Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Việt Nam có một ông già
    Râu dài, tóc bạc tên là Chí Minh
    Ông hay uống rượu một mình
    Khi buồn lại rủ Trường Chinh uống cùng
    Say sưa ông nói lung tung:
    Việt Nam mình sẽ sánh cùng năm châu
    Này ông, chuyện ấy còn lâu!!!


    Câu ca dao nêu trên có lẽ được sáng tác và lưu hành tại miền Bắc từ ngày ông Hồ Chí Minh còn có thể ngồi lai rai uống rượu và ăn nói lung tung, tức là trước cái ngày ông được nhân dân ca tụng bằng hai câu ca dao khác cũng chẳng kém mùi “phản động”: “Bác Hồ ta thật vẻ vang, đang từ khỏe mạnh chuyển sang… từ trần”.

    Phải công nhận tác giả câu ca dao tả bác uống rượu, và cả những người góp phần khẩu truyền câu ca dao, quả là trông xa thấy rộng. Ngay từ bốn, năm thập niên trước, khi đảng cộng sản Việt Nam nói riêng và cộng sản quốc tế nói chung đang làm mưa làm gió trên quả địa cầu, những người dân ấy đã đủ sáng suốt để vỗ vai bác, dù là vỗ vai bằng chữ nghĩa, mà bảo bác rằng “Này ông, chuyện ấy còn lâu!”.

    Quả thật, cho đến hôm nay, dưới sự lãnh đạo của Cộng Sản, chuyện Việt Nam có thể sánh vai cùng cộng đồng nhân loại vẫn còn lâu, lâu lắm. Trong suốt hơn nửa thế kỷ kể từ ngày cai trị miền Bắc và ba thập niên từ lúc cưỡng chiếm miền Nam, Cộng Sản Việt Nam đã gieo rắc muôn vàn tang thương cho dân tộc. Biết bao tiếng kêu đau đớn và phẫn uất của nhân dân đã vang lên trong suốt chiều dài lịch sử này. Trong số ấy, nhiều tiếng kêu đã cô đọng thành những câu ca dao thật độc đáo.

    Tự ngàn xưa, cổ nhân đã nhận định là muốn tìm hiểu bản chất một chế độ thì chỉ cần xét tinh thần của người dân sống trong chế độ. Tuy nhiên, làm thế nào để biết được tinh thần người dân? Để trả lời câu hỏi, các cụ dậy rằng “dễ lắm, tinh thần người dân luôn luôn được phản ảnh qua thơ và nhạc lưu truyền trong dân gian”. Cũng vì vậy mà cụ Khổng đã bảo “thanh âm chí đạo dữ chính thông hỹ”, tức là “đạo thanh âm tương thông với chính trị”, và cụ nói rõ rằng “thơ nhạc gốc ở tình cảm, mà tình cảm gốc ở chính trị”. Từ quan niệm này, cụ đã san định Kinh Thi, gồm hơn ba trăm bài thơ mà đa số là những bài thơ “quốc phong”, tức thơ của dân gian, về đời vua Văn nhà Chu (1186 đến 1135 trước Tây Lịch) để mô tả xu hướng chính trị và luân lý của xã hội thời bấy giờ.

    Hôm nay, 30 năm sau ngày miền Nam đổi chủ, bắt chước cổ nhân, người viết xin dùng những câu ca dao được lưu truyền tại Việt Nam kể từ biến cố tháng tư năm 75 để minh họa bức tranh xã hội chủ nghĩa và tâm trạng người dân trong suốt 30 năm qua. Trong số những câu ca dao này, có những câu ta thán đầy thê lương ảo não, có những câu trào phúng “bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm”, có những câu châm biếm chua cay đôi khi trở thành tục tĩu, và có cả những tiếng mắng chửi vô cùng hằn học. Có thể nói tất cả những câu ca dao ấy là một hình thức phản kháng, một thứ vũ khí đấu tranh của người dân thấp cổ bé miệng trước sự áp bức của bạo quyền.

    Cũng xin nói thêm, người viết rời quê hương trong ngày cuối cùng của cuộc chiến và cho đến hôm nay, sau 30 năm tị nạn nơi đất khách, vẫn chưa về thăm lại quê nhà để đi “thực tế” (mượn tạm ngôn từ của Cộng Sản) một chuyến. Vì vậy, những câu ca dao trích dẫn trong bài là những câu hoặc đã sưu tầm được trên sách báo và trên mạng lưới điện toán, hoặc do những người đã từng sống nhiều năm với Cộng Sản kể lại khi đến định cư tại xứ người, hoặc do các thân hữu về thăm Việt Nam mang sang làm “quà lưu niệm”.

    Đến hôm nay, có lẽ những người di tản đợt đầu tiên từ gần 30 năm trước vẫn còn nhớ đôi câu thơ phát xuất tại miền Nam sau ngày Sài Gòn đổi chủ. Vâng, chúng ta đã nghe nhắc đến đôi câu ấy trong những năm tháng đầu xa quê hương. Nghe mà dạ bùi ngùi. Nghe mà lòng chua xót:

    Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do


    Câu thơ đánh dấu sư kiện, tại Sài Gòn, nhà cầm quyền Cộng Sản đổi tên đường Công Lý thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Tự Do thành Đồng Khởi. Ở một ý nghĩa khác, công lý đã chết tức tưởi và tự do thì đã vội vã ra đi.
    Và đôi câu khác cũng được phổ biến khá rộng rãi trên mọi miền đất nước, từ sông Bến Hải đến tận mũi Cà Mau:

    Dép râu dẫm nát đời son trẻ
    Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai


    Đau đớn thay:

    Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
    Việt Cộng về thành làm tội dân ta


    Ba mươi năm bị làm tội làm tình, quãng thời gian dài gấp đôi đoạn đường luân lạc của Thúy Kiều thuở trước. Từ ngày ấy đến hôm nay, bao nhiêu hàng nước mắt đã lăn dài trên gò má người dân cùng khổ.

    Đổi tiền và học tập cải tạo

    Một thời gian ngắn sau khi tống giam hàng trăm ngàn quân nhân công chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào cái gọi là trại cải tạo, nhà cầm quyền đã ban lệnh đổi tiền để tước đoạt tài sản người dân miền Nam. Có lẽ những người dân miền Nam từng sống dưới chế độ Cộng Sản còn nhớ là chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày chiếm miền Nam, Cộng Sản đã ba lần đổi tiền. Lần thứ nhất vào ngày 2 tháng 9 năm 1975 theo tỷ giá quy định là 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy một đồng Giải Phóng, có nghĩa là năm đồng tiền cũ đổi lấy một xu tiền mới. Thêm nữa, mỗi hộ, tức mỗi gia đình, chỉ được đổi tối đa 200 đồng tiền mới, tức 100.000 đồng tiền cũ bất kể nhà có bao nhiêu nhân khẩu. Có nhiều người, ngay sau khi đổi tiền, cầm những tờ giấy bạc mới đứng khóc nức nở, khóc mùi mẫn nơi vệ đường.

    Vì vậy, người dân có câu ca dao:

    Năm đồng đổi lấy một xu
    Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy


    “Đi học” ở đây tức là bị học tập cải tạo còn “thày” tức cán bộ cộng sản phụ trách giảng dậy tại các trại cải tạo.

    Cả nước thiếu ăn

    Sau khi chiếm miền Nam, Cộng Sản xóa bỏ quyền tư hữu, áp đặt chế độ bao cấp như tại miền Bắc và phát tem phiếu để người dân xếp hàng mua nhu yếu phẩm tại mậu dịch, mà nhu yếu phẩm thì lúc có lúc không. Lúc bấy giờ dân miền Nam mới thấm thía hai câu nhại Kiều của người miền Bắc từ đầu thập niên 60:

    Bắt phanh trần phải phanh trần
    Cho may ô mới được phần may ô

    (nguyên văn: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao“).



    Từ khi ta có Bác Hồ
    Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào


    Vài tháng sau, vật giá gia tăng một mức khủng khiếp. Rau muống là thức ăn chính của người dân. Có câu ca dao chơi chữ khá độc đáo mô tả tình trạng này:

    Lương chồng, lương vợ, lương con
    Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm
    Lương tâm đem chặt ra hầm
    Với rau muống luộc khen thầm là ngon


    Vài tháng sau nữa, lạm phát trở thành “siêu phi mã”. Lương tháng trung bình một công nhân viên khoảng 60 đồng tiền mới, chỉ mua được 30 bó rau muống. Người dân bèn réo tên ba lãnh tụ cao cấp nhất của đảng:

    Anh Đồng, anh Duẩn, anh Chinh
    Ba anh có biết dân tình cho không?
    Rau muống nửa bó một đồng
    Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân


    Rồi dân không còn đủ gạo để ăn với rau muống vì nhà cầm quyền thu gom gạo để trả nợ chiến tranh. Ngoại trừ những cán bộ trung cấp và cao cấp trong đảng, gần như cả nước đã phải nhai sắn thay cơm:

    Ai sinh ra cái củ mì?
    Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn!
    Nước nhà mãi mãi khó khăn
    Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì


    Ăn sắn, ăn mì, và đi dự các buổi học tập tại địa phương để hoan hô đảng và đả đảo Mỹ Ngụy là thời biểu bó buộc của người dân miền Nam lúc ấy:

    Dân đói mà đảng thì no
    Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày
    Đảng béo mà dân thì gầy
    Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?


    Chỉ đôi ba năm sau, ngô sắn cũng dần cạn, Cộng Sản Việt Nam cầu viện các đàn anh Đông Âu và được đàn anh viện trợ "hữu nghị" cho một món thực phẩm họ thường dùng cho ngựa ăn. Đó là bo bo, thứ thực phẩm được nhà nước cường điệu gọi là "cao lương". Trong suốt một thời gian dài cả nước vêu mồm ra mà thi nhau nhai thứ cao lương này. Dù có ninh kỹ và nhai kỹ đến đâu thì bo bo vẫn là thứ hạt bao tử con người không thể tiêu hóa nổi, ăn thế nào thì ra thế nấy. Bởi vậy người dân có ca dao rằng:

    Hoan hô độc lập tự do
    Để cho tớ nhá bo bo sái hàm


    và:

    Nhân dân thì chẳng cần lo
    Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày
    Hãy chăm tay cấy tay cầy
    Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang


    Khi truyền miệng câu ca dao nêu trên, người dân miền Nam hóm hỉnh đọc trại chữ "l" thành "n" để chế nhạo các cán bộ miền Bắc phát âm sai hai chữ này. Vì vậy câu ca dao bỗng dưng mang một ý nghĩa khá khôi hài:

    Nhân dân thì chẳng cần "no"
    Nhà nước "no" sẵn bo bo mỗi ngày


    Mùa hè năm 1980, nhằm mục đích tuyên truyền, cộng sản Việt Nam đã khẩn cầu Liên Xô cho Phạm Tuân làm “lơ” phi thuyền, tháp tùng phi hành gia Victor Gorbatco trong chuyến bay vào vũ trụ trên con tầu Liên Hợp. Lúc bấy giờ đang đói vêu vì thiếu ăn, nhân dân bèn có câu:

    Một thằng lên vũ trụ
    Trăm thằng đi Mút Cu (Moscow)
    Nghìn thằng chè chén lu bù
    Để dân bảy mươi triệu đói thò cu ra ngoài


    Có người tức quá nên hoạnh họe:

    Nhân dân thiếu gạo thiếu mì
    Mày vào vũ trụ làm gì hở Tuân???


    Và người khác thực tế hơn:

    Ai lên vũ trụ thì lên
    Còn tôi ở lại ghi tên mua mì


    Thiếu mặc

    Tình hình miền Nam trong những năm đầu tiên bị chiếm đóng thật thê thảm. Người dân đã không đủ ăn thì làm sao đủ mặc. Mỗi năm, một người chỉ được mua vài thước vải xấu theo giá chính thức từ mậu dịch. Bởi vậy, dân gian có câu ca dao cười ra nước mắt:

    Một năm hai thước vải thô
    Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra
    May áo thì hở lá đa
    Chị em thiếu vải hóa ra lõa lồ
    Vội đem cất ảnh bác Hồ
    Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm


    và:

    Có áo mà chẳng có quần
    Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
    Có đói mà chẳng có no
    Lấy gì độc lập, tự do hỡi người?


    Trong những nạn nhân của chế độ, có cả những cựu cán binh Cộng Sản hưu trí, đặc biệt là những cán bộ tập kết miền Nam. Đó là những múi chanh đã bị đảng vắt hết nước. Vì vậy, văn học dân gian có bài thơ nực cười nêu sau để diễn tả tình trạng bi đát của một số sĩ quan Cộng Sản từ cấp đại tá trở xuống đã được đảng cho "phục viên" (giải ngũ):

    Đầu đường đại tá vá xe
    Giữa đường thượng tá bán chè đậu đen
    Cuối đường trung tá rao kem
    Xa xa thiếu tá thổi kèn đám ma
    Đại úy thì đi buôn gà
    Thượng uý ở nhà vỡ đất thay trâu
    Hỏi trung, thiếu uý đi đâu?
    Ba lô hàng lậu xuôi tầu Bắc Nam !!!


    Có những người còn ở trong hoàn cảnh nghiệt ngã hơn:

    Ngày xưa chống Mỹ chống Tây
    Ngày nay chống gậy ăn mày áo cơm


    Thiếu đủ thứ

    Trong chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không những người dân thiếu ăn thiếu mặc mà là thiếu đủ thứ, từ các nhu yếu phẩm cho đến tự do và hạnh phúc:

    Ở với Hồ Chí Minh
    Cây đinh phải đăng ký
    Trái bí cũng sắp hàng
    Khoai lang cần tem phiếu
    Thuốc điếu phải mua bông
    Lấy chồng nên cai đẻ
    Bán lẻ chạy công an
    Lang thang đi cải tạo
    Hết gạo ăn bo bo
    Học trò không có tập
    Độc Lập với Tự Do
    Nằm co mà Hạnh Phúc!


