Hãy Chết Vui Cũng Như Đã Sống Vui- Việt Hải Los Angeles

Hãy Chết Vui Cũng Như Đã Sống Vui- Việt Hải Los Angeles

Trong thời đại Phục Hưng đất nước Ấn Độ là giai đoạn nẩy sinh ra ba trào lưu văn hóa đáng kể như tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc và văn học, những yếu tố điển hình đã góp phần cấu tạo nên chân trời thi ca của Rabindranath Tagore, từ dòng sông Hằng vươn ra đại dương nhân loại. Tagore tiếp nhận tinh thần nhân văn trong văn học Phục Hưng phương Tây, yêu thích và chịu ảnh hưởng của thi sĩ Walt Whitman như ông đã thừa nhận và ông đã thành công khi khai thác qua sự hấp thu văn hoá đậm màu lãng mạn huyền bí của phương Đông, dĩ nhiên không phải là Whitman ảnh hưởng trực tiếp từ Tagore mà tiếp nhận được ít nhiều ở nguồn mạch nền văn hoá thâm trầm huyền ảo ấy đã sinh ra Tagore: “Người ta thấy những học giả phương Tây, nhà văn học lãng mạn Hoa Kỳ quan tâm nhiều tới chủ nghĩa phương Đông bởi vì họ đưa vào tiềm thức văn hoá của mình vào thế giới văn hoá phương Đông không chỉ về quan niệm giữa cá nhân và vũ trụ – thường ở trung tâm của những học thuyết ở phương Đông từ truyền thống thần bí châu Âu gần gũi với trường phái Ấn Độ Veda, tính chất văn chương và triết lý Ấn giáo. Vì vậy nền văn hoá đó là mở với ảnh hưởng phương Đông sang chân trời Mỹ châu và Âu châu, tên tuổi Tagore được phương Tây nồng nhệit đón nhận. Năm 1913 Tagore đoạt giải văn chương Nobel.

Tham khảo bài viết của tác giả Trần Văn Thành trong đề tài “Suy nghĩ về sự sống và cái chết trong thơ Rabindrarath Tagore”, vào thế kỷ 19 và nhất là kể từ sau những năm từ 1858, đất nước Ấn Độ bước vào một thời kỳ chuyển mình trên con đường phục hưng. Trong một Ấn Độ vươn dậy từ chế độ bị Anh trị, Rabindraath Tagore đã xuất hiện như một khái niệm “Thời Đại Rabindranah Tagore”, một sự nổi bật với “Hiện tượng Rabindranath Tagore”. Với nhiều đóng góp cho nhân loại như về thi ca với nhiều đề tài rất phong phú, một trong những đề tài mà Tagore đã từng trăn trở như đề tài viết về tôn giáo. Trong ý tưởng thao thức ấy khiến ông viết về sự sống và cái chết như một niềm thành tín của con người suy tư trước Thượng Đế. Phải chăng sự sống và chết, tồn tại và hư vô, là vấn đề luôn ám ảnh trong tâm thức nhân loại ? Theo ông cái chết xuất hiện dường như cùng thời với sự sống, và có vai trò không nhỏ trong đời sống tinh thần của mỗi chúng ta, cái chết đã trở thành nỗi ám ảnh đối với con người. Vì thế, việc Tagore nhận thức và lý giải về sự sống và cái chết trong thơ ông có một ý nghĩa thực tiễn và chứa đựng một tinh thần khai sáng: “Cuộc sống không phải là một cái gì bền vững và thường hằng, đó là một khám phá ra đau đớn, nhưng lại đem đến cho tôi một cảm giác nhẹ nhàng” và “Cái chết đã đem lại cho tôi một cái nhìn đúng đắn hơn” [theo Thời đại Tagore, trang 185]. Với cách nhìn ấy, nỗi khổ đau mà cái chết mang lại đã được ông hoá giải, trở nên nhẹ nhàng thanh thản. Bởi vậy, trong thơ ông không nói về cái chết mà chỉ là những suy ngẫm về cái chết. Lời thơ là những cảm xúc suy tưởng về cuộc sống con người, là lời giã từ của người trước lúc ra đi: “Này tử thần, tôi bộc của nhà ngươi đang ở nhà ta. Người ấy đã vượt biển xa lạ đến đây, mang theo lời Người gọi. Đêm tối đen lòng ta khiếp sợ / nhưng ta sẽ cầm đèn, ta sẽ mở cổng và ta sẽ đón chào người ấy. Đúng rồi sứ giả của nhà ngươi đang đứng đợi ở nhà ta” [theo Tập thơ dâng Tagore, bài 86].

