Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Mùa Chay với Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 1 tháng Ba 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 27.04.2014, Giáo Hội tuyên phong Hiển Thánh cho Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một vị thánh trong thời đại của chúng ta. Nhân dịp này, Ban Truyền Thông giáo xứ Đa Minh – Ba Chuông thực hiện các clips Suy Niệm Mùa Chay với Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

    Các bài suy niệm này được rút ra từ các bài giảng, sứ điệp, thông điệp, chia sẻ… của Đức Gioan Phaolô II do cha Giuse Nguyễn Văn Chữ OP chuyển ngữ. Quý cha, quý thầy trong tu viện Alberto cùng anh chị em trong và ngoài Ban truyền thông giáo xứ cùng góp sức thực hiện những clips suy niệm này.


    ____________________


    Mùa Chay với Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Trọng Tâm Của Mùa Chay

    Hãy xé lòng, đừng xé áo (Ge 2,12-18)

    Hãy làm hòa với Thiên Chúa, vì đây là thời gian thuận tiện
    (2Cr 5,20-6,2)

    Cha của anh em, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, sẽ trả lại cho anh em
    (Mt 6,1-6.16-18)

    “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong sạch,
    đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy” (Tv 50,10)


    Theo một nghĩa nào đó, lời Thánh vịnh đáp ca chính là trọng tâm của mùa Chay, đồng thời lời ấy diễn tả chương trình chính yếu của mùa Chay. Những lời này trích từ thánh vịnh xin Chúa thương xót, trong đó tội nhân mở tâm hồn mình ra với Thiên Chúa, xưng thú tội lỗi mình và van xin ơn tha thứ vì những tội đã phạm: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm và con thật đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt ngài… Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần nhan thánh, đừng cất khỏi lòng con Thần Khí thánh của Ngài” (Tv 51,2-4.11)

    Thánh vịnh này là lời giải thích phụng vụ xức tro một cách hữu hiệu đặc biệt. Tro bụi là dấu chỉ tính tạm thời của con người và sự phục lụy cái chết. Trong mùa Chay này, khi chúng ta chuẩn bị tái hiện trong phụng vụ mầu nhiệm cái chết trên thập giá của Đấng Cứu độ, chúng ta phải cảm nhận và trải nghiệm sâu xa hơn nữa bản tính phải chết của chính chúng ta. Chúng ta là loài phải chết, tuy nhiên cái chết của chúng ta không có nghĩa hủy diệt và trở thành hư không. Trong cái chết ấy, Thiên Chúa đã khắc ghi niềm hy vọng sâu xa cho một thụ tạo mới. Vì vậy, hối nhân tham dự ngày Thứ tư Lễ Tro có thể phải kêu lên: “Lạy Thiên Chúa xin tạo cho con một quả tim trong sạch, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy” (Tv 51,12)


    Với tinh thần này, chúng ta bắt đầu hành trình mùa Chay, mang lấy tinh thần của Năm toàn xá, là năm thánh đánh dấu thời gian sám hối và hòa giải đặc biệt của toàn thể Giáo hội. Đó là năm của tinh thần hăng say mãnh liệt, trong thời gian đó, lòng thương xót của Thiên Chúa tuôn đổ dồi dào trên thế giới… Cuộc hành trình mà mùa Chay mời gọi chúng ta trên hết là thực hiện việc cầu nguyện: trong tuần lễ này, các cộng đoàn Kitô hữu phải trở nên “những trường cầu nguyện’ đích thực. Một mục tiêu quan trọng khác là giúp tín hữu đến với các bí tích Hòa giải, nhờ đó mỗi người có thể “tái khám phá Đức Giêsu như là mầu nhiệm của lòng thương xót, là Đấng mà nơi người, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta thấy lòng nhân ái của Chúa và hòa giải chúng ta một cách trọn vẹn với Chúa” (bước vào ngàn năm mới, 37)

    Hơn nữa, kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không thúc đẩy chúng ta dấn than vào việc bác ái, khích lệ cộng đoàn Kitô hữu thắt kết mọi sự trong đức ái. Trong trường học của Đức Kitô, cộng đoàn hiểu hơn nữa đòi hỏi của lựa chọn ưu tiên vì người nghèo, lựa chọn này là bằng chứng tình yêu của Thiên Chúa, sự quan phòng và lòng thương xót của Người.

    “Hãy làm hòa với Thiên Chúa” (2Cr5,20)… Những lời này không ngừng vang vọng trong tâm trí chúng ta. Phụng vụ nói với chúng ta rằng, ‘hôm nayl à thời gian thuận tiện để’ chúng ta làm hòa với Thiên Chúa. Suy nghĩ thế, chúng ta hãy tiến lên nhận tro và bước những bước đầu tiên trong hành trình mùa Chay. Hãy tiếp tục tiến bước trên con đường này một cách quảng đại, kiên quyết hướng nhìn về Đức Kitô, Đấng chịu đóng đinh. Bởi thập giá mới có thể xây dựng một tương lai hy vọng và bình an cho mọi người

    Bài giảng thứ tư lễ Tro ngày 28.02.2001
    Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ

    (gxdaminh.net)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2017
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Năm sau Lễ Tro

    Con Đường Hoán Cải

    Tôi đưa cho anh em con đường sống hay phải chết,
    được chúc phúc hay bị nguyền rủa. (Đnl 30:15-20)
    Hạnh phúc cho những ai hy vọng vào Thiên Chúa. (Tv 1)
    Nếu ai muốn theo tôi…(Lc 9,23).

    Trong Mùa Chay này, Đức Giêsu mời gọi chúng ta theo Người lên Giêrusalem để chịu hy sinh trên Thập Giá. “Nếu ai muốn theo tôi, hãy từ bỏ minh, vác thập giá mình hằng ngày mà theo tôi”(Lc 9:23). Dĩ nhiên đây là một lời mời gọi mang tính đòi hỏi và khó khăn, nhưng nó có thể phóng ra sức mạnh sáng tạo của tình yêu nơi những ai chấp nhận nó.

    Vì thế, từ giây phút đầu tiên của Mùa chay này, chúng ta hướng mắt về Thập giá Vinh quang của Chúa Giêsu. Tác giả sách Gương Chúa Giêsu viết như sau: “Trong Thập giá có sự cứu chuộc, trong Thập giá có sự sống; trong Thập giá có sự che chở quân thù; trong Thập giá là món quà siêu phàm cùa sự ngọt ngào từ trời cao; trong Thập giá là sức mạnh của tâm trí và niềm vui của tinh thần; trong Thập giá, nhân đức thêm vào nhân đức và sự thánh thiện thì hoàn hảo”(XII, 1).

    “Hãy sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1:14)…Chúng ta nghe lại lần nữa đoạn văn này từ Thánh sử Marcô. Đoạn văn này nhắc chúng ta nhớ rằng ơn cứu chuộc mà Đức Giêsu ban tặng cho chúng ta trong mầu nhiệm vượt qua của Người đòi hỏi chúng ta đáp trả. Vì thế phụng vụ thúc giục chúng ta diễn tả một cách rỏ rệt hồng ân hoán cải tâm hồn, chỉ cho chúng ta cách thức và phương tiện sử dụng.


    Chú ý lắng nghe lời Thiên Chúa, kiên trì cầu nguyện, chay tịnh bên trong và bên ngoài, làm việc bác ái, để cụ thể bày tỏ sự liên đới chặt chẽ với anh chị em chúng ta; đây là những việc đương nhiên đối với những ai được tái sinh vào đời sống mới trong Bí tích Thánh tẩy, không còn khuynh hướng sống theo tính xác thịt nữa nhưng sống theo Thần khí (Rm 8:4). “ Bài giảng thứ tư Lễ Tro, 12-02-1997

    Hãy cần cù chuyển trao nguyên vẹn di sản thiêng liêng đã được ủy thác cho bạn. Hãy trung thành với việc cầu nguyện hằng ngày của bạn, với thánh lể và bí tích hòa giải, thường xuyên gặp gở Chúa Giêsu là Đấng cứu độ trìu mến và thương xót. Hãy bảo vệ sự thánh thiêng của sự sống và sự thánh thiện của đời sống hôn nhân. Hãy hiểu cho rõ đức tin công giáo thánh thiện và sống nhờ giáo huấn của đức tin ấy. Hãy đối mặt với những thử thách khó khăn của đời sống văn minh hiện đại với nghị lực và sự kiên nhẫn của người Kitô hữu. Chinh Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Nếu ai muốn làm môn đệ tôi, hãy từ bỏ chính mình và vác Thập giá mình mà theo tôi” (Mt 16:24; Mc 8:34).

    Từ bỏ chính mình là bỏ đi những kế hoạch riêng của mình, những kế hoạch ấy thường nhỏ mọn và tầm thường, đễ chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa. Đó là con đường hoán cải, điều không thễ thiếu trong đời sống Kitô hữu, và đã khiến Thánh Phaolô noi: “Không còn phải là tôi sống nhưng là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2:20)

    Đức Giêsu không đòi hỏi chúng ta từ bỏ cuộc sống nhưng chấp nhận sự mới mẽ và sự sung mãn đầy tràn của sự sống mà một mình Người mới có thễ ban tặng. Con người có khuynh hướng sâu xa là “chỉ nghĩ đến mình”, còn cá nhân mình như là trung tâm của sự chú ý, và coi mình như là chuẩn mực đễ đánh giá mọi thứ. Ngược lại, ai chọn lựa theo Đức Giêsu thì không chỉ nghĩ đến mình và không đánh giá mọi sự theo lợi ích của riêng mình. Nhười ấy nhìn cuộc đời như là hồng ân nhưng không, không theo kiểu chinh phục và sở hữu. Cuộc đời chỉ sung mãn khi được sống trong sự cho đi, và đó là hoa trái của ân sủng trong Đức Kitô: một cuộc đời tự do và hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em.

    + Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
    Sứ điệp giới trẻ, 14-02-2001


    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2017
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Sáu sau Lễ Tro

    Tại Sao Chúng Ta Ăn Chay?

    Phải chăng đó là cách ăn chay mà ta ưa thích? (Is 58:1-9)
    Lạy Chúa, một tấm lòng tan nát, hèn mọn, Người sẽ chẳng khinh chê. (Tv 50)
    Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. (Mt 9:15)


    Tại sao chúng ta ăn chay? Có lẽ giây phút này đây chúng ta nhớ đến lời Đức Giêsu đáp lại các môn đệ ông Gioan Tẩy giả khi họ hỏi Người:

    “Tại sao môn đệ ông không ăn chay? Đức Giêsu nói: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, khi ấy họ mới ăn chay” (Mt 9:15).