    Tuy đã biến cả nước thành một nhà tù khổng lồ, đảng vẫn hạn chế sự đi lại của người dân. Muốn đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, người dân phải xin giấy phép của chính quyền địa phương:

    Mang danh Dân Chủ Cộng Hòa
    Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền
    Xuất trình giấy phép liên miên
    Chứng từ thị thực ở miền nào qua


    Tình trạng này phát sinh một bài ca dao trào phúng, được phổ biến khắp các miền đất nước:

    Trăm năm trong cõi người ta
    Ở đâu cũng được đi ra đi vào
    Xa xôi như xứ Bồ Đào
    Người ta cũng được đi vào đi ra
    Đen đủi như Ăng Gô La
    Người ta cũng được đi ra đi vào
    Chậm tiến như ở nước Lào
    Người ta cũng được đi vào đi ra
    Chỉ riêng có ở nước ta
    Người ta không được đi ra đi vào


    Kinh tế mới và thanh niên xung phong

    Với sự hiểu biết thiển cận về kinh tế cộng thêm một ý thức hệ bệnh hoạn, năm 1976, các lãnh tụ của đảng cho thành lập những khu kinh tế mới tại những vùng rừng thiêng nước độc. Chỉ nội trong một năm, nhà cầm quyền đã đầy khoảng 1,4 triệu người dân miền Nam đến sinh sống tại những khu hoang vu này, trong số đó có 700.000 dân Sài Gòn, hầu hết thuộc gia đình quân nhân, công chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Bài ca dao dưới đây thuật lại hoàn cảnh đau lòng của những người bị lưu đầy lúc bấy giờ:

    Đuổi dân ra khỏi cửa nhà
    Bắt đi kinh tế thật là xót xa
    Không sao sống được cho qua
    Nên đành lại phải trở ra Sài Gòn
    Chẳng ai giúp đỡ chăm nom
    Cùng nhau vất vưởng, lom khom vỉa hè
    Màn sương chiếu đất phủ che
    Sinh ra bệnh tật khò khè ốm đau
    Nhưng mà có sống được đâu
    Bộ đội kéo đến hàng xâu xúc liền
    Chúng đem bỏ tại Tam Biên
    Rừng sâu núi thẳm oan khiên buộc vào
    Sáu ngàn nhân mạng năm nào
    Thảy đều chết đói, biết bao nhục hình


    Tháng 3 năm 1976, nhà cầm quyền phát động phong trào thanh niên xung phong để cưỡng ép sinh viên học sinh về miền quê công tác, chủ yếu là đào kinh. Có một câu ca dao khá ngộ nghĩnh, được truyền bá trong các đoàn thanh niên xung phong miền Nam lúc bấy giờ. Câu ca dao tuy mắng mỏ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhưng gói ghém sự tiếc nuối những ngày tháng cũ:

    Mồ cha thằng Thiệu rời dinh
    Để tao ở lại đào kinh mỗi ngày


    Chuyện dài Hợp Tác Xã

    Sau khi chiếm miền Nam, Cộng Sản truất quyền tư hữu đất đai và các phương tiện sản xuất khỏi tay nông dân qua hình thức hợp tác xã tập thể. Với chính sách kinh tế này, nhà nước kiểm soát việc phân phối thực phẩm bằng cách thu mua và ấn định thuế khóa.

    Câu chuyện nêu sau biểu lộ sự vô trách nhiệm của giới lãnh đạo đảng:

    Vào thập niên 1990, nhà nước thúc dục người dân, nhất là dân miền Trung, bỏ trồng lúa để trồng mía làm đường. Tuy nhiên, sau khi ông Fidel Castro đến thăm Việt Nam, các nhà lãnh đạo đảng hứa giúp Cuba bằng cách nhập khẩu đường mía nước này vào thị trường Việt Nam. Sau đó, nhà nước thực hiện lời hứa, nhập khẩu đường Cuba suốt mấy năm liền. Hậu quả là nông dân trồng mía bị sạt nghiệp vì số mía thu hoạch phải bán tống bán tháo hoặc vứt bỏ. Vì vậy, người dân phẫn uất truyền miệng bài ca dao sau:

    Bắt trồng mà chẳng thu mua
    Tại sao đảng nỡ dối lừa nhân dân?
    Tiền cầy, tiền giống, tiền phân
    Một trăm thứ thuế đổ thân gầy gò
    Dân đói mà đảng thì no
    Kêu trời, kêu đất, kêu Hồ chí Minh!


    Không những chỉ bị lỗ nặng vì trồng mía, người nông dân còn bị lao đao nhiều lần khác vì phải nghe lời nhà nước:

    Trồng mía, trồng ớt, trồng hành
    Vì nghe lời đảng mà thành bể niêu
    Trồng tiêu rồi lại trồng điều
    Vì nghe lời đảng mà niêu tan tành


    Năm 1992, trong một bài viết tố cáo những sai lầm của Cộng Sản Việt Nam, thượng tọa Thích Quảng Độ thuật lại một câu chuyện thú vị ngài đã chứng kiến trong thời gian 10 năm bị quản thúc tại xã Vũ Đoài, tỉnh Thái Bình, từ 1982 đến 1992. Lúc bấy giờ, các cụ già tại địa phương này bị xung vào đội trồng cây của hợp tác xã để trồng cây lấy điểm, cứ trồng năm cây thì được một điểm, đủ để đổi lấy một lạng thóc. Khổ nỗi các cụ tuổi cao, sức kém, đã trồng không kỹ lại thiếu chăm sóc vì “cha chung không ai khóc”, nên cây trồng chỉ vài tuần sau là úa héo. Các em bé chăn trâu cho hợp tác xã mới làm vè trêu các cụ:

    Hoan hô các cụ trồng cây
    Mười cây chết chín, một cây gật gù


    Nghe các cháu trêu, các cụ bèn phản pháo lại:

    Các cháu có mắt như mù
    Mười cây chết tiệt, gật gù ở đâu?


    Chỉ một thời gian ngắn sau, hai câu đối đáp hài hước nêu trên đã trở thành ca dao thời đại mới.

    Ấy thế mà cứ vài ba tháng, đảng lại phát động chiến dịch thi đua cho các hợp tác xã và thúc dục người dân làm việc bằng hai bằng ba theo lời khuyên của ông Hồ từ những ngày còn chiến tranh. Người dân bực quá nên có câu:

    Thi đua làm việc bằng hai
    Để cho cán bộ mua đài mua xe
    Thi đua làm việc bằng ba
    Để cho cán bộ xây nhà lát sân


    Có người còn nhạo báng:

    Thi đua ta quyết tiến lên
    Tiến lên ta quyết tiến lên hàng đầu
    Hàng đầu... rồi... tiến... về... đâu?


    Nhiều phụ nữ đã từng trải qua lắm gian nan, khổ cực với hợp tác xã mà chẳng “ăn cái giải rút gì”, tức quá bèn văng tục:

    Đi làm hợp tác hợp te
    Không đủ miếng giẻ mà che cái l...


    Xã hội bất công

    Điều nghịch lý là trong xã hội chủ nghĩa, một mặt đảng tuyên bố đấu tranh cho công bằng xã hội thì mặt khác, các nhà lãnh đạo lại tự cho mình hưởng những quyền lợi đặc biệt. Tại Hà Nội, người dân chua chát truyền khẩu những câu ca dao sau:

    Tôn Đản là chợ vua, quan
    Vân Hồ là chợ những gian, nịnh thần
    Đồng Xuân là chợ thương nhân
    Vỉa hè là chợ "nhân dân anh hùng"


    Lãnh đạo giả dối

    Có thể nói, trong hơn 50 năm qua, Cộng Sản Việt Nam cai trị đất nước bằng các thủ đoạn lừa bịp và dối trá. Trong một bài viết với nhan đề Nhật Ký Rồng Rắn được phổ biến ra hải ngoại đầu năm 2001, ông Trần Độ, cựu trung tướng Quân Đội Nhân Dân của Cộng Sản, đã tố cáo thủ đoạn này qua những lời lẽ sau:

    “Nói thì ‘dân chủ, vì dân’ mà làm thì chuyên chính phát xít. Cái đặc điểm đó cũng có nghĩa là nói dối, nói láo, lừa bịp, trò hề, ‘nói vậy mà không phải vậy’.
    Suốt ngày đóng trò, cả năm đóng trò. Ở đâu cũng thấy các vai hề, ở đâu cũng thấy các trò lừa bịp. Suốt ngày đêm, suốt năm tháng cũng lúc nào cũng chỉ nghe thấy những lời nói dối, nói lừa.

    Chế độ này bắt mọi người phải đóng trò, bắt tất cả trẻ con phải đóng trò, bắt nhiều người già phải đóng trò

    Đặc điểm này đã góp phần quyết định vào việc tạo ra và hình thành một xã hội dối lừa: Lãnh đạo dối lừa, đảng dối lừa”.


    Tại Việt Nam, một trong những cơ quan mang tiếng nhất về chuyện có nói thành không, không nói ra có là nha khí tượng:

    Bảo nắng mà trời lại mưa
    Mấy thằng khí tượng đoán bừa hại tao
    Trời cho một trận mưa rào
    Mấy thằng khí tượng làm tao ướt rồi


    Ấy thế mà theo người dân, nghệ thuật nói khoác của nha khí tượng còn kém xa những lãnh tụ cộng sản. Dưới triều đại Lê Duẩn, người có bí danh “Anh Ba”, thì kẻ đoạt quán quân về nói khoác lại chính là đồng chí tổng bí thư. Vì vậy, dân gian phát sinh ra câu ví von:

    Thứ nhất anh Ba, nhì Nha Khí Tượng


    Câu ca dao thời đại sau đây đã nói lên bản chất dối trá và hợm hĩnh của đảng:

    Mất mùa là bởi thiên tai
    Được mùa là bởi thiên tài đảng ta


    Bỏ nước ra đi

    Có thể nói người Việt Nam là người vô cùng quyến luyến với quê cha đất tổ. Tuy nhiên, khi miền Nam bị đặt dưới sự cai trị của Cộng Sản, hàng triệu người dân đã buộc lòng phải bỏ nước ra đi. Chồng lìa vợ, con xa mẹ xa cha. Trong những năm tháng ấy, kể sao cho xiết những đau đớn của sinh ly, của “lệ rơi thấm đá”.

    Thuở trước, kho tàng ca dao của dân tộc có câu:

    Có con mà gả chồng gần
    Có bát canh cần nó cũng mang qua
    Có con mà gả chồng xa
    Một là mất giỗ, hai là mất con


    Khi phong trào vượt biên bùng nổ vào cuối thập niên 1970, dân miền Nam đã cải biên bài ca dao nêu trên thành những câu thật dí dỏm:

    Có con mà gả chồng gần
    Nửa đêm xe đạp mang phần cho cha
    Có con mà gả chồng xa
    Tháng tháng nó gửi đô la kìn kìn


    Lúc bấy giờ, người dân bảo nhau câu “cái cột đèn nếu nó biết đi, nó cũng vượt biên, chứ đừng nói con người”. Đâu đâu, người ta cũng bàn về chuyện vượt biên. Ngay cả những cặp tình nhân, hôm nay còn gặp nhau, nhưng ngày mai có thể sẽ ngàn trùng cách biệt. Có một bài ca dao khá văn chương, mở đầu bằng hai câu trong bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, để diễn tả tâm trạng những kẻ yêu nhau thuở ấy:

    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
    Canh khuya thao thức mạn thuyền
    Biết người quân tử vượt biên chốn nào?


    Đất nước tang thương, kẻ ở người đi, lòng người ly tán, tất cả tội lỗi dĩ nhiên phát xuất từ bác Hồ, như câu ca dao thời đại:

    Bác Hồ chết phải giờ trùng
    Nên bầy con cháu dở khùng dở điên
    Thằng tỉnh thì đã vượt biên
    Những đứa ở lại chẳng điên cũng khùng


    Đổi mới

    Trước cảnh suy thoái trầm trọng sau nhiều năm rập khuôn một cách máy móc mô hình xã hội chủ nghĩa theo Liên Xô; nên để sống còn, đại hội VI của đảng năm 1986 phải đưa ra chính sách đổi mới, bãi bỏ chế độ bao cấp, và chấp nhận một nền kinh tế nhiều thành phần. Kinh tế thì hô hào đổi mới nhưng chính trị thì dĩ nhiên vẫn là chuyện độc quyền của đảng. Câu “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” bỗng một sớm một chiều được phát sinh.

    Lúc bấy giờ Đỗ Mười là tổng bí thư đảng, Lê Đức Anh là chủ tịch nước, còn Võ Văn Kiệt là thủ tướng. Vì vậy, người dân kháo nhau rằng:

    Ông Anh, ông Kiệt, ông Mười
    Dở khóc, dở cười biết chọn ông nao?
    Ông nào, ông nảo, ông nao
    Một đồng một cốt làm sao bây giờ?
    "Cửa mở", phải có giấy tờ
    "Đổi mới" nhìn lại vẫn thờ mấy ông
    Đèn cù cứ chạy lòng vòng
    Dân chủ cái còng, tự do đói ăn
    Hạnh phúc chú cuội cung trăng!


    Tham nhũng

    Trong lịch sử nhân loại, độc tài về chính trị bao giờ cũng sinh ra tham nhũng. Trước kia niềm mơ ước của một công dân xã hội chủ nghĩa là làm thế nào để đạt được 4Đ, tức là được vào “đảng”, để có thể ký cóp những khoản tham nhũng cùng hối lộ cỏn con mà tậu một chiếc xe “đạp”, một cái “đài” (radio), và một ”đồng hồ” đeo tay (đảng, đạp, đài, đồng). Tuy nhiên, chỉ vài năm sau đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn đến sự tham nhũng công khai khiến các đảng viên đang nắm quyền trở thành giới tư bản đỏ với tài sản lên đến hàng triệu mỹ kim. Vì vậy, dân mình có những câu ca dao:

    Công nhân, vợ ốm con côi
    Lãnh đạo nhà gác, xe hơi bộn bề
    Bao giờ cho hết trò hề?


    và:

    Nhà ai giàu bằng nhà cán bộ?
    Hộ nào sang bằng hộ đảng viên?
    Dân tình thất đảo bát điên
    Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi


    Tuy sở hữu những tài sản kếch sù trong lúc quần chúng còn thiếu cơm thiếu áo, các đảng viên cầm quyền vẫn tiếp tục lải nhải điệp khúc “nhân dân là chủ, đảng là đầy tớ”. Nghe câu ví con này, các “ông chủ” bèn sôi máu lên mà sáng tác bốn câu ca dao sau:

    Ai về qua tỉnh Nam Hà
    Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông.
    Tớ ơi, mày có biết không?
    Chúng ông làm chủ mà không bằng mày!