Rabindranath Tagore, Trần Công Tử (VHLA):
https://rongmotamhon.net/…/chi…/truyenky/viethai/vhan061.htm

Nói đến thi ca Tagore, đề tài nhuốm chất tâm linh, tôn gáio về quan điểm sống chết. Ông xem cái chết rất hiển nhiên và bình dị, ra đi nhẹ nhàng và trong trạng thái thanh thản: không có máu xương, không có một nấm mồ hoang lạnh với “Bến lú sông mê” [theo Cuộc đời Chế Lan Viên, trang 28], sẵn sàng đón nhận cái chết gõ cửa “ta sẽ cầm đèn, ta sẽ mở cổng và ta sẽ đón chào người ấy“. Thi nhân khi nói về cái chết bằng một giọng điệu nồng nàn thành kính như một tín đồ cầu nguyện với Chúa. Trong cái nhìn ấy, thần chết vừa là thần nhưng cũng vừa là bạn: “Người bạn cùng chơi trong những ngày trống vắng vui vẻ gọi tên tôi về với anh ta” [theo Tập thơ dâng Tagore, bài 89]. Với ông, sự sống và cái chết chỉ là hai bờ của một dòng sông, là hai bầu vú mang đầy sữa ngọt ngào trên ngực trần của người mẹ: “Khi mẹ giằng con khỏi vú bên này, con oà khóc, nhưng liền đó lại thấy nguồn an ủi ở bầu vú bên kia” [theo Tập thơ dâng, Tagore, bài 95]. Vì thế nên ông đã bộc bạch: “Bởi tôi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả cái chết”. Câu thơ bình dị không chút điểm tô, chứa đựng một nhân sinh sâu sắc có ý nghĩa khai sáng tâm linh cho những ai đang đắm chìm trong nỗi lo âu về sự ngắn ngủi, mong manh của kiếp người, xem cuộc đời như một giấc chiêm bao. Tình yêu cuộc đời nồng nàn tha thiết sẽ cho ta dũng khí để ngẩng cao đầu trước cái chết uy nghi. Dù biết rằng sự sống và cái chết đối lập, tương phản như ngày và đêm, bóng tối và ánh sáng. Nhưng tuyệt nhiên, đó không phải là một bóng tối dày đặc, hãi hùng. Bởi theo ông, cái chết không phải là chân lý tối hậu và trong toàn thể đời sống không bao giờ coi chết là nghiêm trọng. Có nghĩa là sự chết không phải là từ ngữ cuối cùng để ta suy nghĩ, để ta lo lắng trong cuộc đời, ý thức một cách sâu sắc về sự hữu hạn của cuộc sống con người trong cái vô cùng vô tận nhưng R. Tagore không xem cái chết là một ám ảnh mà chỉ như một chiếc lá mùa thu nhẹ nhàng rời cành, trở về cát bụi: “Hãy để cuộc đời tươi đẹp như hoa mùa hạ / và hãy để cái chết về như lá mùa thu” [theo Những cánh chim bay lạc, Đào Xuân Quý, tr. 45]. Tác giả cho rằng nếu chúng ta cứ quan tâm tới sự kiện cái chết thôi thì cuộc đời chúng ta như một nấm mồ hãi hùng, thi nhân không nhìn cuộc đời như một giấc chiêm bao ngắn ngủi mà luôn nhìn thấy niềm vui hạnh phuc đầy ắp trong cuộc đời, điều mà ông quan tâm không phải là sống hay chết mà là để lại cho đời cái gì trước lúc ra đi: “Vào hôm thần chết đến gõ cửa, anh sẽ lấy gì hiến hắn hở anh? Ồ! Tôi sẽ đặt trước mặt khách ly rượu đời mình tràn đầy / tôi chẳng chịu để khách ra đi với hai bàn tay trắng” [theo Tập Thơ Dâng, Tagore, bài 103]. Đây không cho là một triết lý sống mà còn là thể hiện ý thức của bản thân về cuộc đời. Sống, với R. Tagore không phải là sự buông xuôi bất lực, là cúi đầu đón nhận những gì cuộc đời mang lại, sống đồng nghĩa với hành động, cái đáng sợ không phải là chết mà là sống có ý nghĩa gì hay không. Bởi vậy, ông cho rằng cái chết không hề vô nghĩa, khi cái chết đến là lúc con người chúng ta có dịp nhìn lại để cảm nhận sâu sắc ý nghĩa về cuộc đời. Chết không có nghĩa là hết mà là sự khởi đầu cuộc sống mới, một cuộc sống tinh thần bất tử: “Ôi thượng đế kính lạy Người lần cuối như đàn hạc hoài hương ngày đêm hối hả bay về tổ ấm trên núi cao. Xin cho đời tôi phiêu du với quê hương ngàn thu” [theo Tập Thơ Dâng, Tagore, bài 93]. Vì cuộc sống con người giống nhau ở cái chết, nhưng khác nhau ở phần để lại. Sự hữu hạn của cuộc đời sẽ hoá thành vô hạn khi con người sống hết mình cho cuộc đời trần thế. Vậy nên, ông đã có cách lý giải riêng. Với ông, sự sống và cái chết là hai mặt của một vấn đề, là quy luật muôn đời của tạo hóa. Trong vũ trị bao la không có gì là trường tồn vĩnh viễn, bất biến thường hằng. Nỗi ám ảnh hãi hùng về cái chết trong đời sống tinh thần đã được nhà thơ hoá giải thành niềm vui sống, niềm khao khát gắn bó với cuộc đời.