    Thật vậy thời gian Mùa Chay nhắc nhở chúng ta rằng chàng rể đã bị đem đi xa chúng ta. Bị đem đi, bị bắt, bị tù, bị sĩ nhục, bị đánh đòn, bị đội mũ gai, bị đóng đinh… Chay tịnh trong thời gian Mùa Chay diễn tả sự liên đới với Đức Giêsu. Đó là ý nghĩa của Mùa Chay xuyên suốt nhiều thế kỷ và ngày nay vẫn còn như thế.

    Tại sao chúng ta ăn chay? Cần phải đưa ra một câu trả lời rộng rãi hơn, sâu sắc hơn, để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa chay tịnh và “sự hoán cải”, đó là sự thay đổi thiêng liêng đem con người đến gần Thiên Chúa..

    Con người hướng về của cải vật chất và rất thường lạm dụng chúng. Ở đây không chỉ là vấn đề đồ ăn, thức uống. Khi con người hoàn toàn hướng về việc sở hữu và sử dụng những của cải vật chất, nghĩa là sự vật, khi ấy nó cũng là toàn bộ nền văn minh được đo lường theo lượng và phẩm của sự vật với vai trò là hỗ trợ con người, chứ không được đo lường với thước dây phù hợp với con người. Thật ra, nền văn minh này, cung cấp của cải vật chất không chỉ để phục vụ con người thực hiện những hoạt động sáng tạo và hữu ích, mà còn hơn thế nữa… để làm thỏa mãn giác quan, thỏa mãn sự kích động từ giác quan, thỏa mãn thú vui tạm thời, thỏa mãn nhiều loại cảm giác tuyệt vời hơn…


    Nhìn thấy được điều này, con người hiện đại cần phải ăn chay, nghĩa là, không chỉ kiêng cữ đồ ăn, thức uống mà thôi, mà còn bao gồm nhiều những thứ khác như mức tiêu thụ, sự kích động, sự thỏa mãn của các giác quan. Chay tịnh là kiêng cữ, là từ bỏ cái gì đó.

    Tại sao phải từ bỏ cái gì đó? Tại sao lấy đi khỏi chính mình một điều gì đó? Chúng ta đã trả lời phần nào câu hỏi này rồi. Tuy nhiên, câu hỏi này chưa hoàn chỉnh, nếu chúng ta chưa nhận ra con người đó là cũng là chính mình, bởi vì người ấy thành công trong việc từ bỏ điều gì đó khỏi mình, bởi vì người ấy có thể nói “không” với chính mình. Con người là một hữu thể bao gồm thân xác và linh hồn. Một vài nhà văn hiện đại diễn tả cấu trúc đa dạng của con người dưới nhiều tầng lớp, chẳng hạn họ nói rằng, những lớp bề mặt của cá tính chúng ta trái nghịch với những lớp chiều sâu. Sự sống của chúng ta dường như được chia thành nhiều tầng và diễn ra qua những tầng ấy. Trong khi những lớp bề mặt được kết nối lại với dục vọng của chúng ta, thì trái lại những lớp chiều sâu là một sự biểu lộ của tinh thần con người, một ý chí có ý thức, đó là sự suy tư, là lương tâm, là khả năng sống những giá trị cao hơn.

    Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
    Tiếp kiến chung, 22-03-1979

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2017
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Bảy sau Lễ Tro

    Nghèo Khó Trong Tinh Thần Và Ơn Cứu Chuộc

    Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, thi ánh sáng
    ngươi sẽ chiếu tỏa trong bóng tối (Is 58:9-14)
    Lạy Chúa xin dạy con đương nẻo Ngài, để con vững bước
    theo chân lý cùa Ngài. (Tv 85)
    “Và anh ta đã bỏ mọi sự, trỗi dậy và theo Người”(Lc 5:28)

    Những lời nói và việc làm của Đức Giêsu và của Giáo hội Người không có nghĩa là chỉ dành cho những người bệnh tật, đau khổ hoặc những người bị xã hội ruồng bỏ một cách nào đó. Ở mức độ sâu xa hơn, những lời nói và việc làm ấy tác động đến chính ý nghĩa cuộc sống của mỗi người về khía cạnh đạo đức và tâm linh. Chỉ những ai nhận ra rằng cuộc sống của họ mang dấu ấn sự xấu xa của tội lỗi mới có thể khám phá ra chân lý và sự xác thực cuộc đời cùa họ trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ, chính Đức Giêsu cũng nói: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, chỉ người đau ốm mới cần; Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5:32-33).

    Nhưng người nào, như ông chủ giàu có trong Tin mừng, nghĩ rằng có thể làm cho cuộc sống cùa mình được bảo đảm nhờ của cải và những lợi ích vật chất mà thôi, người ấy đang tự lừa dối chính mình. Cuộc sống của ông ta đang trôi qua, sớm muộn gì ông ta cũng sẽ nhận thấy cuộc sống ấy bị lấy mất đi mà không bao giờ nhận định được ý nghĩa thực của nó: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?”
    (Lc 12:20).



    Chúa Giêsu nói: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó” (Mt 5:3) … Ai là người nghèo khó trong tinh thần? Trước tiên, vấn đề này không liên quan đến sự nghèo khổ vật chất. Theo Thánh kinh thì nghèo khó trong tinh thần liên quan đến những ai sống với cái nhìn siêu nhiên. Họ sống trên trần gian, họ làm việc và cố gắng kiếm cơm bánh hằng ngày, nhưng đồng thời họ ý thức rằng tất cả những gì tốt lành đều đến từ Thiên Chúa. Những của cải thế gian mà họ làm ra do mồ hôi công sức của họ cũng là hồng ân của Thiên Chúa. Người nghèo khó trong tinh thần là những người cho rằng họ không là gì cả và họ cũng không có gì cả. Thật sự, họ nhận ra rằng họ đã nhận được mọi sự từ bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, cùng với sự trợ giúp cùa người khác. Vì thế, họ không khoe khoang nhưng luôn ngợi khen Thiên Chúa vì những điều tốt mà họ có thể làm được trong đời họ, và như thế, họ sống trong sự thật. Có thể nói được rằng người nghèo khó tinh thần chính xác là những người sống trong sự thật và vì thế họ trở nên có khả năng chấp nhận cả những của cải lớn hơn.

    Chúa Giêsu đảm bảo với chúng ta rằng người nghèo khó trong tinh thần sẽ được vương quốc nước Trời. Thật vậy, thái độ nghèo khó nội tâm đảm bảo chiếm hữu được vương quốc nước Trời. Theo một nghĩa nào đó, sự nghèo khó tinh thần tạo ra trong con người một không gian nội tâm cần thiết để trở thành người tham dự vào đời sống và hạnh phúc của Thiên Chúa.

    Người nghèo khó trong tinh thần là những đối tượng đặc biệt trong sự chọn lựa của Thiên Chúa…Theo Tin mừng, nghèo khó trong tinh thần chỉ về một căn phòng đặc biệt mà con người làm ra để dành cho hành động của Thiên Chúa, để hành động ấy thực thi sức mạnh cứu độ. Vương quốc của Thiên Chúa được thể hiện bằng nhiều cách thức khi con người mở ra cho Thiên Chúa khoảng không gian nội tâm của tâm hồn mình, khi con người không đầy tràn chính mình nhưng mở lòng ra với Đấng Viên mãn trong thái độ khiêm tốn. Nhờ đó Thiên Chúa được tôn vinh nơi chính người ấy. Và rồi con người ấy sống chân lý của sự cứu chuộc, như chúng ta đọc thấy trong thư Thánh Phaolô: “Chính nhờ Người mà anh em được hiện hữu trong Đức Giêsu kitô, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan, sự Công Chính, sự Thánh hóa và cứu chuộc cho chúng ta”(1Cr 1:30).

    Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
    Bài giảng, 28-01-1996

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2017
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Chúa Nhật tuần 1

    Cơn Đói Của Thiên Chúa

    Việc tạo dựng nguyên tổ của chúng ta,
    và việc các ngài sa ngã từ ân sủng đến tội lỗi.
    (Kn 2:7-9, 3:2-7)
    Lạy Thiên Chúa, xin thương xót, vì chúng con đã phạm tội. (Tv 50)
    Nơi nào tội lỗi gia tăng, nơi đó ân sủng tràn đầy. (Rm 5:12-19)
    Nhưng Người đáp lại: “Thánh kinh có nói rằng:
    “Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh” (Mt 4:4)

    Là môn đệ Đức Giêsu, chúng ta không xem thường những của cải tốt lành của thế gian, vì Thiên Chúa, Đấng là nguồn mọi sự tốt lành, đã tạo dựng chúng ta. Chúng ta cũng không sao lãng nhu cầu cơm bánh, một nhu cầu lớn lao mà mọi người trên khắp thế giới đều cần. Qủa thực, nếu chúng ta phớt lờ những nhu cầu cơ bản này nơi anh chị em chúng ta là những người chúng ta thấy được, thì làm sao chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng chúng ta không thể trông thấy (x. 1Ga 4:20)? Và như vậy vẫn còn một sự thật là: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà thôi”. Nhân loại có một nhu cầu sâu xa hơn, đói khát hơn bánh ăn.

    Đó là đói khát sự bao la của Thiên Chúa. Đó là cái đói có thể được thỏa mãn bởi Thiên Chúa, Đấng đã nói: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông sẽ không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi sẽ có sự sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống” (Ga 6:53-55).

    Đức Giêsu là Đấng duy nhất có thễ làm thỏa mãn cơn đói sâu xa nhất của tâm hồn con người. Bởi vì chỉ mình Người là nguồn sự sống. Thánh Phaolô đã viết: “Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng, nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người” (1Cr 1:16-17). Trong Đức Giêsu Kitô, sự chết đã mất đi sức mạnh, đã mất đi nọc độc của nó, đã bị đánh bại. Sự thật này trong niềm tin của chúng ta xem ra có vẻ ngược đời, vì xung quanh chúng ta, chúng ta vẫn nhìn thấy con người hoảng sợ bởi chắc chắn phải chết bất ngờ và lo lắng vì đau khổ dày vò. Thực vậy, đau khổ và cái chết đè nặng trên tâm hồn con người và vẫn còn là một điều bí ẩn cho những ai không tin vào Thiên Chúa. Nhưng trong niềm tin, chúng ta biết rằng mọi thứ sẽ qua đi, rằng chiến thắng đã đạt được trong cái chết và sự phục sinh cùa Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta.



    Và đây là điều chúng ta tưởng niệm khi chúng ta tụ họp lại nhân danh Ba Ngôi chí Thánh; đây là điều chúng ta cử hành mỗi khi chúng ta tụ họp nơi Hy tế Thánh thể; chúng ta loan truyền Chúa đã chịu chết cho tới ngày Chúa đến trong vinh quang (x, 1Cr11:26); chúng ta đồng thanh tuyên xưng rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa của kẻ sống và kẻ chết, rằng Người là đường là sự thật và là sự sống (Ga 14:6); rằng Chúa Giêsu là bánh hằng sống (x. Ga 6:51). Và đó là bí tích Thánh Thể, diễn tả ước muốn của Đấng Cứu độ là luôn được ở lại trong tâm hồn con người, và tiếp tục dâng hiến sự sống của Người cho mỗi người. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta được ban tặng một món quà thật là kỳ diệu!

    Là Thầy dạy lão luyện về nhân loại và sự thánh thiện, Giáo hội chỉ cho chúng ta những khí cụ cũ và mới để hằng ngày chúng ta chống lại những gợi ý xấu, đó là: cầu nguyện, các bí tích, sám hối, lắng nghe Lời Chúa, tỉnh thức và chay tịnh.

    Chúng ta hãy sống hành trình Mùa Chay sám hối với quyết tâm lớn hơn nữa, là sẵn sàng đánh bại sự quyến rũ của ma quỷ để đi đến Mùa Phục Sinh trong niềm vui thiêng liêng. Xin Đức Maria, Mẹ của lòng Thương xót Chúa ở với chúng ta.

    + Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
    Bài giảng, 17-02-2002

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2017
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Hai tuần 1

    Hoán Cải Và Làm Phúc

    Hãy đối xử công bình với người lân cận. (Lv 19:1-2, 11-18)
    Lạy Chúa, lời Chúa là thần trí và là sự sống. (Tv 18)
    Vì xưa ta đói các ngươi đã cho Ta ăn (Mt 25:35)
    “Hãy sám hối và làm phúc” (x. Mc 1:15 và Lc 12:33)


    Ngày nay chúng ta không sẵn lòng lắm để nghe nói đến “làm phúc”. Có cái gì đó nhục nhã. Từ ngữ này dường như giả thiết một hệ thống xã hội trong đó sự bất công, sự phân phối của cải không đồng đều, một hệ thống cần được thay đổi với những cải cách thích hợp. Và nếu không thực hiện những cải cách này, thì nhu cầu về những thay đổi triệt để, đặc biệt là trong những mối tương quan giữa con người, sẽ lu mờ đi ở chân trời của đời sống xã hội. Chúng ta thấy cùng một xác tín này trong những bản văn của các ngôn sứ Cựu ước mà phụng vụ đưa ra trong Mùa Chay.

    Các ngôn sứ nhìn vấn đề theo khía cạnh tôn giáo: không có hoán cải trở về thật sự với Thiên Chúa, không có tôn giáo nào mà không đặt những xúc phạm và bất công vào trong những mối tương quan giữa con người trong đời sống xã hội. Chính trong bối cảnh này mà các ngôn sứ đã khuyến khích những việc làm phúc.

    “Cách ăn chay mà ta ưa thích chẳng phải là thế này sao; mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người không nơi trú ngụ, thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước những anh em cốt nhục” (Is 58, 6-7)


    Chắc chắn Chúa Kitô không bãi bỏ việc làm phúc theo quan điểm của chúng ta. Người cũng nghĩ đến tiền bạc, đến những của bố thí về vật chất, nhưng theo cách thức riêng của Người. Về vấn đề này, gương bà góa nghèo đã bỏ vài đồng xu nhỏ nhoi vào hòm tiền của đền thờ là một thí dụ mạnh mẽ hơn bất cứ thí dụ nào khác; về phương diện vật chất, sự dâng cúng này khó mà có thể so sánh được với sự dâng cúng của những người khác. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nói: “Bà góa này đã dâng cúng tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”(Lc 21:3-4).

    Vì vậy, trên tất cả vẫn là giá trị quà tặng từ bên trong; sẵn sàng chia sẻ mọi thứ, sẵn sàng cho đi chính mình.

    Chúng ta hãy nhớ lại lời thánh Phaolô: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp để bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13:3). Thánh Augustine cũng viết rất rõ về vấn đề này: “Nếu bạn đưa tay ra làm phúc nhưng trong lòng không có sự thương xót, thì bạn đã chẳng làm gì cả, nhưng nếu lòng bạn đầy sự cảm thông thì ngay khi bạn chẳng có gì trong tay để cho, thì Thiên Chúa cũng đón nhận “của làm phúc” cùa bạn.

    Ở đây, chúng ta đụng chạm đến trọng tâm tận cùng bên trong của vấn đề. Trong Thánh kinh, và theo các phạm trù của Tin mừng, “của làm phúc” trước hết có nghĩa là quà tặng nội tâm. Đó chính là thái độ mở ra “đối với người khác”. Thái độ này đúng là một nhân tố không thể thiếu được của sự “hoán cải”, tức là quay trở về, như cầu nguyện và chay tịnh cũng là những điều không thể thiếu được. Thực vậy, Thánh Augustine đã diễn tả rỏ rệt: “Những ai làm việc lành phúc đức thì lời cầu nguyện của họ sớm được Chúa nhận lời biết chừng nào”. Và đây là sự công chính trong cuộc đời hiện tại của người ấy; chay tịnh, làm phúc và cầu nguyện. Cầu nguyện là mở ra với Thiên Chúa; chay tịnh là làm chủ chính mình trong việc từ bỏ một điều gì đó, là nói “không” với chính mình; và cuối cùng việc làm phúc bác ái là mở ra “với người khác”. Tin mừng vẽ nên bức tranh thật rõ ràng khi nói với chúng ta về sự sám hối, về sự “hoán cải”. Chỉ khi nào có một thái độ toàn diện, trong tương quan với Thiên Chúa, với chính mình và với tha nhân, con người mới đạt tới sự hoán cải và duy trì được tình trạng hoán cải ấy.

    Tiếp kiến chung, 28-03-1979
    + Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2017
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Ba tuần 1

    Cầu Nguyện Là Mục Đích Quan Trọng Nhất Của Chúng Ta

    Lời Ta thực hiện ý muốn của Ta (Is 55: 10-11)
    Thiên Chúa sẽ cứu người công chính khỏi những nỗi thống khổ. (Tv 33)
    Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này:
    “Lạy Cha chúng con ở trên trời” (Mt 6,9)

    Khi Đức Giêsu cầu nguyện, Người dùng ngôn ngữ Aram “Cha ơi” (Mc 14:36), một từ ngữ mà những đứa con nhỏ thường gọi người cha. Chỉ duy Đức Giêsu, người con hằng hữu nơi cung lòng Thiên Chúa Cha, mới có quyền xưng hô một cách thân tình như thế với Đấng mà ngai tòa của Người ở trên trời. Nhưng chúng ta cũng được hưởng đặc ân này khi chúng ta được nhận là con cái của Thiên Chúa trong bí tích rửa tội (Ga 8:15; Gl 4:6). Chúng ta trở thành con cái trong “Người con” là Đức Giêsu. Hồng ân hiệp thông với Thiên Chúa, một hồng ân chúng ta không tưởng tượng được và không xứng đáng, làm thay đổi mọi mối tương quan nhân loại. Chúng ta không cầu nguyện với “Cha tôi”, hay “Cha của bạn”, nhưng với “Cha của chúng ta”. Ngay cả khi chúng ta “vào phòng đóng cửa và cầu nguyện…t rong nơi bí ẩn” (Mt 6:6), chúng ta cũng được kết hợp cách thiêng liêng với mọi anh chị em trong Đức Kitô, và với tất cả mọi người được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, và được cứu chuộc bởi giá máu của Con Chiên. Cầu nguyện giải thoát chúng ta khỏi tính ích kỷ, khỏi bị cô lập và cô đơn. Cầu nguyện giúp chúng ta mở ra tới sự hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân.
    “Nguyện Danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6:9-10).


    Trong thế giới hiện đại, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã xua tan những nỗi sợ hãi nơi chúng ta, làm giảm nhẹ những gánh nặng của cuộc sống, và mở ra những khả năng mới để con người tự thể hiện. Tuy nhiên, những phát triển này cũng có thễ dẫn đến một cám dỗ rất lớn giống như cám dỗ “thuở ban đầu” trong sách Sáng thế; cám dỗ tự mình quyết định điều tốt điều xấu mà không liên quan gì đến Thiên Chúa, Đấng tác tạo nên ta, một cố gắng vô ích nhằm đặt để chính mình và ý muốn của mình làm trung tâm vũ trụ thay vì Thiên Chúa và luật pháp của Người. Nhưng nếu chúng ta từ khước hay bỏ quên Thiên Chúa, “Đấng là tình yêu” khi ấy chúng ta từ khước chính tình yêu.
    Mối quan tâm trước hết của “Kinh Lạy Cha” là Danh Thiên Chúa được tôn vinh, nước Thiên Chúa được hiển trị, ý muốn cùa Thiên Chúa được thực hiện. Nếu đó là ưu tiên của chúng ta, thì tất cả những điều khác sẽ được ban cho chúng ta. Sự tiến bộ trong khoa học, kinh tế, việc tổ chức xã hội và văn hóa sẽ không tước mất lòng nhân đạo của chúng ta, nhưng sẽ phản ánh tình yêu mà duy trì tình yêu mới đem lại sự sống, ý nghĩa và thân thể cho những nỗ lực của nhân loại. Chính Thiên Chúa là Đấng “ban cho ta cơm bánh hằng ngày” (Mt 6:11), ngay cả khi chúng ta nhớ rằng chúng ta không chỉ sống nhờ cơm bánh mà còn nhờ “những lời từ miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4:4).

    Diễn văn, Trom (Norway) 02-06-1989
    Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2017
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Tư Tuần 1

    Mạc Khải Lớn Nhất Của Thiên Chúa
    Và Lòng Thương Xót Của Người


    Ninivê hoán cải khỏi đường lối xấu xa (Gn 3:1-10)
    Lạy Chúa, một tấm lòng tan nát, khiêm cung,
    ngài sẽ chẳng khinh chê.( Tv 50)
    Ở đây còn có người cao trọng hơn ông Giôna (Lc 11:32)

    Trong Tin mừng thánh Gioan chúng ta thấy một đoạn tương tự với đoạn trong thư Do Thái, nhưng diễn tả súc tích hơn. Ở cuối phần tự ngôn chúng ta đọc thấy: “Không ai nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ, ngoại trừ người Con, Đấng ở trong cung lòng của Thiên Chúa Cha. Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1:18).

    Đây là sự khác biệt thiết yếu giữa mặc khải của Thiên Chúa nơi các ngôn sứ và trong toàn bộ Cựu ước, và mặc khải do Đức Giêsu mang lại khi Người nói: “Ở đây còn hơn cả Giôna nữa” (Mc 12:41). Ở đây chính Thiên Chúa, “Ngôi Lời Nhập Thể” (x. Ga 1:14), là Đấng nói cho chúng ta về Thiên Chúa. Ngôi Lời ấy “ở trong cung lòng ánh sáng thế gian” (Ga 8:12). Người nói về chính mình như sau: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6)…

    Nếu như sứ mạng chủ yếu của Đức Kitô là mặc khải về Chúa Cha, “Thiên Chúa của chúng ta” (Ga 20:17), thì đồng thời Người cũng được Chúa Cha mặc khải là người Con. Người Con này, “là một với Chúa Cha” (Ga 20:17), nên có thể nói rằng: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9). Trong Đức Kitô, Thiên Chúa trở nên “hữu hình”, sự hữu hình của Thiên Chúa được nhận ra nơi Đức Kitô. Thánh Irênê đã diễn tả điều này thật chính xác như sau: “Thực tại vô hình của Chúa Con là Chúa Cha, và thực tại hữu hình của Chúa Cha là Chúa Con” (Adv. Haer. IV, 6,6)…


    “Chúng ta hãy quay trở lại với công đồng Vatican II, ở đây chúng ta đọc thấy: “Đức Giêsu Kitô, Lời đã hóa thành nhục thể, được sai đến sống giữa mọi người, Đấng nói Lời của Thiên Chúa” (Ga 3:34), và đã hoàn tất công cuộc cứu chuộc mà Chúa Cha đã trao cho Người (x. Ga 5:36; 17:4). Người đã hoàn thành và làm hoàn hảo việc mặc khải và chứng thực mặc khải đó với những bảo đảm của Thiên Chúa, qua chính sự hiện diện và tự biểu lộ của Người, qua những lời nói và việc làm, những dấu chỉ và những phép lạ của Người, nhưng trên tất cả là qua cái chết và sự phục sinh vinh quang từ cõi chết, và sau hết là gởi Thánh Thần chân lý đến. Người mặc khải rằng Thiên Chúa luôn ở với chúng ta, để giải thoát chúng ta thoát khỏi bóng đêm tội lỗi và phục sinh chúng ta vào cuộc sống đời đời.

    “Bởi vậy, kế hoạch cứu độ người Kitô hữu, vì là một giao ước mới và dứt khoát, sẽ không bao giờ qua đi, và người ta sẽ không còn chờ đợi mặc khải công đồng mới nào trước khi Thiên Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô biểu lộ vinh quang của Người (x. 1Tm 6:14; Tt 2:13).

    (Dei Verbum, 4)” Tiếp kiến chung, 01-06-1988
    + Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ​
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2017
  9. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Năm Tuần 1

    Hãy Tin Tưởng Và Kiên Trì Cầu Nguyện

    Lạy Chúa, chẳng ai cứu giúp con ngoại trừ Ngài. (Et 4:17)
    Lạy Chúa, trong ngày con kêu cứu, Ngài đã thương đáp lại. (Tv 137)
    “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, cứ gỏ thì sẽ mở cho” (Mt 7:7)


    Trong Tin mừng, một trong các môn đệ đã xin với Đức Giêsu, “Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện…” (Lc 1:1). Và rồi Người trả lời các ông bằng việc đưa ra ví dụ về một người đàn ông ban đêm cứ gõ cửa nài nỉ kêu xin sự giúp đỡ của người bạn. Anh ta nhận được điều anh ta kêu xin. Vì thế, Đức Giêsu khuyến khích chúng ta hãy có thái độ tương tự trong cầu nguyện; đó là kiên trì luôn mãi. Người nói: “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ cửa thì sẽ mở” (Mt 7:7).

    Chúng ta cũng có một mẫu gương cầu nguyện kiên trì, khiêm tốn, và tin tưởng như thế trong Cựu ước, nơi tổ phụ Abraham, ông đã van xin Chúa cứu lấy thành Sôđôme và Gômôra nếu như cuối cùng chỉ tìm thấy có mười người công chính.

    Vì thế, chúng ta phải thúc giục chính mình cầu nguyện nhiều hơn nữa. Chúng ta phải thường xuyên nhớ đến giáo huấn của Đức Giêsu: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho”. Đặc biệt, chúng ta phải nhớ lời này khi chúng ta mất sự tin tưởng hay mất lòng khao khát cầu nguyện.


    Chúng ta cũng luôn luôn học làm mới cách cầu nguyện. chúng ta thường miễn chuẩn cho mình khỏi cầu nguyện với lời bào chữa là không thể cầu nguyện được. Nếu thật sự chúng ta không biết cách cầu nguyện thì học cầu nguyện là điều cần thiết hơn tất cả. Điều này quan trọng đối với người, và có lẽ là quan trọng đặc biệt đối với người trẻ, họ thường thờ ơ trong việc cầu nguyện mà họ đã được học khi còn nhỏ, bởi vì dường như họ còn quá ngây thơ và nông cạn. Đúng ra, tình trạng như vậy lại là một động cơ gián tiếp để đào sâu việc cầu nguyện, làm cho việc cầu nguyện thêm thâm trầm, trưởng thành hơn, và kiếm tìm sự hỗ trợ nơi chính lời Thiên Chúa và trong Chúa Thánh Thần, ‘Đấng chuyển cầu cho chúng ta bằng những tiếng rên xiết khôn tả’, như Thánh Phaolô đã viết (Rm 8:26).

    Chúng ta biết rõ rằng không thể coi cầu nguyện là chuyện đương nhiên. Nhưng phải học cầu nguyện; có thể nói nghệ thuật này luôn luôn mới mẻ từ chính môi miệng Thầy Chí Thánh, như các môn đệ đầu tiên: “Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:1). Việc cầu nguyện làm tăng triển cuộc đàm đạo với Chúa Kitô, làm cho chúng ta trở nên người bạn thâm giao của Chúa: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15:4). Sự trao đổi này là chính bản chất và linh hồn của đời sống Kitô hữu. Được Thánh Thần tác động, sự trao đổi này mở lòng chúng ta chiêm ngắm khuôn mặt của Chúa Cha, qua và trong Đức Kitô. Học hỏi khuôn mẫu kinh nghiệm của Kitô hữu theo chiều kích Ba Ngôi và sống khuôn mẫu ấy một cách sung mãn, nhất là trong phung vụ, đỉnh cao và nguồn mạch của đời sống Giáo hội, và cả trong kinh nghiệm cá nhân, là bí quyết của một Kitô giáo sống động thật sự, một Kitô giáo chẳng có lý do gì để sợ hãi tương lai, bởi vì Kitô giáo không ngừng trở về với các nguồn mạch và tìm thấy sự sống mới trong những nguồn mạch ấy.

    Các cộng đoàn Kitô hữu chúng ta phải trở về những “trường” dạy cầu nguyện đích thực, nơi đó cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu không chỉ là nài xin giúp đỡ mà còn là tâm tình tạ ơn, chúc tụng, tôn thờ, chiêm ngắm, lắng nghe và dâng hiến mãnh liệt, cho đến khi tâm hồn thật sự “yêu”. Cầu nguyện tha thiết, phải, nhưng không làm chúng ta sao lãng việc dấn thân vào lịch sử; bằng việc mở lòng ra với tình yêu của Thiên Chúa, cầu nguyện cũng mở lòng chúng ta ra với anh chị em mình, và làm cho chúng ta có khả năng hình thành lịch sử theo như kế hoạch của Thiên Chúa.

    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2017
  10. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Sáu Tuần 1

    Hãy Tha Thứ Thì Sẽ Được Thứ Tha

    Nếu kẻ gian ác từ bỏ tội lỗi mình đã phạm, họ sẽ được sống. (x. Ed 18:21)
    Lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội,
    nào có ai đứng vững được chăng? (x. Tv 130)
    Thầy bảo cho anh em biết, ai giận anh em mình
    thì đáng bị đưa ra tòa (Mt 5:22).


    Điều răn “Ngươi không được giết người”, bao gồm và diễn tả đầy đủ hơn điều luật tích cực về tình yêu đối với tha nhân, được Đức Giêsu xác nhận một lần nữa trong tất cả sức mạnh của nó. Đối với người thanh niên giàu có hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”? Đức Giêsu trả lời: “Nếu anh muốn được sống, hãy giữ các giới răn” (Mt 19:16-17). Và Người đã trích dẫn, như điều răn đầu tiên: “Ngươi không được giết người” (Mt 19:18). Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu đòi các môn đệ sống chính trực hơn các kinh sư pharisêu, cả về vấn đề tôn trọng sự sống: “Anh em đã nghe luật xưa dạy rằng ‘không được giết người’ và ‘bất cứ ai giết người thì sẽ bị đưa ra tòa’. Nhưng Thầy bảo thật anh em, ai giận anh em mình thì đáng bị đưa ra tòa” (Mt 5:21-22).

    Bằng lời nói và hành động, Đức Giêsu mở ra thêm những đòi hỏi tích cực của điều răn liên quan đến việc xúc phạm đến sự sống. Những đòi hỏi này cũng có trong Cựu ước, nơi đây luật pháp nói đến việc chở che và bảo vệ sự sống đối với những người yếu đuối và bị đe dọa; đối với ngoại kiều, góa phụ, cô nhi, những người ốm đau, nghèo khó nói chung và cả thai nhi (Xh 21:22, 22:20-26). Đối với Đức Giêsu, những đòi hỏi tích cực này cho thấy một sức mạnh và sự cấp bách mới, và được biểu lộ trong tất cà chiều rộng và chiều sâu; những đòi hỏi ấy xếp loại từ việc chăm lo đến đời sống của anh em mình (hoặc là anh em cùng huyết thống, hoặc là những người cùng một chủng tộc, hoặc là ngoại kiều sống trên đất Israel) cho đến việc tỏ sự quan tâm đối với người xa lạ, thậm chí tới mức yêu thương kẻ thù của mình.


    Người xa lạ không còn phải là xa lạ đối với người phải trở thành thân cận của người khốn khó, đến mức chấp nhận trách nhiệm đối với cuộc sống của người ấy như thấy rõ trong dụ ngôn người sứ Samari nhân hậu (Lc 10:25-37). Ngay cả kẻ thù cũng không còn là kẻ thù đối với người bó buộc phải yêu thương (x. Mt 5:38-48; Lc 6:27-35), làm “điều tốt” cho kẻ ấy (x. Lc 6:27; 33:35), và mau chóng đáp ứng nhu cầu cấp bách của người ấy mà không mong được báo đền (x. Lc 6:34-35). Đỉnh cao của tình yêu này là cầu nguyện cho kẻ thù ghét mình. Khi làm như vậy, chúng ta thực hiện sự hài hòa với tình yêu quan phòng của Thiên Chúa: “Thầy bảo anh em hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bách hại anh em, như thế để anh em có thể là con cái của Cha trên trời; vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt và cho mưa xuống trên người công chính lẫn kẻ bất lương” (Mt 5:44-45; x. Lc 6:28-35).