    Trước đổi mới, các “ngài đầy tớ” thường chỉ nhận một “thù lao” (hối lộ) khá khiêm nhượng từ những “ông chủ” (rất nghèo). Chẳng hạn như đối với các cán bộ điện lực, điều kiện để các ông mắc điện cho các gia đình ở nông thôn nhiều khi chỉ là một buổi tiệc nhậu có thịt gà thịt lợn:

    Muốn cho điện sáng về nhà
    Ruột lợn ruột gà phải nối đến nơi


    Tuy nhiên, sau đổi mới, các đảng viên cầm quyền khôn ra, chỉ nhận hối lộ bằng các phong bì nhè nhẹ. Bởi vậy dân gian có ca dao rằng:

    Phong lan, phong chức, phong bì
    Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn?
    Phong lan ngắm mãi cũng buồn
    Phong chức thì phải cúi luồn vào ra
    Chỉ còn cái phong thứ ba
    Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui


    Đối với các ông thanh tra của đảng, mỗi khi đến làm việc ở cơ quan hoặc địa phương nào mà được trao tay một chiếc phong bì thì các ông sẽ biến mọi thứ tiêu cực thành tích cực ngay. Chứng kiến tệ trạng này, người dân bèn sáng tác hai câu ca dao với cách chơi chữ cả Việt lẫn Anh đầy nghệ thuật:

    Thanh “cha”, thanh mẹ, thanh gì?
    Hễ có phong bì thì nó “thanh kiu” (thank you)


    Năm 1996, một tờ báo phát hành tại Đà Nẵng đã “in chui” được hai câu ca dao sau đây để nói lên bản chất đảng cộng sản trong thời kỳ đổi mới:

    Đảng ta là đảng thần tiên
    Đa lô thì được, đa nguyên thì đừng

    Khi nói lái, “thần tiên” là “thân tiền” và “đa lô” thành “đô la”. Quả là hai câu độc đáo.

    Hiện nay, nấc thang giá trị trong xã hội Việt Nam được định đoạt bởi đồng tiền như bài vè được lưu truyền trong dân gian từ nhiều năm qua:

    Tiền là Tiên là Phật
    Là sức bật con người
    Là nụ cười tuổi trẻ
    Là sức khỏe người già
    Là cái đà danh vọng
    Là cái lọng che thân
    Là cán cân công lý
    Đồng tiền là… hết ý!


    Một chuyện khá khôi hài nói lên tính tráo trở của người cộng sản là trước kia, nhà cầm quyền kết án người vượt biên là Việt gian, là phản bội tổ quốc. Dân vượt biên bị bắt là bị tống vào nhà giam, hoặc bị đầy vào trại cải tạo. Thậm chí, có người còn bị công an xử bắn ngay tại nơi bị bắt. Tuy nhiên, sau đổi mới, đảng đã tha thiết mời gọi Việt kiều về du lịch và bỏ vốn đầu tư tại Việt Nam. Không những thế, đảng còn ví von đồng bào hải ngoại là khúc ruột ngoài ngàn dặm của tổ quốc. Trước sự đổi trắng thay đen này, dân gian bèn có câu:

    Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”
    Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”
    Chưa đi: Phản động trăm chiều
    Đi rồi thành khúc ruột yêu ngàn trùng


    Song song với việc chiêu dụ Việt kiều, đảng ngày càng tỏ thái độ lấy lòng Hoa Kỳ để được hưởng lợi lộc kinh tế. Tháng 11 năm 2000, khi nhà nước đang tất bật “lo ngày không đủ tranh thủ lo đêm” để “chiêu đãi” tổng thống Clinton và phái đoàn Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm Việt Nam thì người dân rỉ tai nhau rằng:

    Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
    Ngày nay nịnh Mỹ chẳng ai bằng mình


    Xã hội xuống cấp

    Có thể nói sách lược kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã soi mòn truyền thống đạo đức của dân tộc một cách trầm trọng. Năm 1996, bà Nguyễn Thị Hằng, thứ trưởng Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội cho biết cả nước có ít nhất 76.900 gái mại dâm. Tuy nhiên, cũng trong năm ấy, theo lời một viên chức cao cấp trong đảng tiết lộ với báo chí ngoại quốc thì chỉ riêng tại Sài Gòn đã có khoảng 300.000 phụ nữ hành nghề không vốn này, vượt xa số thống kê chính thức của giới cầm quyền. Đến nay, đã gần 9 năm trôi qua, số gái mại dâm tại Việt Nam có lẽ còn tăng cao nhiều hơn nữa?

    Trong những năm qua, ca dao tân thời của xã hội chủ nghĩa không hiếm những câu tương tự như câu tả cảnh bến Ninh Kiều ở Cần Thơ như sau:

    Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
    Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân


    Nếu trước năm 1975 tại miền Nam chỉ có một loại dịch vụ “ôm” là bia ôm xuất hiện lác đác một cách bất hợp pháp tai một vài thành phố lớn, thì hiện nay nhan nhản trên khắp các nẻo đường đất nước, ngoài bia ôm, người dân có thể thưởng thức đủ thứ dịch vụ “ôm” hợp với túi tiền từng người như cà phê ôm, chè ôm, cháo ôm, phở ôm, sổ xố ôm, hớt tóc ôm, tắm ôm, xem video ôm, ngủ ôm, câu cá ôm, v.v. Thậm chí có nhiều tiệm may còn tặng thêm món hàng đo quần áo ôm cho các đấng mày râu.

    Tuy nhiên, bia ôm vẫn là dịch vụ phổ biến nhất, như câu ca dao nêu sau, nghe đồn được phát xuất từ một quán bia ôm gần Văn Miếu ở Hà Nội, nơi đặt những tấm bia đá khắc tên các ông nghè, tức tiến sĩ thuở xưa:

    Trăm năm bia đá cũng mòn
    Bia chai cũng vỡ, chỉ còn bia ôm


    Nền giáo dục thì xuống cấp một cách thê thảm. Đây là điều hiển nhiên vì nhà giáo là những người bị hất hủi đến cùng cực trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa:

    Thày giáo lãnh lương ba đồng
    Làm sao sống nổi mà không đi thồ
    Nhiều thày phải đạp xích lô
    Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh


    và thê thảm hơn:

    Cô giáo phải bán bia ôm
    Ôm phải học trò, ăn nói sao đây?


    Điều đau xót và tủi nhục nhất của dân tộc trong những năm gần đây là dưới sự cai trị của những bộ óc “ưu việt, đỉnh cao trí tuệ”, nhiều phụ nữ miền Nam phải chấp thuận lấy người ngoại quốc, hầu hết là người Đài Loan và Nam Hàn, để có thể thoát cảnh đói nghèo. Tại xứ người, đa số bị đối xử như những nô lệ tình dục. Chứng kiến cảnh đau lòng này, các chàng trai đất Việt đành bùi ngùi than thở:

    Tiếc thay cây quế còn soan
    Để cho đám mọi Đài Loan nó trèo


    và:

    Tìm em như thể tìm chim
    Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông
    Tìm làm chi để mất công
    Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi


    Châm biếm và chỉ trích lãnh tụ

    Là nạn nhân của sự cai trị bạo tàn, người dân, nhất là dân miền Nam, đã phải cậy đến một thứ khí giới đặc biệt để chống lại kẻ mạnh là thi ca trào phúng. Trong suốt 30 năm, nhiều lãnh tụ cộng sản đã trở thành đối tượng để nhân dân “xả xú bắp” bằng ca dao châm biếm. Trong những ông này, ngoại trừ ông Hồ, ba ông bị nhắc đến nhiều nhất là tổng bí thư Lê Duẩn, chủ tịch quốc hội Trường Chinh, và thủ tướng Phạm Văn Đồng, tức những người lãnh đạo cao nhất của đảng trong 10 năm đầu tiên kể từ khi miền Nam thất thủ, thời kỳ bị xem là đen tối nhất của lịch sử dân tộc cận đại.

    Với ông Hồ, có khi ca dao là một bài châm biếm về khả năng lãnh đạo:

    Trách ai sinh thứ họ Hồ
    Để cho cả nước như đồ vất đi


    Có khi là một bài mỉa mai về tư cách và đạo đức, như chuyện bác “ăn ốc” xong rồi bắt đàn em “đổ vỏ”:

    Bác Hồ đại trí, đại hiền
    Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong
    Minh Khai phận gái chữ tòng
    Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì


    Còn về ba ông Đồng, Duẩn, Chinh thì thoạt đầu là những lời tố cáo như:

    Ông Đồng, ông Duẩn, ông Chinh
    Vì ba ông ấy, dân mình lầm than


    Rồi đến sự căm phẫn:

    Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng
    Cả ba đồng lòng giết chết con tôi


    Cuối cùng là niềm mơ ước:

    Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng
    Ba thằng cùng béo, vặt lông thằng nào?
    Vặt lông cả đám cho tao!


    Có một chuyện khá khôi hài xẩy ra trong nội bộ đảng Cộng Sản vào năm 1983. Lúc bấy giờ Đại Tướng Võ Nguyên Giáp bị phe Lê Duẩn và Lê Đức Thọ làm nhục, tước hết binh quyền và giao nhiệm vụ phụ trách “sinh đẻ có kế hoạch”. Trước hoàn cảnh dở khóc dở cười của đại tướng, người dân có câu ca dao chế diễu:

    Ngày xưa đại tướng cầm quân
    Ngày nay đại tướng cầm quần chị em


    Còn những chị em… vui tính hơn thì khúc khích rỉ tai nhau mà bảo rằng:

    Khi xưa trấn thủ lưu đồn
    Bây giờ đại tướng trấn l.. chúng em


    Cuối tháng 6 năm 1991, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của đảng bầu ông Đỗ Mười làm tổng bí thư và cử ra một Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng gồm 146 ủy viên. Sau đại hội, có mấy ông công dân rỗi việc, mò mẫm sưu tra lý lịch của 146 ngài đỉnh cao trí tuệ này thì cả nước mới hay chỉ 10 phần trăm đạt được thành tích vẻ vang là đã hoàn tất bậc trung học. Đặc biệt, đồng chí tổng bí thư thì hoặc tự bỏ học hoặc bị đuổi học từ năm lớp ba. Bởi vậy, dân gian có câu ca dao khen đồng chí rằng:

    Giỏi a đồng chí Đỗ Mười
    Lớp ba chưa đỗ đã ngồi bí thư


    Một trong những thành tích đáng tủi hổ của Cộng Sản Việt Nam là ồ ạt xuất khẩu nhân công sang lao động tại xứ người vì không tạo nổi công ăn việc làm cho người dân. Chỉ trong năm 2004, nhà cầm quyền đã đưa gần 70.000 người dân đi làm thuê tại các nước ngoài, hầu hết đến Đài Loan, Nam Hàn, và Mã Lai là những nước có nền kinh tế còn kém Việt Nam thời chưa bị họa Cộng Sản ở nửa thế kỷ trước. Tại những xí nghiệp thuộc những nước này, người nhân công Việt Nam bị đối xử như những nô lệ của thời đại mới. Dân gian bèn có câu châm biếm:

    Vẻ vang thay lãnh tụ ta
    Đem dân xuất khẩu bán ra nước ngoài


    So sánh với thực dân Pháp thuở xưa, đảng Cộng Sản Việt Nam hôm nay tệ hại hơn nhiều về thành tích bóc lột nhân dân và chiếm đoạt tài nguyên đất nước:

    Ngày xưa giặc Pháp mộ phu
    Ngày nay đảng bán dân ngu lấy tiền
    Đảng ta là đảng cầm quyền
    Đảng bán ruộng đất lấy tiền đảng tiêu


    Không những thế, để bảo đảm chiếc ghế lãnh đạo, những ông lớn của đảng còn đang tâm nhượng một phần lãnh thổ quốc gia cho Trung Quốc. Điển hình là các hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cùng một giải đất rộng lớn bao gồm ải Nam Quan và thác Bản Giốc ở cực Bắc nước ta. Các câu ca dao nêu sau nói lên lòng phẫn uất của nhân dân trước sự kiện này:

    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
    Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tầu


    và:

    Tiên sư Cộng Sản Việt Nam
    Cuối đời bán cả giang san nước nhà


    Tương lai về đâu?

    Nhiều người Việt ở hải ngoại từng về thăm quê hương trong những năm gần đây cho rằng Việt Nam đã tiến một bước khá dài kể từ đổi mới, và ánh sáng ngày một sáng hơn ở cuối đường hầm. Tuy nhiên, đây chỉ là một nhận định phiến diện căn cứ trên sự phát triển tại các thành phố lớn. Đồng ý là trong gần hai thập niên qua, sau khi Cộng Sản trả lại phần nào quyền tư hữu cho người dân và chấp nhận tự do kinh doanh có giới hạn, nền kinh tế đã tăng trưởng khoảng bẩy, tám phần trăm mỗi năm. Con số này quả là to lớn với những nước đã phát triển nhưng không thể gọi là đáng khích lệ đối với những nước đang cố vươn lên từ nền kinh tế lạc hậu và đang sở hữu một khối lượng nhân công quá rẻ so với những quốc gia khác. Ngoài ra, phần lớn sự phát triển hiện nay bắt nguồn từ khoản “viện trợ” của “khúc ruột ngoài ngàn dặm”, tức số tiền các Việt kiều gửi về cho thân nhân và đầu tư ở Việt Nam, cũng như tiêu pha trong các chuyến về thăm quê hương. Con số này đã lên đến hơn ba tỉ mỹ kim trong năm 2004.

    Thêm nữa, điều đáng nói là tại Việt Nam, tài sản quốc gia không được phân chia đồng đều vì hầu hết ở trong tay các cán bộ cao cấp và giới tư bản đỏ liên minh kinh tế với họ. Đại đa số nhân dân, nhất là những người ở nông thôn, còn thiếu ăn thiếu mặc một cách trầm trọng. Nước ta bị sa vào vòng luẩn quẩn không lối thoát. Có quyền thì có tiền và khi có tiền thì giữ được quyền. Điều nghịch lý là vài thập niên sau khi vỗ ngực huênh hoang là đã tiêu diệt được chế độ phong kiến, thì ngày hôm nay, cộng sản đã biến xã hội Việt Nam trở nên phong kiến hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử. Đau đớn nhất là dưới sự cai trị của đảng, tham nhũng đã dần dần trở thành một giá trị tiêu cực của nền văn hóa dân tộc, một tệ trạng không phải một sớm một chiều có thể diệt trừ, kể cả khi chế độ cộng sản đã cáo chung.

    Dưới ngọn cờ chỉ đạo xã hội chủ nghĩa, Việt Nam sẽ đi về đâu? Người dân sẽ ấm no hơn chăng, sẽ hạnh phúc hơn chăng? Bốn, năm thập niên về trước, dân gian đã vỗ vai ông Hồ mà bảo “này ông, chuyện ấy còn lâu”. Câu nói ấy vẫn chính xác và sẽ còn chính xác cho đến ngày nào Việt Nam còn bị đặt dưới sự cai trị của cộng sản. Chẳng tin, cứ hỏi ông Lê Nin thì biết!

    Ơ hay, sao lại có chuyện Lê Nin ở đây? Ông ấy đã “đang từ khỏe mạnh chuyển sang từ trần” từ hơn tám thập niên rồi cơ mà!

    Câu chuyện như sau:

    Năm 1985, cộng sản Việt Nam cho xây tượng đài Lê Nin cao đến 5,2 thước trong công viên Chi Lăng, gần quảng trường Ba Đình, tại Hà Nội. Ngay sau khi tượng được khánh thành, người dân Hà Nội có bài ca dao nhại theo lời một bài vè ca tụng Lê Nin của thi nô Tố Hữu. Bài ca dao của nhân dân như sau:

    Ông Lê Nin ở nước Nga
    Sao ông lại đến vườn hoa nước này?
    Ông ưỡn ngực, ông chỉ tay
    Ông xem như thể nước này của ông


    Ít lâu sau, cộng sản Liên Xô sụp đổ, người dân bèn “hồ hởi” đọc cho nhau nghe bản hiệu đính của bài ca dao trên. Mỗi lần đọc xong lại cùng cười hô hố một cách cực kỳ… phản động:

    Lê Nin quê ở nước Nga
    Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này?
    Ông vênh mặt, ông chỉ tay:
    Tự do, hạnh phúc lũ mày còn xa
    Kìa xem gương của nước Nga
    Bẩy mươi năm lẻ có ra đếch gì!


    Đấy, ông Lê Nin nói đấy: “Tự do, hạnh phúc lũ mày còn xa”. Quả là hơn sáu thập niên sau khi chết, đến ngày cộng sản Liên Xô tan rã, ông Lê Nin mới sáng mắt ra.

    Ngày hôm nay, gần hết tháng giêng năm 2005, tin tức từ bên nhà cho biết dịch cúm gà đã tái bùng nổ tại 23 tỉnh. Đúng một năm trước, bệnh dịch này đã hoành hành trên khắp đất nước khiến nhiều người thiệt mạng đến nỗi nhà cầm quyền phải ra lệnh giết cả chục triệu con gà để ngừa bệnh lan tràn. Ngay sau khi dịch gà lắng đọng thì dịch heo bộc phát tại miền Nam gây biết bao thiệt hại cho dân nghèo. Trước sự kiện gà và heo đồng loạt lăn quay ra chết vì dịch, người dân đã khẩu truyền cho nhau một câu ca dao thật đặc sắc:

    Dịch heo nối tiếp dịch gà
    Bao giờ dịch đảng cho bà con vui


    Bao giờ thì bà con mới được vui? Căn cứ vào một câu ca dao thuộc loại sấm truyền được lưu hành trong dân gian từ vài thập niên trước thì ngày ấy không còn xa lắm đâu:

    Bao giờ Hồ cạn, Đồng khô
    Chinh rơi, Giáp rách, cơ đồ mới yên


    Xét về khía cạnh nghệ thuật, câu sấm truyền quả là đắt giá vì “hồ”, “đồng”, “chinh”, và “giáp” hiểu theo nghĩa đen là “ao hồ”, “đồng ruộng”, “cái chiêng” và “áo giáp”. Theo nghĩa bóng thì bao giờ các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, và Võ Nguyên Giáp về chầu ông tổ Mác thì bà con cả nước mới có thể an vui. Đến nay, trong số này chỉ còn ông Giáp, nhưng đại tướng nhà ta đã 94 tuổi, như ngọn đèn dầu leo lét trước gió, có muốn “cầm quần chị em” như thuở trước thì cũng chẳng còn đủ sức mà cầm. Cái ngày “Giáp rách” chắc chắn sẽ xẩy đến chỉ trong nay mai.

    Trong kho tàng văn chương truyền khẩu Việt Nam, đa số những câu ca dao phát sinh từ thuở nước ta chưa gặp họa cộng sản và được truyền đến hôm nay là những câu hoặc gói ghém tình cảm con người, nhất là tình yêu nam nữ, hoặc ca ngợi hình ảnh đất nước. Rất ít câu ta thán về sự bạo ngược của chế độ cũng như chỉ trích và châm biếm giới cầm quyền như những câu ca dao thời xã hội chủ nghĩa. Điều này chứng tỏ cộng sản là chế độ gây nhiều lầm than nhất cho dân tộc chúng ta kể từ ngày lập quốc.

    Tuy nhiên, khi lật bất cứ tác phẩm sưu tầm ca dao nào được xuất bản tại Việt Nam trong 30 năm qua, chúng ta không bao giờ bắt gặp những câu mang nội dung tương tự những câu trích dẫn trong bài này. Những câu ca dao thời hiện đại được đăng trong những tác phẩm ấy là những câu ca tụng bác và đảng, ca tụng cuộc kháng chiến chống Pháp, và cuộc chiến "chống Mỹ Ngụy". Dĩ nhiên, những câu này được sáng tác bởi lũ bồi bút của chế độ. Vì vậy, ngoài sự hiện diện trong tác phẩm, chúng không hề được lưu truyền trong dân gian. Đây là một lừa bịp trâng tráo của đảng và lũ bồi bút.

    Tại Việt Nam, năm 1977, ông Vũ Ngọc Phan hoàn tất việc sưu tập và trước tác quyển “Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam”, trong đó có bao gồm phần “Ca Dao Chống Mỹ Cứu Nước”, với nhiều bài ca ngợi bác và đảng, dài đến 40 trang sách. Tác phẩm này đã được nhà cầm quyền cho in đến 10 lần tính đến năm 1994. Tuy nhiên, với bản tính lương thiện hiếm thấy so với những người cầm bút khác đã và đang phục vụ chế độ, ông Vũ Ngọc Phan đã cẩn thận ghi tên tác giả của từng bài… “ca dao” trong phần chống Mỹ cứu nước. Là một học giả thành danh từ đầu thập niên 40, dĩ nhiên ông thừa hiểu ca dao là một bài thơ hay vè ngắn (thường là lục bát) từ hai câu trở lên do một người làm ra, rồi qua miệng từng người, dần dần được sửa đổi (một cách ngẫu nhiên) cho đến khi được hoàn chỉnh, tức khi đã phản ảnh đích thực được tâm lý quần chúng. Như vậy, tác giả của ca dao chính là dân gian. Một bài thơ hay vè có ghi tên tác giả không thể là một bài ca dao. Có lẽ tuy hiểu như vậy, nhưng ông Vũ Ngọc Phan vẫn phải bao gồm những bài vè này trong phần ca dao chống Mỹ để thỏa mãn yêu cầu của những người lãnh đạo đảng.

    Người viết hy vọng rằng ở một thời điểm không xa, sẽ có những vị thiết tha với văn hóa dân tộc bỏ công san định các câu ca dao đã lưu hành trong suốt thời gian Việt Nam bị đặt dưới ách cộng sản để ghi lại trong những tác phẩm xuất bản tại hải ngoại. Những câu ca dao “ngoài luồng” này mới thực sự có giá trị về cả hai phương diện văn học và lịch sử. Mai sau, khi đọc những tác phẩm ấy, những thế hệ tương lai ở cả quốc nội lẫn hải ngoại có thể phần nào hiểu được nỗi khổ đau cha ông họ đã phải gánh chịu, để họ có cơ hội được làm người. Những tác phẩm ấy cũng sẽ khiến các nhà cầm quyền (không cộng sản) sau này phải đắn đo hơn khi cai trị đất nước, nếu không muốn trở thành “ngàn năm bia miệng” như những người cầm quyền trong nửa thế kỷ qua.

    Và, cuối cùng, người viết cũng hy vọng rằng những thế hệ tương lai ấy, họ sẽ không phải khổ sở đánh vật với miếng cơm manh áo như cha ông chúng suốt bao thập niên qua; họ cũng không phải đón nhận, không phải truyền đi những câu ca dao có những giọt lệ đau xót ẩn dấu trong tiếng cười, như những câu ca dao đăng trong bài viết.

    Những thế hệ tương lai ấy, họ sẽ có thời giờ, nhiều thời giờ là khác, để đọc những câu ca dao thắm thiết tình cảm của dân tộc, họ sẽ rung động (đến xúc động) khi bắt gặp những câu như “Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Tào Khê nước chẩy vẫn còn trơ trơ”.

    Và họ sẽ cảm thấy yêu dân tộc hơn, yêu quê huơng hơn: Yêu nồng nàn và tha thiết.



    Nguyễn Ngọc Bảo
  2. Dù có chê bai, chửi rủa hay gì gì đi nữa, chúng ta vẫn phải công nhận những cách thức cấm và chống biểu tình của cộng sản rất là ...tiến bộ, đã đi trước những cá nhân, đảng phái đối lập này đến năm, sáu nước cờ.

    Mặc dù cách điều hành đất nước của họ vô trách nhiệm, phát biểu của họ có dấu hiệu tâm thần nhưng phương pháp chống biểu tình của họ đã rất hiệu quả, có thể dập tắt khi mầm móng “phản động” từ trong trứng nước.

    Các cuộc biểu tình của phe đối lập cũng khá rời rạc, lủng củng. Nhưng nhờ công nghiệp thông tin, những cuộc biểu tình này lan rộng khắp trên mạng internet. Rồi từ trên mạng, những tin tức này dội ngược trở về xã hội thực, làm thành những cơn sóng ngầm, chỉ chờ đủ điều kiện là biến thành đại hồng thủy.

    Ở đâu cũng vậy, cách thức chống biểu tình của các chế độ độc tài đều hao hao giống nhau. Nếu có lời Tuyên Bố Công Dân Tự Do đòi xóa bỏ điều 4 thì sẽ có hội nghị ở đâu đó sẽ đòi công bố ủng hộ độc quyền của đảng (do đảng nghĩ ra để đối lại). Sau này nếu có biểu tình đòi lật đổ chế độ thì ngoài trù dập và giam cầm ra, đảng cũng sẽ tổ chức những cuộc biểu tình ủng hộ đảng, vân vân và vân vân.

    Để cho những cuộc biểu tình này thêm hiệu quả. Tôi xin nêu ra vài quy tắc để giúp những cuộc biểu tình thành công. Quy tắc đầu tiên và quan trọng nhất không thể thiếu trong những cuộc biểu tình này là:

    Áp dụng phương tiện truyền thông để làm sức bật cho hiệu quả biểu tình.

    Mục đích của biểu tình là gì?

    Là một cách để những người khác biết nguyện vọng, đòi hỏi của mình. Khi người ta không thể thương lượng, đối thoại nhau bằng phương cách ôn hòa thì phải biểu tình. Một cuộc biểu tình được xem là thành công khi nhiều người biết và những người đó cũng đồng cảm với mình. Ở Việt Nam bị cấm biểu tình nên người dân phải biểu tình qua internet. Nhờ internet thì những cuộc biểu tình này lại vượt quá khuôn khổ hạn hẹp của thời gian và không gian, chỉ một nơi và chỉ một lúc.

    Điều cộng sản cấm đoán có tác dụng ngược, tai hại cho cộng sản.

    Dụng cụ cần thiết nhất của người biểu tình không phải là biểu ngữ, băng rôn mà là phương tiện truyền thông. Trước khi muốn biểu tình thì hãy có máy chụp hình, quay phim hay điện thoại di động...

    Dùng lời viết để tố cáo sự xấu xa của chính quyền cộng sản chỉ cho kết quả tương đối. Vì lời viết không thể hùng hồn bằng hình ảnh. Mà hình ảnh cũng không thể đầy đủ bằng những đoạn phim. Vậy nếu được thì người biểu tình hãy tìm cách quay phim.

    Đối với những cá nhân,tổ chức nhỏ mà muốn có tiếng vang lớn thì phải biểu tình với phương châm:

    Không đông đảo thì phải độc đáo.

    Một cuộc biểu tình thành công có thể là chỉ mỗi một người căng một biểu ngữ độc đáo, hài hước, lạ lẫm rồi tung lên mạng.

    Giống như những quảng cáo trên TV, những cuộc biểu tình này càng độc đáo, sáng tạo, hài hước thì nó càng có sức sống mãnh liệt, được báo chí lề dân đăng tải lại và lan tràn khắp mọi nơi. Biểu tình hết còn là một chuyện ngẫu nhiên mà còn là một nghệ thuật.

    Năm ngoái có một cuộc biểu tình chớp nhoáng rất độc đáo bằng thú nhồi bông trước Tòa Đại Sứ Trung Quốc.

    Một cách biểu tình độc địa khác là cởi trần truồng chống lại cưỡng chế đất đai ở Cần Thơ, chỉ hai người mà cũng làm đủ tiếng vang lớn, chứng tỏ là người dân đã bị dồn đến đường cùng.

    Hay chỉ vỏn vẹn sự bày tỏ tình cảm của cô Trang Lê giữa anh bộ đội và khứa công an cũng là một cách biểu tình thành công.

    Ít hơn thì phải dùng mưu.

    Điều cần thiết của một cuộc biểu tình là phải mạnh hơn những người chống biểu tình. Sức mạnh này không phải là mạnh tuyệt đối ở mọi lúc và mọi nơi. Nó có thể ở một nơi nhất định trong không gian, một lúc nhất định trong thời gian. Nó có thể chớp nhoáng năm ba phút, ở một nơi không phải là đường phố. Nó cũng có thể mạnh hơn trong tâm lý, pháp luật.

    Mới đây, những người đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh năm 1979 trong cuộc chiến Việt-Trung là một chuyện bình thường. Chuyện bình thường thành một cuộc biểu tình khi có chống đối, và đã thành công vang dội nhờ hình ảnh quay được.

    Chỉ một nhóm người mà đã tạo được phẫn nộ lớn trong nhiều tầng lớp dân chúng đối với chính quyên.

    Với một vòng hoa, những cựu quân nhân cũng truy điệu được cho tất cả đồng đội đã hy sinh. Với một băng rôn tưởng nhớ, họ cũng tố cáo được sự hèn hạ của cả chính quyền cộng sản.

    Dù không muốn đi nữa, những người bảo vệ canh giữ những đài kỷ niệm vẫn là đại diện cho chính quyền. Khi Trọng Lú, Dũng Lì... im lặng là họ mặc nhiên công nhận sự cấm đoán này.

    Im lặng trong chính trị là một hình thức thất bại.

    Nếu không có phim ảnh, thì hiệu quả không thể lớn lao như vậy.

    Năm ngoái, các nhà trí thức muốn đi biểu tình bị cấm cửa trước nhà, họ bị vây bởi công an, dân phòng mà chẳng thể khai thác được cơ hội.

    Không công bố được hình ảnh lên mạng hành động quản thúc của lực lượng cản trở. Họ đã bỏ qua một cơ hội để biểu tình tại gia, vừa ngồi ghế, vừa uống trà, vừa ca vọng cổ!

    Họ quên rằng, nhờ internet, nơi nào cũng có thể là nơi để... biểu tình. Mỗi một cá nhân cũng có thể đại diện cho nhân dân bị ức hiếp và các trí thức khác. Và phía bên kia, dù muốn hay không, cũng sẽ đại diện cho nhà nước, chánh quyền dù chỉ là một công an giao thông đứng đường, tổ trưởng dân phố !

    Biểu tình hết chỉ còn là tụ tập rồi xuống đường. Biểu tình biến hóa trở thành muôn màu muôn vẻ.

    Vợ của blogger Điếu Cày đòi quyền thăm chồng là một hình thức biểu tình. Biểu tình dai dẳng, biểu tình hàng tuần. Bà tượng trưng cho mẫu người vợ mà người đấu tranh nào cũng mơ ước được có.

    Tổ chức những cuộc biểu tình quy mô nhỏ mà thành công đòi hỏi người biểu tình vừa là diễn viên vừa là đạo diễn. Những vị đạo diễn này phải đo lường được phản ứng của những “diễn viên bất đắc dĩ “ ,“ diễn viên không muốn thành diễn viên”. Họ nên biết cách đối phó của phía lực lượng đàn áp để ghi nhận những hình ảnh bạo ngược . Từ đó mới hình thành những đoạn “phim biểu tình” thành công.

    Bởi vậy mà các công an chìm lẫn nổi sợ máy chụp hình, quay phim như quỷ Dracula sợ ánh sáng ! Việc khống chế đầu tiên là cướp ngay máy quay phim, chụp hình.

    Vụ ký tên cho những lời công bố của công dân tự do là một biểu tình trên mạng thành công về nhiều mặt.

    Nó không có nơi để mà cộng sản đóng chốt, ngăn cản.

    Cái tên đã tách ra khỏi thân thể của người ký tên. Cái tên của người biểu tình sẽ tiếp tục đời sống biệt lập dù người ký tên có bị giam cầm, hãm hại. Cộng sản không thể hủy hoại một cái tên.

    Mặt khác, ký tên vào lời tuyên bố là một trong thứ keo gắn bó nhiều cá nhân, đảng phái lại với nhau để đứng cùng một mặt trận. Suy đoán lạc quan thì có thể hy vọng nó buộc chính quyền phải hạ từ thế “nhà nước là chủ - nhân dân là đầy tớ” ra hai thế lực cân bằng hơn. Ngẫm nghĩ hơi bi quan thì nó vẫn sẽ là những viên gạch cho các cuộc biến chuyễn quy mô tiếp theo.

    Biểu tình lớn để thay đổi chính quyền.

    Dù có hiệu quả lớn, nhưng chúng ta cũng vẫn phải công nhận rằng những cuộc biểu tình cá nhân hay quy mô nhỏ không thể lật đổ được chế độ cộng sản. Muốn nó ngã bằng cách biểu tình thì phải có những cuộc biểu tình cực lớn , cỡ từ vài trăm ngàn người trở lên.

    Khi tình thế đã chín mùi, chỉ cần một sự kiện nhỏ tí ti cũng đủ làm cả làng xóm,quận huyện hay thành phố nổi dậy.Khi thành phố nổi dậy thì nó sẽ có hiệu ứng dây chuyền, lan tràn khắp trong nước và những người Việt khác ở khắp thế giới.

    Điều quan trọng không phải là bắt đầu mà là làm đến cùng. Đã muốn lật đổ chế độ cộng sản thì cũng phải đi đến cùng. Không thể dừng lại vì những lời dụ dỗ, hứa xem xét, bàn bạc.

    Hãy nhớ đến hậu quả của Thiên An Môn, đó là kết quả của một sự biểu tình không đi đến cùng vì không tấn công vào đầu não của Bộ Chính Trị Trung Quốc. Chỉ loay hoay ngoài cổng mà không tràn vào Tử Cấm Thành và lan ra khắp quốc gia. Nó không có mục tiêu, đòi hỏi rõ ràng.

    Vì lực lượng chống biểu tình được đào tạo bải bản, chuyên nghiệp. Muốn thành công thì những cuộc biểu tình đông người phải được tổ chức phức tạp hơn.

    Để chống trả những cuộc biểu tình lớn, công an Việt Nam tổ chức thành hai lực lượng: Một là ra mặt, có đồng phục tạo thành những khối chận đứng những chốt hiễm yếu. Hai là ẩn mặt, trà trộn vào người biểu tình để ra tay dập tắt những khẩu hiệu, bắt bớ và tách rời những người mà họ cho là cầm đầu ra khỏi đám đông để dập tắt ý chí đấu tranh.

    Chúng ta cũng phải biết ưu điểm và khuyết điểm của họ để đối phó lại.

    Dễ đối phó nhất là những thành phần đóng chốt, có đồng phục. Với những người này chúng ta nên:

    Không xem “người thi hành công vụ” là kẻ thù.

    Đúng hơn thì cũng đừng xem người chống biểu tình mặc đồng phục như những con người. Khi họ sắp hàng ngang hết một con đường, bày binh bố trận chờ đợi thì hãy xem như là hàng loài chó kiểng, thú nhồi bông. Đừng chửi rủa, khiêu khích vì đây là mục đích mà những “chuyên gia chống biểu tình” mong muốn:

    Tạo điều kiện để mỗi kẻ cầm dùi cui, lá chắn đánh đập người khác vì lý do cá nhân mà không cần phía trên sai khiến.

    Khuyết điểm thứ nhất là lực lượng này trang bị những vũ khí chống biểu tình rất cồng kềnh, gồm lá chắn, dùi cui, nón bảo hiễm, máy điện đàm... nên không còn linh hoạt trong những việc cử động, di chuyễn nên dễ bị người biểu tình vây quanh tước đoạt vũ khí và vô hiệu hóa .

    Để bù lại khuyết điểm thứ nhất, lực lượng này phải kết nối thành những khối mà không thể hoạt động riêng rẽ từng cá nhân được. Mọi sự di chuyển của họ phải theo bầy đàn, mệnh lệnh.

    Chúng ta có nhiều cách để vô hiệu hóa lực lượng này. Trước hết là phải lựa chọn nơi có lợi thế cho phe biểu tình.

    Địa điểm thích hợp.

    Một địa điểm để biểu tình thích hợp phải là một nơi rộng rãi, ở gần ít nhất là hai hoặc nhiều cơ quan đầu não khác nhau. Địa điểm này cũng có thể là một nơi giao tiếp với nhiều con đường khác như bùng binh, ngã năm, ngả bảy. Rộng rãi thì lực lượng chống biểu tình phải cần những lực lượng lớn để bao vây, chia cắt. Khi ở gần hai hoặc nhiều cơ quan đầu não như đài phát thanh, nhà tù, nhà quốc hội, cơ quan chính quyền... thì khi đoàn biểu tình không thể tiếp cận được mục tiêu chính thì vẫn còn những mục tiêu phụ. Tùy theo tình thế, những mục tiêu phụ có thể trở thành những mục tiêu chính. Vì bắt buộc phải bảo vệ những nơi hiểm yếu này mà lực lượng công an bị phân tán, không thể tập trung hết và hình thành những sức mạnh đáng kể. Khi một mục tiêu bị sụp đổ thì đám đông biểu tình dồn sức đến những mục tiêu kế tiếp.

    Tránh mạnh, đánh yếu.

    Chúng ta không nên đối đầu trực diện với lực lượng “chính quy”. Đừng lấy sức yếu của chúng ta mà đối đầu với cái mạnh của họ. Họ có tiến thì chúng ta lùi, họ có đánh thì chúng ta chạy về phía những người biểu tình khác. Chúng ta chạy nhưng không chạy xa, chỉ cần họ không còn giữ độì hình, đi riêng rẽ là chúng ta quật lại. Bởi vì mang những dụng cụ quần áo rất cồng kềnh cho nên khị bị tách ra riêng rẽ, họ chỉ là những bị thịt, dễ bị năm bảy ngưòi biểu tình nắm hết tay chân và lôi đi, bắt buộc đồng đội họ phải ứng cứu. Khi chúng ta bắt được một “con tin” rồi thì chúng ta phải lôi kéo con tin đó càng xa đồng đội họ thì càng tốt. Khi lực lượng chống biểu tình rượt theo thì họ sẽ bị phân tán, không đủ lực lượng để bảo vệ những phương tiện hậu cần như bộ chỉ huy, xe cảnh sát.... Nếu họ không cứu “con tin” thì chính họ sẽ hoang mang, khủng hoảng vì đầu đuôi không ứng cứu được nhau. Tâm lý của lực lượng chống biểu tình sẽ giao động mạnh. Từ thế mạnh bạo họ sẽ trở về thế thụ động, chỉ còn muốn tự lo cho nhau mà thôi.

    Đánh vào những thứ mà họ bắt buộc phải ứng cứu.

    Phải hiểu rằng khi mang mười mấy kí lô trên người, di chuyển nào cũng hao tổn sức lực. Chúng ta đừng chú ý đến khối người này mà chú ý vào những phương tiện hậu cần, truyền thông và đầu não chỉ huy.

    Như làm xì bánh xe cảnh sát, giựt chìa khóa xe bus chở tù nhân, vô hiệu hóa xe phá sóng, giật lấy những máy điện đàm rồi gây rối bằng cách bấm và nói liên tục làm cho những lực lượng này không thể phối hợp, tiếp cứu với nhau được. Mặt khác chúng ta cũng nên bao vây hết đầu não để họ hết còn minh mẫn để chỉ huy vì tự họ phải cứu lấy họ.

    Đối phó với những người có đồng phục, dùi cui thì tương đối dễ dàng. Nhưng đối phó với công an chìm mới khó. Đây là những thành phần hung tợn và quỷ quyệt hơn. Họ cố tạo ra những ngộ nhận làm những người biểu tình ngờ vực lẫn nhau.Chúng ta nên :

    Kết nối số đông bằng những tổ chức nhỏ.

    Những tổ chức nhỏ này là những nhóm từ năm đến mười người. Khi biểu tình, các phần tử phải tôn trọng một quy luật duy nhất là không được thất lạc nhau, dù bất cứ trường hợp nào. Dù có bị sách nhiễu, đánh đập, bắt đi thì họ cũng không được bỏ rơi những thành viên trong tổ nhóm của mình.

    Lợi ích của việc kết nối năm, bảy người thành một là yếu tố tâm lý. Một cá nhân bình thường không dám làm những việc mà khi được đồng thuận và cổ vũ của vài người khác, họ lại dám.

    Sức mạnh đấu tranh của chỉ 5, 7 người mà biết đoàn kết, bảo vệ, ủng hộ lẫn nhau tương đương bằng 50, 70 người rời rạc.

    Nếu quen biết nhau lâu thì họ có thể tự huấn luyện, bổ xung nhau để có những có những dấu hiệu nhận diện, ngôn ngữ, cử chỉ riêng. Khi đụng chạm lực lượng chống biểu tình, họ sẽ có những bàn bạc riêng và có những quyết định riêng.

    Các tổ chức này cũng có thể là kết hợp ngẫu nhiên giữa năm ba người không quen biết nhau nhưng lại bảo vệ lẫn nhau để biểu tình rồi giải thể ngay sau đó. Số đông cứng ngắc mà được tổ chức toàn những nhóm như vậy sẽ đặc biệt linh động và dễ phân biệt nhau. Với sức mạnh của năm, ba người gọp lại, họ cũng có thể vây hãm những xe cảnh sát, vô hiệu hoá những “kẻ lạ”, bảo vệ người đại diện, loa phát thanh...