Trong cảm quan ấy cái chết đã trở thành người bạn, vị hôn phu mà giai nhân đang nóng lòng chờ đợi, là người mẹ hiền dang rộng vòng tay yêu thương, che chở ấp ủ, vỗ về ru con vào giấc ngủ nồng say. Đọc những bài thơ của R. Tagore điều mang lại cho ta nhiều nhất là niềm lạc quan vui sống, là ý nghĩa cuộc đời trần thế, cái chết không phải là từ ngữ cuối cùng mà ý nghĩa về sự chết đã được Đức Kitô biến đổi. Người đã dùng cái chết và sự phục sinh của mình để tiêu diệt sự chết. Vì thế, đối với những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô thì chết là bước vào sự sống vĩnh hằng: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Người”[theo Thư gửi tín hữu Rôma, chương 6, câu 8].

(Theo Trần Văn Thành)

Trong niềm tin và hy vọng không diệt nổi bản năng sinh tồn, nhưng nó đem lại một tâm tình đón nhận sự bình thản và an vui khi ông thốt lên: “Tôi chết vui cũng như đã sống vui”. Trong tâm tình đó hãy xem thi ca Tagore như sau:

Ôi! Thần chết, ngươi làm cuộc đời tràn đầy lần cuối…
Những gì ta là, những gì ta có, những gì ta hoài mong,


Những gì ta yêu thương, tất cả vẫn sâu xa bí mật trôi chảy về ngươi.
Chỉ một ánh nhìn từ mắt ngươi lần cuối là đời ta vĩnh viễn thuộc về ngươi.
Hoa đã kết thành tràng, sẵn sàng chờ đợi tân lang.
Sau tiệc cưới, giai nhân sẽ rời nhà,
một mình ra đi gặp tân lang trong đêm tối quạnh hiu
”.

Trong một đoạn thơ khác, Tagore lại cảm nhận như sau:
Ban mai, ngước mắt nhìn ánh sáng, trong phút giây, tôi cảm thấy mình không phải khách lạ ở thế gian, và Người xa lạ không tên gọi, không hình thù, với dáng dấp mẹ tôi hiền từ, đã giang tay ôm tôi vào lòng.
Lúc lâm chung cũng vậy, Người lạ mặt ấy lại hiện ra như đã từng quen thuộc với tôi từ lâu.


Bởi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả sự chết.
Khi mẹ giằng con ra khỏi bầu vú bên này, con òa khóc, 
Nhưng liền đó lại thấy nguồn an ủi ở bầu vú bên kia.
Ôi Thượng Đế, kính lạy Người lần cuối.
Như đàn hạc hoài hương, ngày đêm hối hả bay về tổ ấm trên núi cao, 
Xin cho đời tôi phiêu du tới quê hương vĩnh cửu ngàn thu
”.

Tagore đã cho một cái nhìn đầy lạc quan và hy vọng, một sự cảm nhận thâm sâu về thực tại vĩnh cửu ngay bên cạnh giờ phút lâm chung: “Bởi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả sự chết”.

Sau văn chương Tagore, kế tiếp ta hãy xét cái chết theo quan điểm khoa học:

Theo sự tìm hiểu định nghĩa mới về cái chết trong quan điểm khoa học, sự nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học đã cho thấy, những người đang sống mà không thực hiện được chức năng của não bộ (hay còn gọi là sống thực vật) thì là đã chết, còn những người khi tim và hệ hô hấp ngừng hoạt động trong khi não bộ vẫn có thể hồi phục thì chưa phải đã chết. Điều này đã được minh chứng qua những trường hợp kỳ lạ tưởng như không thể diễn ra trên thế giới như trường hợp một bà mẹ sinh con khi được chẩn đoán “chết lâm sàng”, một vận động viên trượt ngã xuống nước đóng băng suốt nhiều giờ đã sống lại trong tình trạng không bị tổn thương não.

Theo lối giải thích của những nhà khoa học, các trường hợp trên cho thấy đôi khi ranh giới giứa sự sống và cái chết có vẻ rất mờ nhạt. Điều đó đã chứng tỏ việc phân biệt đâu là trường hợp người sống lại từ cõi chết không phải chuyện đơn giản. Tuy nhiên với sự ra đời của cái gọi là “Thông khí nhân tạo” (máy thở nhân tạo) thì một quan niệm rõ ràng về cái chết hiện nay đã được nhìn nhận khác hơn so với các định nghĩa lâm sàng. Mặc dù vậy, theo các chuyên gia, việc chưa phân biệt rõ ràng quan niệm “chết não” và “cái chết tuần hoàn” có thể tạo ra sự mơ hồ về người đã chết và những người chưa phải đã chết.

Hãy hỏi: “Cái chết là gì?”. Mặc dù được sử dụng thường xuyên, song thuật ngữ “chết lâm sàng” không thực sự có một ý nghĩa nhất quán, tiến sĩ James Bernat, một nhà thần kinh học tại Đại học Y Dartmouth Geisel ở bên New Hampshire cho biết sự suy nghĩ của ông. Trước đây, trong hầu hết các bệnh viện, các bác sĩ phụ trách chăm sóc bệnh nhân kiểm định cái chết và thường không có những chỉ dẫn bao quát khi tuyên bố về sự sống chết. “Bạn sẽ chết khi một bác sĩ nói rằng bạn chết”, tiến sĩ Bernat nói trên trang chuyên về khoa học Livescience ngày 19/6/2014.

Ranh giới thật mơ hồ giữa hai sự kiện sự sống và cái chết. Đến những năm 1950, cái chết mới được xác định là thời điểm khi bất kỳ một trong những chức năng quan trọng là nhịp tim, hoạt động điện não hoặc hô hấp không còn hoạt động. Từng thành phần của hệ thống này ngừng hoạt động sẽ dẫn đến những thành phần khác ngừng theo và dẫn tới cái chết. Tuy nhiên, theo Bernat, với sự ra đời của kỹ thuật thông khí nhân tạo, trong đó việc đẩy không khí vào và ra khỏi phổi, đã tạo ra một phạm trù mới được gọi là “chết não”. Thông khí nhân tạo có thể giúp cơ thể người ấm áp và máu lưu thông, thậm chí có thể chống lại nhiễm trùng, nhưng khi chết não thì họ hoàn toàn không có chức năng của não, Leslie Whetstine, một nhà triết học tại Đại học Walsh ở Ohio, người chuyên nghiên cứu các định nghĩa về cái chết.

Một người được tuyên bố chết não, khi người đó không thể phục hồi tất cả các phần của bộ não. Điều đó sẽ được các bác sĩ tuyên bố sau khi thực hiện các bài kiểm tra về thần kinh để tìm kiếm các hoạt động điện não, hoặc lưu thông máu lên não, cũng như một thử nghiệm để xem bệnh nhân có thể hay không khi tắt máy thở. Chết hệ tuần hoàn, các bác sĩ cũng có thể tuyên bố người chết nếu tim của người đó ngừng đập và không thể hoạt động trở lại. Tuy nhiên, tim đôi khi cũng có thể được phục hồi trở lại sau khi nó đã ngừng đập. Điều đó đặt ra vấn đề vậy thì tim ngừng đập trong bao lâu thì được xem là người đó đã chết. Việc hồi sức tim phổi (CPR) có thể làm sống lại người nhiều phút sau khi tim của họ ngừng đập nhưng thường là không có tổn thương não kéo dài. Vì vậy các bác sĩ có thể thực hiện hô hấp nhân tạo cho người bệnh ít nhất 38 phút, theo một nghiên cứu năm 2013 được trình bày tại cuộc họp Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ được tìm thấy. Tuy nhiên có khi bác sĩ đã cấp giấy chứng tử cho bệnh nhân ngay cả trước thời gian quy định đó. Đôi khi hô hấp nhân tạo cũng được thực hiện không đủ dài. Theo tiến sĩ Bernat, đó chính là lý do số bệnh nhân phục hồi sau khi được cho là đã chết tăng lên.

Lẫn lộn về quan niệm
Việc xem xét quyết định một ai đó đã chết hay chưa sẽ đòi hỏi một bác sĩ phải có sự lựa chọn để can thiệp cứu chữa hoặc ngừng cứu chữa. Tình thế này đã làm nảy sinh một số trường hợp có thể tạo ra nhiều tranh cãi.