    Như vậy, yếu tố sâu xa nhất trong điều răn của Thiên Chúa nhằm bảo vệ sự sống con người là đòi hỏi phải kính trọng và yêu thương mọi người và sự sống của mọi người. Đây là giáo huấn mà Thánh Phaolô tông đồ, lặp lại lời Chúa Giêsu, gửi cho các Kitô hữu ở Rôma: “Các điều răn như: ‘Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn’, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: ‘Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình’. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13:9-10).


    Tin mừng sự sống, 41
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2017
  11. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Bảy tuần 1

    Mọi Người Đều Được Mời Gọi Sống Thánh Thiện

    Các ngươi sẽ là dân được Thánh hiến cho Thiên Chúa. (x. Đnl 26:16-19)
    Hạnh phúc cho những người đi theo Chúa (x. Tv 118)
    “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).

    Giáo hội thánh thiện và tất cả mọi phần tử của Giáo hội được kêu mời sống thánh thiện. Người giáo dân tham dự vào sự thánh thiện của Giáo hội như là những phần tử đầy đủ tư cách của cộng đồng Kitô hữu; sự tham dự này, có thể gọi là theo cách bản thể, đối với người giáo dân, cũng có thể trở thành một sự dấn than luân lý cá nhân để đạt tới sự thánh thiện. Trong khả năng này và ơn gọi sống thánh thiện này, mọi phần tử trong Giáo hội đều bình đẳng (x.Gl 3:28). Mức độ thánh thiện cá nhân không tùy thuộc vào địa vị trong xã hội hay trong Giáo hội, nhưng chỉ tùy thuộc vào mức độ sống đức ái (x. 1Cr 13). Một người giáo dân quảng đại đón nhận đức ái của Thiên Chúa trong tâm hồn và trong đời sống cùa mình có khi còn thánh thiện hơn một linh mục hay giám mục chỉ đón nhận đức ái ấy một cách hời hợt…
    Công đồng khẳng định: “Được Thiên Chúa kêu gọi không phải do công việc của họ nhưng do kế hoạch và ân sủng của Chúa, và khi đã được công chính hóa trong Chúa Giêsu, những người đi theo Chúa Kitô được trở thành con cái Thiên Chúa trong phép rửa của đức tin và trở thành những người tham dự vào bản tính Thiên Chúa, và như vậy thực sự được thánh hóa” (LG, 40) Thánh thiện có nghĩa là thuộc về Thiên Chúa; điều này được thực hiện trong phép rửa, khi Chúa Kitô chiếm hữu con người, làm cho con người “được chia sẻ thần tính” (x. 2Pr 1:4), là bản tính ở trong Chúa Kitô nhờ mầu nhiệm nhập thể (x. ST III, q. 7, a. 13; q.8, a.5). Như vậy, như đã nói, Chúa Kitô trở thành “sự sống của linh hồn”. Ấn tín bí tích in vào con người nhờ phép rửa là dấu chỉ và mối dây thánh hiến cho Thiên Chúa. Vì thế khi thánh Phaolô nói đến những người được rửa tội, ngài gọi họ là “các thánh” (x. Rm 1:7; 1Cr 1:2; 2Cr 1:1, v.v…)


    Mọi người đều phải nỗ lực nên thánh, vì họ đã có hạt giống trong mình; họ phải nuôi dưỡng sự thánh thiện đã được ban cho họ. Mọi người phải sống “xứng đáng là người trong các thánh”(Ep 5:3), và, “như những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương, hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại” (Cl 3:12). Nơi người được rửa tội, sự thánh thiện của họ không bảo vệ họ khỏi bị cám dỗ hoặc mọi khiếm khuyết, vì sự yếu đuối của bản tính con người vẫn còn ở đời này…
    Nỗ lực sống hoàn thiện không phải là một đặc ân của một vài người, nhưng là bổn phận của mọi phần tử trong Giáo hội. Dấn thân theo đuổi sự hoàn thiện Kitô giáo có nghĩa là kiên trì trên con đường thánh thiện. Công đồng khẳng định: “Chúa Giêsu, Thày dạy thần linh và khuôn mẫu sự hoàn thiện, rao giảng sự thánh thiện của đời sống (mà Người là tác giả và là Đấng tạo thành) cho từng người và mọi người trong các môn đệ của Người không phân biệt ai; ‘Vậy anh em hãy nên hoàn hảo như Cha anh em ở trên trời là Đấng hoàn hảo’ (Mt 5:48; LG, 40). “ Bởi vậy, tất cả mọi Kitô hữu ở mọi địa vị hoặc hoàn cảnh nào đều được mời gọi sống trọn vẹn đời sống Kitô hữu và sự hoàn hảo của tình yêu”(ibid). Theo lời của tôi tớ Chúa Elizabeth Leseur, “Mọi linh hồn sống lại đều làm cho thế giới sống lại với mình”. Công đồng dạy rằng: “Từ sự thánh thiện này, một cung cách sống nhân bản hơn sẽ được cổ võ thậm chí trong xã hội trần gian” (ibid).
    Tiếp kiến chung, 24-11-1993
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2017
  12. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Chúa nhật tuần 2

    Sứ Vụ Tông Đồ Chân Thực
    Đòi Hỏi Mối Tương Quan Với Chúa Kitô


    Ơn gọi cùa Abrham, tổ phụ dân Thiên Chúa. (x.St 12:1-4)
    Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, vì chúng con tin tưởng nơi Ngài. (x. Tv 32)
    Thiên Chúa đã cứu chúng ta, và mời gọi chúng ta nên thánh. (x. 2Tm 1:8-10)
    “Đây là người Con Ta yêu quí, Ta hài lòng về Người, hãy lắng nghe Người” (Mt 17:5)

    “Đây là người Con Ta yêu quý, Ta hài lòng về Người. Hãy lắng nghe lời Người” (Mt 17:5). Lời Chúa Cha mời gọi các môn đệ được đặc ân chứng kiến biến cố Biến Hình khác thường ngày nay vẫn còn vang vọng nơi chúng ta và toàn thể Giáo hội. Giống như Phêrô, Giacôbê và Gioan, chúng ta cũng được mời gọi lên núi Thabor cùng với Chúa Giêsu và để cho mình kinh hoàng vì vẻ rực rỡ trong vinh quang của Người. Trong Chúa nhật thứ hai Mùa Chay này, chúng ta chiêm ngắm Chúa Kitô được bao bọc trong ánh sáng, giữa ông Môsê và Êlia, những phát ngôn viên uy tín của Cựu ước. Chúng ta đổi mới lại sự gắn bó với Người: Người là “người Con yêu quý của Chúa Cha”.
    Hãy lắng nghe Người! Lời kêu gọi thúc bách này khích lệ chúng ta làm cho hành trình Mùa Chay của chúng ta thêm sâu sắc. Đó là lời mời gọi để cho ánh sáng Chúa Kitô soi sáng cuộc đời chúng ta và cho chúng ta sức mạnh để loan báo và làm chứng về tin mừng cho anh chị em của chúng ta. Đó là một nhiệm vụ, như chúng ta biết rõ, đôi khi vất vả và đau đớn. Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh điều này khi nói với người môn đệ trung thành Timothy: “Hãy chia sẻ đau khổ với chúng tôi để loan báo tin mừng” (2Tm 1:8).



    Kinh nghiệm cuộc biến hình của Chúa Giêsu chuẩn bị cho các tông đồ đối mặt với những biến cố bi thảm trên đồi Calvary bằng cách bày tỏ cho họ biết trước đâu là mặc khải vinh quang của Thầy trọn vẹn và dứt khoát trong mầu nhiệm vượt qua. Khi suy niệm đoạn Tin mừng này, chúng ta cũng chuẩn bị làm sống lại những biến cố quyết định trong cái chết và sự sống lại của Chúa, đi theo Người trên con đường thập giá để tiếp nhận ánh sáng và vinh quang. Thực vậy, trước hết chúng ta “phải chịu đau khổ rồi mới tiến tới vinh quang phục sinh cùa Người” (Lời tiền tụng…)
    Trong Mùa Chay hệ trọng này, một lần nữa, tôi mời gọi các bạn tiếp cận bí tích chữa lành thiêng liêng với lòng tin tưởng. Bí tích ấy hiện tại hóa lời mời gọi hoán cải của Chúa Giêsu và con đường dẫn đưa chúng ta trở lại với Chúa Cha, Đấng mà con người xa cách vì tội lỗi…
    Để thực sự cử hành bí tích hòa giải, điều cần thiết là sự thú nhận tội lỗi phải phát xuất từ việc nghiêm chỉnh và thận trọng suy tư về lời Chúa và tiếp xúc sống động với con người Chúa Kitô. Vì mục đích này, cần có giáo lý thích hợp nhằm đặt con người trong sự hiệp thông với Chúa Giêsu, vì duy mình Người có thể dẫn đưa chúng ta đến tình yêu của Chúa Cha và trong Chúa Thánh Thần, và cho chúng ta chia sẻ sự sồng của Ba ngôi chí thánh…
    Chẳng phải chính từ việc hiểu biết Chúa Kitô, bản thân của Người, tình yêu và chân lý của Người mà những ai đích thân cảm nghiệm Người đều cảm thấy một ước muốn không sao cưỡng lại được là phải loan báo Người với mọi người, phúc âm hóa và dẫn đưa người khác tới chỗ khám phá đức tin sao? Tôi hy vọng rằng mỗi người trong các bạn sẽ ngày càng được khích lệ bởi lòng khao khát Chúa Kitô, là nguồn mạch của tinh thần truyền giáo đích thực…
    Xin Đức Trinh nữ diễm phúc, Ngôi sao phúc âm hóa, giúp chúng ta hiểu biết lời của người con của Mẹ, và loan báo lời ấy cho anh em chúng ta một cách quảng đại và kiên trì.

    Bài giảng, Ostia, 28-02-1999
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2017
  13. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Hai tuần 2

    Thiên Chúa Là Cha Và Là Đấng Tha Thứ

    Chúng tôi đã phạm tội, chúng tôi đã làm điều sai trái. (x. Đn 9:4-10)
    Lạy Chúa xin đừng xử với chúng con như chúng con đáng tội. (x. Tv 78)
    “Hãy nhân từ như Cha trên trời là Đấng nhân từ. (Lc 6:36)

    Tình phụ tử của Thiên Chúa không chỉ liên quan tới dân được tuyển chọn, mà còn vươn tới mọi người và vượt quá mối dây hiện hữu với những cha mẹ trần gian. Đây là một bản văn: “Dù cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27:10). “Như người cha chạnh lòng thương con cái, Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính sợ Người” (Tv 103:13). “Đức Chúa khiển trách kẻ Người thương, như người cha xử với con yêu quý” (Cn 3:12). Trong các bản văn vừa trích dẫn, rõ ràng có tính chất loại suy về tình phụ tử của Thiên Chúa với Đấng mà lời cầu nguyện hướng tới: “Lạy Đức Chúa là Cha và là Chúa tể đời con, xin đừng để mặc con chiều theo sở thích của môi miệng, đừng để nó làm con vấp ngã… Lạy Đức Chúa là Cha và là Thiên Chúa của đời con, xin đừng để mắt con trâng tráo” (Hc 23:1-4). Cũng một ý tưởng đó, kẽ xấu lại nói “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù” (Kn 2:18). Đối với Israel cũng như đối với từng cá nhân, tình phụ tử của Thiên Chúa được bộc lộ trong lòng thương xót. Chẳng hạn, chúng ta đã đọc thấy trong sách Giêrêmia: “Chúng trở về, nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng… Vì đối với Israel, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ephraim chính là con trưởng” (Gr 31:9). Có nhiều đoạn Cựu ước trình bày lòng từ bi của Thiên Chúa Giao ước. Đây là một vài đoạn: “Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải… Lạy Chúa tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa” (Kn 11:23-26). “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31:3).
    Trong sách ngôn sứ Isaia, chúng ta gặp thấy những chứng cứ cảm động về sự chăm sóc và yêu thương: “Nhưng Xion nói, ‘Chúa đã bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi’. Người đàn bà có thể quên con mình ư? Nhưng cho dù người đàn bà có quên con mình, Ta cũng sẽ không quên ngươi” (Is 49:14-15; cũng xem 54:10).


    Điều có ý nghĩa trong những đoạn văn của ngôn sứ Isaia, tình phụ tử của Thiên Chúa được trình bày phong phú với những ám chỉ được gợi hứng từ tình mẹ (x. Thiên Chúa giàu lòng thương xót, cước chú 52). Vào lúc viên mãn của thời Mêsia, Chúa Giêsu thường công bố tình phụ tử của Thiên Chúa đối với loài người bằng cách liên kết tình phụ tử ấy với nhiều biểu hiện trong Cựu ước. Như vậy tình phụ tử ấy được diễn tả liên quan đến sự quan phòng của Thiên Chúa đối với thụ tạo, nhất là đối với con người: “Cha trên trời nuôi dưỡng chúng…” (Mc 6: 26; x.Lc 12:24); “Cha trên trời biết anh em cần tất cả những thứ ấy” (Mt 6:23; xLc 12:30). Chúa Giêsu tìm cách làm cho người ta hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa bằng cách trình bày việc người cha đón nhận đứa con hoang đàng là phù hợp với Thiên Chúa (x. Lc 15:11-32); và người khuyến cáo những kẻ nghe lời Người: “Hãy thương xót, như Cha trên trời là Đấng thương xót” (Lc 6:36).
    Để kết luận, chúng ta có thể nói, qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa không chỉ “là Cha của Israel, Cha của nhân loại, mà còn là “Cha chúng ta”.

    Tiếp kiến chung, 16-10-1985
    + Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2017
  14. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Ba tuần 2

    Phục Vụ Để Cai Trị

    Hãy học làm điều thiện,
    tìm kiếm sự công bình. (x. Is 1:10, 16-20)
    Với người ngay thẳng, Ta sẽ chỉ cho thấy quyền năng cứu độ
    của Thiên Chúa (x. Tv 49)
    “Người lớn nhất trong anh em phải là tôi tớ anh em “ (Mt 23 1:12)

    Tôi hỏi bạn lần nữa: có lẽ bạn không tới đây để xác tín một lần cho tất cả rằng làm lớn là phục vụ? Sự phục vụ này chắc chắn không phải là một tình cảm nhân loại thuần túy. Cộng đoàn môn đệ Chúa Kitô cũng không phải là một cơ quan tự nguyện hay một nhóm trợ giúp xã hội. Quan niệm phục vụ như vậy sẽ hàm ý việc hạ thấp tới mức độ “tinh thần của thế tục”. Không! ở đây chúng ta đề cập tới một điều gì hơn thế. Tính triệt để, phẩm chất và định mệnh của “sự phục vụ” này mà tất cả chúng ta đã được kêu gọi, phải được nhìn trong bối cảnh ơn cứu chuộc nhân loại. Vì chúng ta đã được tạo dựng, chúng ta đã được kêu gọi, chúng ta đã được tiền định, trước hết và quan trọng nhất, là để phục vụ Thiên Chúa, trong hình ảnh Chúa Kitô, Đấng là Chúa của mọi thụ tạo, là trung tâm của vũ trụ và của lịch sử, đã bày tỏ vương quyền của Người qua sự vâng phục cho đến chết, và đã được vinh quang trong sự phục sinh. (x. LG, 36). Nước trời được thực hiện nhờ sự phục sinh này, vốn là sự viên mãn và là thước đo tất cả mọi sự phục vụ của con người, sự phục vụ này không thực hiện nhờ quyền bính, sức mạnh hay tiền bạc. Mỗi người trong chúng ta được mời gọi hoàn toàn sẳn sàng đi theo Chúa Kitô, Đấng “đã đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ”.

    Để phục vụ; để là người cho người khác.

    Đây cũng là chân lý của Thánh tông đồ Phaolô đã giảng dạy một cách rất hung hồn…

    “ Dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi xin nói với từng người trong anh em: đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tùy theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho” (Rm 12:3)


    Và thánh tông đồ nói thêm: “Chúng ta có những ân sủng khác nhau” (Rm 12:6).

    Đúng vậy! bạn cần biết rõ những ân sủng Thiên Chúa đã ban cho bạn trong Chúa Kitô. Bạn cần biết rõ ân sủng bạn đã nhận được trong chính kinh nghiệm của đời sống gia đình và đời sống giáo xứ, trong việc cộng tác với người khác, và trong việc phát triển những phong trào có đặc sủng, nhờ đó bạn có thể trao tặng ân sủng cho người khác; như vậy là làm phong phú sự hiệp thông và động lực truyền giáo của Giáo hội, làm chứng nhân cho Chúa Kitô nơi láng giềng và nhà trường, đại học và xưởng máy, những nơi làm việc và giải trí,… đóng góp vào ích chung, như những người tôi tớ có kinh nghiệm về sự tăng trưởng trong nhân loại, kinh nghiệm về phẩm giá và sự liên đới… Đây là điều thánh tông đồ dạy chúng ta. Điều ngài nói không chỉ là một giáo huấn, mà là một lời kêu gọi mạnh mẽ. “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12:9-13).

    Bài giảng tại Santiago de Compostela, 20-08-1989.
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ​
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2017
  15. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Tư tuần 2

    Hãy Sẵn Sàng Chịu Đau Khổ
    Và Hy Sinh Vì Chúa Kitô


    Hãy đến đây, chúng ta hãy hãm hại nó. (Gr 18:18-20)
    Trong tình yêu bền vững của Ngài, xin cứu con, lạy Chúa. (Tv 30)
    “Các anh có uống được chén mà Thầy sắp uống không?”
    họ đáp, “Thưa được” (Mt 20:22).

    Hãy nhìn Giacôbê, con ông Zêbêdê, một ngư phủ giống như cha và em mình; con trai của một người phụ nữ quyết đoán. Giacôbê đi theo Đức Giêsu Nazareth. Khi đáp lại lời xin của bà mẹ, Người hỏi, “Các anh có uống được chén Thầy sắp uống không?” (Mt 20:22), Giacôbê và người em trả lời không do dự: “Chúng con uống được” (Mt 20:22).
    Đây không phải là một lời đáp có tính toán, nhưng đúng hơn, là một lời dầy tự tin. Giacôbê chưa biết, và xét cho cùng nếu ông biết, ông đã không biết đầy đủ, “chén” nghĩa là gì. Chúa Kitô nói về chén mà chính Người phải uống, chén mà Người nhận lãnh từ Chúa Cha.

    Giây phút đó đến khi Chúa Kitô làm trọn điều Người đã loan báo trước đó. Người đã uống chén mà Chúa Cha đã trao cho Người, cho đến giọt cuối cùng.

    Sự thật Giacôbê đã không cùng ở với Thầy mình trên đồi Golgôtha. Phêrô và các tông đồ khác cũng vậy. Chỉ có Gioan ở lại với thân mẫu Chúa Kitô – một mình ông mà thôi. Thế nhưng sau đó tất cả các ông đều hiểu – và Giacôbê cũng hiểu – sự thật về “chén”. Ông hiểu rằng Chúa Kitô phải uống chén đó cho tới giọt cuối cùng. Ông hiểu rằng Người cần phải trải qua tất cả những điều đó; ông hiểu rằng Ngưởi phải chết đau đớn trên thập giá…

    Thực vậy, Chúa Kitô, con Thiên Chúa đã đến “không phải đễ được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc nhiều người” (Mt 20:28). Chúa Kitô là tôi tớ của công trình cứu chuộc nhân loại!…


    Thế nhưng, bạn có sẵn sàng để uống chén này không? Bạn có sẵn sàng đễ chính bạn được mình và máu Chúa Kitô thấm nhập, nhờ đó mà chết cho người cũ ở trong chúng ta, và trỗi dậy với Người không? Bạn có thấy sức mạnh của Chúa giúp cho bạn mang lấy những hy sinh, những đau khổ và “thập giá” đè nặng trên những người mất phương hướng về ý nghĩa cuộc sống, những người bị quyền lực chi phối, những người thất nghiệp, những người đói khát, những người chìm ngập trong nghiện ngập và bạo lực, những người làm nô lệ cho tình dục đang lan rộng khắp nơi? …Hãy biết rằng ách của Chúa Kitô thì dễ dàng… và chỉ ở trong Người chúng ta mới tìm được gấp trăm ở đây và bây giờ, và cuộc sống đời đời sau này…

    Các bạn thân mến, tôi mời gọi các bạn khám phá ra ơn gọi thực sự của các bạn để cộng tác trong việc mở mang vương quốc của sự thật và sự sống, của sự thánh thiện và ân sủng, công bình, bác ái và hòa bình. Nếu các bạn thực sự muốn phục vụ anh chi em của mình, hãy để Chúa Kitô cai trị trong tâm hồn các bạn, hãy để cho Người giúp bạn phân định và tăng trưởng trong việc chủ trị chính bạn, củng cố các bạn trong các nhân đức, đổ đầy vào bạn trước hết là đức ái, hướng dẫn các bạn trên con đường dẫn đưa các bạn tới “tình trạng của một con người hoàn hảo”. Đừng sợ trở thành thánh nhân!

    Bài giảng tại Santiago de Compostela, 16-10-1994
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ​
     
  16. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Năm Tuần 2

    Công Bình Xã Hội Kêu Gọi Hoán Cải

    Khốn cho những kẻ tin tưởng vào con người;
    phúc cho những ai tin tưởng vào Chúa là Thiên Chúa. (Gr 17:5-10)
    Hạnh phúc thay ai hy vọng vào Chúa. (Tv 1 )
    “Nếu chúng không nghe ông Môsê và các ngôn sứ,
    thì dù có kẻ chết sống lại, chúng cũng chẳng chịu nghe”. (Lc 16: 19-31)

    Hoàn cảnh của con người ngày nay chắc chắn không phải là giống nhau, nhưng có nhiều khác biệt. Những khác biệt này có nguyên nhân trong lịch sử, nhưng chúng cũng có những hậu quả luân lý mạnh mẽ. Thực vậy, mọi người đều quen thuộc với hình ảnh nền văn minh tiêu thụ, nền văn minh hệ tại một số hàng hóa thặng dư cần thiết cho con người và cho toàn thể xã hội – và đúng là chúng ta đang giao tiếp với những xã hội giàu có, phát triển cao – trong lúc xã hội còn lại – ít là những khu vực rộng lớn – đang phải chịu đói nghèo, mỗi ngày nhiều người chết vì đói và thiếu dinh dưởng. Gắn liền với tình trạng đó là sự lạm dụng tự do bởi một nhóm người – một sự lạm dụng rõ ràng là gắn liền với thái độ tiêu thụ mà nền luân lý không kiểm soát được – và sự giới hạn tự do của những người khác, nghĩa là, những người phải chịu đựng sự thiếu thốn và bị đẩy tới những hoàn cảnh đáng thương và túng cực tồi tệ hơn.

    Mô hình này, mà chúng ta đã quen, và sự đối nghịch của nó, tương ứng với diễn biến của dụ ngôn trong Thánh kinh về người phú hộ và anh Ladarô nghèo. Những cơ chế tài chánh, tiền bạc, sản phẩm và thương mại đang bị chất vấn, những cơ chế ấy nâng đở nền kinh tế thế giới dựa vào nhiều áp lực chính trị khác nhau. Những cơ chế này chứng minh là không thể chửa trị những hoàn cảnh xã hội bất công cũng như không thể đương đầu với những thách đố khẩn cấp và đòi hỏi luân lý hiện tại. Bằng việc đẩy con người vào những căng thẳng do chính con người tạo ra, bằng việc hoang phí những tài nguyên vật chất và năng lượng với tốc độ nhanh chóng, và thỏa hiệp với những môi trường địa vật lý, những cấu trúc này không ngừng gia tăng những hoàn cảnh khổ cực, đi đôi với những đau đớn, thất vọng và cay đắng.



    Trước mắt chúng ta là một thảm kịch lớn lao mà không ai có thể dửng dưng. Một mặt, con người cố gắng rút ra lợi nhuận tối đa, mặt khác, kẻ phải trả giá cho thiệt hại và thương tổn lại luôn là con người. Thảm kịch trở nên tồi tệ hơn bởi sự hiện diện ở ngay bên cạnh của những tầng lớp xã hội được đặc ân và những quốc gia giàu có, những nước tích lũy hàng hóa ở mức độ thái quá và lạm dụng tài nguyên của mình rất thường trở thành nguyên nhân của những tệ nạn khác. Thêm vào đó là cơn sốt lạm phát và nạn thất nghiệp – đây cũng là những triệu chứng của sự hỗn loạn về luân lý cần được lưu ý trong hoàn cảnh của thế giới và do đó đòi hỏi những giải pháp sáng tạo mạnh dạn phù hợp với phẩm giá đích thực của con người…Con đường khó khăn của sự biến chuyển tất yếu này, sự biến chuyển những cơ cấu của đời sống kinh tế, là một con đường không dễ đi về phía trước mà không có sự can thiệp của sự hoán cải trí, tâm và ý chân thành. Công việc này đòi hỏi một sự quyết tâm dấn thân của cá nhân và những dân tộc tự do; và liên kết trong liên đới.

    Đấng cứu chuộc con người, 16
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 16 tháng Ba 2017
  17. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Sáu Tuần 2

    Đau Khổ Của Đức Giêusu
    Bộc Lộ Tình Yêu Của Thiên Chúa Đối Với Chúng Ta


    “Thằng chiêm bao đang đến kìa;
    chúng ta hãy giết nó đi” (St 37:3-4, 12-13, 17-28).
    “Hãy nhớ lại những kỳ công Chúa đã làm” (Tv 104).
    “…chúng bắt lấy cậu, quăng ra ngoài vườn nho và giết đi” (Mt:39).

    Nếu chân lý về Chúa Giêsu Kitô là Người Con được Chúa Cha gửi đến được trình bày đặc biệt rõ ràng trong các bản văn của Gioan, thì cũng hàm chứa trong các tin mừng nhất lãm. Chẳng hạn, chúng ta thấy, Chúa Giêsu nói: “Tôi còn phải rao giảng nước trời cho các thành khác nữa; vì tôi được sai đến vì mục đích ấy” (Lc 4:43). Đặc biệt quan trọng là dụ ngôn những tá điền độc ác. Họ đối xử tàn tệ với các đầy tớ do ông chủ vườn nho gửi đến “gặp các người làm thuê để thu hoa lợi từ vườn nho” (Mc 12:2), và giết một số người. Cuối cùng, ông chủ vườn quyết định sai chính con trai của mình, “Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu: người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ; ông nói: ‘Chúng sẽ nể con ta.’ Nhưng bọn tá điền ấy bảo nhau: ‘Đứa thừa tự đây rồi! nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta.’ Thế là họ bắt cậu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho” (Mc 12:6-8). Khi giải thích dụ ngôn này, Chúa Giêsu nhắc lại thánh vịnh 117 về viên đá bị thợ xây loại bỏ; chính viên đá này đã trở nên viên đá góc tường (x. Tv 117:22)

    Dụ ngôn người con được sai đến với những người thuê vườn nho được tất cả các Tin mừng nhất lãm ghi lại (x, Mc12:1-12; Mt 21:43-46; Lc 20:9-19). Từ dụ ngôn đó phát xuất chân lý rõ ràng về Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến. Thực vậy, dụ ngôn nhấn mạnh khá sinh động đặc tính hy sinh và cứu chuộc trong sứ mạng. Người con quả thực là “người mà Chúa Cha thánh hiến và sai vào thế giới” (Ga 10:36). Như vậy, “trong những ngày sau hết này,” Thiên Chúa không chỉ “nói với chúng ta qua người Con” (x. Dt 1:1-2), mà còn ban người Con cho chúng ta, trong một hành vi không thể thấu hiểu, bằng cách gửi Người đến trong thế giới.


    Với những thuật ngữ này, Tin mừng Gioan cũng nói một cách hết sức cảm động, “Thiên Chúa đã yêu thương thế giới đến nỗi trao ban người Con Một, để những ai tin vào người thì không hư mất nhưng được sống đời đời” (Ga 3:16). Và ngài thêm, “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian để cứu thế gian” (c. 17). Ở chỗ khác, Gioan viết, “Thiên Chúa là tình yêu…Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này; không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4:7-10). Vì thế ngài nói thêm rằng khi chấp nhận Chúa Giêsu, chấp nhận tin mừng của Người, cái chết và sự sống lại của Người, “chúng ta biết và tin vào tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, và ai ở trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy” (x, 1Ga 4:16). Tiếp kiến chung, 27-06-1984

    Người con trở thành “trưởng tử giữa nhiều anh em” (Rm 8:29); qua cái chết của Người, Chúa Cha chuyển thông sự sống mới cho chúng ta (1Pr 1:3; Rm 8:23; Ep 1:3), nhờ đó trong Chúa Thánh Thần chúng ta có thể kêu lên Người với cùng một danh hiệu mà Chúa Giêsu đã dùng: “Cha ơi” (Rm 8:15; Gl 4:6). Thánh Phaolô giải thích mầu nhiệm này thêm khi nói rằng “Chúa Cha… làm cho chúng ta đủ tư cách chia sẻ sản nghiệp của các Thánh trong ánh sáng. Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa vào vương quốc của người Con chí ái của Người” (Cl 1: 12-13).

    Tiếp kiến chung, 10-03-1999
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ​
     
  18. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Bảy Tuần 2

    Thiên Chúa Luôn Muốn Hòa Giải Với Chúng Ta

    Người ném mọi tội lỗi của chúng ta xuống biển.(Mic 7:14-15, 18-20)
    Chúa nhân hậu và từ bi. (Tv 102)
    “Trong lúc nó còn ở đàng xa,
    người cha đã thấy nó và ông xúc động” (Lc15:20)

    Người con hoang đàng là một người con rất người.
    Mê mẩn vì cám dỗ xa rời người cha để sống cuộc sống độc lập của mình; thất vọng vì sự trống rỗng bởi ảo tưởng đã từng thu hút anh ta; cô đơn, bị khinh miệt, bị bóc lột khi cố gắng xây dựng một thế giới cho chính mình; bị dằn vặt nghiêm trọng, thậm chí trong cơn khốn cực thẳm sâu, bởi ước muốn quay trở về hiệp thông với cha mình. Giống như người cha trong dụ ngôn, Thiên Chúa trông chờ đứa con quay về, ôm lấy nó khi nó đến nơi và ra lệnh mở tiệc mừng cuộc gặp gỡ mới, trong cuộc gặp gỡ này, người ta ăn mừng sự hòa giải.

    Yếu tố đáng chú ý nhất của dụ ngôn là lễ hội của người cha và thái độ đón nhận yêu thương của ông đối với đứa con quay trở về; đó là dấu chỉ lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn luôn sẵn sàng tha thứ. Chúng ta phải nói ngay; hòa giải chủ yếu là món quà của Cha trên trời.

    Nhưng dụ ngôn cũng còn vẽ ra hình ảnh của người anh cả. Anh từ chối tham dự bữa tiệc. Anh ta trách mắng người em vì đã ăn chơi phóng đãng, anh cũng cằn nhằn người cha vì đã đón nhận thằng con hoang đàng, trong khi chính anh ta, một con người điều độ và lao động cật lực, trung thành với cha và với gia đình, lại chẳng được vui vầy với bạn bè. Đây là dấu hiệu cho thấy anh ta không hiểu được lòng nhân từ của người cha. Tới mức quá chắc chắn về chính mình và những đức tính tốt của mình, ghen tị và kiêu căng, lòng đầy cay đắng và giận dữ, người anh này không hoán cải và không được hòa giải với cha và với em mình, nên bữa tiệc đã không hoàn toàn là mừng cuộc xum họp và tìm lại được.