    Về phía công an chìm thì họ cũng có những tổ chức nhỏ để hổ trợ lẫn nhau mà trà trộn vào đám biểu tình. Nhưng vẫn có cách vô hiệu hóa và biến họ thành một thành viên biểu tình. Việc đầu tiên khi chúng ta muốn vô hiệu hóa những tổ công an chìm là

    Cách ly từng phần tử một ra khỏi đồng bọn.

    Để cho những công an chìm không thể ứng cứu được lẫn nhau. Chúng ta nên dùng nhóm 5,7 người bao vây người đi sau cùng hoặc người đi ngoài rìa.

    Sau đó xem thái độ của phần tử đó, nếu là người biểu tình thật thụ thì họ chẳng có gì mà sợ hãi. Nhóm biểu tình có thêm một thành viên mới.

    Nếu phần tử này chống cự hoặc có chứng cớ không thể chối cải như máy điện đàm thì phe biểu tình chỉ cần phái ra hai người áp tải, vô hiệu hóa đối thủ. Bằng phương pháp nào ?

    Chỉ cần hai người đi song song, kẹp đối tượng vào chính giữa. Nắm chặt một trong bốn ngón tay trỏ, giữa, áp út hoặc ngón tay út của đối phương. Nếu đối phương ngoan ngoãn đi theo thì đám biểu tình có thêm một thành viên “tự nguyện”.

    Nếu đối phương chống cự thì người giám sát vặn vẹo, bẻ trặc ngón tay của đối tượng, vô hiệu hoá công an chìm ...được cả tháng.

    (Đừng nắm ngón cái vì ngón cái mạnh, khó bị trặc hơn những ngón tay khác. Trong võ thuật, bẻ trặc một ngón tay tác dụng đến toàn bộ hệ thần kinh, làm cho đối tượng bị cú sốc cực lớn, gần như là chết điếng).

    Những sự thay đổi lớn lao trong lịch sử không phải tự nhiên mà có. Nó có gốc gác, nhân duyên. Khi phân tích tỉ mỉ thì mới hiểu rằng nó phải như vậy mà không thể khác được.

    Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 nếu không xảy ra vào tháng 4 thì tháng 5, không vào năm 1975 thì sẽ vào 1976. Nguyên nhân ra sao thì sách vở đã viết nhiều, khỏi cần bàn lại. Việc lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm cũng vậy. Khi các tướng tá nhao nhao đòi đảo chánh vì:

    Nếu không thì những người khác sẽ làm trước mình!

    Người tìm hiểu lịch sử biết rằng thời đại của dòng họ Ngô đã tận. Không thể khác.

    Chế độ cộng sản Việt Nam cũng vậy, đã đến lúc “trời chiều, đường cụt” .

    Biểu tình bằng đám đông chỉ là một trong nhiều phương tiện đánh bại chế độ cộng sản. Không có nó vẫn có những cách thức khác.

    Sự bất ngờ của lịch sử là không một ai biết cộng sản sẽ ngã bằng cách nào.

    Với kiến nghị 72, lời tuyên bố Công Dân Tự Do, của Phật Giáo, của Công Giáo, của khối 8406, của những bloggers, trí thức, người Việt ở trong nước, ở nước ngoài... thì một phần lớn tinh hoa của Việt Nam đã nỗi dậy.

    Và tai hại cho cộng sản hơn nữa, qua lời Tuyên bố của các Công Dân Tự Do, họ đã đoàn kết. Khác những lần trước, đảng cộng sản không thể chia rẽ sự đoàn kết này.

    Bắt ai khi không một ai là người lãnh đạo?

    Bắt sao xuể khi mỗi đoàn viên cũng có thể là một người lãnh đạo?

    Họ đã đoàn kết được thành một đầu tàu xe lửa. Sớm muộn gì họ cũng kéo theo những toa xe khác tiến lên đường dân chủ.

    Người dân chưa nỗi dậy vì họ chưa biết cách nỗi dậy. Những người chống đối cộng sản đừng hô hào suông mà hãy tìm ra phương pháp, tạo điều kiện cho họ nỗi dậy.

    Nhưng dù có cấm đoán hay không, dù có hứa hẹn thay đổi hay không, thì sớm hay muộn thì người dân cũng sẽ nỗi dậy. Không có phương pháp thì tự họ sẽ tìm ra phương pháp. Không có điều kiện thì tự họ sẽ tìm ra điều kiện.

    Vấn đề chỉ còn là thời gian.

    Nếu cộng sản sớm chịu chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì còn có hy vọng thương lượng với chính phủ tương lai để hạ cánh êm thắm, không đổ máu. Và họ cũng có thể là một trong những đảng phái của chính phủ tương lai theo tinh thần đa nguyên và đa đảng.

    Nếu cộng sản chống đối tới cùng thì họ cũng sẽ thiệt hại nhiều nhất vì họ không thể là một trong những đảng phái tương lai nữa. Đảng cộng sản sẽ bị nhân dân Việt Nam tiêu diệt.

    Cái gì phải đến sẽ đến.

    Cứ chờ rồi sẽ thấy.

    Hẹn gặp nhau ở Sài Gòn.

    Dân đọc báo.
  3. Có một số người chỉ chống cộng sản đến biên giới Việt-Trung rồi dừng lại. Họ không muốn và không thèm tìm hiểu kẻ mà chính quyền Việt Nam quỳ lạy, mạnh yếu về mặt gì. Họ không nhìn xa hơn những mối nguy thấy bằng mắt, nghe bằng tai như Trường Sa, mỏ quặng bị đào xới, đồ ăn bị ngộ độc, sách vở bị in cờ Trung Cộng... Họ hô hào rằng Trung Quốc xâm lăng Việt Nam nhưng không biết xâm lăng kiểu nào?

    Nếu ai tìm hiểu văn hóa quân sự của Trung Quốc thì phải đọc cho bằng được Tôn Tử Binh Pháp. Và từ đó họ sẽ hiểu ra rằng Trung Quốc chỉ cần vài ba năm nữa là có thể chiếm trọn Việt Nam, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau bằng quân sự!!!

    Với cách nào?

    Bằng cách giúp đỡ kinh tế lẫn quân sự cho Lào và Miên, thần phục hai nước này rồi từ đó mượn đường đánh úp qua ngã biên giới, mô hình chiến tranh Việt Trung năm 1979 nhưng trên với hơn phân nửa biên giới của Việt Nam.

    Những chiến tuyến không những chỉ ở Cao Bằng, Lạng Sơn, mà cũng sẽ là Điện Biên Phủ, Khánh Thành, Lao Bảo, Kon Tum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Tây Ninh, Châu Đốc, Hà Tiên!

    Khi Việt Nam mất thì tự nhiên Campuchia và Lào cũng sẽ thuộc về Trung Quốc.

    Với những vụ giằng co Trường Sa, Hoàng Sa, Ải Nam Quan... những người yêu nước lẫn chế độ cộng sản bị kế sách "minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương" (làm đối phương chú ý mặt này nhưng lại đánh mặt khác).

    Việt Nam xây dựng lực lượng biển, mua sắm tàu chiến lẫn tàu ngầm, Trung Quốc chỉ phản đối cho có lệ dù có khả năng gây áp lực để cấm đoán Việt Nam. Đó cũng là ý đồ của Trung Quốc. Họ dư thừa biết là với tàu bay, máy bay, tàu ngầm mua của Nga, họ chẳng có thể đi đâu xa.

    Nếu Trung Quốc muốn xây dựng một cường quốc về hải quân thì phải cần 15, 20 năm nữa mới khống chế được Việt Nam. Mà nếu lúc đó Trung Quốc muốn đánh thì phải dè chừng liên minh Nhật, Phi Luật Tân, Mỹ...

    Với cách đánh trong đất liền đánh ra, ngoại trừ gởi quân lính tham chiến trực tiếp, các nước khác chỉ biết ngồi ngó!

    Sở trường của quân đội Trung Quốc lối đánh thí quân. Và Trung Quốc sẽ cấp tốc giải quyết chiến trường, khi những quốc gia khác mới vừa kịp mở miệng ra phản đối, Việt Nam đã đầu hàng!

    Chiếm được Việt Nam sẽ có lợi gì cho Trung Quốc?

    Trước hết là giải quyết được vấn đề nhân mãn, trai thiếu gái thừa của Trung Quốc. Đàn ông thanh niên Trung Quốc khỏi cần qua nước khác mua vợ đem về nước. Cứ vào Việt Nam, tỉnh lỵ mới của Trung Quốc mà tìm!

    Thứ hai nữa là bỏ được những vùng đất bị sa mạc hóa ở miền Bắc mà di dân xuống miền Nam trù phú hơn.

    Thứ ba nữa là chiến thắng này sẽ cho làm dân chúng Trung Quốc làm dịu đi tinh thần chống đối chính quyền, quên đi những bất công, tham nhũng. Chế độ xã hội chủ nghĩa Trung Quốc có thêm luồng sinh lực mới!!!

    Xâm chiếm Việt nam là một vấn đề sống chết của chính quyền Trung Quốc.

    Vậy Trung Quốc cần những điều kiện nào để thực hiện kế hoạnh này?

    1. Cần hai nước Campuchia và Lào thần phục.

    2. Xây dựng hệ thống đường sá, hậu cần như xa lộ, đường rày từ Trung Quốc xuống tới Campuchia với danh nghĩa kinh tế, giao thương từ Vân Nam- Vạn Tượng- Nông Pênh.

    3. Xúi dục hai nước này gây hấn với Việt Nam rồi từ đó hổ trợ quân sự và tìm cách ém quân một cách danh chính ngôn thuận khắp biên giới.

    Để khi đủ điều kiện, bất ngờ xua quân chiếm trọn Việt Nam trong vòng 7 đến 10 ngày!!!

    Điều 1 kể như là xong, Việt Nam là kẻ thù muôn đời của hai nước này. Trong dân gian của Campuchia vẫn truyền tụng lại câu chuyện của lính Việt Nam chặt đầu dân Miên để làm gạch kê nồi nấu cơm. Dù có hay không nhưng cũng nên hiểu rằng những lỗi lầm của ông cha ta, chúng ta sẽ phải trả. Cộng thêm mười mấy năm chiếm đóng của cộng sản Việt Nam cũng chẳng làm tốt đẹp được quan hệ của hai nước này đối với Việt Nam. Hai quốc gia này sẽ reo vui khi thấy Việt Nam bị hạ. Còn việc gì kế tiếp xảy ra với họ thì vẫn còn xa.

    Điều 2 thì chỉ cần hai, ba năm nữa là xong.

    Điều 3 thì cần 3, 5 năm nữa thì cũng xong tốt.

    Vận mạng quốc gia Việt Nam như là cá trên thớt, chỉ mành treo chuông.

    Nếu Trung Quốc đánh vào Việt Nam thì quân đội Việt Nam sẽ thua.

    Thua toàn diện.

    Chúng ta thua vì quân số ít hơn, vũ khí thô sơ hơn đã đành. Nhưng chúng ta sẽ thua vì những lý do sâu xa hơn.

    Mượn một khúc truyện Tàu để hiểu cái gì là mưu mô của Trung Quốc. Trong truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ, hồi 108, nhân vật Hướng Vấn Thiên của Nhật Nguyệt Thần Giáo biết rõ những nhân vật những nhân vật thành danh trong võ lâm mà còn hiểu cả đến hàng đệ tử bình thường như Lao Đức Nặc, Thi Đới Tử… Lão cũng kể rành mạch lai lịch và cá tính của từng người, lai lịch cường nhược ra sao (Nhật Nguyệt Thần Giáo được Kim Dung ám chỉ là đảng cộng sản Trung Quốc. Những Ẩn Số Chính Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung, Nguyễn Ngọc Huy).

    Chúng ta bị nội gián.

    Không thua sao được khi tình báo của Trung Quốc biết rõ ai làm tham mưu trưởng, sư đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng, bao nhiêu quân, đóng đâu, sẽ phản ứng như thế nào …

    Không thua sao được khi quân đội Việt Nam được chỉ huy bởi những vị tướng nổ banh trời rằng đã đánh giặc từ 10, 15 tuổi, bắn rớt không biết bao nhiêu chiếc máy bay, và nhiều vị tướng đó đã được tạo điều kiện để lên lon nắm quyền bởi... Trung Quốc!!!

    Sự chiến thắng hết còn nhờ cậy vào những tướng lãnh, mà phải nhờ cậy vào hàng hạ sĩ quan, sĩ quan cấp thấp và binh sĩ.

    Việt Nam phải làm gì để đối phó?

    Phải dân chủ, càng sớm càng tốt.

    Nếu dân chủ thì chính quyền tương lai mới mời được những người dày dặn chiến trường bên VNCH hay những người về hưu của Quân đội Việt Nam ra làm cố vấn cho lực lượng quân đội Việt Nam hiện tại. Sư đoàn trưởng sẽ được kèm bởi những cựu sư đoàn trưởng, đại đội trưởng sẽ được cố vấn bởi những cựu đại đội trưởng. Những tổ pháo binh sẽ học hỏi từ những cựu pháo thủ.

    Nhân dân ủng hộ quân đội, tinh thần ái quốc sẽ trở lại.

    Trung Quốc sẽ bỏ đi ý tưởng xâm lăng.

    Dân đọc báo
  4. Ngoài những lời kêu gọi chống tham nhũng, đảng Cộng Sản Việt Nam không có một sách lược nào có thể cứu được khủng hoảng về kinh tế, hành chánh, giáo dục, y tế, đất đai… Ý chí duy nhất của nó là tồn tại bất chấp tất cả mọi thứ, kể cả chuyện hy sinh nhân mạng nhân dân và đất nước.

    Những người Việt Nam muốn sống, còn nhà cửa, đất nước, quốc gia thì phải thay thế nó.

    Một số trong « những người muốn sống » này kêu gọi những đảng phái, cá nhân đoàn kết lại, tôn ra một vị minh chủ, đặt tên, lập ra đường lối cho tất cả và chống Cộng Sản.

    Nhưng khi các đoàn thể, cá nhân chịu ngồi lại với nhau và tìm ra được các vị tổng thống, bộ trưởng, tỉnh trưởng tương lai thì những người đang bị cầm tù vì chính trị, oan ức vì đất đai, dân đen lẫn đỏ đã chết ... nhăn răng.

    Có ba sự cản trở lớn làm làm sự đấu tranh theo phương pháp tổ chức những cuộc cách mạng kiểu cổ điển này không thành công.

    Một là những anh tài hào kiệt có lòng yêu nước thứ thiệt bị hạn chế văn hóa để thành những vị lãnh đạo. Họ bị đào tạo bởi lý thuyết đạo đức làm nô bộc của Trung Quốc: Trở thành trí thức để làm quan, tay sai phục vụ cho vua chúa. Khi họ dám hy sinh cuộc đời cho lý tưởng mà họ cho là đúng, thì ít ai dám đứng lên làm lãnh tụ.

    Nho giáo dạy dỗ cách thức phục tùng. Con phải nghe quyết định của cha mẹ, trò phải nghe theo sự uống nắn của thầy, dân phải tuân lịnh với quan lại, quan lại phải quỳ lạy vua chua bất kể bề trên có đúng hay sai. Nếu không thì sẽ bất hiếu, bất nghĩa, bất trung…

    Khổng tử chỉ dạy tỉ mỉ rằng muốn cho đât nước yên bình thì ông vua phải có đạo đức hiền từ của vua. Quan lại phải có cái cách thức cai trị phân minh của kẻ làm quan. Nếu không sẽ loạn. Nhưng loạn làm sao? Loạn kiểu nào? Khổng Tử nín thinh.

    Một cá nhân, dù tài giỏi và nhìn xa trông rộng đến đâu cũng khó vượt được định kiến này.

    Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ chém bảy nịnh thần không được thì treo ấn từ quan. Ông không dám khởi nghĩa.

    Tiếc.

    Nguyễn Tường Tộ, Petrus Ký đề nghị cải cách không xong thì thôi các ông không dám đứng lên làm cách mạng, dựa vào thực dân Pháp và nhân dân để làm nước Việt Nam hùng cường.

    Tiếc.

    Trong biết bao nhiêu anh hùng, trí thức Việt Nam dám đứng lên chống lại cộng sản nhưng không dám đứng lên, chịu đứng mũi chịu sào, làm một cuộc khởi nghĩa.

    Tình trạng này không chỉ có bây giờ nhưng nó đã xảy ra theo chiều dài của lịch sử. Giới trí thức, có học ít khi là những người cầm đầu cho những cuộc khởi nghĩa. Họ chỉ là nhân vật phụ trong những vỡ kịch lịch sữ. Tài như Khổng Minh vậy mà cũng phải nghe lời một ông vua con nít Lưu Thiện. Giỏi như Nguyễn Trãi mà cũng chịu phò tá dân chài Lê Lợi.

    Hai là những đoàn thể, cá nhân này cũng sẽ tranh cãi lý thuyết, đường lối, cách thức ... để chống Cộng Sản. Bản chất văn hóa của người Việt Nam là hay... cãi. Cãi đủ thứ. Cãi nhau từ những nhân vật thật, chuyện có thật như Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Thiệu, trận đánh Hoàng Sa, Ban Mê Thuộc ... Họ còn cãi nhau đến cã những nhân vật hư cấu, chỉ có trong văn chương như
    nàng Kiều, Từ Hải ...

    Ba là đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đánh phá, cầm tù, cấm đoán, những cá nhân và đoàn thể muốn hợp thành liên minh. Về kinh tế, chống tham nhũng... thì họ bất lực nhưng về đấu tranh với các đoàn thể khác thì họ lại rất tinh khôn, bài bản.

    Đây là truyền thống ... cách mạng.

    Trong quá khứ, họ đã dành giựt chính quyền nhanh chóng vào 1945, bôi nhọ VNCH, lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam một tổ chức chính trị mà ngay cã thế giới cũng nghĩ là độc lập, nói láo như kêu đi cải tạo 10 ngày... Nếu nói về những mưu mô chính trị, không có thể ai ở trên đất nước Việt Nam có thể đánh bại được được Cộng Sản.

    Nếu ở Việt Nam thì sớm muộn gì thì vị «minh chủ» đó cũng vào tù với những tội vu vơ. Còn ở hải ngoại thì … không thể. Nếu có một triệu người ở hải ngoại thì sẽ có một triệu lẽ một phần tử khác nhau. Nào là người Việt H.O, vượt biên, di dân lậu. Nào là chống Cộng triệt để, chống Cộng ôn hòa, chống Cộng mỗi weekend, Chống cộng ở bàn rượu… Trong mấy mấy mươi năm xa quê
    hương, chưa có ai hội tụ được đám tả pín lù này thì làm sao bây giờ có thể ?

    Vậy thì làm sao bây giờ ?

    Người đọc, người viết và những người lập ra những blog đã hội nhập một mô hình dân chủ mà không phải ai cũng nhận thức được: Dân chủ điện tử (e-democracy).

    Trên internet, ai muốn viết, ghi hình, phát biểu, "còm men" (comment) gì thì cứ làm. Các blog đăng những gì những gì họ muốn đăng. Người đọc thì đọc những gì họ muốn đọc.

    Tác giả tự do viết, blog tự do đăng và đọc giả tự do đọc.

    Những tự do vìết-đăng-đọc của truyền thông xã hội đã đánh bại báo chí lề Đảng. Ai không tin thì hãy xem bài Trận Địa Thông Tin trong báo Thanh Niên. Thứ Trưởng Đỗ Quý Doãn than thở:

    "Tại sao chúng ta có một hệ thống hơn 700 tờ báo, 67 đài phát thanh truyền hình, hàng trăm trang tin, báo điện tử, hàng ngàn trang tin của các bộ, ngành. Có tới 17.000 nhà báo, trong đó có nhiều cây bút có đủ khả năng làm lay động bạn đọc mà "thông tin lưu truyền trong xã hội lại là thông tin từ blog cá nhân".

    Thứ trưởng đưa ra lý do:

    "Lên tiếng một cách đồng loạt, im lặng một cách đồng loạt", báo chí đang đánh mất niềm tin của bạn đọc. Và, với việc né tránh những thông tin nhạy cảm, với việc không được cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời, báo chí đánh mất nốt thói quen tìm kiếm thông tin của bạn đọc, khi giờ đây, họ "lên mạng", thay vì tìm đọc báo.

    Chẳng có gì khó hiểu khi mọi người dân, nhiều khi chỉ với chiếc điện thoại trên tay, đều có thể là một "nhà báo", một "tổng biên tập".

    Để giải quyết vấn đề, thứ trưởng kiến nghị :

    "Cần cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho báo chí, dù cho đó là thông tin nhạy cảm. Thậm chí, báo chí có quyền bình luận để định hướng xã hội".

    Nhưng ai dám?

    Đảng không dám cho.

    Đảng biết rằng khi có tự do báo chí thì nhân dân sẽ đòi hỏi những tự do khác. Mà tự do là kẻ thù của độc tài.

    Nói về độc tài, Việt Nam cũng có nhiều loại độc tài chồng chéo, nương tựa nhau mà sống:

    Độc tài về lý thuyết chính trị: Chỉ có đảng Cộng Sản Mác-Lê Nin theo khuynh hướng thị trường (sic).

    Độc tài về đảng chính trị: Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam mới được cầm quyền.

    Độc tài thiểu số (oligarchy): Chỉ có 14 ông vua trong bộ chính trị mới có quyền quyết định theo... quyết định của Trung Quốc.

    Độc tài kiểu địa chủ, phong kiến: Thế hệ con ông cháu cha, cha truyền con nối của những trí thức đỏ. Đất đai là của toàn dân, nhà nước muốn làm gì thì làm.

    Khi vào lãnh vực kinh tế thì độc tài đổi thành độc quyền nhưng vẫn là một loại độc. Độc quyền mua bán vàng, điện, viễn thông...

    Báo chí cũng không dám làm. Dám hả? Kết quả: Nguyễn Việt Tiến với 2 năm tù, Nguyễn Văn Hải cũng hai năm với vụ PU 18. Nhưng sau này những bản án càng nặng: Hoàng Khương với 4 năm tù vì tội đưa vài ba triệu đồng... hối lộ.

    Vì đồng hội đồng thuyền, Độc đảng phải bảo vệ những thứ Độc khác.

    Mới nhớ Tết năm nào, với vụ nổ súng Đoàn Văn Vươn, nhiều tờ báo, blog còn đòi thủ tướng giải quyết. Cách giải quyết của thủ tướng hay dỡ ra sao thì năm nay nhiều tời báo, blog lại đòi giải quyết ... thủ tướng. Mỗi lần Đảng hé mở tự do báo chí một chút là uy tín của Đảng mất thêm một bậc.

    Đã hết rồi thời dư luận được uốn nắn để tôn kính bác Tôn, bác Duẫn, bác Hồ. Với những ngôn ngữ bình dân, dân cư mạng biến những người cầm đầu thiên hạ thành những kẻ du thủ du thực, đầu đường xó chợ, Bình Mụn, Đại Ca, Dũng Lì, Trọng Lú...

    Những phe phái chính trị, cá nhân đối lập thắng được trận địa thông tin. Đảng có kiểm soát kiểm soát thông tin hay không thì Đảng vẫn thua tiếp.

    Đảng Cộng Sản Việt Nam chết đứng, báo chí lề Đảng chết chìm.

    Nhiều đảng phái, đoàn thể cá nhân đối lập muốn liên kết lại với nhau để trở thành một sức mạnh chung.

    Và chúng ta đã thất bại.

    Vì sự chống phá của Cộng Sản, chúng ta không tìm ra lãnh đạo. Ở hải ngoại thì không thể. Trong nước thì những người dám nói, dám làm và có khả năng thành những thủ tướng, bộ trưởng tương lai đều đang ở tù hoặc đang bị quản thúc tại gia.

    Hay đúng hơn, chúng ta cũng nghĩ là đang thất bại. Chúng ta chẳng hiểu rằng mình đã lập ra và đang vận hành một phong trào dân chủ mới, dân chủ trên mạng, trực tuyến và trực tiếp: e-dân chủ, e –democracy.

    Cũng như các mô hình dân chủ trực tiếp, loại e dân chủ này cũng không có người đại diện. Nhưng họ vẫn có những nhân nhượng, giao kèo với nhau. Họ có những mục tiêu, nguyện vọng, lý tưởng, quan niệm chung. Những cái chung chung đó được tạo thành cam kết ngầm, những quy luật không viết ra mà ai ai cũng hài lòng. Họ có cách ban thưởng, xữ phạt, kết nạp thành viên, làm PR... riêng của họ.

    Khi nữ nghệ sĩ Kim Chi lên tiếng nói Không với thủ tướng thì dân cư mạng vỗ tay tán thưởng. Đó là một cách tặng bằng khen cho bà. Nhiều người lại không vì bà tuyên bố là Cộng Sản chuyên chính. Đó là cách phê phán bà. Lời khen tiếng chê làm cho bạn đọc hình dung ra một nhân vật can đảm nhưng hiểu biết cạn hẹp về Cộng Sản.

    Khi đồng bào họ bị cầm tù, cướp đất thì họ phẫn nộ, chửi bới chính quyền và tìm cách cưu mang những nạn nhân. Bằng sự chia sẽ, đùm bọc họ đã lấy sự công bằng về mặt tinh thần, lẫn vật chất cho những người đó.

    Nhờ internet, những người đọc, người đăng và người viết đã vận hành một nền e-dân chủ. Khi đăng lên mạng một đoạn video tường thuật một vụ chống đối: e-thông tin. Khi người viết một cách nhìn về thời cuộc: e- thảo luận. Khi người viết vạch một hướng đi cho tương lai: e-đề nghị. Những người viết còm - men: e-tranh cãi. Khi số đông đồng ý về một vấn đề: e-giao kèo...

    Chúng ta chưa có lãnh tụ, ừ phải, nó là một trở ngại, nhưng lịch sử vẫn đi tiếp.

    Chỉ cần đủ điều kiện là nền dân chủ trực tiếp này sẽ tràn ra lề đường, làm một nền dân chủ thật sự.

    Đủ điều kiện là gì ? Chỉ vỏn vẹn là thời gian. Cái gì phải đến sẽ đến.

    Nước đã chảy, dao đã rớt. Dao không không rớt thẳng thì sẽ rớt nghiêng. Chiếc thuyền Cộng Sản đã thủng, nước không vào bằng lỗ này thì lỗ khác.

    Cộng sản Việt Nam biết rõ điều này nhưng bất lực. Vì muốn thắng nền e-dân chủ này Cộng Sản phải thắng Google, Apple, Face Book, Skype, Smart phone... và những kỹ thuật thông tin sắp sữa tung ra thị trường.

    Với bài viết này, tôi xin đi xông Tết với một e-cành hoa, e-flower đến nhà của tất cả những blogger, những người lập blog và bạn đọc.

    Hẹn gặp nhau ở Sài Gòn

    Dân Đọc Báo
  5. Nhiều người quá chán chế độ Cộng Sản, họ cho rằng chỉ cần lật đổ rồi bầu cử chính quyền mới với hình thức dân chủ là đủ. Nhưng cái đầy đủ bây giờ có thể là cái thiếu thốn trong tương lai. Có nhiều quốc gia trên thế giới đã lật đổ chế độ độc tài như Liên Xô, Irak, Iran... rồi mới đây Ả Rập, Tunisia, Lybia... mà có hạnh phúc, cơm no áo ấm đâu?

    Khi một trật tự chính trị cũ đổ ngã, vừa vượt qua nạn không được lựa chọn chính trị thì dân chúng lại gặp khó khăn mới. Chọn gì, chọn ai trong những chính trị gia, đảng phái nở rộ như nấm mọc sau mưa? Phân biệt đâu ra những đảng phái phù hợp với mình trong khi ai ai cũng vỗ ngực lo dân và vì dân?

