chín: Khổng tước.
    Sanh tháng mười: Cưu bột.
    Sanh tháng mười một: Châu tước.
    Sanh tháng chạp: Giốc ưng.

    - Tuổi Dần:

    Sanh tháng giêng: Giốc ưng.
    Sanh tháng hai: Bạch Hạc.
    Sanh tháng ba: Phượng hoàng.
    Sanh tháng tư: Sư tử.
    Sanh tháng năm: Kim kê.
    Sanh tháng sáu: Bạch kê.
    Sanh tháng bảy: Bạch yến.
    Sanh tháng tám: Họa mi.
    Sanh tháng chín: Sơn lộc.
    Sanh tháng mười: Khổng tước.
    Sanh tháng mười một: Cưu bột.
    Sanh tháng chạp: Châu tước.

    - Tuổi Mẹo:

    Sanh tháng giêng: Châu tước.
    Sanh tháng hai: Giốc ưng.
    Sanh tháng ba: Bạch Hạc.
    Sanh tháng tư: Phượng hoàng.
    Sanh tháng năm: Sư tử.
    Sanh tháng sáu: Kim kê.
    Sanh tháng bảy: Bạch kê.
    Sanh tháng tám: Bạch yến.
    Sanh tháng chín: Họa mi.
    Sanh tháng mười: Sơn lộc.
    Sanh tháng mười một: Khổng tước.
    Sanh tháng chạp: Cưu bột.

    - Tuổi Thìn:

    Sanh tháng giêng: Cưu bột.
    Sanh tháng hai: Châu tước.
    Sanh tháng ba: Giốc ưng.
    Sanh tháng tư: Bạch Hạc.
    Sanh tháng năm: Phượng hoàng.
    Sanh tháng sáu: Sư tử.
    Sanh tháng bảy: Kim kê.
    Sanh tháng tám: Bạch kê.
    Sanh tháng chín: Bạch yến.
    Sanh tháng mười: Họa mi.
    Sanh tháng mười một: Sơn lộc.
    Sanh tháng chạp: Khổng tước.

    - Tuổi Tỵ:

    Sanh tháng giêng: Khổng tước.
    Sanh tháng hai: Cưu bột.
    Sanh tháng ba: Châu tước.
    Sanh tháng tư: Giốc ưng.
    Sanh tháng năm: Bạch Hạc.
    Sanh tháng sáu: Phượng hoàng.
    Sanh tháng bảy: Sư tử.
    Sanh tháng tám: Kim kê.
    Sanh tháng chín: Bạch kê.
    Sanh tháng mười: Bạch yến.
    Sanh tháng mười một: Họa mi.
    Sanh tháng chạp: Sơn lộc.

    - Tuổi Ngọ:

    Sanh tháng giêng: Sơn lộc.
    Sanh tháng hai: Khổng tước.
    Sanh tháng ba: Cưu bột.
    Sanh tháng tư: Châu tước.
    Sanh tháng năm: Giốc ưng.
    Sanh tháng sáu: Bạch Hạc.
    Sanh tháng bảy: Phượng hoàng.
    Sanh tháng tám: Sư tử.
    Sanh tháng chín: Kim kê.
    Sanh tháng mười: Bạch kê.
    Sanh tháng mười một: Bạch yến.
    Sanh tháng chạp: Họa mi.

    - Tuổi Mùi:

    Sanh tháng giêng: Họa mi.
    Sanh tháng hai: Sơn lộc.
    Sanh tháng ba: Khổng tước.
    Sanh tháng tư: Cưu bột.
    Sanh tháng năm: Châu tước.
    Sanh tháng sáu: Giốc ưng.
    Sanh tháng bảy: Bạch Hạc.
    Sanh tháng tám: Phượng hoàng.
    Sanh tháng chín: Sư tử.
    Sanh tháng mười: Kim kê.
    Sanh tháng mười một: Bạch kê.
    Sanh tháng chạp: Bạch yến.

    - Tuổi Thân:

    Sanh tháng giêng: Bạch yến.
    Sanh tháng hai: Họa mi.
    Sanh tháng ba: Sơn lộc.
    Sanh tháng tư: Khổng tước.
    Sanh tháng năm: Cưu bột.
    Sanh tháng sáu: Châu tước.
    Sanh tháng bảy: Giốc ưng.
    Sanh tháng tám: Bạch Hạc.
    Sanh tháng chín: Phượng hoàng.
    Sanh tháng mười: Sư tử.
    Sanh tháng mười một: Kim kê.
    Sanh tháng chạp: Bạch kê.

    - Tuổi Dậu:

    Sanh tháng giêng: Bạch kê.
    Sanh tháng hai: Bạch yến.
    Sanh tháng ba: Họa mi.
    Sanh tháng tư: Sơn lộc.
    Sanh tháng năm: Khổng tước.
    Sanh tháng sáu: Cưu bột.
    Sanh tháng bảy: Châu tước.
    Sanh tháng tám: Giốc ưng.
    Sanh tháng chín: Bạch Hạc.
    Sanh tháng mười: Phượng hoàng.
    Sanh tháng mười một: Sư tử.
    Sanh tháng chạp: Kim kê.

    - Tuổi Tuất:

    Sanh tháng giêng: Kim kê.
    Sanh tháng hai: Bạch kê.
    Sanh tháng ba: Bạch yến.
    Sanh tháng tư: Họa mi.
    Sanh tháng năm: Sơn lộc.
    Sanh tháng sáu: Khổng tước.
    Sanh tháng bảy: Cưu bột.
    Sanh tháng tám: Châu tước.
    Sanh tháng chín: Giốc ưng.
    Sanh tháng mười: Bạch Hạc.
    Sanh tháng mười một: Phượng hoàng.
    Sanh tháng chạp: Sư tử.

    - Tuổi Hợi:

    Sanh tháng giêng: Sư tử.
    Sanh tháng hai: Kim kê.
    Sanh tháng ba: Bạch kê.
    Sanh tháng tư: Bạch yến.
    Sanh tháng năm: Họa mi.
    Sanh tháng sáu: Sơn lộc.
    Sanh tháng bảy: Khổng tước.
    Sanh tháng tám: Cưu bột.
    Sanh tháng chín: Châu tước.
    Sanh tháng mười: Giốc ưng.
    Sanh tháng mười một: Bạch Hạc.
    Sanh tháng chạp: Phượng hoàng.

    PHƯỢNG HOÀNG

    Phượng Hoàng chúa các loài chim,
    Mỹ miều nhan sắc, chim nào dám đương.
    Lộc tài trời rộng rừng cao,
    Tang bồng hồ hải tháng ngày tiêu dao.

    SƯ TỬ

    Sư tử số chúa sơn lâm,
    Ra vào nghiên ngữa núi rừng rộng khơi.
    Tự nhiên tài lộc phong dinh,
    Thiên niên sớm đã dự hàng công khanh.

    KIM KÊ

    Kim Kê giống ấy vẻ vang,
    Tiếng tăm lờng lẫy khôn ngoan mọi bề.
    Có cơ xảo, có mưu cao,
    Hoặc văn, hoặc võ sau thì vinh hoa.

    BẠCH KÊ

    Bạch Kê có số sang giàu,
    Công nghệ khéo léo chẳng ai dám bì.
    Làm quan nức tiếng thân cần,
    Quan trên trông xuống, người ta trông vào.

    BẠCH YẾN

    Chim Yến khéo đẹp, lại có duyên
    Lộc trời tận hưởng những ngày tuổi thơ.
    Vẻ buồn chẳng cơ mảy may,
    Không hay đau ốm tháng ngày ấm no.

    HỌA MI

    Họa Mi tuy là chim nhỏ,
    Số sau này gặp bước vinh hoa.
    Suốt đời tài lộc đủ dùng,
    Số phong lưu ấy trời dành chẳng sai.

    SƠN LỘC

    Sơn Lộc là giống con hươu,
    Họ hàng xa cách, tha phương tháng ngày.
    Tham lam tận hưởng lộc trời,
    Có vàng, có ngọc suốt đời ấm no.

    KHỔNG TƯỚC

    Khổng Tước nức tiếng bốn phương,
    Lời khen bia miệng luôn luôn tháng ngày.
    Vinh hoa phú quí ở đời,
    Người sanh số ấy không giàu cũng sang.

    CƯU BỘT

    Cưu Bột giống này hiếu thiện,
    Có tài lộc chẳng kém chi ai.
    Tiền vận hao tán của tài,
    Đến trung, hậu vận thảnh thơi an nhàn.

    CHÂU TƯỚC

    Châu Tước vốn kiêu hùng hăng hái,
    Có lộc tài chức tước oai quyền.
    Trong nhà con cháu sung vinh,
    Ra ngoài lập nghiệp, một đời vẻ vang.

    GIỐC ƯNG

    Chim Giốc Ưng vốn nghinh ngang,
    Rượu chè ăn uống no say ai bì.
    Có quyền tước, có uy nghi,
    Tuổi thơ vinh hiển đến khi tuổi già.

    BẠCH HẠC

    Bạch Hạc sung sướng vô hồi,
    Rừng cao trời rộng chí ta vẫy vùng.
    Thanh nhàn nhẹ bước thang mây,
    Tuổi già tận hưởng những ngày lạc quan.

  11. #11
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    XEM CHO BIẾT TUỔI NÀO SANH THÁNG NÀO NHẰM TRỰC GÌ, TỐT HAY XẤU
    (Nam Nữ coi chung)

    Mười hai trực là: Kiến, Trừ, Mãn, Bính, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai và Bế.

    - Tuổi Tý

    Sanh tháng giêng: Trực Kiến.
    Sanh tháng hai: Trực Trừ.
    Sanh tháng ba: Trực Mãn
    Sanh tháng tư: Trực Bình.
    Sanh tháng năm: Trực Định.
    Sanh tháng sáu: Trực Chấp.
    Sanh tháng bảy: Trực Phá.
    Sanh tháng tám: Trực Nguy.
    Sanh tháng chín: Trực Thành.
    Sanh tháng mười: Trực Thâu.
    Sanh tháng mười một: Trực Khai.
    Sanh tháng chạp: Trực Bế.

    - Tuổi Sửu:

    Sanh tháng giêng: Trực Bế.
    Sanh tháng hai: Trực Kiến
    Sanh tháng ba: Trực Trừ.
    Sanh tháng tư: Trực Mãn
    Sanh tháng năm: Trực Bình.
    Sanh tháng sáu: Trực Định.
    Sanh tháng bảy: Trực Chấp.
    Sanh tháng tám: Trực Phá.
    Sanh tháng chín: Trực Nguy.
    Sanh tháng mười: Trực Thành.
    Sanh tháng mười một: Trực Thâu.
    Sanh tháng chạp: Trực Khai.

    - Tuổi Dần:

    Sanh tháng giêng: Trực Khai.
    Sanh tháng hai: Trực Bế.
    Sanh tháng ba: Trực Kiến
    Sanh tháng tư: Trực Trừ.
    Sanh tháng năm: Trực Mãn
    Sanh tháng sáu: Trực Bình.
    Sanh tháng bảy: Trực Định.
    Sanh tháng tám: Trực Chấp.
    Sanh tháng chín: Trực Phá.
    Sanh tháng mười: Trực Nguy.
    Sanh tháng mười một: Trực Thành.
    Sanh tháng chạp: Trực Thâu.

    - Tuổi Mẹo:

    Sanh tháng giêng: Trực Thâu.
    Sanh tháng hai: Trực Khai.
    Sanh tháng ba: Trực Bế.
    Sanh tháng tư: Trực Kiến
    Sanh tháng năm: Trực Trừ.
    Sanh tháng sáu: Trực Mãn
    Sanh tháng bảy: Trực Bình.
    Sanh tháng tám: Trực Định.
    Sanh tháng chín: Trực Chấp.
    Sanh tháng mười: Trực Phá.
    Sanh tháng mười một: Trực Nguy.
    Sanh tháng chạp: Trực Thành.

    - Tuổi Thìn:

    Sanh tháng giêng: Trực Thành.
    Sanh tháng hai: Trực Thâu.
    Sanh tháng ba: Trực Khai.
    Sanh tháng tư: Trực Bế.
    Sanh tháng năm: Trực Kiến
    Sanh tháng sáu: Trực Trừ.
    Sanh tháng bảy: Trực Mãn
    Sanh tháng tám: Trực Bình.
    Sanh tháng chín: Trực Định.
    Sanh tháng mười: Trực Chấp.
    Sanh tháng mười một:Trực Phá.
    Sanh tháng chạp: Trực Nguy.

    - Tuổi Tỵ:

    Sanh tháng giêng: Trực Nguy.
    Sanh tháng hai: Trực Thành.
    Sanh tháng ba: Trực Thâu.
    Sanh tháng tư: Trực Khai.
    Sanh tháng năm: Trực Bế.
    Sanh tháng sáu: Trực Kiến
    Sanh tháng bảy: Trực Trừ.
    Sanh tháng tám: Trực Mãn
    Sanh tháng chín: Trực Bình.
    Sanh tháng mười: Trực Định.
    Sanh tháng mười một: Trực Chấp.
    Sanh tháng chạp: Trực Phá.

    - Tuổi Ngọ:

    Sanh tháng giêng: Trực Phá.
    Sanh tháng hai: Trực Nguy.
    Sanh tháng ba: Trực Thành.
    Sanh tháng tư: Trực Thâu.
    Sanh tháng năm: Trực Khai.
    Sanh tháng sáu: Trực Bế.
    Sanh tháng bảy: Trực Kiến
    Sanh tháng tám: Trực Trừ.
    Sanh tháng chín: Trực Mãn
    Sanh tháng mười: Trực Bình.
    Sanh tháng mười một: Trực Định.
    Sanh tháng chạp: Trực Chấp.

    - Tuổi Mùi:

    Sanh tháng giêng: Trực Chấp.
    Sanh tháng hai: Trực Phá.
    Sanh tháng ba: Trực Nguy.
    Sanh tháng tư: Trực Thành.
    Sanh tháng năm: Trực Thâu.
    Sanh tháng sáu: Trực Khai.
    Sanh tháng bảy: Trực Bế.
    Sanh tháng tám: Trực Kiến
    Sanh tháng chín: Trực Trừ.
    Sanh tháng mười: Trực Mãn
    Sanh tháng mười một: Trực Bình.
    Sanh tháng chạp: Trực Định.

    - Tuổi Thân:

    Sanh tháng giêng: Trực Định.
    Sanh tháng hai: Trực Chấp.
    Sanh tháng ba: Trực Phá.
    Sanh tháng tư: Trực Nguy.
    Sanh tháng năm: Trực Thành.
    Sanh tháng sáu: Trực Thâu.
    Sanh tháng bảy: Trực Khai.
    Sanh tháng tám: Trực Bế.
    Sanh tháng chín: Trực Kiến
    Sanh tháng mười: Trực Trừ.
    Sanh tháng mười một:Trực Mãn
    Sanh tháng chạp: Trực Bình.

    - Tuổi Dậu:

    Sanh tháng giêng: Trực Bình.
    Sanh tháng hai: Trực Định.
    Sanh tháng ba: Trực Chấp.
    Sanh tháng tư: Trực Phá.
    Sanh tháng năm: Trực Nguy.
    Sanh tháng sáu: Trực Thành.
    Sanh tháng bảy: Trực Thâu.
    Sanh tháng tám: Trực Khai.
    Sanh tháng chín: Trực Bế.
    Sanh tháng mười: Trực Kiến
    Sanh tháng mười một: Trực Trừ.
    Sanh tháng chạp: Trực Mãn

    - Tuổi Tuất:

    Sanh tháng giêng: Trực Mãn
    Sanh tháng hai: Trực Bình.
    Sanh tháng ba: Trực Định.
    Sanh tháng tư: Trực Chấp.
    Sanh tháng năm: Trực Phá.
    Sanh tháng sáu: Trực Nguy.
    Sanh tháng bảy: Trực Thành.
    Sanh tháng tám: Trực Thâu.
    Sanh tháng chín: Trực Khai.
    Sanh tháng mười: Trực Bế.
    Sanh tháng mười một: Trực Kiến
    Sanh tháng chạp: Trực Trừ.

    - Tuổi Hợi:

    Sanh tháng giêng: Trực Trừ.
    Sanh tháng hai: Trực Mãn
    Sanh tháng ba: Trực Bình.
    Sanh tháng tư: Trực Định.
    Sanh tháng năm: Trực Chấp.
    Sanh tháng sáu: Trực Phá.
    Sanh tháng bảy: Trực Nguy.
    Sanh tháng tám: Trực Thành.
    Sanh tháng chín: Trực Thâu.
    Sanh tháng mười: Trực Khai.
    Sanh tháng mười một: Trực Bế.
    Sanh tháng chạp: Trực Kiến

    LỜI GIẢI MƯỜI HAI TRỰC

    TRỰC KIẾN


    Kiến, Thổ khai phá nhiều nơi,
    Người sanh trực ấy trọn đời gian nan.
    Của cha, của mẹ không ham,
    Một mình thân lập bạn cùng người dưng.
    Cửa nhà ăn ở chẳng an,
    Năm mươi mới đặng an nhàn tấm thân.

    TRỰC TRỪ

    Trực Trừ, Thủy tánh thật thà,
    Lời ăn tiếng nói thuận hòa ngọt ngon.
    Khó hèn ít cậy bà con.
    Tự mình tạo lập không bòn của ai.
    Cũng vì cây chẳng nên chồi,
    Cho nên số ấy không trông cậy nhờ.

    TRỰC MÃN

    Mãn, Thổ như thảo sơn lâm,
    Người sanh trực ấy thông minh ai bì.
    Sanh con nuôi nấng dễ dàng,
    Tìn vật, vật ở, bạn bè người ưa.
    cũng vì nhờ sức non cao,
    Cầm thú biết hết, lựu đào thiếu chi.

    TRỰC BÌNH

    Bình, Thủy như nước trong sông,
    Sóng xao sao đặng thì lòng xuyên qua.
    Luận xem ngôn ngữ đoán ra,
    Thật thà ít nói, thuận hòa ngọt ngon.
    Đàn bà thì dễ nuôi con,
    Đàn ông số ấy không giàu cũng sang.

    ĐỊNH

    Định, Mộc cây hãy đương xanh,
    Người sanh số ấy ăn chơi thanh nhàn.
    Đần ông số ấy làm quan,
    Đàn bà hóa khẩu ngửa ngang xẳng chồng.
    Của, con có cũng như không,
    Bởi cây tươi tốt, trái bông thiếu gì.

    TRỰC CHẤP

    Chấp, Hỏa như lửa trong xe,
    Ai mà phạm đến thời nghe tưng bừng.
    Chẳng giận, giận thì hành hung,
    Ai phải, phải cùng; ai quấy, quấy cho.
    Thuở xưa Đại Thánh thành thân,
    Phá tan xe lửa cháy tiêu chẳng còn.

    TRỰC PHÁ

    Phá, Hỏa như lửa cháy non,
    Người sanh trực ấy hao con, tổn tài.
    Hết lòng, hết dạ cùng người,
    Một lời chuốt ngót phủi rồi tay không.
    Cũng vì hỏa pháp diệm sơn,
    Nào còn biết nghĩa, biết ơn đến mình.

    TRỰC NGUY

    Nguy, Thủy sóng bủa ba đào,
    Ngời sanh trực ấy tài cao hơn người.
    Khôn ngoan, quỷ quyệt lợi lanh,
    Vinh hoa có thuở, hiểm nghèo có khi.
    Đàn ông sang trọng ai bì,
    Đàn bà cắn đắng, con thì khó nuôi.

    TRỰC THÀNH

    Thành, Kim vàng đúc song phi,
    Một đôi song kiếm ai mà dám đương.
    Khôn ngoan trí huệ thông minh,
    Số người khéo léo, lập binh cầm quyền.
    Đàn ông sạch việc mỹ miều,
    Đàn bà lận đận, vui chiều buồn mai.

    TRỰC THÂU

    Trực Thâu như nước trong ao,
    Tuy không chỗ chứa mà còn tự nhiên.
    Bông sen mọc tận dưới bùn,
    Khi nở đỏ thắm, mùi hương ngạt ngào.

    TRỰC KHAI

    Khai, Kim vàng đúc một đời,
    Kẻ đòi đũ xuyến, người đòi đúc trâm.
    Đàn ông chức phận trong dòng,
    Đàn bà đưa đẩy trong lòng bao dung.

    TRỰC BẾ

    Bế, Hỏa tợ lửa mới nhen,
    Người sanh trực ấy hao công tốn tiền.
    Một mình không cậy nhờ ai,
    Nam tần, bắc hải một mình lập thân.

  12. #12
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    THẬP CAN CHIẾT TỰ

    Thập Can có mười chữ là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mỗi chữ hiện ra hợp với vận mạng tốt xấu, sang, hèn v.v... của mỗi người Nam và Nữ.

    CHỮ GIÁP
    (Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần)

    Nhân sanh Giáp tự biến thành Điền,
    Phú quí vinh hoa thực lộc thiên.
    Phụ mẫu huynh đệ tha biệt sở,
    Phu thê nhị đại hậu song toàn.


    Chữ Giáp số có đất điền,
    Bằng không cũng hưởng lộc tài tự nhiên.
    Anh em nào có cậy trông,
    Tha phương lập nghiệp mà nên cửa nhà.
    Vợ chồng thay đổi nhiều lần,
    Trai thay đổi vợ, gái thay đổi chồng.
    Cho hay duyên số tại trời,
    Khá làm âm đức, phước dành hậu lai.
    Số này tuổi nhỏ tay không,
    Lớn lên có của,vợ chồng làm nên.

    ẤT
    (Ất Hợi, Ất Dậu, Ất Mùi, Ất Tỵ, Ất Mẹo, Ất Sửu)

    Nhân sanh Ất tự biến thành Vong,
    Gia thất tiền tài tất thị không.
    Lục súc tị phiền du vong bại,
    Phu thê biến cải định nan phùng.


    Người sanh chữ Ất gian nan,
    Lắm khi dào dạt, lắm lần tay không.
    Nuôi vật, vật cũng tang thương,
    Ở cùng bậu bạn chẳng phần đặng yên.
    Vợ chồng thay đổi lương duyên,
    Trai thay đổi vợ, gái thay đổi chồng.
    Số này sớm cách quê hương,
    Ra ngoài lập nghiệp mới nên cửa nhà.
    Cho nên số ở Thiên tào,
    Người hiền lận đận, tuổi già nhờ con.

    CHỮ BÍNH
    (Bính Dần, Bính Tý, Bính Tuất, Bính Thân, Bính Ngọ, Bính Thìn)

    Nhân sanh Bính tự biến thành Tù,
    Lxo thiểu vô an hạn bất chu.
    Sở hữu ngoại nhân y hữu định,
    Thân cư quan quỉ bá niên trường.


    Chữ Bính số cũng quạnh hiu,
    Người sanh chữ ấy trọn đời âu lo.
    Tuổi nhỏ bịnh hoạn ốm đau,
    Lớn tuổi cô quạnh một mình thảm thương.
    Số này lập nghiệp tha phương,
    Có chí tu niệm kính tin Phật Trời.
    Nếu mà giữ dạ hiền lương,
    Tuổi già sẽ được lộc tài tự nhiên.
    Những người có chí thiện nhân,
    Có khi lao khổ, có ngày thảnh thơi.

    CHỮ ĐINH
    (Đinh Mẹo, Đinh Sửu, Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Mùi, Đinh Tỵ)

    Nhân sanh Đinh tự biến thành Du,
    Gia thất tiền tài thường đảo lộn.
    Thiếu niên lao khổ uổng công phu,
    Trung vận trùng lai phú đắc vinh.


    Chữ Đinh biến thành chữ Du,
    Số nhỏ tật bịnh ốm đau thường thường.
    Lắm lần tai nạn thảm thương.
    Nhờ có hồng phước Phật Trời chở che.
    Lớn lên thông tuệ khác thường,
    Có quyền có chức, có tài tự nhiên.
    Có chí sáng tác mọi ngành,
    Có tài có đức cầm quyền điểm binh.
    Xét xem qua số nợ duyên,
    Trai đôi ba vợ, gái thì truân chuyên.
    Nết na, đức hạnh dung hòa,
    Nhưng mà cũng chịu vui chiều buồn mai.
    Cho hay căn số tự Trời,
    Duyên đầu lỡ dở, hiệp hòa duyên sau.
    Có căn tích thiện tu nhân,
    Tuổi già chung hưởng lộc tài ấm no.

    CHỮ MẬU
    (Mậu Thìn, Mậu Tý, Mậu Tuất, Mậu Thân, Mậu Ngọ, Mậu Dần)

    Nhân sanh Mậu tự biến thành Quả,
    Phiêu phất tha phương định thất gia.
    Cô độc một thân không chỗ định,
    Hành thân phảm mại lạc ngâm nga.


    Chữ Mậu cô quạnh tha phương,
    Lìa nhà, lìa xứ, lắm lần gian nan.
    Anh em ruột thịt chẳng hòa,
    Tha phương bậu bạn chỉ nhờ người dưng.
    Gái thì lận đận lương duyên,
    Khi thì vui vẻ, khi tan nát lòng.
    Đôi lần mới dặng thành song,
    Tuổi trẻ lao khổ, tuổi già nhờ con.
    Tánh hay tích thiện từ hòa,
    Tin Trời tưởng Phật, lòng hằng ái tha.
    Những ai có chí tu nhơn,
    Tuy rằng hoạn nạn, phước còn hậu lai.

    CHỮ KỶ
    (Kỷ Ty, Kỷ Mẹo. Kỷ Sửu, Kỷ Hợi, Kỷ Dậu, Kỷ Mùi)

    Nhân sanh Kỷ tự biến thành Ân,
    Gia thất tiền tài mạng giàu sang.
    Gia sự đa tài, sanh con thảo,
    Hữu thời tấn thối tợ phi vân.


    Chữ Kỷ biến thành chữ Ân,
    Tánh tành mau mắn, làm ơn cho người.
    Tấm lòng trung trực vẹn bề,
    Làm ơn nên oán nhiều lần lo toan.
    Của, con có sẵn tuổi già,
    Tuổi trẻ lao khổ, tha phương lập thành.
    Nhiều khi tụ tán như sương,
    Khi ăn chẳng hết, lúc thì tay không.
    Nợ duyên tan vỡ buồn lòng,
    Đôi lần ly hiệp mới nên gia đình.
    Khá nên tích thiện tu thân,
    Tuổi già sẽ thấy môn đình sum vinh.

    CHỮ CANH
    (Canh Ngọ, Canh Thìn, Canh Dần, Canh Tý, Canh Tuất, Canh Thân)

    Nhân sanh Canh tự biến thành Cô,
    Số ấn công hầu lưu đất khách.
    Gia thất gây nên thừa tổ đức,
    Phước tài tái tận mãi vinh hoa.


    Chữ Canh biến thành chữ Cô,
    Số ấn công hầu nên danh phận.
    Bằng không thì cũng lắm nghề khép thay.
    Vợ chồng cách trở sơn xuyên,
    Đôi lần ly hiệp mới nên cửa nhà.
    Gái thì hiu quạnh muộn màng,
    Bằng không thì cũng đôi lần mới nên.
    Số này tu niệm thì hay,
    Hậu lai sẽ hưởng phước dày lộc cao.
    Có đâu thiên vị người nào,
    Số cao thì hưởng lộc tài tự nhiên.

    CHỮ TÂN
    (Tân Mùi, Tân Tỵ, Tân Mẹo, Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu)

    Nhân sanh Tân tự biến thành Tan,
    Tánh khí hiền lương, lập nghiệp nan.
    Phu phụ nhất tâm lưỡng nhân thú,
    Bằng hữu cự tộc rất vinh quang.


    Chữ Tân biến thành chữ Tan,
    GHia đình dời đổi đắng cay muôn vàn.
    Một thân tự lập mà nên,
    Tha phương lắm độ, phong sương hải tần.
    Lương duyên thay đổi đôi lần,
    Tuổi già phú túc miên miên thọ trường.
    Những người có chí thiện nhân,
    Trời dành hậu quả hưởng nhờ phước dư.

    CHỮ NHÂM
    (Nhâm Thân, Nhâm Ngọ, Nhâm Thìn, Nhâm Dần, Nhâm Tý, Nhân Tuất)

    Nhân sanh Nhâm tự biến thành Vương,
    Thân thọ mạng trường thiên số chung.
    Tị hiểm hung đồ tha biệt sở,
    Thân cư quan quí hậu an khương.


    Chữ Nhâm biến thành cữ Vương,
    Thân thì thọ số, mạng thì vinh sang.
    Có lần cách trở gia hương.
    Xứ xa lập nghiệp, vinh sang ai bì.
    Số này tổ nghiệp không nhờ,
    Thân lưu đất khách lập nên cơ đồ.
    Trai thì vợ đôi vợ ba,
    Gái thì số cũng đôi lần mới nên.
    Khá nên tích đức thiện nhân,
    Hậu lai sẽ hưởng phước trời ấm no.

    CHỮ QUÝ
    (Quý Dậu, Quý Sửu, Quý Tỵ, Quý Hợi, Quí Mùi, Quý Mẹo)

    Nhân sanh Quý tự biến thành Thiên,
    Tiền hậu phu thê lộc y nhiên.
    Chức phận văn chương đa phú quí.
    Trí huệ vinh hoa hưởng thọ trường.


    Chữ Quý biến thành chữ Thiên,
    Trai thời chức phận, gái thời chính chuyên.
    Số này cũng có đất điền,
    Gia môn phú quí thọ trường bền lâu.
    Vợ chồng hòa thuận đủ điều,
    Khi ra phong nhã, khi vào hào hoa.
    Nếu mà tích thiện tu thêm,
    Ngày sau con cháu miên miên cửu trường.

    - HẾT PHẦN I

  13. #13
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    PHẦN II

    GIÁ THÚ CHÂU ĐƯỜNG

    (Gái về nhà chồng)

    Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.

Tên hình: giathucd.jpg
Lần xem: 9
Cỡ: 80.0 KB
ID: 1161

    Bản đồ trên đây luận theo tháng đủ hay tháng thiếu.

    Thí dụ: Nếu tháng đủ thì khởi mùng một tại chữ Phu, rồi đếm thuận qua chữ Cô (xem hình có dấu mũi tên). Như dùng ngày mùng 10 thì trúng chữ Cô, ngày 11 trúng chữ Đường, ngày 12 trúng chữ Ông. Đếm thuận chiều như vậy, đến chỗ ngày muốn tìm thì trụ tại chữ ấy.

    Tháng thiếu khởi mùng Một tại chữ Phu, đếm ngược chiều qua chữ Táo (xem hình có dấu mũi tên). Dùng ngày nào thì trụ tại chữ ấy.

    Nếu trúng bốn chữ: Đệ, Đường, Trù, Táo là tốt. Còn trúng chữ Ông và Cô mà không có cha mẹ bên chồng là không kỵ. Bằng nhằm chữ Phu hay chữ Phụ là chánh kỵ (không tốt).

    NỘP TẾ CHÂU ĐƯỜNG
    (Trai nhập phòng bên gái)

    Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.

Tên hình: Noptecd.jpg
Lần xem: 7
Cỡ: 78.9 KB
ID: 1162

    Bản đồ này là trai về ở nhà gái.

    Tháng đủ khởi mùng một tại chữ Phu, đếm thuận qua chữ Cô (xem mũi tên). Đếm tới như thế nếu dùng ngày nào thì trụ tại chữ ấy.

    Tháng thiếu khởi mùng một tại chữ Hộ rồi đếm xuống chữ Trù (xem mũi tên), nếu muốn dùng ngày nào thì trụ tại chữ ấy.

    Nếu nhằm bốn chữ: Môn, Hộ, Trù, Táo là tốt, nên dùng. Còn nhằm hai chữ Ông và Cô là kỵ, hay là trúng hai chữ Phu và Phụ cũng là chánh kỵ.

    THÁNG ĐẠI LỢI
    Gái xuất giá (Về nhà chồng)

    Tuổi gái xuất giá:

    - Tý, Ngọ:

    Tháng 06 - 12: Đại lợi.
    Tháng 01 - 07: Phòng Mai nhơn, Tiểu lợi.
    Tháng 02 - 08: Phòng Ông, Cô.
    Tháng 03 - 09: Phòng nữ Phụ mẫu.
    Tháng 04 - 10: Phòng Phu chủ.
    Tháng 05 - 11: Phòng Nữ thân.

    - Sửu, Mùi:

    Tháng 05 - 11: Đại lợi.
    Tháng 04 - 10: Phòng Mai nhơn, Tiểu lợi.
    Tháng 03 - 09: Phòng Ông, Cô.
    Tháng 02 - 08: Phòng nữ Phụ mẫu.
    Tháng 01 - 07: Phòng Phu chủ.
    Tháng 06 - 12: Phòng Nữ thân.

    - Dần, Thân:

    Tháng 02 - 08: Đại lợi.
    Tháng 03 - 09: Phòng Mai nhơn, Tiểu lợi.
    Tháng 04 - 10: Phòng Ông, Cô.
    Tháng 05 - 11: Phòng nữ Phụ mẫu.
    Tháng 06 - 12: Phòng Phu chủ.
    Tháng 01 - 07: Phòng Nữ thân.

    Mẹo, Dậu:

    Tháng 01 - 07: Đại lợi.
    Tháng 06 - 12: Phòng Mai nhơn, Tiểu lợi.
    Tháng 05 - 11: Phòng Ông, Cô.
    Tháng 04 - 10: Phòng nữ Phụ mẫu.
    Tháng 03 - 09: Phòng Phu chủ.
    Tháng 02 - 08: Phòng Nữ thân.

    - Thìn, Tuất:

    Tháng 04 - 10: Đại lợi.
    Tháng 05 - 11: Phòng Mai nhơn, Tiểu lợi.
    Tháng 06 - 12: Phòng Ông, Cô.
    Tháng 01 - 07: Phòng nữ Phụ mẫu.
    Tháng 02 - 08: Phòng Phu chủ.
    Tháng 03 - 09: Phòng Nữ thân.

    - Tỵ, Hợi:

    03 - 09: Đại lợi.
    Tháng 02 - 09: Phòng Mai nhơn, Tiểu lợi.
    Tháng 01 - 07: Phòng Ông, Cô.
    Tháng 06 - 12: Phòng nữ Phụ mẫu.
    Tháng 05 - 11: Phòng Phu chủ.
    Tháng 04 - 10: Phòng Nữ thân.

    Phàm dùng tháng Đại Lợi thì đặng trọn tốt. Như muốn dùng Tiểu Lợi thì "Phòng mai nhơn" nghĩa là kỵ ông mai hay là bà mai. Còn không có ông bà mai thì được.

    Nếu như "Phòng ông cô" mà không có cha mẹ bên chồng thì được. Như "Phòng nữ phụ mẫu" mà không có cha mẹ bên gái là được.

    - Phòng phu chủ là kỵ chánh người trai.
    - Phòng nữ thân là kỵ chánh người gái.
    - Phòng ông cô là kỵ cha mẹ bên chồng.
    - Phòng nữ phụ mẫu là kỵ cha mẹ bên gái.

    NĂM HUNG NIÊN
    TRAI KHÔNG NÊN CƯỚI VỢ, GÁI KHÔNG NÊN LẤY CHỒNG

    - Tuổi con trai:

    Tý, năm hung niên: Mùi.
    Sửu, năm hung niên: Thân.
    Dần, năm hung niên: Dậu.
    Mẹo, năm hung niên: Tuất.
    Thìn, năm hung niên: Hợi.
    Tỵ, năm hung niên: Tý.
    Ngọ, năm hung niên: Sửu.
    Mùi, năm hung niên: Dần.
    Thần, năm hung niên: Mẹo.
    Dậu, năm hung niên: Thìn.
    Tuất, năm hung niên: Tỵ.
    Hợi, năm hung niên: Ngọ.

    - Tuổi con gái:

    Tý, năm hung niên: Mẹo.
    Sửu, năm hung niên: Dần.
    Dần, năm hung niên: Sửu.
    Mẹo, năm hung niên: Tý.
    Thìn, năm hung niên: Hợi.
    Tỵ, năm hung niên: Tuất.
    Ngọ, năm hung niên: Dậu.
    Mùi, năm hung niên: Thân.
    Thân, năm hung niên: Mùi.
    Dậu, năm hung niên: Ngọ.
    Tuất, năm hung niên: Tỵ.
    Hợi, năm hung niên: Thìn.

    Phàm trai hay gái mà gặp nhằm năm hung niên thì không nên thành hôn, vì năm ấy rất khắc kỵ.

  14. #14
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    THIÊN CAN VÀ ĐỊA CHI TỪNG THÁNG

    Năm nào cũng:

    - Tháng giêng là tháng Dần.
    - Tháng hai là tháng Mẹo.
    - Tháng ba là tháng Thìn.
    - Tháng tư là tháng Tỵ.
    - Tháng năm là tháng Ngọ.
    - Tháng sau là tháng Mùi.
    - Tháng bảy là tháng Thân.
    - Tháng tám là tháng Dậu.
    - Tháng chín là tháng Tuất.
    - Tháng mười là tháng Hợi.
    - Tháng mười một là tháng Tý.
    - Tháng chạp là tháng Sửu.
    Những tháng nhuần thì 15 ngày trên thuộc về Địa chi của tháng trước và 15 ngày dưới thuộc về Địa chi của tháng sau.

    Thiên Can thì cứ 5 năm là đủ 60 tháng (không kể tháng nhuần) rồi bắt đầu trở lại.

    LỤC HẠI
    (Lấy nhau không hạp)

    - Tuổi Tý kỵ tuổi Mùi.
    - Tuổi Dần kỵ tuổi Tỵ.
    - Tuổi Thân kỵ tuổi Hợi.
    - Tuổi Sửu kỵ tuổi Ngọ.
    - Tuổi Mẹo kỵ tuổi Thìn.
    - Tuổi Dậu kỵ tuổi Tuất.

    TỨ TUYỆT
    (Lấy nhau không hạp)

    - Tuổi Tý kỵ tuổi Tỵ.
    - Tuổi Dậu kỵ tuổi Dần.
    - Tuổi Ngọ kỵ tuổi Hợi.
    - Tuổi Mẹo kỵ tuổi Thân.

    BÀO THAI
    Những tháng sanh của trai kỵ tháng sanh của gái
    (Lấy nhau không hạp)

    Trai sanh tháng giêng, tháng bảy kỵ gái sanh tháng tư, tháng mười.
    Trai sanh tháng hai, tháng tám kỵ gái sanh tháng hai, tháng tháng mười một.
    Trai sanh tháng ba, tháng chín kỵ gái sanh tháng sáu, tháng chạp.
    Trai sanh tháng tư, tháng mười kỵ gái sanh tháng hai, tháng mười.
    Trai sanh tháng năm, tháng mười một kỵ gái sanh tháng hai, tháng tám.
    Trai sanh tháng sáu, tháng chạp kỵ gái sanh tháng ba, tháng chín.

    MƯỜI THIÊN CAN KỴ VÀ HẠP LẤY NHAU TỐT HAY XẤU

    Bảng lập thành dưới đây chỉ rõ tuổi trai có chữ gì, nên lấy vợ có chữ nào hay không nên lấy vợ có chữ gì.

    Tuổi trai có chữ:

    - Giáp nên lấy vợ tuổi có chữ Kỷ, không nên lấy vợ tuổi có chữ Canh.
    - Ất nên lấy vợ tuổi có chữ Canh, không nên lấy vợ tuổi có chữ Tân.
    - Bính nên lấy vợ tuổi có chữ Tân, không nên lấy vợ tuổi có chữ Nhâm.
    - Đinh nên lấy vợ tuổi có chữ Nhâm, không nên lấy vợ tuổi có chữ Quý.
    - Mậu nên lấy vợ tuổi có chữ Quý, không nên lấy vợ tuổi có chữ Giáp.
    - Kỷ nên lấy vợ tuổi có chữ Giáp, không nên lấy vợ tuổi có chữ Ất.
    - Canh nên lấy vợ tuổi có chữ Ất, không nên lấy vợ tuổi có chữ Bính.
    - Tân nên lấy vợ tuổi có chữ Bính, không nên lấy vợ tuổi có chữ Đinh.
    - Nhâm nên lấy vợ tuổi có chữ Đinh, không nên lấy vợ tuổi có chữ Mậu.
    - Quý nên lấy vợ tuổi có chữ Mậu, không nên lấy vợ tuổi có chữ Kỷ.

    PHÉP XEM TUỔI CƯỚI GẢ KHẮC HAY HẠP
    (Chọn sẵn Thiên Can của trai so với tuổi của gái)

    Khi xem tuổi phải lựa Thiên Can coi xuống 12 Địa chi của tuổi gái, như hạp nhau thì đặng hòa thuận suốt đời và sanh con mạnh khỏe, thông minh và ít bị bệnh tật.

    - Thiên Can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

    - Mười hai Địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

    Dưới đây là bảng chọn lựa tuổi trai có chữ gì, cưới tuổi gái trong 12 chi nào, tốt hay xấu, khắc hay hạp.

    TRAI (THIÊN CAN) LẤY VỢ (ĐỊA CHI) TỐT HAY XẤU

    Trai có chữ Giáp lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Giáp lấy vợ Tý: Có con cái đều đặng danh dự và quyền thế, nhưng không có âm đức về sau.
    - Giáp lấy vợ Sửu, Dần: Có con không đặng nhờ vì con không hiếu hạnh.
    - Giáp lấy vợ Mẹo: Vợ chồng không an toàn hoặc có hư thai.
    - Giáp lấy vợ Thìn: Có con cháu không vẹn toàn.
    - Giáp lấy vợ Tỵ: Tình chồng nghĩa vợ dở dang, chẳng đặng bền lâu.
    - Giáp lấy vợ Ngọ, Mùi: Có con khó nuôi đến lớn.
    - Giáp lấy vợ Thân: Con cháu đươc thi đổ nhiều khoa, nhưng rồi cũng không bền.
    - Giáp lấy vợ Dậu, Tuất: Cửa nhà vẻ vang, con cái thi đổ thành công, con quí, rễ hiền.
    - Giáp lấy vợ Hợi: Con cháu đặng thi đổ, trước vinh sau nhục, trước giàu sau nghèo.

    Trai có chữ Ất lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Ất lấy vợ Tý: Con gái đặng thi đổ, nhưng phải chịu gian nan thuở nhỏ, sung sướng về tuổi già.
    - Ất lấy vợ Sửu, Dần: Sanh con cháu thi đổ nhiều, nhưng cũng phải trước giàu sau nghèo.
    - Ất lấy vợ Mẹo: Nếu không có con thì mới đặng an nhàn.
    - Ất lấy vợ Thìn, Tỵ: Sanh con sang trọng, đặng công thành danh toại.
    - Ất lấy vợ Ngọ: Vợ chồng được song toàn, đại lợi, nhưng sau cũng sanh buồn phiền.
    - Ất lấy vợ Mùi: Được giàu sang vinh hiển, sanh con cháu đặng thi đổ nhiều khoa.
    - Ất lấy vợ Thân: Có thi đổ những sau cũng không có lợi.
    - Ất lấy vợ Dậu: Vợ chồng khó đặng toàn vẹn, từ 30 tuổi trở lên mới biết sự hay dở.
    - Ất lấy vợ Tuất, Hợi: Vợ chồng trước nghèo sau giàu.

    Trai có chữ Bính lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Bính lấy vợ Tý: Người vợ sanh sản khó, nhưng nuôi được thì được danh thơm, trước sau cũng được giàu sang đại lợi. Nếu có vợ lẻ thì người vợ lẻ ấy sẽ sanh con trai.
    - Bính lấy vợ Sửu: Vợ chồng làm ăn khó nhọc, sau sẽ có lợi; sanh con trai thi đổ, nhưng con phải có tạt bịnh mới có thể nuôi đặng đến lớn.
    - Bính lấy vợ Dần: Vợ chồng khi lìa khi hiệp, rồi sau cũng đặng sum vầy, sanh con trai thi đổ vì đặng chữ "Phùng xuân" ứng.
    - Bính lấy vợ Mẹo Thìn: Làm ăn lúc thạnh lúc suy, nhiều con chẳng thành đạt, dù có lúc phong lưu cũng vô ích.
    - Bính lấy vợ Tỵ: Phú quí vinh hoa, sung sướng đến trọn đời, con cháu cũng hiển đạt.
    - Bính lấy vợ Ngọ, Mùi: Vợ chồng đặng giàu sang đại lợi, từ 40 tuổi trở lên sẽ có tiểu tật, con đặng thi đổ.
    - Bính lấy vợ Thân: Vợ chồng làm ăn trước phải chịu gian nan, sau sẽ đặng phú túc, tích thiểu thành đa, cần kiệm sẽ khá.
    - Bính lấy vợ Dậu: Vợ chồng đặng song toàn, trước nghèo sau giàu, có con cái ít.
    - Bính lấy vợ Tuất, Hợi: Có con khó nuôi, vợ chồng trước hiệp sau lìa.

    Trai có chữ Đinh lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Đinh lấy vợ Tý, Sửu: Vợ chồng rất gian truân, chẳng đặng yên ổn, con cái cũng khó nuôi hoặc nghèo nàn.
    - Đinh lấy vợ Dần: Trước lành sau dở, khó được bền duyên tơ tóc.
    - Đinh lấy vợ Mẹo: Tình duyên vui vầy và hạnh phúc, có con cháu đông.
    - Đinh lấy vợ Thìn: Có hai đứa con đặng thi đổ, quan tước hiển vinh, nếu có vợ lẻ cũng đặng giàu sang.
    - Đinh lấy vợ Tỵ: Trước sau cũng đặng giàu sang, con cái thi đổ thành danh và đại lợi.
    - Đinh lấy vợ Ngọ, Mùi: Sanh con gái đầu lòng không đặng đại lợi, cửa nhà ắt bị hao tổn, phải nuôi con nuôi thì con ruột mới dễ được, hay là lấy vợ lẻ thì đặng toàn hảo thủy chung.
    - Đinh lấy vợ Thân, Dậu: Được quyền cao tước trọng, nhưng sau cũng bị mất chức, trước hay sau dở.
    - Đinh lấy vợ Tuất: Vợ chồng phải tha phương sữ ngoài mới được hào phú đại lợi, có quyền quí, sanh con gái đặng song toàn.
    - Đinh lấy vợ Hợi: Trước có cửa nhà huy hoàng, sau gặp lúc phong ba, nếu là quan quyền thì lận đận lắm.

    Trai có chữ Mậu lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Mậu lấy vợ Tý: Vợ chồng đặng sum vầy, phú quí vinh hoa trước sau đều đại lợi, con cháu cũng đặng giàu sang.
    - Mậu lấy vợ Sửu, Dần: Trai gái đều đặng toàn vẹn, vợ chồng song toàn hạnh phúc.
    - Mậu lấy vợ Mẹo: Vợ chồng làm ăn đủ dùng, nếu tha phương làm ăn lại càng hay, thuở đầu hơi gian nan, về sau sung sướng.
    - Mậu lấy vợ Thìn: Trước phải chịu cảnh gian truân, về sau mới đặng vinh hiển, lại e tình duyên không đặng vẹn toàn.
    - Mậu lấy vợ Tỵ, Ngọ: Khó bề đặng phú quí, nếu trai gáiđều toàn thì sanh biến, không biến thì cửa nhà phải tiêu tan, dù cho có quan lộc cũng phải biến.
    - Mậu lấy vợ Mùi, Thân: Trước sau đều đặng đại lợi, sanh con nhiều và trọn vẹn.
    - Mậu lấy vợ Dậu: Lúc đầu đại lợi sau rồi vô ích, nếu lấy vợ lẻ thì sanh con trai được trọng quyền.
    - Mậu lấy vợ Tuất, Hợi: Không nhờ con cái, đi tha phương làm ăn càng tốt.

    Trai có chữ Kỷ lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Kỷ lấy vợ Tý: Vợ chồng làm ăn thạnh vượng, nhưng trước phải chịu nghèo, sau mới đặng giàu.
    - Kỷ lấy vợ Sửu, Dần: Sanh con trai khó nuôi đến lớn, đi làng khác mới được yên, vợ lẻ sanh con dễ nuôi hơn.
    - Kỷ lấy vợ Mẹo, Thìn: Phải tha phương mới nên sự nghiệp, giàu sang và sanh con trai, sau không có con gái là khí âm tiêu hết.
    - Kỷ lấy vợ Tỵ, Ngọ: Gặp thời thì thạnh, lỗi mùa thì suy, vợ chồng cách trở tha phương, chẳng chết thì cũng chia lìa đôi ngã, đời vợ sau mới sanh con trai.
    - Kỷ lấy vợ Mùi, Thân: Vợ chồng được trường cửu, hạnh phúc song toàn, nhiều con thi đổ cao và vinh sang trọn đời
    - Kỷ lấy vợ Dậu: Vợ chồng khó đặng bền lâu, phải ly biệt, nếu ăn ở với nhau được thì cũng thường đau ốm bịnh tật.
    - Kỷ lấy vợ Tuất: Sanh con chẳng đặng nhờ vì con bất hiếu, dẫu con có thi đổ cao cũng phải chịu khổ về sau.
    - Kỷ lấy vợ Hợi: Vợ chồng hạnh phúc song toàn, nhà cửa phú quí, con cháu đông đủ và thi đổ cao.

    Trai có chữ Canh lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Canh lấy vợ Tý, Sửu: Lấy nhau gặp thời thì tốt, nếu không thì dù sanh con trai hay gái trọn đời cũng không có gì là vinh hiển.
    - Canh lấy vợ Dần, Mẹo: Trước phải gian truân, sau mới sung sướng giàu sang, có con thi đổ cao.
    - Canh lấy vợ Thìn, Tỵ: Vợ chồng ăn ở hiền lương thì đặng phú quí và nhiều con, nếu thất đức thì phải nghèo nàn.
    - Canh lấy vợ Ngọ: Tự mình lập thân chẳng nhờ cậy ai, khoa danh hiển đạt, lộc hưởng tự nhiên.
    - Canh lấy vợ Mùi Thân: Đời vợ trước không đặng vẹn bền, đời sau mới đặng giai lão.
    - Canh lấy vợ Dậu: Lúc đầu hòa hiệp, về sau có phần khó khăn, trước nghèo sau khá.
    - Canh lấy vợ Tuất Hợi: Đời vợ trước chẳng đặng trọn tình, lấy vợ sau mới vững bền và sanh đặng quí tử (con thảo).

    Trai có chữ Tân lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Tân lấy vợ Tý: Nếu cưới vợ sớm thì dù có con cũng không thành đạt, hay là sanh con khó nuôi đến lớn, lấy vợ sau mới đại lợi.
    - Tân lấy vợ Sửu, Dần: Không được hào con, làm ăn trước thạnh sau suy.
    - Tân lấy vợ Mẹo: Tự nhiên phú quí, nhưng có con thi đổ thì chết, trước nghèo sau giàu.
    - Tân lấy vợ Thìn, Tỵ: Sanh con gái dễ nuôi hơn con trai, đặng của cải quan lộc.
    - Tân lấy vợ Ngọ: Làm ăn được hoàn toàn thịnh vượng, sanh con gái hiếu thảo.
    - lấy vợ Mùi, Thân: Trước giàu sang, sau lại nghèo, con cái khó nuôi, lúc tuổi già bệnh tật liên miên.
    - Tân lấy vợ Dậu: Công danh toại nguyện, được giàu sang nhưng vất vả, có con khó nuôi đến lớn.
    - Tân lấy vợ Tuất, Hợi: Vợ gặp sự sanh sản khó, vợ chồng bất chánh.

    Trai có chữ Nhâm lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Nhâm lấy vợ Tý: Vợ chồng sẽ có tật bịnh, thường gặp sự thưa kiện, dầu sanh con trai hay con gái cũng không vẹn toàn.
    - Nhâm lấy vợ Sửu, Dần: Sanh nhiều con gái, nếu có con trai dầu có thi đổ cũng thất chức.
    - Nhâm lấy vợ Mẹo: Sanh con trai hay gái đều vẹn toàn, song chẳng nhờ con, có thi đổ cao cũng không đặng chức phận.
    - Nhâm lấy vợ Thìn: Sau phải chịu cảnh nghèo khổ, mặc dù thuở trước giàu sang, trở về già thường hay bịnh tật.
    - Nhâm lấy vợ Tỵ: Dù đặng giàu sang, nhưng sanh con cũng khó nuôi (thất hào con), từ 40 tuổi trở lên lập nghiệp khó khăn, lấy vợ sau mới được yên vui.
    - Nhâm lấy vợ Ngọ: Tuổi trẻ làm ăn thịnh vượng, con gái hay trai đều song toàn, nhưng từ 40 tuổi trở lên về sau bị bệnh tật không toàn.
    - Nhâm lấy vợ Mùi: Tự nhiên có tài lộc và quan chức, tuổi già mắc tật bịnh.
    - Nhâm lấy vợ Thân: Sanh con chẳng toàn, được giàu sang song chẳng đặng thọ.
    - Nhâm lấy vợ Dậu: Vợ chồng không toàn vẹn, có nhiều sự gây gổ trong gia đình.
    - Nhâm lấy vợ Tuất, Hợi: Được phú quí thạnh vượng, đông con cái và nhiều lộc trời ban.

    Trai có chữ Quý lấy mười hai tuổi dưới đây:
    - Quý lấy vợ Tý: Đặng giàu sang, con cái thi đổ cao, nếu tha phương thì có nhiều đại lợi.
    - Quý lấy vợ Sửu, Dần: Có vợ ở xa xứ, đặng phú quí đại lợi, học hành thi đổ.
    - Quý lấy vợ Mẹo: Ăn ở lưc nhỏ hợp nhau, lớn ắt phải xa lìa, có thể có chức vị quan tước.
    - Quý lấy vợ Thìn, Tỵ: Đặng phú quí đại lợi, lấy vợ xa xứ rất tốt.
    - Quý lấy vợ Ngọ: Trước nghèo nàn, sau sẽ đặng phú quí đại lợi, nhiều của cải, con cháu thi đổ cao.
    - Quý lấy vợ Mùi, Thân: Đặng quan tước cao, công thành danh toại.
    - Quý lấy vợ Dậu: Dù có chức tước cũng không đặng trọn vẹn, chẳng việc gì đặng toại nguyện.
    - Quý lấy vợ Tuất, Hợi: Trước tốt sau xấu, trước thành sau bại, dù có hay một lúc rồi cũng gian nan.

  15. #15
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    BẢNG SỐ ĐÔI TUỔI VỢ CHỒNG THUỘC CUNG,
    (Gọi là Bát San)

    Chồng cung Càn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Càn lấy vợ cung Càn: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Càn lấy vợ cung Cấn: Phước đức (Thật tốt).
    - Cung Càn lấy vợ cung Khôn: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Càn lấy vợ cung Đoài: Duyên niên (Thật tốt).
    - Cung Càn lấy vợ cung Khảm: Lục sát (Thật xấu).
    - Cung Càn lấy vợ cung Chấn: Ngũ quỉ (Thật xấu).
    - Cung Càn lấy vợ cung Tốn: Họa hại (Thật xấu).
    - Cung Càn lấy vợ cung Ly: Tuyệt mạng (Xấu vừa).

    Chồng cung Khảm lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Khảm lấy vợ cung Khảm: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Khảm lấy vợ cung Chấn: Thiên y (Thật tốt).
    - Cung Khảm lấy vợ cung Tốn: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Khảm lấy vợ cung Ly: Phước đức (Thật tốt).
    - Cung Khảm lấy vợ cung Càn: Lục sát (Thật xấu).
    - Cung Khảm lấy vợ Cấn: Ngũ quỉ (Thật xấu).
    - Cung Khảm lấy vợ cung Khôn: Tuyệt mạng (Xấu vừa).
    - Cung Khảm lấy vợ cung Đoài: Họa hại (Thật xấu).

    Chồng cung Cấn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Cấn lấy vợ cung Cấn: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Cấn lấy vợ cung Càn: Thiên y (Thật tốt).
    - Cung Cấn lấy vợ cung Khôn: Tốn: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Cấn lấy vợ cung Đoài: Duyên niên (Thật tốt).
    - Cung Cấn lấy vợ cung Khảm: Ngũ quỉ (Thật xấu).
    - Cung Cấn lấy vợ cung Chấn: Lục sát (Thật xấu).
    - Cung Cấn lấy vợ cung Tốn: Tuyệt mạng (Xấu vừa).
    - Cung Cấn lấy vợ cung Ly: Họa hại (Thật xấu).

    Chồng cung Chấn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Chấn lấy vợ cung Chấn: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Chấn lấy vợ cung Khảm: Thiên y (Thật tốt).
    - Cung Chấn lấy vợ cung Tốn: Duyên niên (Thật tốt).
    - Cung Chấn lấy vợ cung Ly: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Chấn lấy vợ cung Càn: Lục sát (Thật xấu).
    - Cung Chấn lấy vợ cung Cấn: Ngũ quỉ (Thật xấu).
    - Cung Chấn lấy vợ cung Khôn: Họa hại (Thật xấu).
    - Cung Chấn lấy vợ cung Đoài: Tuyệt mạng (Xấu vừa).

    Chồng cung Tốn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Tốn lấy vợ cung Tốn: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Tốn lấy vợ cung Khảm: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Tốn lấy vợ cung Chấn: Phước đức (Thật tốt).
    - Cung Tốn lấy vợ cung Ly: Thiên y (Thật tốt).
    - Cung Tốn lấy vợ cung Càn: Họa hại (Thật xấu).
    - Cung Tốn lấy vợ cung Cấn: Tuyệt mạng (Xấu vừa).
    - Cung Tốn lấy vợ Khôn: Ngũ quỉ (Thật xấu).
    - Cung Tốn lấy vợ cung Đoài: Lục sát (Thật xấu).

    Chồng cung Ly lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Ly lấy vợ cung Ly: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Ly lấy vợ cung Khảm: Phước đức (Thật tốt).
    - Cung Ly lấy vợ cung Chấn: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Ly lấy vợ cung Tốn: Thiên y (Thật tốt).
    - Cung Ly lấy vợ cung Càn: Tuyệt mạng (Xấu vừa).
    - Cung Ly lấy vợ cung Cấn: Họa hại (Thật xấu).
    - Cung Ly lấy vợ cung Khôn: Lục sát (Thật xấu).
    - Cung Ly lấy vợ cung Đoài: Ngũ quỉ (Thật xấu).

    Chồng cung Khôn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Khôn lấy vợ cung Khôn: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Khôn lấy vợ cung Càn: Duyên niên (Thật tốt).
    - Cung Khôn lấy vợ cung Cấn: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Khôn lấy vợ cung Đoài: Thiên y (Thật tốt).
    - Cung Khôn lấy vợ cung Chấn: Họa hại (Thật xấu).
    - Cung Khôn lấy vợ cung Khảm: Tuyệt mạng (Xấu vừa).
    - Cung Khôn lấy vợ cung Tốn: Ngũ quỉ (Thật xấu).
    - Cung Khôn lấy vợ cung Ly: Lục sát (Thật xấu).

    Chồng cung Đoài lấy vợ cung gì, tốt hay xấu
    - Cung Đoài lấy vợ cung Đoài: Phục vị (Tốt vừa).
    - Cung Đoài lấy vợ cung Càn: Phước đức (Thật tốt).
    - Cung Đoài lấy vợ cung Cấn: Duyên niên (Thật tốt).
    - Cung Đoài lấy vợ cung Khôn: Sanh khí (Thật tốt).
    - Cung Đoài lấy vợ cung Chấn: Tuyệt mạng (Xấu vừa).
    - Cung Đoài lấy vợ cung Khảm: Họa hại (Thật xấu).
    - Cung Đoài lấy vợ cung Tốn: Lục sát (Thật xấu).
    - Cung Đoài lấy vợ Ly: Ngũ quỉ (Thật xấu).

    HÔN NHÂN THUỘC NGŨ HÀNH TỐT HAY XẤU

    Chồng mạng Kim lấy vợ mạng cung gì, tốt hay xấu
    - Chồng Kim, vợ Kim: Ăn ở với nhau sanh đẻ bất lợi, hay cãi lẩy có khi phải xa lìa, trừ khi đúng vào quẻ "Lưỡng Kim, Kim khuyết" hoặc "Lưỡng Kim thành khí".
    - Chồng Kim, vợ Mộc: Kim khắc Mộc, khắc xuất khổ sở nghèo nàn, chồng Nam vợ Bắc.
    - Chồng Kim, vợ Hỏa: Thường cãi vã nhau, sanh con khó nuôi, nhà cửa nghèo túng.
    - Chồng Kim, vợ Thủy: Thiên duyên tác hợp, con cháu đầy đủ, vợ chồng hòa thuận.
    - Chồng Kim, vợ Thổ: Vợ chồng hòa thuận, con cháu đầy đủ, gia đình vui vẻ, lục súc bình an.

    Chồng mạng Mộc lấy vợ mạng cung gì, tốt hay xấu
    - Chồng Mộc, vợ Mộc: Quan lộc tốt, con cháu đông đủ, gia đình hòa hiệp.
    - Chồng Mộc, vợ Thủy: Mộc với Thủy tương sanh, tiền tài phú túc, con cháu đông đủ, vợ chồng bá niên giai lão.
    - Chồng Mộc, vợ Hỏa: Mộc Hỏa tự nhiên sanh, tiền tài quan lộc dặng thạnh vượng, con cháu đông đủ.
    - Chồng Mộc, vợ Thổ(1): Thổ Mộc tương sanh, con cháu đông đủ và làm nên đại phú.
    - Chồng Mộc, vợ Kim: Hai mạng đều khắc, trước hợp sau lìa, con cháu bất lợi.

    (1): Tuy Mộc khắc Thổ, nhưng Đại Lâm Mộc với Đại Trạch Tuyết không khắc lắm (khô). Còn đối với mạng Thổ khắc Lâm thì khắc kỵ nhiều.

    Chồng mạng Thủy lấy vợ mạng cung gì, tốt hay xấu
    - Chồng Thủy, vợ Thủy: Hai Thủy tuy không tốt, nhưng điền trạch đặng khá yên, ăn ở nhau được.
    - Chồng Thủy, vợ Kim: Kim Thủy sanh tài, sung sướng đến già, con cháu đặng khá.
    - Chồng Thủy, vợ Mộc: Thủy Mộc nhân duyên, vợ chồng ăn ở với nhau bá niên giai lão.
    - Chồng Thủy, vợ Hỏa: Duyên tự thiên thành, tuy xấu mà đặng hòa hiệp.
    - Chồng Thủy, vợ Thổ: Hai mạng khắc nhau, vui vẻ bất thường, làm việc gì cũng khó.

    Chồng mạng Hỏa lấy vợ mạng cung gì, tốt hay xấu
    - Chồng Hỏa, vợ Hỏa: Hai Hỏa giúp nhau, có khi hưng vượng, con cháu đầy đủ.
    - Chồng Hỏa, vợ Kim: Hỏa Kim khắc nhau, hay cãi lẫy và kiện cáo, gia đình không an.
    - Chồng Hỏa, vợ Mộc: Hỏa Mộc hợp duyên, gia thất bình an, phước lộc kiêm toàn.
    - Chồng Hỏa, vợ Thủy: Thủy Hỏa tương khắc, vợ chồng chẳng bền duyên, con cháu bất lợi, gia đạo gian nguy.
    - Chồng Hỏa, vợ Thổ: Hỏa Thổ hữu duyên, tài lộc sung túc, con thảo cháu hiền.

    Chồng mạng Thổ lấy vợ mạng cung gì, tốt hay xấu
    - Chồng Thổ, vợ Thổ: Lưỡng Thổ tương sanh, trước khó sau dễ, lắm của nhiều con.
    - Chồng Thổ, vợ Kim: Vợ chồng hòa hiệp, con cháu thông minh, tài lộc sung túc.
    - Chồng Thổ, vợ Mộc: Thổ Mộc bất sanh, vợ chồng phân ly mỗi người một ngã.
    - Chồng Thổ, vợ Thủy: Thổ Thủy tương khắc, trước hiệp sau lìa, sanh kế bất lợi.
    - Chồng Thổ, vợ Hỏa: Thổ Hỏa đắc vị, quan vị dồi dào, con cháu đông đủ và giàu sang.

    PHỤ GIẢI:

    Có câu "Lưỡng Mộc thành lâm", "Lưỡng Thổ thành sơn". Nhưng phải đồng một loại mới được. Đại lâm mộc cùng với Đại lâm mộc, hay là Thạch lựu mộc cùng với Thạch lựu mộc mới đặng tốt.

    Thí dụ cho dễ hiểu hơn: Một thứ cây lớn cùng trồng chung với nhau thì được, mà một thứ thuộc cây lớn, còn một thứ thuộc cây nhỏ, thì cây nhỏ bị cây lớn lấn áp mà chết.

    Còn "Lưỡng Thổ thành sơn" cũng thế, cùng một loại đất thì tốt, nhưng tốt hơn hết là "Đại trạch thổ" mới là lưỡng Thồ thành sơn được.

    Và "Lưỡng hỏa thành diêm" thì có Phúc đăng hỏa (cái đèn có chụp), hai cái đèn hiệp lại thì anh sáng càng tăng thêm. Nếu cái đèn nhỏ đối với "Thích lịch hỏa" (lửa sấm chớp trên trời) thì anh sáng lớn lấn át ánh sáng nhỏ đi. Như thế là tương khắc (kỵ).

    NGŨ HÀNH TƯƠNG SANH (Tốt)

    Kim sanh Thủy.
    Thủy sanh Mộc.
    Mộc sanh Hỏa.
    Hỏa sanh Thổ.
    Thổ sanh Kim.

    NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC (Xấu)

    Kim khắc Mộc.
    Mộc khắc Thổ.
    Thổ khắc Thủy.
    Thủy khắc Hỏa.
    Hỏa khắc Kim.

    PHỤ GIẢI:

    Ngũ hành là năm thể chất giao nhau mà sanh tồn, dù cho quí vị có tôn trọng khoa học đến đâu, thì nhà khoa học ngày nay đã tìm thấy trong bản thân con người cũng không ngoài năm thứ thể chất ấy, mà ta gọi là Ngũ hành. Cho nên sự khắc hạp rất là quan trọng.

    THIÊN CAN TƯƠNG HẠP (Tốt)

    Giáp hạp Kỷ.
    Ất hạp Canh.
    Bính hạp Tân.
    Đinh hạp Nhâm.
    Mậu hạp Quý.

    KHẮC PHÁ (Xấu)

    Giáp phá Dậu.
    Ất phá Kỷ.
    Bính phá Canh.
    Đinh phá Tân.
    Mậu phá Nhâm.
    Kỷ phá Quý.
    Canh phá Giáp.
    Tân phá Ất.
    Nhâm phá Bính
    Quý phá Đinh.

    TAM HẠP HỘI THÀNH CUỘC

    Thân Tý Thìn hội thành Thủy cuộc.
    Tỵ Dậu Sửu hội thành Kim cuộc.
    Dần Ngọ Tuất hội thành Hỏa cuộc.
    Hợi Mẹo Mùi hội thành Mộc cuộc.

  16. #16
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    PHẦN III

    BÀN TAY HOANG ỐC

    (Kỵ cất nhà)

    Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.

Tên hình: Hoangoc.jpg
Lần xem: 13
Cỡ: 56.8 KB
ID: 1163

    Phàm muốn tính thì phải khởi "một mươi" tại Nhứt Kiết", rồi cứ đếm thuận qua Nhị Nghi, đếm hết tuổi chẳn rồi đến tuổi lẻ. "Đại tiểu số liên tiết châu nhi phục nhỉ" nghĩa là đếm số tuổi chẳn và tuổi lẻ phải đếm liên theo lóng tay. Khi tới tuổi của mình thì trụ tại nơi ấy.

    Thí dụ: Người được 31 tuổi, đếm 10 tại Nhứt Kiết, 20 tại Nhị Nghi, 30 tại Tam Địa Sát, 31 nhằm "Tứ Tấn Tài" là tốt.

    Như 32 tuổi thì nhằm "Ngũ Thọ Tử" và 33 tuổi nhằm "Lục Hoang Ốc" là xấu không nền dùng, còn 34 tuổi nhằm "Nhứt Kiết" và 35 trúng chữ "Nhị Nghi" đều tốt cả.

    Tính như thế, nếu trúng Nhứt Kiết, Nhị Nghi và Tứ Tấn Tài là tốt, nên dùng. Còn trúng Tam Địa Sát, Ngũ Thọ Tử, và Lục Hoang Ốc là xấu, không nên dùng.

    NGÀY HOANG ỐC TRONG BỐN MÙA
    (Kỵ làm nhà cửa)

    Xuân Hầu, Hạ Hổ thị gia không,
    Thu Thố, Đông Dương nhơn tử vong.
    Nhược nhơn bất tín lâm tai hại,
    Ngộ thử phùng hung mạng bất chung.


    Giải nghĩa:

    Mùa Xuân kỵ ngày Thân.
    Mùa Hạ kỵ ngày Dần.
    Mùa Thu kỵ ngày Mẹo.
    Mùa Đông kỵ ngày Mùi.

    Nếu người nào không tin, ắt bị tai hại. Còn ở cũng không được toàn mạng.

    Vậy không nên làm nhà cửa nhằm những ngày kỵ trong bốn mùa trên đây.

    BÀN TAY KIM LÂU
    (Kỵ cất nhà)

    Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.

Tên hình: Kimlau.jpg
Lần xem: 9
Cỡ: 64.4 KB
ID: 1164

    Phàm khởi 10 tại Khôn, 20 tại Đoài, 30 tại Càn, 40 tại Khảm, 50 tại cung giữa (nơi có số 50 tuổi), 60 tại Cấn, 70 tại Chấn, 80 tại Tốn và 90 tại Ly. Cũng vẫn tính hết tuổi chẳng rồi đến tuổi lẻ, liên tiếp theo từng lóng tay, đến khi trúng tuổi của mình thì trụ tại lóng tay ấy, rồi xem hình vẽ bàn tay coi nhằm chữ gì, tốt hay xấu.

    Thí dụ: Người 41 tuổi, thì khơi 10 tại Khôn, 20 tại Đoài, 30 tại Càn, 40 tại Khảm, 41 tại cung Cấn trúng nhằm chữ Kim Lâu Tử (kỵ người con) là không nên dùng. Như 42 tuổi tại Chấn là tốt, nên dùng, nếu 43 tuổi tại Tốn nhằm chữ Kim lâu Lục súc (trung) là không nên dùng, 44 tuổi tại Ly thì nên dùng, 45 tuổi tại Khôn nhằm chữ Kim lâu Thân (trung) là chánh kỵ.

    Nhằm bốn cung: Đoài, Khảm, Ly, Chấn là tốt, nên dùng. Còn hặp bốn chữ không nên dùng như dưới đây:

    - Kim lâu Thân (cung Khôn) là chánh kỵ cho mình.
    - Kim lâu Thê (cung Càn) kỵ cho người vợ.
    - Kim lâu Tử (cung Cấn) kỵ cho người con.
    - Kim lâu Lục súc (cung Tốn) kỵ không nuôi được súc vật nhà như: heo, gà, vịt v.v...)

    NGÀY TỐT NÊN DÙNG CƯỚI GÃ:

    THÁNG GIÊNG:

    - Ngày Hợi: Lục Hạp.
    - Ngày Tuất: Dương Đức.
    - Ngày Thìn: Lục Nghi.
    - Ngày Sửu: Thục Thế.
    - Ngày Thìn: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Tỵ: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Mùi: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Sửu: Minh Tinh.
    THÁNG HAI:

    - Ngày Tuất: Lục Hạp.
    - Ngày Tý: Dương Đức.
    - Ngày Mẹo: Lục Nghi.
    - Ngày Mùi: Thục Thế.
    - Ngày Ngọ: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Mùi: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Dậu: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Mẹo: Minh Tinh.
    THÁNG BA:

    - Ngày Dậu: Lục Hạp.
    - Ngày Dần: Dương Đức.
    - Ngày Dần: Lục Nghi.
    - Ngày Dần: Thục Thế.
    - Ngày Thân: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Dậu: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Hợi: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Tỵ: Minh Tinh.
    THÁNG TƯ:

    - Ngày Thân: Lục Hạp.
    - Ngày Thìn: Dương Đức.
    - Ngày Sửu: Lục Nghi.
    - Ngày Thân: Thục Thế.
    - Ngày Tuất: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Hợi: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Sửu: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Mùi: Minh Tinh.
    THÁNG NĂM:

    - Ngày Mùi: Lục Hạp.
    - Ngày Ngọ: Dương Đức.
    - Ngày Tý: Lục Nghi.
    - Ngày Mẹo: Thục Thế.
    - Ngày Tý: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Mẹo: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Sửu: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Dậu: Minh Tinh.
    THÁNG SÁU:

    - Ngày Ngọ: Lục Hạp.
    - Ngày Thân: Dương Đức.
    - Ngày Hợi: Lục Nghi.
    - Ngày Dậu: Thục Thế.
    - Ngày Dần: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Mẹo: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Tỵ: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Hợi: Minh Tinh.
    THÁNG BẢY:

    - Ngày Tỵ: Lục Hạp.
    - Ngày Tuất: Dương Đức.
    - Ngày Tuất: Lục Nghi.
    - Ngày Thìn: Thục Thế.
    - Ngày Thìn: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Tỵ: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Mùi: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Sửu: Minh Tinh.
    THÁNG TÁM:

    - Ngày Thìn: Lục Hạp.
    - Ngày Tý: Dương Đức.
    - Ngày Dậu: Lục Nghi.
    - Ngày Tuất: Thục Thế.
    - Ngày Ngọ: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Mùi: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Dậu: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Mẹo: Minh Tinh.
    THÁNG CHÍN:

    - Ngày Mẹo: Lục Hạp.
    - Ngày Dần: Dương Đức.
    - Ngày Thân: Lục Nghi.
    - Ngày Tỵ: Thục Thế.
    - Ngày Thân: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Dậu: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Hợi: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Tỵ: Minh Tinh.
    THÁNG MƯỜI:

    - Ngày Dần: Lục Hạp.
    - Ngày Thìn: Dương Đức.
    - Ngày Mùi: Lục Nghi.
    - Ngày Hợi: Thục Thế.
    - Ngày Tuất: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Hợi: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Sửu: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Mùi: Minh Tinh.
    THÁNG MƯỜI MỘT:

    - Ngày Sửu: Lục Hạp.
    - Ngày Ngọ: Dương Đức.
    - Ngày Ngọ: Lục Nghi.
    - Ngày Ngọ: Thục Thế.
    - Ngày Tý: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Sửu: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Mẹo: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Dậu: Minh Tinh.
    THÁNG CHẠP:

    - Ngày Tý: Lục Hạp.
    - Ngày Thìn: Dương Đức.
    - Ngày Tỵ: Lục Nghi.
    - Ngày Tý: Thục Thế.
    - Ngày Dần: Thiên Bửu, Kim Quỷ.
    - Ngày Mẹo: Thiên Đối, Thiên Đức.
    - Ngày Tỵ: Thiên ngọc, Ngọc Dương.
    - Ngày Hợi: Minh Tinh.

  17. #17
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    NHỮNG NGÀY TỐT NÊN DÙNG CƯỚI GÃ HOẶC LÀM NHÀ CỬA

    THÁNG GIÊNG:

    - Ngày Tuất: Thiên Hỉ.
    - Ngày Thìn: Thiên Phú.
    - Ngày (Xuân): Thiên Quí.
    - Ngày (Xuân): Thiên xá.
    - Ngày (Xuân): Thiên Phước.
    - Ngày Mùi: Thiên Thành.
    - Ngày Tuất: Thiên Quan.
    - Ngày Sửu: Thiên Y.

    THÁNG HAI:

    - Ngày Hợi: Thiên Hỉ.
    - Ngày Tỵ: Thiên Phú.
    - Ngày Giáp: Thiên Quí.
    - Ngày Mậu: Thiên xá.
    - Ngày Kỷ: Thiên Phước.
    - Ngày Dậu: Thiên Thành.
    - Ngày Tý: Thiên Quan.
    - Ngày Dần: Thiên Y.

    THÁNG BA:

    - Ngày Tý: Thiên Hỉ.
    - Ngày Ngọ: Thiên Phú.
    - Ngày Ất: Thiên Quí.
    - Ngày Dần: Thiên xá.
    - Ngày Mậu: Thiên Phước.
    - Ngày Hợi: Thiên Thành.
    - Ngày Dần: Thiên Quan.
    - Ngày Mẹo: Thiên Y.

    THÁNG TƯ:

    - Ngày Sửu: Thiên Hỉ.
    - Ngày Mùi: Thiên Phú.
    - Ngày (Hạ): Thiên Quí.
    - Ngày (Hạ): Thiên xá.
    - Ngày (Hạ): Thiên Phước.
    - Ngày Sửu: Thiên Thành.
    - Ngày Thìn: Thiên Quan.
    - Ngày Thìn: Thiên Y.

    THÁNG NĂM:

    - Ngày Dần: Thiên Hỉ.
    - Ngày Thân: Thiên Phú.
    - Ngày Bính: Thiên Quí.
    - Ngày Giáp: Thiên xá.
    - Ngày Canh Tân: Thiên Phước.
    - Ngày Mẹo: Thiên Thành.
    - Ngày Ngọ: Thiên Quan
    - Ngày Tỵ: Thiên Y.

    THÁNG SÁU:

    - Ngày Mẹo: Thiên Hỉ.
    - Ngày Dậu: Thiên Phú.
    - Ngày Đinh: Thiên Quí.
    - Ngày Ngọ: Thiên xá.
    - Ngày Nhâm, Quý: Thiên Phước.
    - Ngày Tỵ: Thiên Thành.
    - Ngày Thân: Thiên Quan.
    - Ngày Ngọ: Thiên Y.

    THÁNG BẢY:

    - Ngày Thìn: Thiên Hỉ.
    - Ngày Tuất: Thiên Phú.
    - Ngày (Thu): Thiên Quí.
    - Ngày (Thu): Thiên xá.
    - Ngày (Thu): Thiên Phước.
    - Ngày Mùi: Thiên Thành.
    - Ngày Tuất: Thiên Quan.
    - Ngày Mùi: Thiên Y.

    THÁNG TÁM:

    - Ngày Tỵ: Thiên Hỉ.
    - Ngày Hợi: Thiên Phú.
    - Ngày Canh: Thiên Quí.
    - Ngày Mậu: Thiên xá.
    - Ngày Ất: Thiên Phước.
    - Ngày Dậu: Thiên Thành.
    - Ngày Tý: Thiên Quan.
    - Ngày Thân: Thiên Y.

    THÁNG CHÍN:

    - Ngày Ngọ: Thiên Hỉ.
    - Ngày Tý: Thiên Phú.
    - Ngày Tân: Thiên Quí.
    - Ngày Thân: Thiên xá.
    - Ngày Giáp: Thiên Phước.
    - Ngày Hợi: Thiên Thành.
    - Ngày Dần: Thiên Quan.
    - Ngày Mậu: Thiên Y.

    THÁNG MƯỜI:

    - Ngày Mùi: Thiên Hỉ.
    - Ngày Sửu: Thiên Phú.
    - Ngày (Đông): Thiên Quí.
    - Ngày (Đông): Thiên xá.
    - Ngày (Đông): Thiên Phước.
    - Ngày Sửu: Thiên Thành.
    - Ngày Thìn: Thiên Quan.
    - Ngày Tuất: Thiên Y.

    THÁNG MƯỜI MỘT:

    - Ngày Thân: Thiên Hỉ.
    - Ngày Dần: Thiên Phú.
    - Ngày Nhâm: Thiên Quí.
    - Ngày Giáp: Thiên xá.
    - Ngày Đinh: Thiên Phước.
    - Ngày Mẹo: Thiên Thành.
    - Ngày Ngọ: Thiên Quan.
    - Ngày Hợi: Thiên Y.

    THÁNG CHẠP:

    - Ngày Dậu: Thiên Hỉ.
    - Ngày Mẹo: Thiên Phú.
    - Ngày Quý: Thiên Quí.
    - Ngày Tý: Thiên xá.
    - Ngày Bính: Thiên Phước.
    - Ngày Tỵ: Thiên Thành.
    - Ngày Thân: Thiên Quan.
    - Ngày Ngọ: Thiên Y.

  18. #18
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    NGÀY TỐT NÊN DÙNG CƯỚI GẢ HOẶC CẤT NHÀ

    THÁNG GIÊNG:

    - Ngày Dậu: Phước Sanh.
    - Ngày (Xuân): Phước Hậu.
    - Ngày Dậu: Kiết Khánh.
    - Ngày Dậu: Ân Đức.
    - Ngày Thân: Giải Thần.
    - Ngày Tý: Sanh Khí.
    - Ngày Thân: Phổ Hộ.
    - Ngày Tý: Ích Hậu.

    THÁNG HAI:

    - Ngày Mẹo: Phước Sanh.
    - Ngày Dần: Phước Hậu.
    - Ngày Dần: Kiết Khánh.
    - Ngày Mùi: Ân Đức.
    - Ngày Thân: Giải Thần.
    - Ngày Sửu: Sanh Khí.
    - Ngày Dần: Phổ Hộ.
    - Ngày Ngọ: Ích Hậu.

    THÁNG BA:

    - Ngày Tuất: Phước Sanh.
    - Ngày Dần: Phước Hậu.
    - Ngày Hợi: Kiết Khánh.
    - Ngày Tỵ: Ân Đức.
    - Ngày Tuất: Giải Thần.
    - Ngày Dần: Sanh Khí.
    - Ngày Dậu: Phổ Hộ.
    - Ngày Sửu: Ích Hậu.

    THÁNG TƯ:

    - Ngày Thìn: Phước Sanh.
    - Ngày (Hạ): Phước Hậu.
    - Ngày Thìn: Kiết Khánh.
    - Ngày Mẹo: Ân Đức.
    - Ngày Tuất: Giải Thần.
    - Ngày Mẹo: Sanh Khí.
    - Ngày Mẹo: Phổ Hộ.
    - Ngày Mùi: Ích Hậu.

    THÁNG NĂM:

    - Ngày Hợi: Phước Sanh.
    - Ngày Tỵ: Phước Hậu.
    - Ngày Sửu: Kiết Khánh.
    - Ngày Sửu: Ân Đức.
    - Ngày Tý: Giải Thần.
    - Ngày Thìn: Sanh Khí.
    - Ngày Tuất: Phổ Hộ.
    - Ngày Dần: Ích Hậu.

    THÁNG SÁU:

    - Ngày Tỵ: Phước Sanh.
    - Ngày Tỵ: Phước Hậu.
    - Ngày Ngọ: Kiết Khánh.
    - Ngày Hợi: Ân Đức.
    - Ngày Tý: Giải Thần.
    - Ngày Tỵ: Sanh Khí.
    - Ngày Thìn: Phổ Hộ.
    - Ngày Thân: Ích Hậu.

    THÁNG BẢY:

    - Ngày Tý: Phước Sanh.
    - Ngày (Thu): Phước Hậu.
    - Ngày Nẹo: Kiết Khánh.
    - Ngày Dậu: Ân Đức.
    - Ngày Dần: Giải Thần.
    - Ngày Ngọ: Sanh Khí.
    - Ngày Hợi: Phổ Hộ.
    - Mẹo: Ích Hậu.

    THÁNG TÁM:

    - Ngày Ngọ: Phước Sanh.
    - Ngày Thân: Phước Hậu.
    - Ngày Thân: Kiết Khánh.
    - Ngày Mùi: Ân Đức.
    - Ngày Dần: Giải Thần.
    - Ngày Mùi: Sanh Khí.
    - Ngày Tỵ: Phổ Hộ.
    - Ngày Dậu: Ích Hậu.

    THÁNG CHÍN:

    - Ngày Sửu: Phước Sanh.
    - Ngày Thân: Phước Hậu.
    - Ngày Tỵ: Kiết Khánh.
    - Ngày Tỵ: Ân Đức.
    - Ngày Thìn: Giải Thần.
    - Ngày Thân: Sanh Khí.
    - Ngày Tý: Phổ Hộ.
    - Ngày Thìn: Ích Hậu.

    THÁNG MƯỜI:

    - Ngày Mùi: Phước Sanh.
    - Ngày (Đông): Phước Hậu.
    - Ngày Tuất: Kiết Khánh.
    - Ngày Mẹo: Ân Đức.
    - Ngày Thìn: Giải Thần.
    - Ngày Dậu: Sanh Khí.
    - Ngày Ngọ: Phổ Hộ.
    - Ngày Tuất: Ích Hậu.

    THÁNG MƯỜI MỘT:

    - Ngày Dần: Phước Sanh.
    - Ngày Hợi: Phước Hậu.
    - Ngày Mùi: Kiết Khánh.
    - Ngày Sửu: Ân Đức.
    - Ngày Ngọ: Giải Thần.
    - Ngày Tuất: Sanh Khí.
    - Ngày Sửu: Phổ Hộ.
    - Ngày Tỵ: Ích Hậu.

    THÁNG CHẠP:

    - Ngày Thân: Phước Sanh.
    - Ngày Hợi: Phước Hậu.
    - Ngày Tý: Kiết Khánh.
    - Ngày Hợi: Ân Đức.
    - Ngày Ngọ: Giải Thần.
    - Ngày Hợi: Sanh Khí.
    - Ngày Mùi: Phổ Hộ.
    - Ngày Hợi: Ích Hậu.

  19. #19
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    NGÀY TỐT NÊN CƯỚI GẢ

    THÁNG GIÊNG:

    - Ngày Đinh: Thiên Đức.
    - Ngày Nhâm: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Bính: Nguyệt Đức.
    - Ngày Tân: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Bính: Nguyệt Ân.

    THÁNG HAI:

    - Ngày Thân: Thiên Đức.
    - Ngày Tỵ: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Giáp: Nguyệt Đức.
    - Ngày Kỷ: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Đinh: Nguyệt Ân.

    THÁNG BA:

    - Ngày Nhâm: Thiên Đức.
    - Ngày Đinh: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Nhâm: Nguyệt Đức.
    - Ngày Đinh: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Canh: Nguyệt Ân.

    THÁNG TƯ:

    - Ngày Tân: Thiên Đức.
    - Ngày Bính: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Canh: Nguyệt Đức.
    - Ngày Ất: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Kỷ: Nguyệt Ân.

    THÁNG NĂM:

    - Ngày Hợi: Thiên Đức.
    - Ngày Dần: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Bính: Nguyệt Đức.
    - Ngày Tân: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Mậu: Nguyệt Ân.

    THÁNG SÁU:

    - Ngày Giáp: Thiên Đức.
    - Ngày Kỷ: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Giáp: Nguyệt Đức.
    - Ngày Kỷ: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Tân: Nguyệt Ân.

    THÁNG BẢY:

    - Ngày Quý: Thiên Đức.
    - Ngày Mậu: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Nhâm: Nguyệt Đức.
    - Ngày Đinh: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Nhâm: Nguyệt Ân.

    THÁNG TÁM:

    - Ngày Dần: Thiên Đức.
    - Ngày Hợi: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Canh: Nguyệt Đức.
    - Ngày Ất: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Quý: Nguyệt Ân.

    THÁNG CHÍN:

    - Ngày Bính: Thiên Đức.
    - Ngày Tân: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Bính: Nguyệt Đức.
    - Ngày Tân: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Canh: Nguyệt Ân.

    THÁNG MƯỜI:

    - Ngày Ất: Thiên Đức.
    - Ngày Canh: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Giáp: Nguyệt Đức.
    - Ngày Kỷ: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Ất: Nguyệt Ân.

    THÁNG MƯỜI MỘT:

    - Ngày Kỷ: Thiên Đức.
    - Ngày Giáp: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Nhâm: Nguyệt Đức.
    - Ngày Đinh: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Giáp: Nguyệt Ân.

    THÁNG CHẠP:

    - Ngày Canh: Thiên Đức.
    - Ngày Ất: Thiên Đức Hiệp.
    - Ngày Canh: Nguyệt Đức.
    - Ngày Ất: Nguyệt Đức Hiệp.
    - Ngày Tân: Nguyệt Ân.

  20. #20
    Gia nhập
    Jun 2010
    Bài đăng
    953

    Định sẵn Re: Ngọc Hạp Chánh Tông

    NHỮNG NGÀY TỐT NÊN DÙNG CƯỚI GẢ.

    - Ngày Bất tương - Ngày Trực Định.
    - Ngày Thiên Đức - Ngày Trực Thành.
    - Ngày Thiên Hỉ - Ngày Đại Hồng Sa.
    - Ngày Nguyệt Đức - Ngày Thiên Nguyệt, Đức Hợp
    - Ngày Hoàng Đạo - Ngày Âm dương hợp.
    - Ngày Thiên Quí - Ngày Nhân dân hợp.
    - Ngày Sanh khí - Ngày Giốc.
    - Ngày Ích Hậu - Ngày Chấp, Trương.
    - Ngày Tục Thế - Ngày Bế, Đẩu.
    - Ngày Thiên Xá - Ngày Phòng, Lâu.
    - Ngày Vượng - Ngày Vĩ, Vị.
    - Ngày Tướng - Ngày Cơ, Tất.
    - Ngày Nguyệt Ân - Ngày Bích, Chẩn.
    - Ngày Thiên phú - Ngày Khuê.
    - Ngày Dịch Mã - Ngày Tỉnh.
    - Ngày Lục hạp.
    - Ngày Tam hạp.
    - Ngày Yến an.
    - Ngày Thiên phúc.
    - Ngày Cát khánh.
    - Ngày Thiên thụy.

    NHỮNG NGÀY XẤU KHÔNG NÊN CƯỚI GẢ

    THÁNG GIÊNG:

    - Ngày Sửu: Qui Kỵ.
    - Ngày Tuất: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Thìn: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Thìn: Thiên Tặc.
    - Ngày Thân: Nguyệt Phá.
    - Ngày Tuất: Thọ Tử.
    - Ngày : Thiên Hỏa.
    - Ngày : Địa Hỏa.

    THÁNG HAI:

    - Ngày Dần: Qui Kỵ.
    - Ngày Dần: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Mẹo: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Dậu: Thiên Tặc.
    - Ngày Dậu: Nguyệt Phá.
    - Ngày Thìn: Thọ Tử.
    - Ngày (Xuân): Thiên Hỏa.
    - Ngày (Xuân): Địa Hỏa.

    THÁNG BA:

    - Ngày Tý: Qui Kỵ.
    - Ngày Thân: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Dần: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Dần: Thiên Tặc.
    - Ngày Tuất: Nguyệt Phá.
    - Ngày Hợi: Thọ Tử.
    - Ngày Mẹo: Thiên Hỏa.
    - Ngày Dậu: Địa Hỏa.

    THÁNG TƯ:

    - Ngày Sửu: Qui Kỵ.
    - Ngày Mùi: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Sửu: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Mùi: Thiên Tặc.
    - Ngày Hợi: Nguyệt Phá.
    - Ngày Tỵ: Thọ Tử.
    - Ngày : Thiên Hỏa.
    - Ngày : Địa Hỏa.

    THÁNG NĂM:

    - Ngày Dần: Qui Kỵ.
    - Ngày Ngọ: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Tý: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Tý: Thiên Tặc.
    - Ngày Tý: Nguyệt Phá.
    - Ngày Tý: Thọ Tử.
    - Ngày (Hạ): Thiên Hỏa.
    - Ngày (Hạ): Địa Hỏa.

    THÁNG SÁU:

    - Ngày Tý: Qui Kỵ.
    - Ngày Tỵ: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Hợi: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Tỵ: Thiên Tặc.
    - Ngày Sửu: Nguyệt Phá.
    - Ngày Ngọ: Thọ Tử.
    - Ngày Ngọ: Thiên Hỏa.
    - Ngày Tý: Địa Hỏa.

    THÁNG BẢY:

    - Ngày Sửu: Qui Kỵ.
    - Ngày Thìn: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Tuất: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Tuất: Thiên Tặc.
    - Ngày Dần: Nguyệt Phá.
    - Ngày Sửu: Thọ Tử.
    - Ngày : Thiên Hỏa.
    - Ngày : Địa Hỏa.

    THÁNG TÁM:

    - Ngày Dần: Qui Kỵ.
    - Ngày Mẹo: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Dậu: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Mẹo: Thiên Tặc.
    - Ngày Mẹo: Nguyệt Phá.
    - Ngày Mùi: Thọ Tử.
    - Ngày (Thu): Thiên Hỏa.
    - Ngày (Thu): Địa Hỏa.

    THÁNG CHÍN:

    - Ngày Tý: Qui Kỵ.
    - Ngày Dần: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Thân: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Thân: Thiên Tặc.
    - Ngày Thìn: Nguyệt Phá.
    - Ngày Dần: Thọ Tử.
    - Ngày Dậu: Thiên Hỏa.
    - Ngày Mẹo: Địa Hỏa.

    THÁNG MƯỜI:

    - Ngày Sửu: Qui Kỵ.
    - Ngày Sửu: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Mùi: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Sửu: Thiên Tặc.
    - Ngày Tỵ: Nguyệt Phá.
    - Ngày Thân: Thọ Tử.
    - Ngày : Thiên Hỏa.
    - Ngày : Địa Hỏa.

    THÁNG MƯỜI MỘT:

    - Ngày Dần: Qui Kỵ.
    - Ngày Tý: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Ngọ: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Ngọ: Thiên Tặc.
    - Ngày Ngọ: Nguyệt Phá.
    - Ngày Mẹo: Thọ Tử.
    - Ngày (Đông): Thiên Hỏa.
    - Ngày (Đông): Địa Hỏa.

    THÁNG CHẠP:

    - Ngày Tý: Qui Kỵ.
    - Ngày Hợi: Nguyệt Yểu (Sát Ông).
    - Ngày Tỵ: Nguyệt Đối (Sát Cô).
    - Ngày Hợi: Thiên Tặc.
    - Ngày Mùi: Nguyệt Phá.
    - Ngày Dậu: Thọ Tử.
    - Ngày Tý: Thiên Hỏa.
    - Ngày Ngọ: Địa Hỏa.

    Mỗi tháng có những ngày trên đây dều là những ngày xấu không nên dùng cưới gả.

Tags cho chủ đề này

Bookmarks

Nội quy dành cho việc đăng bài

  • Bạn không thể đăng bài
  • Bạn không thể đăng bài trả lời
  • Bạn có thể đăng tài liệu kèm theo bài
  • Bạn không thể điều chỉnh bài viết (của bạn)
  •