An vòng Tràng Sinh và Kình Đà như thế nào cho hợp lý?


Hầu hết các tác giả về Tử Vi đều khởi Trường Sinh tại Dần Thân Tỵ Hợi căn cứ theo Cục, Dương Nam Âm Nữ thì theo chiều thuận, Âm Nam Dương Nữ thì theo chiều nghịch. Chỉ có cụ Thiên Lương và Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử đối với trường hợp Âm Nam Dương Nữ thì khởi Tràng sinh tại Tí Ngọ Mão Dậu để cho sao Mộ cư tại Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi). Ðặc biệt cụ Thiên Lương còn khởi vòng Tràng sinh cho cục Thổ tại Dần và Ngọ.

Với cách an vòng Tràng Sinh như vậy thì Việt Viêm Tử đã vận dụng phong thủy vào Tử Vi (đã chứng minh trong Tử Vi Ảo Bí), còn cụ Thiên Lương thì căn cứ vào nghiệm lý.

Theo thiển ý, các môn bói toán khác thì an Trường Sinh căn cứ vào THIÊN CAN của năm, còn Tử Vi thì Trần Ðoàn an Trường Sinh theo Cục nên phải có sự khác biệt (ngũ hành của Cục là Ngũ hành Nạp Âm, còn Ngũ Hành của Thiên Can là ngũ hành chính), chúng ta không thể an Tràng sinh theo kiểu các môn bói toán khác như Tứ Trụ được vì các môn nầy đã an Trường Sinh căn cứ vào Thiên Can. Tử Vi lấy năm sanh làm hành bản Mệnh, lấy hành của tháng cung Mệnh rơi vào làm hành của Cục. Ví dụ cung Mệnh rơi vào tháng 6, trên địa bàn là tháng Mùi (Ðịa Chi). Biết căn cứ năm sanh (Thiên Can) ta suy ra căn cứ tháng rất dễ dàng, từ đó biết được hành của tháng căn cứ vào bảng Lục Thập Hoa Giáp. Các phương pháp hiện hành (Ngũ Hổ độn) dùng để xác định ngũ hành của cục chẳng qua xuất phát từ nguyên tắc chính bên trên và tóm tắt lại để tính toán hành Cục cho nhanh. Trần Ðoàn đã lấy hành của tháng cung Mệnh rơi vào để tính cách an Tràng Sinh thì không thể tùy tiện mà áp dụng các phương pháp khác vào vì khi an theo Cục (xác định bởi cung an Mệnh) thì Trần Ðoàn đã gắn chặt Thiên Ðịa với vận mệnh của con người, chứ không phải chỉ có Thiên Can đơn thuần. Bởi vì hành cục là hành nạp âm của tháng cung mệnh rơi vào trong lá số nên sinh khắc giữa Mệnh và Cục rất quan trọng trong lá số tử vi, và cục đại diện cho môi trường là như vậy.

Có người còn cho rằng nếu lập luận rằng Mộ phải cư ở Tứ Mộ thì trong quy luật sinh vượng mộ tuyệt của ngũ hành, ví dụ như Nhâm Dương Thủy thì Tràng Sinh ở Thân, Vượng ở Tí, Mộ ở Thìn, nhưng Quí Âm Thủy thì đi nghịch, Tràng Sinh lại ở Mão, Vượng ở Hợi, Mộ ở Mùi (Mùi lại là mộ khố??? của Mộc, chứ không phải của Thủy), đâu có phải bắt buộc Mộ ở Thìn (Thìn là mộ khố??? của Thủy). Như vậy luận điểm Mộ phải cư tại Mộ địa không hợp lý.

Kế đến cách an sao Kình Ðà theo cụ Thiên Lương thì Kình Dương và Lực Sĩ (Lực Sĩ thuộc vòng Bac Sĩ, không phải thuộc vòng Lộc Tồn như nhiều người ngộ nhận) phải cư đồng cung. An cách nầy hoàn toàn không có cơ sở vững chắc vì nhiều lý do:

Sách vở dạy an Kình Dương đứng trước Lộc Tồn, Ðà La đứng sau Lộc Tồn (tiền Kình hậu Ðà). Thật ra địa bàn nếu ta vẽ đúng đắn thì phải dùng vòng tròn, chứ không phải dùng hình chữ nhật, và như vậy thì hiểu vị trí trước sau căn cứ theo chiều một chiều duy nhất có ý nghĩa hơn (giống như trường hợp Thái Tuế luôn luôn an theo chiều thuận, không phân biệt âm dương). Chú ý rằng Kình Ðà không phải là bộ sao của Lộc Tồn, mà là bộ sao được an theo vị trí tương đối đối với Lộc Tồn. Nếu quả thật Kình Dương và Lực Sĩ luôn luôn đồng cung thì phải được sách vở ghi lại để dễ nhớ và kiểm tra cách an sao, giống như trường hợp Bác Sĩ và Lộc Tồn luôn luôn đồng cung, hoặc Phượng Cát và Giải Thần luôn luôn đồng cung đã được các sách vở ngày xưa ghi nhận.

An như vậy thì đưa đến Âm Nam không bao giờ có Mã Ðà đồng cung hay xung chiếu

Ðọc phú ta không bao thấy Kình Dương ở Dần Thân Tỵ Hợi và Ðà La ở Tí Ngọ Mão Dậu

Trong Tử Vi chỉ có tuổi Ðinh Kỷ Quí là mới có Mã Ðà đồng cung hay xung chiếu. An theo cụ Thiên Lương và Việt Viêm Tử chỉ có Âm Nữ tuổi Ðinh Kỷ Quí mới có Mã Ðà

Hơn nữa Ðà La đắc địa ở Dần Thân Tỵ Hợi, còn Kình Dương đắc địa ở Thìn Tuất Sửu Mùi và Lộc Tồn đắc ở Tỵ Ngọ Mão Dậu. Lộc Tồn luôn luôn giáp Kình Ðà thì phải để cho ba sao đắc cùng đắc, hãm cùng hãm hợp lý hơn. (Nếu Ðà La hãm địa ở Thìn Tuất Sửu Mùi thì Kình hãm địa ở Tỵ Ngọ Mão Dậu, Lộc Tồn hãm ở Tỵ Hợi. Riêng ở Dần Thân vì luôn luôn có Lộc Mã giao trì nên Lộc Tồn nầy không hãm mà đắc. An theo cụ Thiên Lương thì không có đặc tính nầy trong nhiều trường hợp

An như vậy thì khi an sao lưu Kình Ðà sẽ mâu thuẫn với cách an sao Kình Ðà cố định, không hợp lý

Bộ Kình Ðà rất quan trọng, an không đúng thì giải nhiều trường hợp sẽ sai, nhất là lưu Kình Ðà theo tiểu hạn

Ðể kiểm chứng tính cách đúng sai của cách an Trường Sinh và Kình Ðà thì phải căn cứ vào các câu phú liên quan đến vòng Tràng Sinh và Kình Ðà. Vòng Tràng Sinh thì phải tập trung ở trường hợp Âm Nam Dương Nữ và so sánh hai cách an sao với thực tế xem cách nào chính xác. Riêng Kình Ðà thì thêm phần chú trọng vào tính chất đắc hãm của hai sao nầy

Mời các bạn tham gia kiểm chứng tính cách đúng sai

TKQ