    Xin mổ xẻ một đề tài nóng: Nước Ai Cập.

    Sau khi lật đổ được chính quyền Mubarak, những người biểu tình hí hửng cho vậy là xong, bằng cách bầu cử dân chủ sẽ được một quốc gia dân chủ. Kết quả là đảng Huynh Đệ Hồi Giáo thắng cử. Tổng Thống Mohamed Morsi, dù đã được số đông dân chúng bầu cử một cách dân chủ, đang lăm le ra những đạo luật để thành một chế độ độc tài mới. Vậy là biểu tình, nội loạn tiếp.

    Xa hơn trong quá khứ, chế độ Cộng Sản Liên Xô sập đổ. Gobachev xuống, Eltsine lên, rồi được Putin thay đổi thành chế độ độc tài khác. Dân chúng lầm than thì lầm than. Quốc gia nghèo nàn thì nghèo nàn. Chỉ có thiểu số giàu sụ lên nhờ tài nguyên, vây cánh chính trị và những kẻ hở của luật pháp, (Olygarchy).

    Lịch sử luôn luôn lập lại những lỗi lầm của con người. Cách đây mấy trăm năm, dân chúng Pháp nổi lên cướp ngục tù Bastille, rồi cuối cùng phong trào Cách Mạng Pháp rơi vào tay Hoàng đế Nã Phá Luân. Châu Âu bị chiến tranh liên miên, nước Pháp thua trận, kiệt quệ kinh tế cả nhân lực.

    Vậy lỗi tại ai? Xin thưa là tại dân chúng Ai Cập, Liên Xô và Pháp.

    Lỗi tại vì dân chúng đã giao quyền hạn điều hành xứ sở của mình cho một số ít người khác. Lỗi của thái độ cho rằng lật đổ xong rồi bầu cử một cách dân chủ là đủ.

    Sau nhiều thế hệ được giáo dục để tin tưởng tuyệt đối và thi hành cho chế độ độc tài. Người dân được tự do chính trị nhưng họ chưa biết dùng sự tự do cho đúng cách. Bằng hình thức bầu cử, họ đem sự quyết định của mình dâng cho một số ít người khác quyết định cuộc đời họ. Một “số ít người khác” này sẽ lập ra đảng phái, vây cánh, cho mình những quyền hành mới. Danh từ dân chủ bị lợi dụng. Chế độ độc tài đổi tên, đổi chủ nhưng không đổi bản chất. Nhiều người bạo miệng nói rằng: Có bầu cử thì hết dân chủ!!

    Trong một số ít quốc gia thoát khỏi ách Cộng Sản và thành dân chủ liền nhưng tôi cho Việt Nam sẽ không thuộc diện này. Phần đông các nước khác đều bị dân chủ hụt thì sao Việt Nam lại khác được?

    Khi đọc đến đây thì người chống cộng sản nghi tôi là công an mạng, CAM. Còn những công an mạng, lý thuyết gia ăn lương cộng sản lại mừng hết lớn. Họ có chứng cớ để bài bác phong trào dân chủ. Viễn cảnh tình trạng đất nước tệ hại hơn sau một cuộc tranh đấu để dành dân chủ là một trong những chiêu bài của các chế độ độc tài.

    Xin hỏi tiếp:

    Vậy dân chúng có muốn trở lại chế độ độc tài của Mubarak?
    Có người dân Đông Đức nào muốn dựng lại bức tường Bá Linh?
    Có quốc gia nào trong khối Đông Âu muốn trở lại chế độ cộng sản?

    Câu trả lời là: Dứt khoát không!

    Chẳng qua là khi dân chúng không được chuẩn bị, giáo dục để sống tự do thì nền dân chủ phải qua những giai đoạn chuyển tiếp. Ai Cập biểu tình rồi sao? Rồi sẽ biến chuyển để hình thành một chính quyền dân chủ hơn. Nếu không thì sẽ biểu tình, bạo động tiếp. Khi chính phủ cai trị không cho dân chúng quyền quyết định bằng những cách thức ôn hòa hơn thì biểu tình là một cách “bầu cử”, “tự điều hành”!

    Tôi viết bài này không phải để bài bác dân chủ vì đây là một hiện tượng của lịch sử không thể tránh khỏi (inevitable). Nếu ta nhìn trên bản đồ thế giới, vào năm 1946 thì chỉ có 20 quốc gia được mang danh là dân chủ trong 72 quốc gia. Đến năm 2005 thì đã có 88 quốc gia dân chủ trong số 195 quốc gia hơn 1 triệu dân. Bây giờ con số này đã tăng lên thêm vì nhiều nước đang dân chủ như Tunisia, Lybia. Nhiều nước khác đang rục rịch dân chủ bằng cách ôn hòa như Miến Điện hay bằng bạo động như Syria.

    Những người Việt có may mắn được sống ở những xứ tự do biết rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm công dân của họ. Biết vì luật lệ rõ ràng, minh bạch và công bằng hơn. Những luật lệ đó không phải phải ngủ qua đêm sáng dậy là có liền.

    Trong nền chính trị dân chủ, mỗi công dân có những quyền lợi dính liền với những trách nhiệm. Trách nhiệm đó đòi hỏi nhiều hơn là thái độ đi “bầu cử một cách dân chủ là đủ”.

    Có kiểu dân chủ nào khác ngoài kiểu dân chủ gián tiếp, “bầu cử là đủ”, trao thân gởi phận này không?

    Dạ thưa có: Dân chủ trực tiếp.

    Dân chủ trực tiếp (Pure Democracy)

    Tổng Thống Abraham Lincohn có nói: Chế độ dân chủ là một chính phủ của dân, vì dân và cho dân (thành ngữ này Cộng Sản Việt Nam vi phạm bản quyền, thành ngữ này là của xứ Tự Do chứ không phải của Cộng Sản). Thì loại dân chủ trực tiếp gần sát với ý nghĩa của dân, cho dân và vì dân nhất.

    Chế độ chính trị dân chủ trực tiếp lâu đời nhất là thành phố Athens. Ở đây quốc hội (Boulé) đề nghị những luật lệ, cách thức giải quyết những vấn đề hằng ngày, chi thu, thuế má... và mỗi công dân sẽ được quyền hạch hỏi, giải thích ý kiến của mình rồi phán quyết. Số đông sẽ thắng. Nền dân chủ này không có đại diện, không có vua chúa, tổng thống, thủ tướng... vì quyền hạn trong mỗi một công dân.

    Trong lịch sử nhân loại, chỉ có vài ba thành phố, quốc gia có nền dân chủ trực tiếp như thế này mà thôi. Trở ngại lớn nhất là khoảng cách. Khi quốc gia trở nên rộng lớn thì không phải công dân nào cũng đến được trung tâm quyền lực để góp ý kiến và lựa chọn được. Nhờ internet xóa đi khoảng cách, dân chúng trên thế giới càng ngày càng nghiêng về cách thức dân chủ trực tiếp.

    Ba Tây, Estonia... là những nước đi đầu về dân chủ trực tiếp với internet: e-dân chủ, e-democracy. Ở vài thành phố của Ba Tây, dân chúng có thể quyết định những việc xây cất về cầu đường, trường lớp. Họ cũng được quyết định những chi phí về y tế, giáo dục, an ninh.

    Chính quyền của thành phố phải kê khai ngân sách, số tiền nào làm việc gì, do ai đấu thầu... Nhờ vậy mà tham nhũng giảm đi đáng kể.

    Chúng ta đang áp dụng mô hình dân chủ trực tiếp cho cuộc sống hàng ngày mà không phải ai cũng ý thức được. Khi nhóm bạn bè cùng lứa tuổi họp lại, bàn với nhau đi nơi này nơi kia là dân chủ trực tiếp. Khi những thành viên của một câu lạc bộ bàn với nhau chuyện chi tiêu, cách điều hành của câu lạc bộ cũng là dân chủ trực tiếp. Hình thức dân chủ trực tiếp chỉ đòi hỏi một điều kiện duy nhất: Những thành viên đối thoại với nhau phải có quyền lực bằng nhau.

    Tất nhiên như mỗi chế độ chính trị, nó cũng có nhiều người bài bác. Khi công khai minh bạch như vậy thì những người sống bằng cách buôn bán quyền lực, luật lệ (lobby) mất hết đất sống. Những chính trị gia không có thể làm gì thì làm nên họ tìm cách đả kích loại dân chủ này.

    Công bằng mà nói, dân chủ trực tiếp cũng có cái sở đoản của nó. Plato nêu rõ là nền dân chủ trực tiếp này chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà thôi. Bởi gì người dân quyết định cái lợi trước mắt mà không chịu nghĩ xa xôi hơn. Một quốc gia điều hành bởi chế độ dân chủ trực tiếp không có một quốc sách, chiến lược, lối đi... cho trung và dài hạn.

    Sở đoản nữa là số đông sẽ chèn ép thiểu số. Lấy Nguyễn Tấn Dũng làm thí dụ. Nếu cộng sản Việt Nam sụp đổ, đem Nguyễn Tấn Dũng ra đấu tố thì mạng sống của ông sẽ chấm dứt. Những người muốn Dũng chết nhất là ai? Trước hết là vây cánh của Dũng vì giết để bịt miệng, giết để đổ tội, giết để phủi tay. Khi nạn nhân được thành thẩm phán rồi thì họ cũng dễ thành đao phủ. Nhưng Dũng cùng những Trọng, Sang, Bình, Thanh... nên được những tòa án không thiên vị xét xử (như Tòa Án Quốc Tế). Trong quá khứ, hiền triết Socrate cũng bị “ tòa án nhân dân” thành phố Athens ép phải tự sát vì những tội vu vơ “đả kích chính quyền”, “đầu độc giới trẻ”!!!”

    Vậy có nền dân chủ nào hòa hợp hai loại dân chủ này không?

    Thưa có, dân chủ bán trực tiếp.

    Dân chủ bán trực tiếp (Half Direct Democracy).

    Ở Thụy Sĩ, ai ai cũng có thể tham gia vào chính trị. Những nghị sĩ của quốc hội, cố vấn nửa ngày của phường, quận, tỉnh ngồi họp, tranh cãi, bỏ phiếu rồi đồng ý với nhau ở hội trường thì trở lại là người dân. Ai làm việc ấy. Ông chủ - đại biểu thì tiếp tục cai quản nhân viên, anh chàng sửa xe - đại biểu thì tiếp tục vặn mỏ lếch, thằng đại biểu - thất nghiệp thì tiếp tục kiếm... việc làm. Họ cũng được trả công nhưng rất ít, có thể xem như là tượng trưng. Không có ai có thể sống bằng lương đại biểu của mình. Vì những vấn đề mà họ phải đồng ý như giá như điện, nước, xăng, dầu... liên quan trực tiếp đến đời sống của họ nên sự bàn cãi đó rất nghiêm chỉnh và kịch liệt. Chi phí cho sự vận hành của chính quyền Thụy Sĩ cũng cực kỳ ít ỏi (Một Thụy Sĩ 'Keo Kiệt' Trong Mắt Người Trung Quốc - Tân Phúc Thản).

    Nếu chúng ta muốn Việt Nam đi lên thì chúng ta nên có loại dân chủ bán trực tiếp này. Nó kiềm chế được khiếm khuyết của hai loại dân chủ trực tiếp và gián tiếp. Để có một quốc gia hùng mạnh, công dân tương lai trong nước Việt Nam dân chủ phải bầu ra những người làm bộ trưởng, tỉnh trưởng, xã trưởng, thành phần quốc hội... Nhưng họ cũng phải có quyền tham dự, đề nghị luật, trưng cầu dân ý, và bãi nhiệm bất cứ ai trong chính quyền nếu họ thấy sự lợi ích của họ bị đe dọa. Nhờ internet, họ cũng chẳng cần mất thời gian để đi xa xôi, chờ chực phiền phức. Họ chỉ cần vào những website của chính phủ, vào mục trưng cầu dân ý và bỏ phiếu thuận, nghịch hay trắng cũng dễ dàng như bầu hoa hậu ảnh, bài hát hay nhất trong năm...

    Số đông sẽ thắng.

    Khi họ bầu cử ông A, ông B đại diện cho họ, thì những ông này chỉ có quyền hạn tạm thời mà thôi. Công dân có thể lập tức lấy lại quyền quyết định của mình trong bất kể lúc nào mà họ muốn khi ông A, ông B đi ngược lại nguyện vọng của họ. Họ sẽ tự đại diện cho chính mình và có quyền lực của một cổ phiếu.

    Dù chẳng phải là người đầu tiên, Bismarck đã từng nói:

    Chỉ có người ngu mới rút kinh nghiệm của chính mình! (mà không rút kinh nghiệm của người khác). Những gì đã xảy ra ở Ai Cập và trên thế giới cho chúng ta thấy, chỉ có những đảng phái chính trị tham gia điều hành chính phủ thì vẫn chưa đủ. Vì chỉ cần các đảng phái chính trị “ ăn-gơ” với chính phủ là đất nước sẽ rơi vào một chế độ độc tài. (''Các đảng phái'' có thể là một đảng cộng sản cầm quyền duy nhất của Việt Nam, một đảng chiếm đa số cử tri như Huynh Đệ Hồi Giáo của Ai Cập, hay nhiều đảng đã có những thỏa thuận ngầm như Liên Xô).

    Chính phủ, các đảng phái đối lập và quần chúng, cả ba đều đáng được cầm quyền song song, giám sát lẫn nhau. Giới trí thức dùng sự hiểu biết quảng bá cách nhìn của mình đến quần chúng bằng báo chí hay trên những trang nhà. Dân chúng có quyền quyết định theo lời khuyên của chính phủ, các đảng phái và các trí thức.

    Để kết luận, tôi xin đưa ra đề nghị cuối cùng, là một trong những Tuyên Ngôn Quốc Tế về nhân quyền của Liên Hợp Quốc, điều 21 trong chương 1: Mọi người đều có quyền tham gia vào cách điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay gián tiếp qua những đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.