    Con người – mọi người – cũng là người anh cả. Sự ích kỷ khiến con người ghen tị, cứng lòng, che mắt và đóng cửa lòng khỏi người khác và khỏi Thiên Chúa. Lòng nhân từ và thương xót của người cha khiến anh ta tức giận; đối với anh ta, hạnh phúc của người em được tìm thấy có một dư vị cay đắng. Do đó chính anh ta cũng cần phải hoán cải để được hòa giải. Hòa giải và sám hối 5, 6.

    Người cha trong dụ ngôn hôm nay đã yêu thương không điều kiện và không giới hạn. Ông không phải là một người cha bóc lột con mình hay hành hạ con mình, lạm dụng con mình hay không muốn cho anh ta trưởng thành, tiếc thay, điều này có thể xảy ra trên trần gian do sự yếu đuối của con người. Biết rằng con cái mình tội lỗi, giới hạn và khuyết điểm, Cha trên trời vẫn yêu thương chúng như chúng là. Khi chúng trở về với Người, cho dẫu là vì những lý do ích kỷ như người con hoang đàng, chỉ nghĩ đến mình chứ đâu có nghĩ đến cha, Người vẫn đón nhận chúng với niềm vui lớn lao, truyền lệnh mặc cho chúng những chiếc áo đẹp nhất, đeo nhẫn vào ngón tay, đi giầy vào chân, và sửa soạn một bữa tiệc linh đình. Chỉ có người nào mà trái tim đã khô cằn vì tội lỗi, bị che phủ bởi tính ích kỷ và bởi những đam mê phóng đãng, mới có thể kháng cự lại tình yêu của người và tiếp tục sống trong sự cố chấp và trong tội lỗi, từ khước bắt đầu tiến trình hoán cải cần thiết cho người thực sự mong muốn gặp lại Chúa Cha. Vì thế chúng ta hãy nghe lời van xin của thánh Phaolô: “Nhân danh Chúa Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa cùng Thiên Chúa” (2Cr 5:20).

    Bài giảng, 29-03-1992
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ​
     
  19. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Chúa Nhật Tuần 3

    Thánh Thần, Sự Thánh Thiện Và Sự Thú Tội

    Xin cho chúng tôi nước uống (Xh 17:3-7.)
    Nếu hôm nay anh em nghe tiếng Người. đừng cứng lòng nữa (Tv 94)
    Tình yêu Thiên Chúa tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần,
    Đấng đã được ban cho chúng ta (Rm 5: 1- 2. 5-8)
    “Người ấy nói với tôi về tất cả những việc tôi đã làm” (Ga 4:39)

    Người phụ nữ xứ Samari ngạc nhiên về những lời này. Nước hằng sống là gì? Chúa Giêsu giải thích: “Bất cứ ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa; nước tôi cho sẽ trở nên mạch nước trong người ấy vọt lên sự sống đời đời” (Ga 4: 14). Người nói nước hằng sống, nghĩa là nói đến tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ vào tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần. Tình yêu Thiên Chúa trở nên nguồn suối sự sống đời đời trong con người, có thể làm thỏa mãn mọi ước vọng sâu xa nhất của con người, những ước vọng tạm thời, nhưng trước hết và quan trọng nhất, là những ước vọng đời đời…

    Chúa Thánh thần lưu ngụ trong những người được rửa tội như trong đền thờ. Vì thề, mọi Kitô hữu được gọi là thánh, giống như Cha trên trời của họ. Như Chúa Giêsu đã công bố rõ ràng trong Tin Mừng, chân lý này được chân Phước Josemaria Escriva là chứng trong suốt cuộc đời và giáo huấn của ngài. Ngài thích nhắc đi nhắc lại, “Thiên Chúa chờ đợi chúng ta mọi ngày. Hãy nắm chắc điều này; có cái thánh thiện, thần linh, dấu ẩn trong hầu hết mọi hoàn cảnh bình thường, có cái mà mỗi người chúng ta phải khám phá.” Và ngài thường nói thêm: “hỡi các con, không có con đường nào khác: hoặc là chúng ta biết cách tìm ra Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày, hoặc chúng không bao giờ tìm thấy Người.” (Đàm đạo với Mons. Escriva Balaguer, s. 114).


    Anh chị em thân mến, mong sao anh chị em biết cách làm cho chương trình sống và dấn thân mục vụ của Ngài trở thành của riêng anh chị em: sống bằng cách nỗ lực nên thánh và để cho mọi người mà anh chị em gặp gỡ, dù là nam hay nữ, hiểu rằng họ được kêu gọi để hiệp thông hoàn toàn với Thiên Chúa… chúng ta ý thức rõ ràng rằng cuộc đối thoại với các linh hồn, nếu được thực hiện một cách sâu xa, sẽ phát triển từ từ. Đừng bỏ sứ vụ tông đồ nền tảng này; những hoa trái cụ thể, cho dù đến chậm, nhưng chắc chắn sẽ đến.

    Cuộc đối thoại với người phụ nữ xứ Samaria mà chúng ta nghe trong bài Tin mừng hôm nay, một cách gián tiếp nói về Chúa Thánh Thần như là “ánh sáng của tâm hồn”. Trong thực tế, người phụ nữ nhìn nhận rằng Chúa Kitô biết các tội lỗi của chị ngay cả trước khi chị thú nhận với Người; nhờ đó, chị thấy Người là một ngôn sứ. Đây là một chủ đề có ý nghĩa đặc biệt trong Mùa Chay. “Ánh sáng của tâm hồn” cần thiết để có thể chuẩn bị tốt cho cử hành Phục sinh, gồm cả hai bí tích Hòa giải.

    Đặc biệt trong mùa Chay, mọi tín hữu được mời gọi tìm hiểu sâu xa hơn về giá trị của sự thú tội như giai đoạn nền tảng để nhận ra sự dữ và tội lỗi hiện diện trong đời sống của mình, để hòa giải với Thiên Chúa và với tha nhân, và để làm mới lại lòng trung thành với Chúa Kitô và Tin mừng của Người.

    Hỡi ánh sáng Thánh Thần, xin hãy chiếu soi đời sống chúng con, giúp chúng con quảng đại tham dự vào mùa Chay này, báo cho chúng con ngay từ bây giờ thấy vẻ rực rỡ nơi ánh sáng và niềm vui Phục sinh.

    Lạy Chúa, Chúa thực là Đấng Cứu tinh của trần gian ; xin ban cho chúng con nước hằng sống, nhờ đó chúng con sẽ không còn khát khao điều vĩnh cửu nữa. (x. Lời tung hô tin mừng). Amen.

    Bài giảng, 10-03-1996
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ​
     
  20. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Suy niệm Mùa Chay: Thứ Hai tuần 3

    Nghèo Khó Tinh Thần Mở Ra Những Của Cải Thiêng Liêng

    Có nhiều người phong cùi trong Israel,
    nhưng không ai được lành sạch, ngoại trừ Naaman người Syria. 1V 5:1-15.
    Linh hồn tôi khao khát Chúa Trời hằng sống; bao giờ tôi mới được diện kiến thiên nhan. Tv 41.
    “Êlia…được sai đến với một bà góa ở Zarepta, một thành xứ Sidon”. Lc4, 24-30.


    Để tới nhà Chúa Cha, chúng ta phải để cho mình được hướng dẫn bởi sự thật, sự thật mà Chúa Giêsu bày tỏ trong cuộc sống và trong giáo huấn của Người. Đó là một sự thật phong phú và phổ quát. Sự thật này bày tỏ cho con mắt tâm hồn chúng ta thấy những chiều kích bao la nơi những việc vĩ đại của Thiên Chúa. Đồng thời, sự thật ấy thấm nhập sâu xa vào các mầu nhiệm của tâm hồn con người vì duy chỉ có Lời Chúa mới có thể làm như vậy. Phụng vụ hôm nay dường như nhắc cho chúng ta một trong những yếu tố của sự thật này, với sự nhấn mạnh đặc biệt.

    “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Có thể nói phụng vụ minh họa một cách đặc biệt truyền cảm mối phúc thứ nhất trong “Bài giảng trên núi”, cho phép chúng ta hiểu thấu hoàn toàn sự thật hàm chứa trong đó. Trong bài đọc thứ nhất, chúng ta nghe kể về người đàn bà góa nghèo ở thời ngôn sứ Êlia, sống tại Zerepta, xứ Sidon. Bà dâng cho ngôn sứ nắm bột cuối cùng để làm một chiếc bánh nhỏ. Bà không thất vọng, bởi vì, theo lời ngôn sứ Êlia, “hũ bột sẽ không vơi cho tới ngày Chúa làm mưa trên mặt đất” (x. 1V 17,14).


    Có vẻ là một điều nghịch lý, nhưng sự nghèo khó này ẩn giấu bên trong những sự giàu có đặc biệt. Thực vậy, người giàu có không phải là người có, mà là người cho. Người ta không cho quá nhiều những gì người ta có, như chính bản thân. Lúc ấy người ta có thể cho ngay cả khi mình không có. Như vậy dù người ta không có, người ta vẫn giàu.

    Trái lại, người ta nghèo không phải vì người ta không có, nhưng vì người ta bị ràng buộc vào những gì người ta có – nhất là khi bị ràng buộc hoàn toàn. Khi bị ràng buộc như vậy, người ta không thể cho bất cứ cái gì. Người ta không thể mở ra với tha nhân và trao tặng chính mình cho tha nhân. Trong tâm hồn của người giàu có, mọi của cải của thế giới này trở thành của cải chết. Trong tâm hồn của người nghèo, theo ý nghĩa mà tôi đã nói, ngay những của cải nhỏ bé nhất cũng có thể đem lại sự sống và trở thành vĩ đại.

    Chắc chắn thế giới đã thay đổi nhiều kể từ khi Chúa Kitô tuyên bố mối phúc nghèo trong tinh thần, trong bài giảng trên núi. Thời đại chúng ta đang sống hoàn toàn khác với thời Chúa Kitô. Chúng ta sống trong một kỷ nguyên lịch sử khác, nền văn minh khác, kỹ thuật và kinh tế khác. Nhưng những lời của Chúa Kitô vẫn không mất đi chút nào tính chính xác, sâu sắc, và sự thật của nó. Trái lại, nó có một ý nghĩa mới…

    Như thời của bài giảng trên núi, ngày nay cũng vậy, mỗi người chúng ta, nhờ sự thật của Lời Chúa Kitô, phải thẩm xét những công việc và tâm hồn của mình.

    Bài giảng, 11-11-1979
    + Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP. chuyển ngữ​
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn