"Trau dồi" hay "trao dồi"

Chủ đề trong 'Chữ Và Nghĩa' do ThienKim khởi đầu 5 tháng Mười 2011.

  1. ThienKim

    ThienKim Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    Khi nói một vấn đề nào cần được học tập, nghiên cứu người ta hay nói: sau một quá trình trau dồi, học tập ....tôi đã có kết luận .....

    Nhưng dạo này thấy cả từ ngữ "trao dồi", đọc lần đầu thì cho là họ sai :eek:. Nhưng "thấy" nhiều nơi dùng quá nên nghi ngờ có khi mình sai bét be.

    Xin thỉnh ý kiến là dùng từ ngữ nào đúng!!!

    TK
     
  2. datrang

    datrang Công Dân


    Tra tự điển dùm TK nè:

    Trao (đt): (1) Đưa tận tay (Tiền trao, cháo múc) / (2)Giao phó (trao trách nhiệm).
    --trao đổi, trao quyền, trao tay, …

    Trau (đt): (1) Dồi mài, đánh bóng. / (2) O bế, làm cho đẹp.
    - trau chuốt (đt): trau giồi, chuốt ngót; đẽo gọt, sửa đi sửa lại cho trơn bén, cho suôn sẻ ( trau chuốt câu văn, trau chuốt áo quần).


    Dồi (đt): (1) Dồn, nhét, thêm vào cho đầy / (2) thêm lời nói (khen dồi) (3) tung lên liên tiếp / (4) món ăn làm làm bằng ruột con vật.


    Giồi (đt): (1) Tô, trét vô rồi chà mạnh cho láng, cho bóng (giồi bộ ván, giồi phấn). / (2) Ôn nhuần (giồi mài kinh sử) .

    Trau giồi (đt): (1) Bào, đánh giấy nhám, đánh bóng bằng chất nhờn cho láng, cho bóng. /(2) Bồi bổ, tô đắp cho đầy đủ, cho tốt đẹp thêm. (trau giồi tiếng mẹ đẻ). (Không có "trau dồi". Không có "trao dồi ")


    Trong một quyển tự điển khác:

    "trau dồi": rèn luyện, bồi dưỡng, làm cho ngày càng tốt hơn. (Không có "trau giồi").

    Tôi đoán (mò) chữ “trau dồi" hay "trao dồi” là do lối phát âm của nhiều người miền Nam (gi --> d), nói sao viết vậy hoặc có thể ai đó nghĩ “dồi” từ chữ “dồi dào=phong phú” mà ra chữ ghép này?

    Tự điển dùng để tra cứu, đôi khi mình cần phải phân tích, suy luận thêm để hiểu chữ đó "đúng" hay "sai" mà bàn ... cho nhức cái đầu! Ngày nay viết theo số đông chưa chắc gì trúng nhưng được yên thân, ít bị “càm ràm”? :cool:
     
  3. Thỏ Đế

    Thỏ Đế Người thân

    Theo Thỏ Đế hiểu thì chữ viết đúng là "trau dồi"; nghĩa hẹp là các động tác làm đẹp trên mặt của phụ nữ, nghĩa rộng hơn là phải rèn luyện để làm cho cái tài khéo, cái kỹ thuật, kỹ năng của mình trở nên điêu luyện hơn.
    Truyên Tàu thời "Tín Đức Thư Xã" khi tả một người đẹp thì "mặt như dồi phấn, môi tợ thoa son"; trong bài Tôn Phu Nhơn Quy Thục của Tôn Thọ Tường có câu
    "Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc
    Về Hán trau tria mảnh má hồng"
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn