Share/Bookmark
Hồ Chí Minh tên thật Nguyễn Tất Thành, có đến 3 ngày sanh, không biết ngày nào đúng chính xác 24/01/1892, 19/05/1890, 15/02/1895.

Ngày 05/06/1911 Hồ Chí Minh xuống tàu L’Amiral Latouche Treville đi Pháp kiếm sống với tên là Ba

Năm 1919 Hồ Chí Minh tham gia gia đảng Xã Hội Pháp

Từ ngày 25 đến 30/12/1920 Hồ Chí Minh tham dự đại hội lần thứ 18 của đảng Xã Hội Pháp tại thành phố Tours

Ngày 13/06/1923 Hồ Chí Minh bí mật rời Paris sang Đức. Tại đây, Hồ Chí Minh đã được sứ quan Liên Xô cấp giấy thông hành đi Liên Xô dưới bí danh Chén Vàng, sinh ngày 15/02/1895 tại Đông Dương

Ngày 30/06/1923 Hồ Chí Minh tham dự Hội Nghị Lần Thứ Nhất Quốc Tế Nông Dân tại Mạc Tư Khoa

Từ 17/06 đến 08/07/1924 Hồ Chí Minh tham dự đại hội lần thứ 5 Quốc Tế Cộng Sản tại Mạc Tư Khoa

Khoảng giữa tháng 11/1924 Hồ Chí Minh lúc đó có tên là Lý Thụy, đáp tàu thủy từ Vladivostok (Liên Xô) đến Qua>ng Châu (Trung Hoa) với tư cách là 1 thư ký kiêm thông ngôn cho phái đoàn cố vấn Borodin (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh Quốc Cộng lần thứ nhất ở Trung Hoa

Do biến cố này mà sự nghiệp chính trị của Hồ Chí Minh trở thành gắn bó với Việt Nam và có liên hệ với nhà chí sĩ Phan Bội Châu tại Quảng Châu Trung Cộng

Tháng 06/1925 Hồ Chí Minh thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Minh Hội ở Quảng Châu (Trung Cộng)

Ngày 30/06/1925 Hồ Chí Minh bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp

Ngày 18/10/1926 Hồ Chí Minh đã chính thức lập gia đình với bà Tăng Tuyết Minh, đảng viên đảng cộng sản Trung Hoa, làm nghề nữ hộ sinh, và tổ chức tiệc cưới tại nhà hàng Thái Bình là nơi Chu Ân Lai cũng đã tổ chức tiệc cưới của mình

Tháng 04/1927 Hồ Chí Minh từ Quảng Châu đến Hồng Kông, qua Thượng Hải rồi trở về Liên Xô

Đầu năm 1928 Hồ Chí Minh được Liên Xô cử sang Đức tham gia việc thành lập Liên Đoàn Chống Chủ Nghĩa Đế Quốc tại Bá Linh. Sau đó theo lệnh của Cộng Sản Liên Xô Hồ Chí Minh đi hoạt động tại các nước Thụy Sĩ, Ý, Sri Lanca rồi về Pháp

Mùa Thu năm 1928 Cộng Sản Liên Xô cử Hồ Chí Minh sang Thái Lan hoạt động cho đến cuối năm 1929

Cuối năm 1929 Hồ Chí Minh trở về Trung Quốc chuẩn bị cho hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng Sản tại Việt Nam

Vụ xét xử số 115 ngày 10/10/1929 toà án Nam Triều họp tại Vinh (Việt Nam) kết án tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc. Cũng trong phiên toà này còn có những bản án tử hình Trần Phú, Lê Duy Điềm, Hồ Tùng Mậu, Thái Văn Anh, Vương Thục Oanh, và Ngô Thiêm

Ngày 03/02/1920 Hồ Chí Minh căn cứ vào chỉ thị của Cộng Sản Quốc Tế, trong bức thư ngày 27/10/1929 gởi các nhóm Cộng Sản tại Đông Dương, tại Hồng Kông, tổ chức một hội nghị để hợp nhất các đảng Cộng Sản tại Việt Nam lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tháng 10/1930 đổi tên Đảng Cộng Sản Việt Nam thành Đảng Cộng Sản Đông Dương

Trong thời gian từ năm 1930-1935 Hồ Chí Minh đã sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị Minh Khai

Ngày 06/06/1931 Hồ Chí Minh với bí danh Tống Văn Sơ bị quân Anh bắt tại Hồng Kông. Nhờ Luật Sư Loseby, tháng 02/1933 toà án tối cao của Anh tuyên bố trả tự do cho Hồ Chí Minh. Trên đường đi Anh Quốc, Hồ Chí Minh lại bị bắt tại Tân Gia Ba rồi giải về Hồng Kông. Một lần nữa, nhờ Luật Sư Loseby, Hồ Chí Minh bí mật ra khỏi Trung Cộng.

Ngày 27/03/1935 Hồ Chí Minh tham dự Đại Hội Lần Thứ Nhất Đảng Cộng Sản Đông Dương được tổ chức tại Ma Cao (tô giới của Bồ Đào Nha trên lãnh thổ Trung Cộng)

Ngày 25/07/1935 Hồ Chí Minh với bí danh là "Lin" và Nguyễn Thị Minh Khai với bí danh là "Phan Lan" đang hoạt động tại Liên Xô, tham dự Đại Hội 7 Quốc Tế Cộng Sản. Đại hội này đã công nhận Cộng Sản Đông Dương là một chi bộ chính thức của Quốc Tế Cộng Sản. Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh là tay sai cho Quốc Tế Cộng Sản.

Cuối năm 1938 từ Liên Xô, Hồ Chí Minh qua Trung Cộng và hoạt động ở Tây An và Diên An. Sau đó Hồ Chí Minh theo một đơn vị Bát Lộ Quân đến Quế Lâm liên lạc về trong nước

Đầu năm 1940 Hồ Chí Minh (với các bí danh Hồ Quang, Trần Vượng) đến Côn Minh gặp Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp từ Việt Nam sang.

Ngày 28/01/1941 Hồ Chí Minh trú ẩn tại Pắc Pó, Cao Bằng Việt Nam (hang Pắc Pó đã bị Trung Cộng san bằng sau chiến tranh biên giới 1978-1979)

Ngày 13/08/1942 Nguyễn Sinh Cung chính thức lấy tên là Hồ Chí Minh, từ Cao Bằng đi sang Trung Quốc

Ngày 29/08/1942 Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ tại Tục Vinh. Ngày 13/09/1943 Hồ Chí Minh được thả ra

Từ ngày 16/03 đến ngày 18/03/1944 Hồ Chí Minh hoạt động tại Liêu Châu, Trung Cộng

Tháng 09/1944 Hồ Chí Minh có mặt tại biên giới Trung - Việt lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam. Hồ Chí Minh về tới Pắc Pó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944. Trong số 18 cán bộ theo Hồ Chí Minh về nước lần này có Đỗ Thị Lạc tức "chị Thuận"

Lý lịch của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng. Chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liêu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin.

Khi về hang Pắc Pó, Đỗ Thị Lạc sống chung với Hồ Chí Minh một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Pó . Sử gia Trần Trọng Kim, trong cuốn sách "Một Cơn Gió Bụi" (http://tvvn.org/forum/showwiki.php?t...r_n_Tra_ng_Kim) đã cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh.

Ngày 22/12/1944 Hồ Chí Minh chỉ thị cho Võ Nguyên Giáp thành lập quân đội Cộng Sản

Ngày 16/08/1945, Hồ Chí Minh lập Chính Phủ Lâm Thời với 1 ủy ban thường trực (gồm 5 người là Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền) và chỉ thị cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim

Ngày 19/08/1945, Đảng Cộng Sản cướp chính quyền tại Hà Nội

Ngày 25/08/1945, Hồ Chí Minh gọi điện thoại ép buộc vua Bảo Đại phải “bản dụ chính thức thoái vị và sẽ cử đại biểu vào nhận lễ thoái vị”

Ngày 30/08/1945, vua Bảo Đại phải đọc chiếu thoái vị

Ngày 02/09/1945, Hồ Chí Minh tự xưng là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Ngày 11/11/1945, đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán

Ngày 19/11/1945, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Viet Nam Quốc Dân Đảng, Viet Nam Độc Lập Đồng Minh Hội ký bản cam kết những nguyên tắc tối cao của việc hợp tác.

Ngày 23/12/1945, các đại biểu ký văn bản về “Hợp Tác Biện Pháp” gồm 14 điều chính, và 4 điều phụ với các điểm chính: 1/ Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết …2/ Các bên phải ủng hộ cuộc tổng tuyển cử Quốc Hội & kháng chiến …3/ Các bên không công kích nhau …

Ngày 24/12/1945, các đại biểu lại ký 1 văn bản mới với tiêu đề “Đoàn Kết” gồm 3 điều đuợc cô đọng lại đưa trên cơ sở nội dung của văn bản về “Hợp Tác Biện Pháp” ký ngày 23/12/1945

Ngày 25/02/1945 Hội Nghị liên tịch giữa: Việt Minh; Viêt Nam Dân Chủ Đảng; Việt Nam Quốc Dân Đảng; Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Hội nghị quyết nghị thành văn bản 3 vấn đề: 1/ Thành lập chính phủ liên hiệp kháng chiến …2/Thành lập ủy viên kháng chiến hội …3/ Thành lập quốc gia cố vấn đoàn

Ngày 29/05/1946 thành lập Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam (gọi tắt là Liên-Việt), mục đích của hội là đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước, và các đồng bào yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp tôn giáo xu hướng chính trị, chủng tộc với mục đích làm cho nước Việt Nam được độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường

Mặt trận Việt Minh cũng trở thành một thành viên của hội Liên-Việt. Hội đã đề ra chương trình của hội gồm 7 mục: Chính trị, nội chính, ngoại giao, quân sự, kinh tế, xã hội & văn hóa. Sau đó Hồ Chí Minh tìm cách sát hại & tiêu diệt tất cả các đảng phái khác

Ngày 06/03/1946 Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ với Pháp (Accords Preliminaires). Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (Etat Libre) tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp

Hội Nghị Fontainebleau (06/07/1946 - 12/08/1946) thất bại; Tuy nhiên, đêm 14/09/1946, Hồ Chí Minh đích thân tới tư thất của Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet, và ký thỏa ước tạm thời (Modus Vivendi)

Tháng 02/1949 Hồ Chí Minh ra sắc lệnh tịch thu các đồn điền

Ngày 22/05/1950 Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 88/SL quy định thể lệ định canh ruộng đất và Sắc Lệnh số 89/SL qui định việc giảm lãi, xóa nợ, hoàn nợ

Ngày 12/04/1953 Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 149/SL về chính sách ruộng đất quy định việc thành lập Tòa Án Nhân Dân đặc biệt ở những nơi tiến hành phát động quần chúng thi hành chính sách Ruộng Đất.

Ngày 20/07/1954 Hồ Chí Minh chủ trương ký kết Hiệp Định với Pháp tại Geneve chia đôi đất nước Việt Nam: Miền Bắc theo Chủ Nghĩa Cộng Sản; miền Nam theo chính thể Cộng Hòa Tự Do

Hiệp định đình chiến tại Việt Nam ký tại Geneve ngày 20/07/1954 do Tạ Quang Bữu đại diện cho chính phủ Cộng Sản và tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương Thiếu Tướng Henri Deltiel

Ngày 27/06/1955 Hồ Chí Minh tổ chức đợt Cải Cách Ruộng Đất lần thứ 4 và kết thúc ngày 03/12/55

Ngày 04/12/1955 Hồ Chí Minh tổ chức đợt Cải Cách Ruộng Đất lần thứ 5 và kết thúc vào ngày 18/08/56

Năm 1955 Hồ Chí Minh khoảng 65 tuổi, sống với một cô gái 20 tuổi, sắc tộc Nùng tên Nông Thị Xuân. Qua năm 1956 cô Xuân sanh được 1 bé trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Một buổi sáng mùa Xuân năm 1957, người ta thấy xác của cô Xuân bị xe tông chết ở đường Cổ Ngư, Hà Nội.

Ngày 18/08/1956 Hồ Chí Minh tuyên bố "Cải Cách Ruộng Đất" tại miền Bắc đã thắng lợi. Trong chiến dịch này, hàng triệu người đã bị đấu tố, hàng trăm ngàn người bị giết oan. Hồ Chí Minh phải đẩy Võ Nguyên Giáp ra "xin lỗi" dân chúng miền Bắc. Thống kê chính thức của nhà nước Cộng Sản Viêt Nam được đăng trong cuốn "Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam" tập 2 cho biết là đã có 172,008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông. Họ là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị "đào tận gốc, trốc tận rễ" nghĩa là không bị bắn tại chổ thì cũng bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam. Vụ cải cách ruộng đất của đảng Cộng Sản Việt Nam do HCM lãnh đạo vào năm 1949-1956 tại miền Bắc đầy máu và nước mắt.

Hồ Chí Minh đã có ý thực hiện cuộc Cải Cách Ruộng Đất (1949-1956) rập khuôn theo Đảng Cộng Sản Tàu. Đây là một chiến lược có tổ chức hẳn hòi và có mục đích rõ ràng.

Ngày 19/05/1959 Hồ Chí Minh ra chỉ thị xây đường mòn Hồ Chí Minh mà phần chính xuyên qua răng núi Trường Sơn, chuẩn bị chuyển quân và vũ khí xâm chiếm miền Nam.

Ngày 30/01/1968 Hồ Chí Minh ra lệnh cho quân đội Cộng Sản bắt đầu cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân vào tất cả các thành phố lớn tại miền Nam Việt Nam; quân đội Cộng Sản đã giết hại và chôn sống hàng ngàn người dân tại cố đô Huế.

Ngày 02/09/1969 Hồ Chí Minh qua đời, nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam đổi ngày chết để tránh bị trùng với Lễ Quốc Khánh 02/09.

Hồ Chí Minh là tác giả các sách (viết dưới nhiều bút hiệu khác nhau):

- Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện, T. Lan
- Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch, viết dưới tên Trần Dân Tiên. Tác giả Kiều Phong đã có bài viết về Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch tại đây: http://tvvn.org/forum/showwiki.php?t...H_-_Ki_u_Phong
- Tập thơ Ngục Trung Nhật Ký (Nhật Ký Trong Tù), 1943. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy không phải là do Hồ Chí Minh sáng tác.

Tên gọi, bí danh, bút danh


Ngoài tên gọi Hồ Chí Minh (dùng từ 1942), và tên Nguyễn Tất Thành (阮必成) do gia đình đặt, trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh còn có nhiều tên gọi và bí danh khác như Paul Tất Thành (1912); Nguyễn Ái Quốc (阮愛國, từ 1919); Văn Ba (khi làm phụ bếp trên tàu biển, 1911); Lý Thụy (李瑞, khi ở Quảng Châu, 1924-), Hồ Quang (1938-40), Vương (Wang) (1925-27, 1940), Tống Văn Sơ (1931-33), Trần (1940) (khi ở Trung Quốc); Chín (khi ở Thái Lan, 1928-30) và được gọi là Thầu (ông cụ) Chín; Lin (khi ở Liên Xô, 1934-38); Chen Vang (trong giấy tờ đi đường từ Pháp sang Liên Xô năm 1923). Khi ở Việt Bắc ông thường dùng bí danh Thu, Thu Sơn và được người dân địa phương gọi là Ông Ké, Già Thu...

Hồ Chí Minh còn dùng hơn 50 bút danh khi viết sách, báo:

Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn, Nguyễn A.Q, Ng A.Q, Ng. Ái Quốc, N.A.Q, N., Wang, N.K., A.N; P.C. Lin, P.C. Line (1938, Trung Quốc), Line (1938, Trung Quốc), Q.T, Q.TH, Lê Quyết Thắng (1948-50), A.G, X.Y.Z (1947-50), G., Lê Nhân, Lê, Lê Ba, Lê Nông, Lê Thanh Long, L.T., T.L. (1955-69), T.Lan (1955-69), Tuyết Lan, Thanh Lan, Đin (1950-53), Tân Trào, Đ.X (trong chuyên mục "Thường Thức Chính Trị" trên báo Cứu Quốc năm 1953), C.B (trên báo Nhân Dân 1951-57), V.K., K.C., C.K., Trần Lực (1948-61), Trần Dân Tiên, C.S, Chiến Sĩ, Chiến Đấu, La Lập, Nói Thật, Thu Giang, K.V., Thu Giang, Trầm Lam, Luật Sư TH. Lam, Nguyễn Kim, K.O, Việt Hồng..v.v.

Sau đây là bảng tóm tắt tạm đầy đủ các tên (gọi) của Hồ Chí Minh

Tên gọi - do gia đình đặt khi còn ở nhà (từ trước năm 1911):

1. Nguyễn Sinh Côn
2. Nguyễn Sinh Cung
3. Cậu Công
4. Nguyễn Tất Thành

Tên gọi - “bút hiệu” trong thời gian Hồ Chí Minh đang “đi tìm đường cứu nước?” (1919 – 1924):

5. Văn Ba
6. Paul Tất Thành
7. Nguyễn Ái Quốc
8. Nguyễn A. Q
9. Chú Nguyễn
10. N. A. Q
11. N
12. A.P
13. Ký Viễn
14. S Chon Vang
15. Cheng Vang
16. Trần Vương
17. Ai Qua Que
18. Nguyễn Hải Khách
19. Lý Thụy

Tên gọi - “Bút hiệu” trong thời gian làm việc cho “Quốc Tế Cộng Sản” đến trước khi về nước (1941):

20. N. A. K
21. Ông Lý
22. L. M. Wang
23. Vichto
24. Paul
25. Nilốpski
26. Ho Wang
27. Trương Nhược Tường
28. Vương Sơn Nhi
29. Vương Đạt Nhân
30. Lonis-Berlin
31. Loa Roi Ta
32. Thọ biệt hiệu là Nam Sơn
33. Chín
34. Thầu Chín
35. Chính
36. Nguyễn Lai
37. Lý Tín Tống
38. Trần
39. Lê
40. Pan
41. Lý Hồng Công
42. Tiết Nguyệt Lâm
43. Howang T.S
44. Wang
45. A.P
46. N.K
47. N. Ái Quốc
48. Nguyễn
49. H
50. T
51. Loa Shing Lan
52. Victo
53. Vector Lebm
54. K.K.V
55. Line
56. LW Vương
57. T.V.Wang
58. V
59. Quac
60. E
61. K
62. Jeng Man Huân
63. Lan
64. Thiếu Tá Hồ Quang
65. Ông Trần
66. Đồng chí Vương
67. P.C.Line
68. Bình Sơn
69. Nguyễn A.Q
70. Ng A.Q
71. Ng. Ái Quốc,
72. N.A.Q
73. N.
74. A.N
75. P.C. Lin
76. P.C. Line
77. Line
78. Đi Đông
79. Tống Văn Sơ

Tên gọi – “bút hiệu” Hồ Chí Minh dùng từ sau năm 1941:

80. Thu
81. Già Thu
82. Thu Sơn
83. Ông Ké
84. C.M Hồ
85. Bác Hồ
86. Bok Hồ
87. Cụ Hồ
88. Bung Hồ (Anh Cả Hồ)
89. Q.T
90. Q.TH
91. Lê Quyết Thắng
92. A.G
93. X.Y.Z
94. G.
95. Lê Nhân
96. Lê
97. Lê Ba
98. Lê Nông
99. Lê Thanh Long
100. L.T.
101. T.L.
102. T.Lan
103. Tuyết Lan
104. Thanh Lan
105. Đin
106. Tân Trào
107. Đ.X
108. C.B
109. V.K.
110. K.C.
111. C.K.
112. Trần Lực
113. C.S
114. Chiến Sĩ
115. Chiến Đấu
116. La Lập
117. Nói Thật
118. Thu Giang
119. K.V.
120.Thu Giang
121. Trầm Lam
122. Luật Sư TH. Lam
123. Nguyễn Kim
124. K.O
125. Việt Hồng
126. Bé Con
127. Xung Phong
128. X.L
129. T.L
130. Một Người An Nam
131. Một Người Bạn
132. Hy Sinh
133. Hồ Chí Minh

(Bảng danh sách này được ghi chép lại theo trang nhà “Đảng Cộng Sản Việt Nam”).

MỘT GÓC KHUẤT TRONG TIỂU SỬ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH


Năm 1993, trong tập Trong Cõi (1) xuất bản tại Hoa Kỳ, Giáo Sư Trần Quốc Vượng (1934-2005), một trong những sử gia nổi tiếng nhất tại Việt Nam, đã công bố ghi chép của mình từ 'Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia!', trong đó phần liên quan đến dòng dõi của Hồ Chí Minh đã gây nhiều dư luận. Theo đó, tiểu sử của Hồ Chí Minh có thêm một phần không được nhắc đến trong sử sách chính thống: Thân sinh ra Hồ Chí Minh vốn là con đẻ nhưng không được thừa nhận của ông cử Hồ Sĩ Tạo, thuộc dòng họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Nghệ An. Ông Hồ, nổi tiếng với tên gọi Nguyễn Ái Quốc trong thời kỳ hoạt động tại nước ngoài, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung (2), tự là Nguyễn Tất Thành, song từ năm 1945 cho đến khi qua đời năm 1969 lại được người Việt Nam và toàn thế giới biết đến với tên là Hồ Chí Minh.

Mới đây, một nhà thơ xứ Nghệ đã nhiệt tình dẫn một cộng tác viên talawas từ Vinh về vùng sơn cước, đến xóm Nghĩa Thái, xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn để tìm gặp ông Hồ Sĩ Sênh (bút hiệu Trường Lam, hội viên Hội Văn nghệ Nghệ An), một người cháu mà theo gia phả họ Hồ, gọi cụ Hồ bằng bác. Khi nghe khách bày tỏ nguyện vọng, ông đến tủ sách, lục đưa cho khách xem bản phô-tô bài bút ký viết tay của ông, nhan đề “Chuyện Ở Sân Sau”, kể về sự thật cuộc đời của ông Hồ Sĩ Tạo, ông Nguyễn Sinh Sắc và hậu duệ. Bài ký này được viết ở Trại Viết Văn của Hội Văn nghệ Nghệ An đầu năm 2007. Ông Trường Lam cho biết, trong buổi tổng kết trại viết, người ta đã đánh giá rất tốt bài ký này, đã đọc bài ký cho các trại viên nghe. Nhưng là chuyện “huý kỵ”, nên không có báo nào trong nước dám in. Ông Trường Lam đã đồng ý cho chúng tôi công bố nguyên văn bài ký trên talawas. Chúng tôi chân thành cảm ơn ông Trường Lam và hân hạnh giới thiệu cùng độc giả.

talawas



***


Mọi điều tưởng như đã vĩnh viễn chìm vào bóng đêm của quá khứ mông lung, huyền ảo, có hồn ma bóng quỷ, có những hình nhân vật vờ, thấp thoáng, bỗng rơi vào quên lãng, lặng im…

Người ta thở dài, tiếc những sự thật, hoặc giả là những lời đồn đại không thể xác minh, sẽ mãi mãi chôn vùi… Đột nhiên, một ngọn đèn le lói thắp lên, xua đi bao điều huyễn hoặc, mơ hồ.

Đầu tháng Bảy nhuận (Bính Tuất), quê tôi trời bỗng ào ạt tuôn mưa. Những tưởng mùa thu này rồi vẫn vời vợi cao xanh, nắng đẹp cứ dịu dàng trôi, ai ngờ lại có tuần mưa gió sụt sùi! Giữa ngày mưa như vậy, tôi nhận được tin: Có một vị sư đạo cao đức trọng từ miền Nam ra, đã tìm đến và thắp hương viếng mộ cụ Cố chúng tôi, một Giải Nguyên xứ Nghệ. Cụ là người đầu tiên giành được thứ hạng này ở tổng Võ Liệt (Thanh Chương). Thật là may, ngôi mộ mới được xây lại cách đây chưa lâu. Ông bác của chúng tôi, nguyên giám đốc Học Viện An Ninh Khu Vực II, sau khi nghỉ hưu đã tìm về lo lắng, sửa sang (bác là Hồ Nhã Chương, khi làng quê không tồn tại (3) đã đổi tên là Hồ Thanh Chương, cháu nội cụ Hồ Sĩ Tạo, bắt đầu từ bà thứ tư ở Quảng Trạch, Quảng Bình, hiện trú tại 257A, đường Nguyễn Trãi, phường Cư Trinh, thành phố Sài Gòn).

Vị sư đó là Thượng Tọa Thích Chân Quang, sư trụ trì chùa Phật Quang, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Ông xưng danh là Hồ Chí Việt, chắt nội của cụ Giải Nguyên, một đứa con lạc loài, nay tìm về với tổ tông. Đội mưa gió, theo sau xe thượng toạ là bảy xe chở Phật tử, trong đó có hai xe ca… Chuyện đó thật không ngờ!

Mãi sau ít lâu tôi mới được biết thượng toạ cũng đã về thăm nhà bia tưởng niệm đức nguyên tổ Hồ Hưng Dật tại Quỳnh Lâm, thăm nhà thơ họ Hồ tại Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu). Ghi vào sổ vàng lưu niệm của dòng họ, thượng toạ đã nói rõ mình là “đứa con lạc loài” nay mới tìm về với gia tộc… Ngoài ra thượng toạ còn thắp hương viếng mộ cụ Hà Thị Hy và bà Hoàng Thị Loan…

Những điều đột ngột diễn ra khiến tôi không khỏi suy nghĩ về những mối quan hệ huyết thống, dòng tộc đang bền bỉ, âm thầm bén rễ sâu trong tiềm thức con người. Và những kỷ niêm tuổi ấu thơ đã xa lắc xa lơ, đang chìm dần vào bóng tối bỗng nhiên chậm chạp hiện về, hệt như những cuốn phim quay chậm, có quãng mơ hồ, quãng lại hiện rõ như in.

Làng Lai Nhã quê tôi nay đã không còn tên trên bản đồ hành chính. Nó bị xoá sổ từ năm 1978 khi người ta tiến hành cuộc cách mệnh “thay trời đổi đất, xếp đặt lại giang sơn”. Ngót ba mươi năm trôi qua bóng dáng làng xưa đâu có dấu ấn gì với thế hệ con cháu bây giờ! Nhưng đối với chúng tôi, những ông già cổ hủ, đêm nó vẫn hiện về trong mơ. Và riêng tôi: Một làng Lai Nhã cổ truyền tươi xanh, vẫn nguyên lành bóng dáng êm đềm, hiện hữu đời đời…

Từ nửa cuối Hậu Lê, một nhánh họ Hồ Quỳnh Lưu lập làng ở vùng Cương Gián (Nghi Xuân) cảm thấy thiên nhiên quá khốc liệt, đe doạ cuộc sống, phải bỏ đất tìm nơi khác định cư. Một gia đình họ Hồ như vậy theo ông Đậu Quận Công đến vùng Lòi Nhã, xã Thất Thôn dựng nhà sửa cửa, khai phá đất đai, lập thành một trong bảy thôn của Đậu Quận Công (vùng đất ngày trước đã có người thiểu số sinh sống. Bà nội tôi gọi họ là người Mường. Những địa danh còn lại như Bến Mường, Động Mường… nói lên điều đó. Khi người Kinh tiến vào, họ lập tức rút lui đi).

Thế hệ sau, họ có con cháu là cụ Hồ Yên Định, làm quan đến hàm tứ phẩm (không qua thi cử) mới đổi thôn thành Lai Nhã, xã Thất Thôn thành Thái Nhã. Con cháu ly tổ phải lấy chữ Nhã đệm vào để luôn nhắc nhớ tới quê hương. Khi vua Quang Trung ra Bắc diệt quân Thanh, họ có cụ Hồ Hữu Tiềm đầu quân giết giặc và hy sinh tại Thăng Long (mùng 5 tháng Giêng âm lịch là ngày giỗ). Nhà thờ họ Hồ được cất lên thời đó. Khi giác móng và lấy hướng, ông thầy địa lý người Tàu phán rằng: “Thuỷ đáo từ đường. Hồ gia vi vương”. Ông ta bảo đây là thế đất “Phượng Hoàng ẩm thuỷ”. Thời bấy giờ sông Rộ còn ngoằn nghèo chảy bên phía núi xa, cách nhà thờ chừng non cây số. Biết khi nào nước sông chảy đến cho chim Phượng Hoàng uống?

Trước Cách Mạng Tháng Tám, họ Hồ Lai Nhã cũng mới chỉ vài chục gia đình nhưng đã có bốn cử nhân và khá nhiều tú tài. Có người khá nổi tiếng như cụ Giải Nguyên Hồ Sĩ Tạo.

Làng Lai Nhã với con sông Rộ chảy vòng ôm lấy những vườn cây quả mướt xanh như một nét chấm phá thật thơ mộng và dịu dàng. Tôi có ông chú, con cô của bố tôi, làm chủ nhiệm Khoa Sinh Vật, kiêm bí thư đảng ủy Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội (chú là Phạm Đức Dục, quê xã Thanh Long, Thanh Chương, cháu ngoại cụ Cử Hồ Sĩ Hạp, gọi Thị Lang Phạm Hoàn là bác). Chú bị bệnh tâm thần phân liệt, vợ con nhốt vào một xó… Vậy mà khi tôi tới thăm, ông vẫn còn ước ao được về làng Lai Nhã để đi câu cá. Ông kể chuyện cụ Phủ Tạo và ông ngoại là Cử Nhân Hồ Sĩ Hạp, nhưng lẫn lộn lung tung… (Về làng Lai Nhã, nguyên thứ trưởng Bộ Giáo Dục Nguyễn Hữu Dụng, cháu ngoại cụ Cử Hồ Sĩ Huấn cũng có ấn tượng rất đẹp.)

Làng tôi có những khu vườn um tùm, rập rạp với vòng ngoài chen đặc song mây, tre nứa và cây cọ cùng những cái tên đặc trưng như: Vườn Cụ Phủ, Cụ Huyện, Cụ Cử, ông Tú, ông đồ… đầy cây ăn quả và bốn mừa líu ríu tiếng chim. Cụ Tạo về hưu đã trồng bốn cây đa ngoài cổng đoài của làng. Có hai cây sau này thành tam quan nhờ một rễ phụ căng ngang, nom rất kỳ thú. Đây là nơi ông Tạo mắc võng nằm vào những trưa hè.

Sau này tôi mới biết, nhờ những khu vườn này mà các bậc cha chú có tiền trọ học thành tài, bởi ruộng đất ở đây rất xấu, chưa nắng đã khô, chưa mưa đã lụt, có thu hoạch được là bao!

Ôi, những khu vườn trong mơ và làng xưa cũng chỉ còn lại trong mơ, nơi đã bay bỗng tuổi thơ tôi, nơi chúng tôi tha hồ quậy phá: trèo bắt tổ chim, tìm hái những chùm quả chín và cắp sách tới trường…

Khoảng mấy năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước, nước sông Rộ vòng về, xói lở một góc vườn nhà thờ và nhà thờ họ Hồ Lai Nhã thấp thoáng soi bóng xuống mặt nước sông trong. Chim Phượng Hoàng ơi! Hãy uống nước đi…

Cụ Hồ Sĩ Tạo tự Tiểu Khê, sinh năm 1834 (Tổng Tập Văn Học Việt Nam tập 19 nói cụ Tạo sinh năm 1831. Cụ Cao Xuân Dục, học trò ông Tạo, trong sách Nghệ An khoa bảng nói ông Tạo sinh năm 1841. Chúng tôi theo người già trong họ nói ông Tạo thọ 73 tuổi và bà Hồ Thị Từ, con út ông Tạo nói bà ra đời lúc cha đã 70 tuổi, lên 3 thì cha mất…, mà suy ra), mất năm 1907, là người tài hoa nổi tiếng cả vùng. Theo gia phả nói thì cụ thuộc phe chủ chiến, chủ trương đánh Pháp tới cùng, nên bị vua Tự Đức đánh hỏng (?).

Trong cuộc đời làm quan, dạy học, giao du với bạn bè khắp vùng, ông Tạo đã có quan hệ gắn bó với năm người phụ nữ. Theo các cụ trong họ (trong đó có cụ Hồ Sĩ Huề) từng kể với cháu con thì:

Người phụ nữ thứ nhất chính là người vợ cả của cụ được gia đình cưới cho ngày còn trẻ. Bà người họ Phan ở xã Xuân Trường (Thanh Chương) và đã cho ông Tạo hai người con trai trưởng thành.

Người phụ nữ thứ hai là bà Hà Thị Hy, còn gọi là cô Đèn, quê ở làng Sài, Nam Đàn. Ông Tạo nổi tiếng khẩu khí, đam mê hát phường vải, ứng đối nhanh và giỏi. Bà Hy là người hát hay, giọng tốt và rất đỗi xinh đẹp. Tài tử gặp giai nhân cũng ví như cá gặp nước, rồng gặp mây. Khi họ quen biết nhau, tuy ông Tạo ít tuổi hơn nhưng đã có vợ và đang dạy học trong nhà họ Hà. Vì quá tài hoa nên mãi năm cô Đèn ba mươi vẫn chưa có đám nào lọt vào mắt xanh… Trai làng không với tới nên họ phong toả, hình thành thế bao vây, không cho con trai nơi khác đến (theo bác Hồ Thanh Chương, ông Tạo yêu cô Đèn trước khi có vợ. Bà Hy có thai, ông Tạo về xin cha mẹ được cưới, nhưng gia đình không đồng ý vì đã dạm hỏi đám khác. Cụ Hà Văn Cẩn đành ngậm ngùi gả bà Hy cho ông Nhậm, một ông già lụ khụ.)

Vậy là cái gì phải tới đã tới. Cô Đèn mang thai và ông Nguyễn Sinh Nhậm mồ côi vợ, cho cô về làm mọn. Năm 1863, bà Hy sinh con trai. Cậu con ông Hồ Sĩ Tạo mang họ Nguyễn Sinh được ông Nhậm đặt tên là Sắc. Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi thì ông Nhậm chết. Bà Hy vốn bị người nhà họ Nguyễn Sinh coi là dân “xướng ca vô loài”, nên họ buộc hai mẹ con phải ra sống trong một căn lều ngoài đồng khoai, cạnh làng. Chỉ hơn một năm sau, bà Hy cũng bỏ cậu Sắc mà ra đi. Bà chết trong khổ cực âm thầm và trong sự hắt hủi của gia đình nhà chồng! Con trai làng Sài hối hận, thương người con gái mệnh bạc, đã kéo sang làng Sen làm lễ chôn cất. Chính ông Tạo là người đọc điếu văn.

Cậu Sắc đành phải về dựa vào anh cả để khỏi chết đói. Và dần dà, lên thêm một tí cũng được anh cả cho một buổi chăn trâu, một cuổi cắp sách tới trường. Việc cậu Sắc được đi học cũng nhờ phần lớn ở thầy Tú Vương. Thầy xin anh Thuyết cho Sắc đến lớp mà không phải chịu khoản phí tổn nào. Thầy Vương đã xem tướng tay, xem chữ viết và tấm tắc khen là con nhà nòi: “Nòi xướng ca và nòi nhả ngọc phun châu cô Đèn thầy Tạo… Con hãy cố lên, tài hoa lắm, thầy sẽ giúp…”

Rồi một hôm ông họ Hoàng bên làng Chùa sang làng Sen thăm thầy Tú Vương. Học trò được ra chơi. Đôi bạn trò chuyện với nhau rất lâu. Ngoài chuyện thơ phú, văn chương, thi cử… còn có chuyện cậu bé Sắc. Họ bàn với nhau những gì không rõ. Chỉ biết rằng ít lâu sau, ông Tú Hoàng Đường đến nhà Nguyễn Sinh Thuyết xin được nhận chăm nuôi cậu bé Sắc. Vợ chồng Thuyết mừng rơn. Thuyết còn chút tình người, song vợ Thuyết từ lâu hậm hực, căm ghét, sợ phải chia gia tài, phải nuôi tốn kém… nên đã đồng ý liền, coi như trút được hết gánh nặng tội nợ… Ông Hoàng Đường vội mang cậu bé Sắc về ngay.

Ngày xưa, người hiểu biết cũng thường quan tâm tới nòi giống. Ngày nay lại nói tới nguồn gien và tin theo thuyết di truyền. Nguồn gien quý thường được nuôi dưỡng, giữ gìn. Thấy lúa tốt phải hỏi giống gì, thấy con tốt phải xem cha mẹ chúng…

Từ ngày ông Tú Hoàng Đường mang Sắc về, ông trở thành cha nuôi và là thầy giáo của cậu bé. Năm Sắc mười tám tuổi, cậu được ông Đường gả con gái đầu lòng của mình là bà Hoàng Thị Loan, mươì ba tuổi, cho. Ba năm sau bà Loan sinh cô Thanh, bốn năm tiếp sinh cậu Khơm (Khiêm) và vài năm sau nữa lại sinh cậu Côông (Công)…

Người phụ nữ thứ ba (của ông Hồ Sĩ Tạo) là bà vợ kế ở quê nhà. Khi bà cả qua đời, gia đình không người chăm lo, ông Tạo đã cưới người vợ thứ. Bà sinh hạ cho ông một con trai rất thông minh, học giỏi, nhưng chỉ đi thi hộ người khác lấy tiền cờ bạc rượu chè, không màng tới tiến thân.

Người phụ nữ thứ tư là cô gái quê ở Quảng Trạch, Quảng Bình. Ông nói dối là ông không còn vợ để được cưới bà. Bà con nhà gia thế, nên về sau, khi chuyện vở lỡ, gia đình đã kiện quan về chuyện này. Bà sinh hạ được hai người con trai. Thời gian sau đó, ông Tạo cáo quan về nhà dạy học.

Người phụ nữ thứ năm là một cô gái nghèo ở thôn Nam Lĩnh, cùng xã, nơi ông Tạo dạy học những ngày cuối đời. Hàng ngày cô vẫn thường đi bán chổi đong gạo. Khi có một con gái với ông Tạo, người ta gọi là cô Chổi. Lúc này ông Tạo đã bảy mươi tuổi. Ba năm sau, ông Tạo qua đời. Nhà cũng chẳng có gì, con trai cờ bạc, rượu chè phá phách hết, ông chỉ để lại cho con gái một chiếc áo bông cũ, đắp lấy hơi cha!

Người con gái út này của ông Tạo là bà Hồ Thị Từ (tên khai sanh là Thuyến). Hoà bình lần thứ nhất, bà vẫn sống khoẻ mạnh. Bà lấy chồng họ Tôn. Ông là bác ruột của Giáo Sư Tôn Tích Thạch. Và vì không có con trai nên đã coi Thạch là con, cho tới 1955, Thạch qua Liên Xô du học. Hơn 7 năm sau trở về thì ông bà đã qua đời. Ông Tôn Quang Phiệt cũng họ này.

Tôi còn nhớ như in mỗi lần bà về quê là đi khắp bà con xóm làng, ăn trầu luôn miệng và nói cười ha hả, rất vui. Bà kể biết bao nhiêu là chuyện, trong đó có chuyện cái huyệt mộ ông Tạo được cải táng. Ông Tạo bị cảm bệnh tại thôn Nam Lĩnh trong xã, con cháu đưa về nhà thì ông qua đời. Ông chết trong lặng lẽ, giữa ngày thời tiết không thuận nên chỉ có xóm giềng biết với nhau. Chỉ khi cải táng (1911) học trò mới làm lễ lớn. Cái huyệt mộ cải táng là do ông Tạo chọn cho mình ngày còn dạy học ở quê vợ, xã Xuân Trường.

Theo bà Từ: Mộ được táng dưới một khối đá ngầm, phải đào hố sâu bên cạnh, khoét ngang rồi đun tiểu sành đựng hài cốt vào, nén đất lại, trên dựng một mộ chí đơn sơ. Bà bảo đó là cái hàm dưới của Miệng Rồng (Chuyện này, khi xây dựng đường điện siêu cao thứ nhất, bác Hồ Nhã Đỉnh, ở Viện Năng lượng, về vùng Nam Đàn giám sát, bác cháu gặp nhau, trò chuyện, bác còn nhắc lại cho nghe lần nữa). Nay bia mộ ông Tạo chỉ là một mảnh đá nhỏ. Phía trên bị đập vỡ chỉ còn lại một chữ thiếu nét và một chữ “Nhã”. Đọc bên phải: “Mậu Thìn Giải Nguyên” (ông Hồ Sĩ Tạo đậu Giải Nguyên triều Nguyễn, Huế, khoa Mậu Thìn (1868), cùng khoa thi này Hoàng Cao Khải đậu cuối bảng. Theo cụ Hồ Sĩ Huề kể: Có lần ông Tạo ra Hà Nội. Hoàng Cao Khải đã tự tay bưng nước đến để ông Tạo rửa mặt mũi, tay chân. Có lẽ ngoài việc trong vọng, đây còn nhằm mực đích mua chuộc sĩ phu…). Dọc bên trái bia mộ: “Tri phủ Quảng Trạch”. Chính giữa phía dưới: “Hồ Tiểu Khê chi mộ”. Việc cải táng hoàn toàn do học trò ông Tạo tuân theo di huấn của thấy mà làm, rất long trọng, có nhiều vị khoa bảng của hai huyện Thanh Chương, Nam Đàn tới dự (nhưng chắc chắn là không có ông Nguyễn Sinh Sắc. Bởi ông đã vào Kinh nhậm chức theo lệnh vua).

Năm người đàn bà gắn bó với một người đàn ông, chuyện thật khó tin. Chắc ông Tạo tài hoa lắm và cũng đa tình lắm mới cuốn hút được như vậy.

Sách vở ông Tạo để lại đã bị đốt hết trong Cải Cách Ruộng Đất. Còn sót một tập thơ nhỏ ở nhà cụ Hồ Sĩ Huề, Phó Giáo Sư Ninh Viết Giao đã mượn, nay chắc còn chỗ ông ấy!

Cụ Nguyễn Sinh Sắc đậu cử nhân khoa thi Hương năm Ngọ (1894) tại Trường Nghệ, nhưng trượt khoa thi Hội tiếp theo. Để chuẩn bị cho Sắc vào tiếp khoa thi năm Tuất (1898), ông Tạo suy nghĩ rất nhiều. Các con trong giá thú ở quê chẳng đứa nào nối được chí cha. Thông minh thì cũng có đủ, nhưng lười học, chỉ thích cờ bạc, rượu chè. Duy chỉ có đứa con ngoài giá thú là Nguyễn Sinh Sắc lưu tâm tới việc học hành, không thể để nó bỏ dở sự nghiệp và phụ lòng mong mỏi của bao người. Nghĩ tới đây, ông sai người mài mực, lấy giấy bút viết thư. Ông nhớ tới ông Thượng thư họ Hồ ở An Truyền đã nhận đồng tông với mình. Nhớ tới ông Cao Xuân Dục, một học trò, đang là quan to của triều đình. Đằng nào cũng phải nhờ họ giúp. Xưa nay mình đã nhờ vả họ gì đâu!

Vậy là nhờ có bức thư ấy, mà các vị đại thần họ Hồ, họ Cao ra tay giúp đỡ để ông Sắc được vào học Trường Quốc Tử Giám. Đó là việc rất dễ nhận biết: Trường Giám là trường của Hoàng gia, quý tộc, con dân làm sao mà vào nổi?

Ông Sắc vào Trường Quốc Tử Giám mang cả gia đình đi theo, chỉ trừ cô Thanh ở nhà với bà ngoại, làm phận sự thay cho bố mẹ. Vào Huế, ông đổi tên là Nguyễn Sinh Huy. được sự giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần của các vị đại thần quen biết ông Tạo, cùng các quan khác người Nghệ Tĩnh. Bà Loan dệt vải nuôi con. Ở chốn Kinh thành, cuộc sống có dễ dàng gì đâu!

Khoa thi Mậu Tuất, ông Sắc lại rớt. Bà Loan sinh thêm cậu Xin. Và vì quá kham khổ, lao động quá sức, bà lâm bệnh và qua đời cuối năm Canh Tý (1900). Chỉ ít lâu sau, cậu Xin cũng quy tiên theo mẹ. Ba cha con ông Sắc lại dắt díu nhau về Nghệ.

Khoa thi năm Tân Sửu (1901) ông Sắc trúng Phó Bảng nhưng không ra làm quan mà xin ở nhà nuôi mẹ già yếu. Thời kỳ này ông lên dạy học ở Thanh Chương. Ông nghĩ mình trước hết phải trọn đạo hiếu với cha mẹ. Nếu không, sao đáng làm người. Giai đoạn đầu ông Sắc dạy học ở nhà thờ họ Lê ở Nguyệt Bổng (nhà thờ này nay vẫn còn ở chân cầu Rộ), sau chuyển sang nhà ông Hàn Kháng, họ Phan ở Võ Liệt - là một họ khoa cử, có người nổi tiếng như tiến sĩ Phan Sĩ Thực - Ngôi nhà này đã bị tịch thu chia cho nông dân trong Cải cách Ruộng đất). Chỗ ở này cách nhà ông Tạo có con sông Rộ nhỏ thó, xắn quần là có thể lội qua. Như các cụ trong dòng họ kể lại thì ông Sắc đã dẫn cậu Công qua chơi với ý định nhận cha, nhưng việc đó chưa kịp làm thì năm 1904 bà đồ An qua đời. Đầu năm 1905, ông Sắc được triệu vào kinh nhậm chức Thừa Biện Bộ Lễ do cụ Phan Chu Trinh giao lại (việc chưa nhận cha còn có thể do quy ước khắt khe của dòng họ – Ví như cụ Hồ Sĩ Tôn, 2 lần đậu đầu khoa: “Thiên hạ sĩ vọng vã”, “Thiên hạ cống sĩ”, là bố ông nghè Hồ Sĩ Tân. Thời trẻ dạy học ở Hưng Nguyên, có một con trai với cô con dâu nhà ho Bùi. Về sau anh này cùng con mình đều đậu tiến sĩ. Hai cha con về Quỳnh Đôi nhận họ, nhưng vì quy định đó mà không thành. Hai cha con đành đứng ngoài cổng nhà thờ họ, vái lạy rồi quay về. Nên đến nay con cháu vẫn mang họ Bùi…)

Cuộc đời làm quan và phiêu bạt của ông Sắc tính từ đây. Năm 1907, ông Sắc được bổ tri huyện Bình Khê và chỉ bốn năm sau đã vướng vào trọng tội…

… Bữa đó, ông Sắc đang ngồi tự lự, mượn chén rượu giải sầu, lòng tràn nỗi niềm thương cảm đối với vợ con. Ông tuy làm quan nhưng nhà vẫn nghèo khổ, mái tranh, vách đất, chẳng chút tài sản nào dư dả để nuôi con… Bỗng có lính bẩm báo:

“Thưa quan, mấy gã chống thuế hôm qua lại đến.”

Ông lập tức truyền cả bọn vào và giữa lúc ngà ngà say, ông bảo:

“Bọn bây phải biết rằng, chỉ có vua mới miễn được thuế. Còn ta chỉ có đồng lương ít ỏi phải bù cho số thuế thiếu kia. Ta đã cho người dò la kỹ rồi: Nhà tụi bây còn giàu hơn cả quan đây. Làm ruộng thì phải đóng thuế, chống lại là cớ làm sao?”

Cả đám lập tức nhao nhao nói hỗn, chửi bới, chỉ trích quan tham nhũng, ông Sắc nổi cáu, truyền:

“Lôi ra ngoài đánh bọn chúng cho ta.”

Bọn lính lôi cả đám ra ngoài đánh đập thỏa sức. Bất đồ một người trong bọn trúng chỗ hiểm, lăn ra chết… Lệnh ông ban quên không hạn chế mấy roi, nên bọn lính đã quá tay. Triều đình triệu ông về kinh chịu tội. Vua phê: “Trảm!”. May nhờ có các ông thượng thư họ Hồ, họ Cao và Đào Tấn cùng rập đầu xin vua tha chết. Cả ba ông đều tâu vua: “Nguyễn Sinh Huy làm quan thanh liêm, xử án công minh, bốc thuốc chữa bệnh người rất tận tâm… Việc xảy ra chỉ là do sơ suất và bọn lính đã quá tay…”

Vua cũng biết Nguyễn Sinh Huy là quan thanh liêm, không hề có tư túi gì, nên sau một lúc suy nghĩ đành giảm xuống “Trảm giam hậu!” (giam chờ chém sau) và phạt đánh 100 roi. May nhờ có Thượng Thư Bộ Binh Đào Tấn lo lót cho bọn lính nên được nhẹ đòn và ông Huy thoát chết. “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. Nhân buổi lộn xộn chưa quyết, nhờ có người ngầm giúp, ông Huy chuồn thẳng! Các cụ già quê tôi, người thì bảo ông cải trang làm phu xe theo đoàn khách thương chở hàng vô Nam, kẻ lại bảo ông xuống một thuyền buôn dông thẳng vào Gia Định. Mỗi người một phách, nhưng cũng chẳng sao. Điều cơ bản là ông Huy đã thoát khỏi cái lưỡi dao thái thịt người đang lơ lửng trên đầu và có thể hạ xuống bất ký lúc nào…

Cậu Công gặp lại cha ở một địa điểm kín ở Gia Định, trong một buổi, trước khi cậu xuống tàu đi xa. Dặn dò con xong ông Huy lặn sâu vào giữa vùng Đồng Tháp Mười, chẳng để lại dấu vết nào với người đời, rằng mình đã từng là một phó bảng thứ thiệt, là ông Huyện Bình Khê…

Ngày ấy Đồng Tháp Mười còn rậm rì năn lác, đường bộ chưa có là bao. Giao thông chủ yếu là nhờ vào những chiếc xuồng tam bản tự tạo của đồng bào sống ở miệt sình lầy. Ông Nguyễn Sinh Huy lặn lội đến vùng Cao Lãnh ngày nay thì dừng lại, ở nhờ một ngôi chùa. Nơi đây ông giấu biệt tông tích của mình, tự xưng là Cụ Vương, hành nghề bốc thuốc chữa bệnh.

Nhà Phật vốn chủ trương “cứu nhân độ thế”, các sư cũng luôn làm nhiệm vụ bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Bấy giờ làm gì có bệnh viện hay hiệu thuốc ở những vùng sâu, xa như thế. Thấy Cụ Vương giỏi y thuật, lại sống độc thân nên các sư rất mừng, lưu cụ ở luôn tại chùa để giúp đỡ bao nông dân nghèo khó đang hàng ngày vất vả kiếm sống và cũng vất vả chống lại tật bệnh, ốm đau. Phong trào chống thuế ở miền Trung đang nổi lên rần rần, nên nhà vua cũng làm ngơ luôn cái án của ông tri huyện Bình Khê. Vậy là ông Nguyễn Sinh Huy được triều đình “bỏ quên”.

Chẳng bao lâu, cái tiếng của vị thầy thuốc giỏi, lại nhân từ, sẵn sàng chữa bệnh không công cho người nghèo, theo những chiếc xuồng nhỏ, len lỏi trên sông nước, trên kênh rạch lan truyền đi khắp vùng. Người ở xa chở con bệnh tới để chữa trị hoặc mua thuốc mang về. Người gần mời cụ ngồi xuồng tới nhà bắt mạch điều trị. Nhà nghèo cụ miễn luôn mọi khoản. Đức độ của cụ hoà vào nước Đồng Tháp Mười, thấm sâu vào đất đai, tạo nên vựa lúa bạt ngàn hôm nay…

Có lần chữa trị dài dài, cứu được mấy mạng người trong một gia đình, giúp họ thoát khỏi dịch bệnh, ông già Mai Nhuận trả ơn bằng cách gả cô con gái út của mình cho ông Vương.

“Không dám…”, Ông Vương cười. Chữa bệnh cứu người là công việc hàng ngày, tôi đã nguyện theo đuổi suốt đời, đâu dám mong có ân huệ đền đáp. Cô nhà đây còn nhỏ tuổi hơn cả con trai út của tôi. Nhận lời cụ chẳng hoá ra tôi là thằng khốn nạn hay sao?

“Chúng tôi không quan tâm tới việc thiên hạ dư luận, chỉ cần cụ nhận lời và nuôi cháu là nhất định gia đình sẽ có ngày mở mày mở mặt. Nó đến với cụ cũng đã sung sướng cho bản thân nó. Công việc nấu nướng, chợ búa… giúp cụ chuẩn bị thuốc men, so với việc đồng áng khác nhau một trời một vực, việc gì nó chẳng làm được. Cụ đừng lo…”

Năm ấy, ông Sắc đã ngoại lục tuần. Cô gái họ Mai mới ngoài hai mươi, nhỏ hơn cậu Công.

Ít lâu sau cuộc tình duyên muộn mằn ấy, cậu Vương Chí Nghĩa chào đời (1927). Ông Vương Chí Nghĩa là bố của Vương Chí Hùng và Vương Chí Việt cùng năm người con gái khác. Theo Thượng Tọa Thích Chân Quang, khai sinh lấy họ Vương, nhưng trong tiềm thức, trong gia phả là họ Hồ. Cụ Vương dặn như vậy. Lấy họ Vương là để che mắt kẻ thù. Việc rời Đồng Tháp lên Tây Nguyên cũng là vậy. Phải tránh sự khủng bố, truy bắt, bảo vệ mình và mở ra con đường kiếm sống lâu dài. Thượng Tọa Thích Chân Quang sinh ở Tây Nguyên tháng 12.1959. Tốt nghiệp đại học Khoa tiếng Anh, xuất gia năm 1980 cùng chị gái là Hồ Thị Minh Nguyệt, hơn ông hai tuổi.

(Ngày làm lễ Nhập hồn Tượng cho vua Hồ Quý Ly và nữ sĩ Hồ Xuân Hương tại nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi, Thượng toạ Thích Chân Quang cười nói với tôi: “Em viết việc tìm họ của anh đơn giản và dễ dàng quá! Thật ra là bọn anh phải dằn vặt, đau khổ, đi xác minh cẩn thận, có thu âm, ghi hình đầy đủ, người ta mới công nhận. Những người trông coi Khu di tích cụ Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp cứ một mực bảo ông Sắc không có vợ lẽ ở đây! Anh sẽ ghi lại cụ thể chuyện này gửi em sau. Báo để em biết, anh đã đến thăm chú Hồ Thanh Chương, tình cảm của chú cháu là vô cùng nồng ấm.” Thượng tọa đã đối chiếu gia phả và gọi tôi là em, mặc dù tôi nhiều tuổi hơn.)

Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy họ Hồ làm họ mới của mình có gì giống với con cháu cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp nhận mình là dòng dõi họ Hồ không? Điều đó chắc chắn chúng ta đã vĩnh viễn không còn được biết. Trong mịt mờ quá khứ xa xăm, trăm ngàn mối quan hệ chằng chịt, đan xen, không ghi âm, chụp ảnh, không quay phim, ghi chép… làm sao lần mò ra được?

Cuốn Ngục Trung Nhật Ký của Bác với 132 bài thơ (từ số 1 đến 133, nhưng bài số 100 chỉ có tên bài đề “Liễu Châu ngục” mà không có thơ), mở đầu bằng bài “Khai Quyển”, kết thúc là bài “Kết Luận” (Nay sách in mới, bài “Kết Luận” được thay bằng bài “Mới Ra Tù Tập Leo Núi”, một bài Bác ghi bên lề tờ nhật báo Quảng Tây, không phải làm ở trong tù). Bài “Kết Luận”, Bác viết:

Hạnh ngộ anh minh hầu chủ nhiệm
Như kim hựu thị tự do nhân
“Ngục trung nhật ký” tòng kim chí
Thâm tạ hầu công tái tạ ân.

(Tạm dịch: May mắn được gặp chủ nhiệm họ Hầu sáng suốt. Mà nay tôi lại là người tự do, “Ngục Trung Nhật Ký” từ nay chấm dứt. Cảm tạ sâu sắc ơn tái tạo của ông Hầu.)

Hầu công mà Bác nhắc ở đây là ông Hầu Chí Minh, thiếu tướng, chủ nhiệm Chính Trị Quân Khu Hoa Nam của Quốc Dân Đảng, người rất mực mến phục Bác, đã can thiệp tích cực để Bác thả ra, trở về lãnh đạo Cách Mạng Việt Nam. Điều đó cũng chứng minh rằng, nơi nào trên trái đất này cũng có người tốt!

Cái tên mới của Bác, ta có thể đoán mò một cách không chắc chắn rằng, Bác lấy tên người đã dũng cảm cứu mình để làm kỷ niệm. Tên ông là “Sáng Suốt” và việc làm của ông dành cho Bác cũng rất sáng suốt. Còn cái họ thì xin chịu. Liệu có sự dặn dò nào của cụ phó bảng từ một ngày rất xa, khi hai cha con còn sống bên nhau không?

Bác đi bôn ba thế giới “tìm đường cứu nước”, trải qua một vòng trái đất và mãi hơn 50 năm sau mới về lại quê nhà. Ý định nhận cha, nhận họ của cụ Phó bảng ngày dạy học ở nhà ông Hàn Kháng… cũng chưa thực hiện được. Vào Huế làm quan rồi trốn mãi vào miệt sình lầy Đồng Tháp, cụ không có điều kiện trở về. Ông Hồ Chí Nghĩa cũng vậy, không thể về bởi binh lửa liên miên và đất nước chia cắt. Chỉ mãi hôm nay Thượng Tọa Thích Chân Quang mới hoàn thành việc đó.

Từ ngày cụ phó bảng đi làm quan đến ngày Thượng Tọa Thích Chân Quang tìm về, thời gian dài hơn thế kỷ. Chúng tôi lấy làm tiếc, nhà thờ họ Hồ Lai Nhã đâu còn ở chốn xưa! Ngày di dân, lòng tôi như vừa chịu một trận động đất mạnh 9 độ rich-te. Dân quân cả huyện ào ào đến dỡ làng kéo đi, hệt như chạy loạn. Hàng chục chiếc máy ủi màu đỏ son gầm gừ húc cây cối đổ ngổn ngang, san phẳng mọi vườn tược mà không có pháp luật nào giải thích, không một xu đền bù giải toả!... Cha con, anh em, họ hàng phải chia lìa nhau. Người bốc được thăm ở cuối rừng, kẻ bốc được thăm nằm đầu xã, cách nhau ba bốn cây số là chuyện bình thường. Mối quan hệ tộc họ từ ngàn xưa bị rạn vỡ. Nhà thờ họ vốn có vườn riêng đầy cây trái, nay đột nhiên không có đất đứng, phải hốt vào trong hẻm núi sâu, nơi bác tộc trưởng bắt được thăm, phong cảnh thật u ám, thê lương. Thật tiếc, trong thời khắc bối rối ấy, con cháu ở quê cũng không dám đấu tranh đòi cho nhà thờ họ một chỗ xứng đáng! Con cháu đi xa muốn tranh thủ về thăm quê cũng khó khăn. Vùng chân Trường Sơn mưa nhiều hơn nơi khác, đường sá không một tấc nhựa, lầy lội, nhớp nháp bởi thứ đất mến người, lại trèo đèo lội suối quanh co, khúc khuỷu. Anh em bà con nghèo túng hơn, về vài ngày là không thể đi thăm hết được, mà có về cũng vất vả lắm! Thôi đánh chịu lỗi với Tổ Tiên!

Thượng Tọa Thích Chân Quang về đúng những ngày mưa tháng bảy. Sau khi dâng hương viếng mộ cụ Hồ Sĩ Tạo xong, mấy chú cháu trong họ, những người đi đón bàn nhau: Xin thượng tọa hoãn việc về thăm nhà thơ họ Hồ Thanh Khê lại, vì đường quá xấu, xe không vào được. Nếu đi lỡ gặp tai nạn, thật là không nên… Và thượng tọa đã đồng ý.

Chúng tôi chép toàn là chuyện ở sân sau. Người ta nói: Đời là một sân khấu lớn với hàng ngàn vở diễn, bi có, hài có… ồn ào và sôi động trải ra. Đó là ở sân trước. Sân sau khác hơn. Nó âm thầm, lặng lẽ… Nhưng có lẽ xin được dừng lại ở đây. Dã sử vốn có chỗ dị đồng với chính sử là thế! Cũng với khoảng thời gian chưa xa, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đã có buổi trò chuyện thân mật với một số con cháu họ Hồ. Chắc rằng mọi chuyện vẫn chưa phải đã hết. Còn có những điều sâu kín, dài dài, chưa thể nói ra, nhưng cũng rất con người, đang ở sân sau…

Mong ông bà, chú bác, anh em… cùng hương hồn Liệt Tổ Liệt Tông tha thứ cho.

Mùa xuân Đinh Hợi (2007)

(Địa chỉ: Hồ Sĩ Sênh, xóm Nghĩa Thai, xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn, Nghệ An. ĐT: 0383 785248)

(1) Trăm Hoa xuất bản, California 1993, 288 trang (các chú thích trong bài đều của talawas).
(2) Các cách ghi âm khác: Nguyễn Sinh Côông, Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Sinh Công.
(3) Do dời làng lên núi để làm kinh tế.




BÀI VIẾT VỀ THÂN THẾ HỒ CHÍ MINH


Tiếp tục nghiên cứu lịch sữ đảng và tiểu sử Hồ Chí Minh bằng ngay chính tài liệu của đảng cung cấp tại trang nhà của đảng, tôi thấy tiểu sử Hồ Chí Minh cũng bố láo bố lếu tuốt. Xin các bạn đọc kỷ đoạn giửa và đoạn cuối của bài này để thấy rỏ các điểm trên:

Trích từ http://www.cpv.org.vn/details.asp?to...d=BT1560338550

Bác Cả Khiêm (anh của Hồ Chí Minh) thổ lộ thêm:

- Năm 1911, bác được cụ Thượng Thư Hồ Đắc Trung, bảo trợ cho bác vào làm một viên chức nhỏ trong Tòa Khâm Sứ Trung Kỳ. Bác nhận được thư của chú Thành ngỏ ý với bác về việc xin vào trường thuộc địa. Bác có viết một lá thư lên toàn quyền Đông Dương, An-be-Xa-rô (Albert Sarraut). Nhưng chẳng có một sự đáp lại nào (5)... Một nụ cười héo hắt trên môi khô, bác cả Khiêm phải lướt nhẹ lưỡi thấm quanh vành môi, nói.


Đoạn này tố cáo rỏ ràng là chính Hồ Chí Minh có ý định xin vào trường thuộc địa chứ có ý định cứu nước cái quái gì đâu! Còn đoạn kế thì cho chúng ta thấy 2 điều: Bác không phải sinh ngày 19/5/1890 và 1 nghi vấn tại sao sau này bác lại mang họ Hồ.

Cụ Nguyễn Thị Thanh bất chợt trầm giọng:

- O không nhịn được cười mỗi lần nhớ lại cậu Khiêm kể chuyện về em Thành được đi theo cha tới tư dinh cụ Thượng thư Hồ Đắc Trung. Ngày phụ thân O nhận chức Thừa biện Bộ Lễ, cụ Thượng Hồ Đắc Trung thành tâm mời phụ thân O với một thân tình cố cựu từ hai vị đồng liêu tri phủ Hồ Sĩ Tạo và Hồ Đắc Tuấn. Cụ Thượng Hồ Đắc Trung rất thông cảm cảnh "gà trống nuôi con" của phụ thân O. Cho nên, cụ nhã ý với phụ thân O để cho cậu Tất Đạt, cậu Tất Thành cùng tới cho vui. Cụ Thượng Hồ Đắc Trung ra tận cổng biệt thự đón phụ thân O vào Chính trung phòng (phòng chính giữa nhà), còn cậu Tất Đạt, Tất Thành được cậu ấm Hồ Đắc Khải đưa tới gian tiền sảnh cùng chơi. Lần đầu tiên em Thành nhìn thấy đồng hồ quả lắc như cái tủ đứng, quả lắc là hình người lính thủy đứng trên cái mỏ neo đu đưa, cậu Thành ứng khẩu luôn:

"Chú lính đánh đu
Từ trái sang phải
Lúc la lúc lắc
Tích tắc tích tắc...
Chắc là mệt lắm
Chú lính khóc to
Boong... boòn... từng tiếng
Boong... boòn... từng tiếng"

Cả ba cậu cười ran. Cậu Hồ Đắc Điềm, cậu Hồ Đắc Di còn bé hơn đang ở trong nhà thấy các anh cười vui quá cũng phải chạy ra tiền sảnh.

Tôi hỏi:

- Thưa O, hồi bấy giờ cậu Hồ Đắc Khải trên tuổi cậu Đạt, cậu Thành hay...

- Cậu Tất Đạt tuổi Mậu Tý (1888), cậu Tất Thành tuổi Tân Mão, còn cậu Hồ Đắc Khải tuổi Giáp Ngọ (1894). Quả là "con nòi của giống", cháu ạ. Về sau này, cậu Hồ Đắc Khải, cử nhân khoa Duy Tân ất Mão (1915), làm quan tới Thượng thư. Còn cậu Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di đều là "ông Nghè" tân học. Năm O mới ra tù đang bị quản thúc ở Huế, O được kiến diện bà con đất thần kinh đón rước ông nghè Hồ Đắc Điềm vinh quy bái tổ, người đông kín từ Đập Đá về làng.


Đoạn này thì rỏ ràng Hồ Chí Minh sinh năm 1891 (Tân Mão) chứ có phải sinh ngày 19 tháng năm 1890? Có tính cách nào cũng không thể đưa ngày 19/5/1890 thành 1 ngày nào trong năm Tân Mão được. Không lẻ chị của Bác nhớ sai, (khó có giả thuyết này vì người xưa thích dùng năm Âm Lịch như Tân Mão, Bính Tý... để nói về năm sinh và rất khó nhớ sai).

Cuối cùng đảng ta nên dẹp nó cái trang nhà cực kỳ phản động này tại
"http://www.cpv.org.vn/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=8&id=BT1560338550" không?
vì nó chứa những nội dung phản động đã xuyên tạc cuộc đời cách mạng yêu nước của bác bằng các tố cáo chuyện bác xin vào trường thuộc địa; nó xuyên tạc tiểu sử và ngày sinh của bác 19/5/1890 và Năm Tân Mão (1891); và cuối cùng nó lại tạo ra 1 điểm nghi ngờ lớn tại sao bác lại chọn đổi sang họ Hồ làm người ta thắc mắc không biết cụ nào trong gia đình họ Hồ này mới là tác giả chính của Hồ Chí Minh đây?

Tags cho page này

Bookmarks

Nội quy dành cho việc đăng bài

Nội quy dành cho việc đăng bài
  • Bạn KHÔNG THỂ đăng bài mới (thường là vì bạn chưa làm thẻ Hội Viên).
  • Bạn KHÔNG THỂ sửa bài
  • Bạn KHÔNG THỂ khóa page.
  • Bạn KHÔNG THỂ đăng nhận xét
  • Bạn có thể đăng tài liệu kèm theo bài
  • Bạn CÓ THỂ điều chỉnh phần nhận xét