Nam Quan hay Tử Môn Quan
Nguyễn Hữu Nghĩa
VC cắt bao nhiêu đất, dâng bao nhiêu biển cho Trung Cộng?
Việc CSVN cắt đất, nhượng biển cho Trung Cộng đã là thực tế hiển nhiên. Các nhà nghiên cứu trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại trưng ra hàng chục bằng chứng bằng văn bản, đồ bản và công ước để chứng minh. Nhóm dân chủ ở Hà Nội dấy lên phong trào phản đối, chia nhau đến quan sát tại chỗ nhưng bị Bộ Nội Vụ VC ra lệnh cho công an bắt bớ, ngăn cản. Diện tích đất đai VC dâng cho Trung Cộng, theo ước tính của nhiều nhóm, nhiều ít khác nhau, và trên một ngàn cây số vuông. Lê Công Phụng, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao VC, họp báo thú-nhận là "có", nhưng nhượng ít hơn những con số do người Việt ở hải ngoại và các nhân vật ly khai trong nước nêu ra. Bán nước là bán nước. Giang sơn gấm vóc do xương máu của tiền nhân dày công xây đắp, không ai được quyền bán, dù chỉ 1 tấc; huống chi con số do chính CSVN xác nhận lên tới hàng trăm cây số vuông, tương-đương diện-tích nội-thành Hà Nội.
biên giới Việt-Hoa trong 2000 năm lịch sử, đã bị liên-tục đẩy sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Nhiều phần đất biên giới được lịch sử chứng-minh, nay nằm sâu trong nội địa Trung Hoa. Xưa nhất là trụ đồng Mã Viện do Phục Ba Tướng Quân dựng lên năm 41 trên đường đèo Phân Mao Lĩnh tại biên giới Việt-Hoa, với lời đe dọa "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt", nay nằm trong thị trấn Khâm Châu, Quảng Đông. Hung Giang tức An Nam Giang, là con sông biên giới từng nhuộm máu những cánh quân xâm-lược, ngày nay nằm sâu trong lãnh thổ Trung Cộng. Bia đá do vua Ung Chính nhà Thanh cho dựng lên bên bờ Đỗ Chú Hà, nhằm đánh dấu biên giới tỉnh Tuyên Quang (VN) và phủ Khai Hóa (Trung Hoa), nay cũng nằm sâu trong lãnh thổ Trung Hoa.
Trong thời Pháp thuộc, khi phân định biên giới Việt-Hoa để đưa vào Hiệp Ước Thiên Tân (1887, 1895) các viên chức Pháp (Saint-Chaffray và Dillon) đã làm mất về tay Trung Hoa một phần đất đai của nước Việt, qua việc chấp nhận việc xác định biên giới căn cứ vào bản đồ do nhà Thanh vẽ, và theo địa hình mô tả chứ không theo tọa độ như biên giới Việt-Lào. Dù vậy, bản dự thảo hiệp ước cũng đã được Quốc Hội Pháp công khai bàn cãi, và khi ký xong, có ủy ban theo dõi việc thi hành. Nhờ việc theo dõi này, ngày nay công khố Pháp còn lưu lại hàng chục tài liệu chứng minh phía Trung Hoa đã liên tục nhổ, dời cột mốc sâu vào lãnh thổ Việt Nam. (1)
Thời nay, Việt Cộng âm thầm ký với Trung Cộng. Quốc Hội bù nhìn (do đảng CSVN chọn ứng cử viên) nhắm mắt thông qua. Khi hai bên cắm lại cột mốc, Hà Nội ra lệnh triệt thoái toàn bộ các đơn vị quân đội nhân dân trấn đóng trong vùng tái phân định biên giới để tránh xô-xát và bớt đi con số chứng-nhân.
Chúng ta thực sự mất bao nhiêu đất, do sự nhầm lẫn và bị mua chuộc của các viên chức Pháp trong Hòa Ước Thiên Tân, do các vụ lén lút dời mốc biên giới trong hơn nửa thế kỷ, và do việc tái phân định một cách mờ ám do nhà cầm quyền Hà Nội cấu kết với Bắc triều hiện nay?
Về bản hiệp ước dâng đất
Trước sự gia tăng cường độ đòi hỏi của phong trào dân chủ trong nước, CSVN đã cho công bố hạn chế bản "Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền Giữa Nước CHXNCN Việt Nam Và Nước CHND Trung Hoa." Nói là công bố hạn chế, vì bản Hiệp Ước này chỉ được đưa lên mạng internet, thay vì đăng công báo hay lưu tại các thư-viện công-cộng cho công-chúng tiện tham-khảo. Ngoài văn bản, nhà nước CSVN không cho kèm theo bất cứ bản đồ nào, mặc dù trong văn-bản có nhắc tới một tấm bản đồ không tên, không xuất xứ, không biết do nha, sở và quốc gia nào xuất bản, chỉ ghi khơi khơi là "bản đồ tỉ-lệ 1/50.000".
Trong bản hiệp Ước biên giới Việt-Hoa do Quốc Hội phê chuẩn và Nông Đức Mạnh, lúc đó còn là Chủ-tịch Quốc Hội, ký tên ngày 9.6.2000, dài 10.697 chữ, qui-định 62 giới điểm chính, tất cả đều được mô-tả bằng địa hình, không hề có một giới điểm nào được xác định bằng tọa độ.
Thí-dụ: "Giới điểm số 1 ở điểm có độ cao 1875 của núi Khoan La San (Thập Tầng Đại Sơn), điểm này cách điểm có độ cao 1439 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1691 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,70 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1208 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Nam." "giới điểm" là những điểm chính trên chiều dài biên giới, để từ đó vẽ thành đường biên giới. Nếu giới điểm đặt sai chỗ, sự sai biệt từ đó sẽ trầm-trọng hơn nhiều. Với bản-đồ 1/50.000, không phải "sai một ly đi một dặm" nữa, mà chỉ cần sai 1 mm từ giới điểm 1 kéo sang giới điểm 62, đã sai tới 2,062 cây số!
Ngay từ câu đầu tiên trong phần xác định biên giới, CSVN đã định sai giới điểm. Giới điểm 1 trong bản Hiệp Ước biên giới VC-TC, cũng chính là giao điểm của ba biên giới Lào-Việt-Hoa. Đây là một điểm chuẩn bất di bất dịch giữa ba nước, không thể có sự khác biệt, dù trong Hiệp Ước biên giới Việt-Hoa, Việt-Lào hay Lào-Hoa. giới điểm do VC-TC thoả-hiệp như vừa nêu ra trên đây, không ăn khớp vào giới điểm tam-biên ghi trong hiệp ước biên giới Việt-Lào, nguyên văn:
"Khởi đầu từ điểm có tọa độ 110 G 89 03 24 G 89 06, điểm nầy cách điểm cao 1865 Khoan La San (có ký-hiệu điểm tam giác) khoảng 120 m (một trăm hai mươi mét) về phía Bắc Tây Bắc, đường biên giới đi hướng Đông Nam theo sống núi đến điểm cao 1850 (có ký hiệu điểm tam giác); rồi chuyển hướng Tây Nam theo sống núi Y Ma Ho, trở lại hướng Đông Nam theo sống núi San Cho Kay..." Phân tích các điểm dị biệt trên đây, ngoài sự sai biệt 10 mét của đỉnh Khoan La San (Thập Tầng Đại Sơn), là sự sai biệt nghiêm trọng về tọa độ của giới điểm 1.
Theo Hiệp Ước Việt-Lào, tọa độ 110 G 89 03 24 G 89 06" cách đỉnh Khoan La San 120 mét về phía Bắc Tây Bắc. Khi dời điểm chuẩn về phía Nam Đông Nam, nghĩa là lùi vào lãnh thổ Việt Nam 120 mét, CSVN đã công-nhiên nhượng cho Trung Cộng 158 cây số vuông tiên khởi chạy dọc theo biên giới cũ, chưa kể các điểm lùi sâu vào tới 400 mét ở Nam Quan hay 567 mét ở thác Bản Giốc, là các nơi dễ kiểm chứng.
quan trọng hơn nữa, cao điểm 1875 còn là một điểm chiến lược quan trọng, nằm ở tầng cao nhất của núi Khoan La San. Nhờ điểm cao này nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam đến 120 mét, năm 1979 bộ đội Việt Cộng, với quân số ít hơn nhiều, đã cầm chân được các đơn vị chinh phạt của Trung Cộng, âm mưu vượt qua cao điểm 1850, tiến xuống Mường Tè để từ đó theo đường lộ và Hắc Giang tiến xuống Lai Châu, rồi dùng Lai Châu làm đài quan sát theo dõi các hoạt động quân sự của VC trong vùng bình-nguyên sông Hồng. Chiếm được cao điểm 1850, coi như kiểm soát được một vùng bình nguyên rộng lớn bên dưới, nên từ lâu Trung Cộng đã tìm cách lấn chiếm điểm chiến lược này bằng mọi cách, kể cả bằng hiệp ước biên giới. Về phía VC, bỏ cao điểm 1850, gần như VC bỏ ngỏ Lai Châu.
Tương tự, qua hiệp Ước biên giới nêu trên, Việt Nam mất thêm các cao điểm 2002 (phía đông giới điểm số 3), 2539 (phía đông giới điểm số 5), 1732 (phía đông giới điểm số 9), 1718 (phía đông giới điểm số 18), 1282 (phía đông giới điểm số 53), 1150 và 1082 (phía đông giới điểm số 56), ngọn đồi chiến lược 245 ở phía đông giới điểm số 45, là nơi kiểm soát sông Kỳ Cùng, nơi Thoát Hoan và Trịnh Bằng Phi đã dẫn quân Mông cổ tiến đánh Việt Nam năm 1287, và lộ quân số 2 của Trung Cộng đã tràn sang biên giới năm 1979. Bên cạnh đó, các điểm phòng thủ của các ải Nội Bàng, Chi Lăng, Khả Lợi và Nam Quan ngày nay đều thuộc về Trung Cộng. Tất cả phên giậu bảo vệ Hà Nội đều đã bị Trung Cộng dùng hiệp ước biên giới lột sạch, thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam nằm trên đường tiến quân của Bắc triều, khả năng truy cản bằng bộ binh đã bị hoá giải. Còn thủy binh?
Về bản hiệp Ước dâng biển
Lực lượng hải quân phòng thủ vịnh Bắc Việt và duyên hải Bắc phần sẽ bị khống chế toàn phần khi bản Hiệp Ước hải phận ký với Trung Cộng được ban hành, và theo đó, đảo chiến lược Bạch Long Vỹ bị uy hiếp, các đảo ở phía nam Móng Cái bị kiểm soát. Nếu bản Hiệp Ước dâng biển với những điều kiện hiện tại bị Quốc Hội phê chuẩn theo lệnh Đảng, đất nước Việt Nam còn bị tước đoạt 80% tài nguyên trên thềm lục địa và trong lòng biển, môi sinh bị tàn hại và ngay cả việc giao thông bằng đường biển giữa hai miền Nam Bắc cũng gặp trở ngại khi xảy ra tình trạng căng thẳng giữa hai nước. Chưa hết, với quy ước quốc tế về hải phận, Trung Cộng chỉ cần chiếm đây đó ngoài biển Đông vài mô đá nổi, dăm rặng san hô, đôi ba cồn cát. Chỉ cần vậy thôi, rồi từ các điểm nhỏ hầu như vô giá trị ấy, họ sẽ vẽ thành những vòng chu vi rộng lớn theo quy ước biển và thềm lục địa. Nối các vòng ấy lại, về kinh tế và tài nguyên thiên nhiên Bắc Kinh sẽ làm chủ một vùng nước và đáy biển khổng lồ. Vài mươi năm trước đây, nhân loại chưa biết cách khai thác lòng biển và đáy biển; nhưng với phương tiện cơ giới ngày nay, đó là phần gia tài quý báu và gần như là vô tận mà hoá công tồn trữ cho nhân loại. dân tộc Việt tiếp tục mất đơn mất kép!
Phản ứng của người Việt
Phản ứng của người Việt ở quốc nội tương đối khá mạnh trước hành vi bán nước của tập đoàn Việt gian cộng sản, vốn xưa nay vẫn tự nhận là vì nước vì dân, rồi sát-hại hàng loạt chiến-sĩ quốc-gia từ ngày lập đảng, trơ-tráo ghim lên tử-thi nạn-nhân bản án "mại quốc cầu vinh." Tại quốc nội, dù nhà nước cố-gắng bưng-bít, tin-tức vẫn lọt ra ngoài và lan-truyền hạn chế, nhưng cũng đủ làm dấy lên làn sóng phản-đối, nhất là trong hàng ngũ Dân-chủ, gồm trí thức, cán bộ, phế-binh, GPMN, bộ đội, công-an hưu-trí, ly-khai hay bị khai-trừ khỏi Đảng. Họ đã gửi hàng loạt kiến-nghị cho trung ương đảng, Nhà nước, Quốc Hội và lưu-hành trong công-chúng. Mặc dù trong thực-tế, ba cơ-chế vừa nói chỉ là một, do đảng CSVN điều-hành, sự phản kháng của đồng bào trong nước vẫn giúp gióng lên tiếng nói - dù yếu ớt - của người dân, bày-tỏ sự đau lòng và căm-phẫn trước những phần đất đai và biển cả bị hiến-dâng, phên giậu biên-thuỳ bị tháo-gỡ.
Tại miền Nam, đồng bào và các thành phần cựu quân nhân, công chức, cán bộ trong guồng máy VNCH ngày trước không có Phản ứng tích-cực qua các hình-thức "thỉnh-nguyện", vì không tin-tưởng vào sự lắng nghe của nhà cầm quyền. Họ âm-thầm đau-xót, nỗi đau-xót của những kẻ mất nhà, bó tay ngồi nhìn bọn cướp tháo-gỡ rui mè làm củi chụm, và mang gạch ngói, cột kèo đi bán.
Tại hải ngoại, các đoàn thể và tổ chức cộng đồng đã lên tiếng.
Các nhà nghiên cứu trong cộng đồng tị nạn ở hải ngoại làm việc chăm chỉ trong các văn khố và thư-viện quốcgia các nước có liên-quan lịch sử với Việt Nam, sưu-tầm từ mảnh dư-đồ vụn-vặt của một bản làng biên giới cho tới những công-ước qui-mô, được thảo-luận, tu-chính, sửa-đổi nhiều lần từ hàng thế-kỷ trước. Họ lật lên từng viên gạch lịch sử, từng phiến đá của quá-khứ, từ trụ đồng Giao-chỉ, bài thơ đi sứ, bia đá Thanh triều đến những hình-ảnh trên báo-chí quốc-tế, để có thêm chứng-tích. Ít nhất đã có hàng chục cuốn sách và hàng trăm bài báo nghiên cứu viết địa-giới và hải-giới, về ải Nam Quan, về Hoàng-sa, Trường-sa, về vịnh Bắc Việt.
Các văn nghệ sĩ sáng tác và sưu tập những tác phẩm yêu nước để truyền tụng trong dân gian. Những đĩa nhạc, băng nhạc với đề-tài Trả ta sông núi, Nam quốc sơn-hà,.. đã ra đời; hàng chục ca-khúc, thi-phẩm, hoạ-phẩm đã lưu-hành trong quần-chúng.
Các tổ chức cộng đồng đã lên tiếng, biểu tình, báo động, phản kháng. Lời thơ Lý Thường Kiệt vang vang. Tinh-thần Hội-nghị Diên-hồng sống dậy. Hịch tướng-sĩ, cáo bình Ngô rền khắp. Những người nặng lòng với cố-quốc dù đang xông-xáo trước các cuộc biểu-dương hay ngồi nhà theo dõi, nghe-ngóng tin tức hay đều cảm thấy nặng lòng với đất đai, trời biển cũ.
Dĩ-nhiên, trừ một vài người, thường là thành phần trí thức, tuy không minh danh đứng về phía đối-phương, nhưng luôn luôn tìm cách kiềm hãm bước tiến của lịch sử và tưới tắt những ngọn lửa nhiệt-thành của công chúng. Họ dùng công pháp quốc tế làm vật liệu để đắp mô; dùng hiến pháp, luật pháp các nước làm dây thép gai phòng ngự, và dùng những lời chế giễu cay độc để mong làm suy giảm niềm tin của đồng bào. Nhưng những Vũ Ngọc Nhạ đương thời ấy đã lộ diện đó đây. Xảo luận chính trị của họ phản chiếu những nhược điểm và nỗi lo sợ của đảng và nhà cầm quyền trong nước. Từ đó, chúng ta có thêm yếu tố để thử lại bài toán, giúp cho kế hoạch hành động thêm hoàn hảo.
Tai-hại của Hiệp Ước cắt đất
Một số đồng bào thắc mắc: VC cắt đất dâng biển cho Trung Cộng là chuyện thường tình. Trung Cộng đã hao tổn quá nhiều nhân lực và tài lực giúp đảng CSVN đánh chiếm trọn miền Nam, nay Hà Nội có dâng đôi ba nghìn cây số vuông đất, tính theo thời giá địa ốc, để trả nợ chiến tranh cho Bắc Kinh, cũng hãy còn quá rẻ trong một vụ đổi chác, sao người Việt lại Phản ứng dữ dội vậy? Chúng hãy nhìn lại toàn bộ vấn đề. Ngoài việc không ai được quyền bán cơ nghiệp máu xương của tổ tiên để lại, trên đây chúng ta đã thấy CSVN nhượng cho Trung Cộng những điểm chiến lược hiện nằm trong vị trí đóng quân của nhiều đại đơn vị bộ đội. Đó là hành động tháo giỡ hàng rào, triệt hạ các cứ điểm phòng thủ. hành động này giống như trao cho gã láng diềng bất hảo chiếc chìa khoá nhà mình. Từ nay về sau, thuỷ và bộ-binh Trung Cộng muốn tiến xuống đồng bằng miền Bắc, sẽ không còn vướng một chốt truy cản nào, Bắc quân thong thả trải binh, không sợ bị thiệt-hại thê thảm như năm 1979.
Có người lại hỏi, Trung Cộng ngày nay không thiếu những vũ khí chiến lược, kể cả hoả tiễn mang vi trùng, phi đạn hoá-học hay bom nguyên tử, có cần gì phải tháo những chốt biên giới?
Nên nhớ, cuộc chiến do Bắc triều chủ trương là cuộc chiến tranh chiếm dụng, không phải chiến tranh tàn sát và phá hoại để trả thù hay tiêu diệt. Ý đồ của Trung Cộng là chiếm đất, chiếm người, để khai thác và sử dụng, làm bàn đạp để tiếp tục bành trướng, như họ liên tục mở rộng đất đai từ 1950 đến nay, từ Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, Hoàng Sa, Trường Sa đến tận Kashmir, A Phú Hãn. Bắc Kinh không bao giờ muốn làm chủ một nước Việt chỉ còn là bãi hoang điêu tàn với hàng triệu xác chết. Bắn vài chục phi đạn sinh hoá hay nguyên tử vào Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, quá dễ, nhưng sau đó làm sao tiến quân? Chính vì thế, Trung Cộng vẫn phải chọn hình thức chiến tranh quy ước và vũ khí cổ điển. Hơn thế nữa, họ không cần phải đổ bộ. Một khi VN không còn tiền đồn biên giới tại các yếu điểm, Bắc Kinh chỉ cần tạo áp lực quân sự ở biên giới, Hà Nội sẽ lúng túng, ngạt thở phải nhượng bộ ngay.
Ngoài các cao điểm chiến lược vùng biên, Trung Cộng còn khoá chặt các vùng biển, qua lợi thế do hiệp ứớc lãnh hải mà VC đã ký. CSVN sẽ bị cô-lập hoàn toàn, như một con cá nằm trong một chiếc chậu rỉ nước, sống hay chết là do thái độ "hợp tác" với chủ nhân ông Bắc Kinh.
Đảng và nhà nước CSVN không ngu dốt đến độ không nhìn thấy điều đó; nhưng đảng VC, từ trung ương cho đến cán bộ tỉnh và thành đều đang trong chân ngoài, lo chuồn tiền cho thân nhân ở ngoại quốc, chuẩn bị ra đi, một khi làn sóng dân chủ dấy lên quá mạnh. Vấn đề cấp thiết của họ hiện tại không phải là giằng co từng thước đất, dặm biển với Trung Cộng, mà là làm sao vét cho thật nhiều, thật nhanh. Họ không có nghĩa vụ chống đỡ cho căn nhà chung sắp sập; điều họ quan tâm là vơ lấy vật nào quý nhất và làm sao để chạy ra cho kịp!
Hiểm hoạ Bắc xâm do việc nhượng các điểm chiến lược ở biên giới và hải phận gây ra, tám mươi triệu dân lành Việt Nam đồng gánh chịu. Họ không biết chạy đi đâu, và cũng không có đường để chạy. Họ ở lại quê cha đất tổ, tiếp tục làm lụng để cung phụng các cơ quan quyền lực. Nếu có cơ may vùng lên để thay đổi chế độ họ sẽ phải thay cái tròng Cộng Sản bằng cái tròng thực dân phương Bắc, tròng nào cũng chật như nhau.
Chúng ta đã làm gì?
Những tiếng kêu đau thương có thể không giúp cho người Việt đòi lại được phần đất đai đã mất dần từ hai ngàn năm nay, hay ngay cả phần đất trước quan ải mới mất thêm sau này; nhưng nó là tiếng khóc của hồn thiêng sông núi, có giá trị lương tri của một dân tộc, của những con người. Nó thật khác biệt với khúc Hậu Đình Hoa tân thời vọng ra từ những vũ trường hay phòng giấy nào đó ở hải ngoại.
Nam Quan do Trung Hoa dựng lên ngay tại điểm biên giới Hoa-Việt, và Nam Quan là tên do Trung Hoa đặt ra, đó là thực tế. Người Việt "hận Nam Quan", hay cất lên "tiếng khóc Nam Quan" không có nghĩa là đi khóc một cái đồn của Trung Hoa, mà "hận" vì Bắc triều đã dời Nam Quan sâu vào nội địa Việt Nam, và "khóc" vì cầm quyền đương thời cấu kết với giặc. Mối hận Nam Quan trở thành một thuật ngữ mô tả hiện trạng CSVN cắt đất dâng cho ngoại bang, và hình ảnh Nam Quan, hay cửa Hữu Nghị, trở thành biểu tượng cho tội ác đó. Chúng ta đã có một cái nhìn chung: Việc CSVN cắt đất dâng biển cho ngoại-bang là một tai biến của lịch sử dân tộc.
"Tai" và "biến". "Tai" đã xảy ra, "biến" phải tới. Vấn đề là tới cách nào và bao giờ?
Người Á Đông chúng ta tin rằng lòng dân là ý trời. Lòng dân có thuận cho đảng độc tôn đương quyền CSVN cắt đất, dâng biển cho ngoại-bang không? Đương nhiên là không. Không một dân tộc nào cho phép bất cứ một loại chính quyền nào cắt đất dâng biển cho ngoại bang. CSVN đang làm chuyện đó. Vấn đề của ta là làm sao cho 80 triệu người Việt trong nước và hơn 3 triệu người Việt sinh sống ở hải ngoại tỏ tường điều đó. Hãy nói về Vấn đề thông tin.
Chúng ta có thể đã phản kháng, với Liên Hiệp Quốc, với Hoa Lục và với CSVN. Có thể chúng ta đã bày tỏ sự phản kháng của chúng ta với chính quyền, Quốc Hội các nước và với các tổ chức phi chính phủ. Nhưng, có thể coi là chúng ta chưa làm gì cả, nếu con, cháu trong nhà chúng ta chưa biết gì về chuyện VC dâng đất, cắt biển. Thử chặn một em học sinh, sinh viên Việt Nam ở ngoài đường, hỏi em biết gì về việc Việt Cộng dâng đất cho Trung Cộng. Nếu em ngơ ngác không biết gì cả, là chúng ta đang thua và sẽ tiếp tục thua. Chúng ta đã không làm tròn bổn phận thông tin của mình, trong chính gia đình mình và ngay trên phần đất tự do này, nơi mà việc thông tin không hề bị ngăn cản.
Nếu quý bạn chưa thông tin, thì ngay trong chiều hôm nay, trong bữa cơm gia đình, hãy bảo cho con cháu, em út biết. Ít nhất, các em và các cháu được quyền biết, được quyền nhận thông tin, về phần đất có liên hệ tinh thần với một dân tộc có cùng sắc tóc, màu da với các em, các cháu.
Nếu các cháu đã biết, hoặc sắp sửa được cho biết, thì các bạn của các cháu, nhất là những bạn Việt Nam trong trường, trong sở của các cháu đã biết chưa? Nếu chưa, hãy nhờ các cháu chuyển tin cho các bạn cháu, bằng những tài liệu phổ biến trên sách báo và internet (trang nhà
www.hannamquan.com chẳng hạn). Đó là việc thông tin mà trong chúng ta bất cứ người nào cũng làm được, trong gia đình, trong sở làm, trong chùa, nhà thờ hay các đoàn thể tương tế, xã hội.
Và cần làm gì thêm?
Đây không phải là một câu hỏi nhỏ.
Một triệu đồng bào miền Bắc di cư năm 1954 đều biết là VC tàn ác, chủ nghĩa Cộng Sản vô dụng và tai hại, vậy mà đã làm được gì? Cùng là người Việt với nhau, thông hiểu nhau qua ngôn ngữ, mà một triệu sứ giả miền Bắc không truyền nổi thông điệp di cư cho dân chúng miền Nam, liệu chúng ta có làm được công việc truyền thông điệp của 2 triệu người Việt tị nạn ở hải ngoại cho nhân loại, khi chúng ta phải đợi qua thế hệ thứ hai mới nói thạo tiếng của xứ người?
Và ngay cả việc bảo nhau, chúng ta đã làm được bao nhiêu? Hàng năm, người Việt tị nạn đổ về nước 3 tỉ đô la, gián tiếp giúp nhà cầm quyền củng cố chế độ, dập tắt phong trào dân chủ, chúng ta đã bảo nhau chưa? Cứ mỗi độ Xuân về, hàng trăm ngàn thuyền nhân tị nạn hay thân nhân giung giăng về quê ăn Tết và du hí. Nhân loại nhìn những người "tị nạn chính trị" chúng ta như thế nào? Và trong hàng trăm ngàn người áo gấm ấy, có bao nhiêu người nhìn thấu qua lớp màn phồn vinh thành thị để hiểu nỗi cơ cực của đại đa số dân chúng ở các vùng quê, và ngay cả trên vỉa hè, dưới gầm cầu đô thị? Bao nhiêu gia đình quân nhân tiếp-tục mua xem băng phim và dự nhạc hội của những người từng miệt thị quân đội miền Nam? Ở đây, nhiều người trong chúng ta hầu như có tất cả, chỉ thiếu mỗi một điều: Hoặc là trí nhớ, hoặc là liêm sỉ. Vấn đề gây ý thức trong quần chúng là một nhu-cầu. Hãy bảo nhau. Bằng cách này hay cách khác. Bằng khuyên nhủ. Bằng chứng minh. Bằng hành động, mẫu mực. Bằng cách thay thế. Và, tốt hơn hết bằng cách giao việc. Đối với các anh chị em có chuyện cần kíp phải về nước (cha già mẹ yếu, dựng vợ gả chồng,..) hãy đảm nhận lấy một công tác nhỏ, dễ làm, và phần lớn, không gây trở ngại về mặt an ninh. Ý thức sẽ đến qua công việc. Tôi xin phép không đi sâu vào chi tiết này trong một bài báo.
Tiếp theo việc gây ý thức, là kết hợp. Quả thật, chúng ta có đầy đủ những điều kiện cần thiết để nuôi dưỡng và tiến hành một phong trào rộng lớn nhằm vận động dân chủ cho đồng bào cơ cực ở bên nhà, nếu chúng ta biết kết hợp.
Về tài lực, Hà Nội đã nghiên cứu và làm toán giùm chúng ta: Người Việt ở hải ngoại làm ra 17 tỉ Mỹ Kim một năm. VC than phiền là đồng bào chỉ giúp nhà nước khoảng 1,7 tỉ, tức 10% lợi tức. Nếu vận động được 1/1000 của con số 10% ấy, chúng ta đã có một món tiền (1,7 triệu) đủ để giúp đẩy mạnh ngọn triều dân chủ trong nước. Chúng ta đã có cơ hội tập hợp tài lực quần chúng vào đầu thập niên 80. Tiếc là sự tập hợp ấy đã bị gián đoạn. Ở đây chúng ta có gần 100.000 cựu quân nhân, trong đó có gần 8000 sĩ quan, thuộc thành phần trí thức, có khả năng hoạt động chiến tranh chính trị. Nếu liên kết được 10% của số này, chúng ta có một lực lượng đáng kể, nằm rải rác trên khắp năm châu, hiện diện trong các đoàn thể xã hội, cộng đồng như những nhân tố cách mạng. Một số chiến binh đang làm công việc kết hợp này, và sự hình thành sẽ do kết quả Đại Hội Toàn Quân 19 tháng 6 năm tới, 2003. Ở đây chúng ta có gần nửa triệu thanh niên sinh viên học sinh. Đây là thành phần rường cột của xã hội tại xứ. Nếu vận động được 1% thành phần nhân sự này, chúng ta đã có một số tài nguyên nhân sự tạm đủ để hỗ trợ, học việc và thay thế khối cựu chiến binh sau này. Sự lớn dậy của các tổ chức trẻ như Mạng Lưới Tuổi Trẻ Lên Đường, Phong Trào Thanh Niên Việt Nam Tự Do, các tổng hội sinh viên VN,.. cho phép chúng ta đặt kỳ vọng vào tuổi trẻ. Vấn đề sống còn của mọi nỗ lực cách mạng, là kết hợp - kết hợp hàng ngang - kết hợp hàng dọc - kết hợp giai đoạn, trong những công tác đoản kỳ, hay kết hợp lâu dài, vẫn là kết hợp. kết hợp vì nhu cầu. kết hợp vì việc nghĩa. kết hợp nhân lực. kết hợp trí lực. kết hợp tài lực, vật lực. Khiêng một cái bàn, chúng ta đã cần sự kết hợp. Để giải thể một chế độ có thế lực, chúng ta càng cần kết hợp, và là một kết hợp rộng lớn hơn nhiều. Hãy kết hợp, làm việc tập thể, khoan phân định ai trên ai dưới, ai trước ai sau. Hãy "ai cũng như ai", và phân chia công tác theo khả năng và nhu-cầu. Hãy kết hợp vì công việc, và từ công việc chung lâu ngày nảy ra sự kết hợp tình-cảm, và dần-dà tiến tới kết hợp tổ chức. Tình huynh đệ nảy sinh, và đó sẽ là một trật tự lâu bền.
Gây ý thức và kết hợp xong, là giai đoạn hành động. Chúng ta không loại trừ bất cứ một giải pháp nào khả dĩ góp phần giải thể chế độ Cộng Sản. Phần này, tôi xin trình bày trong một bài khác.
Nam Quan hay Tử Môn Quan
Trong lịch sử dân tộc, Bắc quân đã nhiều lần kéo quân qua Nam Quan, và cũng đã rất nhiều lần kéo xác đồng đội, thu tàn quân về nước qua ngả Nam Quan. Sơn lĩnh độc đạo đi qua vùng đất hẹp hiểm trở ấy đã trở thành đường chết. Cửa ải hung hiểm ấy đã trở thành cửa chết. Các trang sử của Bắc triều từ Hán, Tây Hán, Đông Hán, Đông Ngô, Tấn, Đông Tấn, tiền Tống, Lương, Tuỳ, Đường, Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh đến nhà Thanh, trong những đoạn ghi về chuyện Giao Chỉ, An Nam đều lưu dấu máu. Đường hoà hiếu xuống Nam là đường sống; đường xâm lăng xuống Nam là đường chết.
Chế độ tham ô và tàn bạo CSVN, với tội ác vét bán tài nguyên đất nước, tàn phá môi sinh, cướp đoạt tài sản dân chúng, phá hoại nhân phẩm, chà đạp nhân quyền và bây giờ, qua hành động cắt đất dâng biển cho ngoại-bang, đã đến ngày tận diệt. Hãy biến nỗi bi thương đất nước thành cơn cuồng-nộ, kết hợp sức mạnh đồng bào ở trong và ngoài nước thành cơn bão lớn, biến Nam Quan thành Tử Môn Quan, đối với quân xâm lăng của Bắc triều và chế độ Cộng Sản tay sai.
---------------------------
(1) Các dữ kiện trên đây căn cứ vào tài liệu do TS Trương Nhân Tuấn ở Pháp, sưu tầm và công bố ngày 14.9.2002
Bookmarks