Hát Bội

Hát Bội

Lối hát tuồng, còn gọi là Hát Bội du nhập vào Việt Nam vào thời điểm nào chưa được minh xác nhưng có truyền thuyết ghi rằng vào thời Tiền Lê năm 1005, một kép hát người Tàu tên là Liêu Thủ Tâm đến Hoa Lư và trình bày lối hát xướng thịnh hành bên nhà Tống và được vua Lê Long Đĩnh thâu dụng, bổ là phường trưởng để dạy cung nữ ca hát trong cung .

Sang thời nhà Trần, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bắt được một tên quân nhà Nguyên tên là Lý Nguyên Cát vốn là kép hát. Vương tha tội chết cho Cát và sai dạy lối hát đó cho binh sĩ. Cát cho diễn vở Vương mẫu hiến đào để vua ngự lãm cùng các triều thần xem. Ai cũng cho là hay.

Tuy nhiên người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam là Đào Duy Từ (1572-1634). Ở Miền Trung Việt Nam trở ra gọi Tuồng do chữ “Liên Trường” là kéo dài liên tiếp thành một vở tuồng tích có khởi đầu truyện, có hồi kết cuộc, phân biệt với các ca diễn từng bài ngắn, từng trích đoạn. Từ “liên trường” do ngôn ngữ địa phương mà thành “luông tuồng”, “luôn tuồng”…

Chúng ta không biết được chính xác là bộ môn Hát Bội đã từ miền Trung vào miền Nam từ năm nào, nhưng theo sử sách ghi lại thì vào mùa Xuân năm 1760, khi người con trai thứ chín của Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) tên Hạo (Hiệu) bị bịnh chết, Chúa vô cùng đau xót nên hạ lịnh cấm dân gian không được ca hát trong một trăm ngày. Sau một trăm ngày đau buồn đó, Chúa cho người vào Trấn Biên (đất Biên Hòa ngày nay) gọi những “con hát” (Hát Bội) ở đó ra Phú Xuân để biểu diễn cho Chúa xem, như vậy là vào năm 1760, tại miền Nam đã có những đào kép hát hay và nổi tiếng nên Chúa mới biết đến.

Sang thế kỷ 20 với sự ra đời của cải lương và kịch nói thu hút nhiều khán giả, nghệ thuật tuồng suy yếu nhiều tuy có cố gắng phục hưng với loại tuồng xuân nữ, tức là tuồng diễn theo đề tài xã hội tân thời và hát theo điệu “xuân nữ”. Loại tuồng này pha phong cách cải lương, đánh võ Tàu… Dù vậy giới hâm mộ tuồng càng ngày càng ít.

Share this post