Cái chết thực sự phải là cái chết não?

Ví dụ, một người có thể đã được đưa vào bệnh viện và nằm trong danh sách hiến tạng khi chết khi tim của họ đã ngừng đập. Nhưng điều gây tranh cãi ở chỗ liệu rằng họ đã thực sự chết vào thời điểm đó hay chưa, tiến sĩ Bernat nói. Vấn đề ở chỗ, sự phân biệt giữa cái chết não và tử vong tuần hoàn rất mập mờ, chuyên gia Whetstine cho biết: “Điều mà chúng tôi quan tâm nhất về não bộ là một thực tế rằng nó là cơ quan hỗ trợ cho ý thức. Vì vậy cái chết nên được định nghĩa là sự mất mát không thể đảo ngược được của ý thức”, Whetstine nói trên tạp chí Livescience hôm 19.6.2014.

Theo quan niệm của Whetstine, mặc dù người có tim ngừng đập hoặc não chết được cấp giấy chứng tử nhưng điều đó không có nghĩa là hai loại của cái chết. Việc cấp giấy chứng tử chỉ được đưa ra khi một người nào đó đã bị chết não. Như thế những trường hợp “sống thực vật” cũng có thể được coi là “đã chết”.
(Theo Dân Việt)

 

Chết theo quan điểm triết học:

Quan điểm về cái chết của Triết gia Martin Heidegger (1889 – 1976):

Bây giờ hãy xét theo quan điểm của triết gia Martin Heidegger về tư tưởng hữu thể hướng về cái chết. Sự việc hữu thể người lo âu về những dự phóng của đời mình, luôn xao xuyến về việc thực hiện bản thân của mình cho thấy một sự mong manh, dang dở, đe dọa căn bản nào đó. Mặt khác, cuộc đời với những dự phóng liên tục của hữu thể người, dự phóng này hoàn thành lại sẽ mở ra một dự phóng mới, điều ấy mỗi lúc lại vén mở cho thấy tính cách phù du, tính cách tạm bợ của chính bản thân mình. Hoặc nói một cách triệt để hơn, điều đó biểu lộ mầm mống của hư vô trong chính hữu thể người. Hư không nằm trong bản chất của hữu thể người, nó ám vào tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Hư không tỏ hiện trong thực tế cuộc sống con người không là gì khác hơn “sự chết”. Hữu thể người dù có loay hoay đến đâu đi nữa thì rồi cũng đi đến cái chết; cái chết là điều con người phải đón nhận, không phải chỉ ở cuối cuộc đời, nhưng là dấu ấn in đậm trong tất cả những ưu tư, những dựphóng, trong tự do của con người. Trước cái chết, hữu thể người thực sự là mình với tất cả sự độc đáo của mình, bởi vì con người chết một mình và tự mình phải tự nhận lấy nó. Cái chết là điều tuyệt đối riêng tư, cái chết không được tháp tùng… do đó, có thể “định nghĩa “con người là hữu thể hướng về cái chết. 


Ở đây, người ta thấy tính cách “bi quan”, tính cách “phi ly” trong triết học Heidegger. Con người phải dự phóng, con người phải lo âu để thực hiện bản thân mình, con người tự do… Tất cả đều hướng tới, hoặc đúng hơn mang sẵn trong mình, cái chết rồi. Hơn nữa, con người chỉ thật sự tự do khi dám tự do đảm nhận cái chết. Cái chết hoàn thành cuộc đời con người, nhưng là hoàn thành trong sự dở dang.

Quan điểm về cái chết của triết gia Arthur Schopenhauer (1788 – 1860):

Trong phần hai của cuốn sách, Schopenhauer bàn về cái chết, theo triết gia này cuộc sống sau cái chết là một truyền thuyết. Đây cũng là phần khá dễ đọc. Nó không đòi hỏi quá nhiều kiến thức nền tảng khi tiếp cận. Một cuốn sách sẽ khiến bạn ấn tượng và thậm chí bị choáng ngợp, nó gợi mở nhiều suy nghĩ kích thích ham muốn tìm hiểu, và nó đưa ra một tầm nhìn thực sự đáng tin cậy trong quan niệm về cái chết.

Tác giả mô tả một cách chi tiết những gì đang chờ đợi chúng ta sau cái chết, có vẻ như nói về điều này một cách chắc chắn tuyệt đối, như thể ông đã từng đi sang thế giới bên kia. Bằng những lập luận vô cùng thuyết phục, tin cậy, ông bày biện trước mặt độc giả một thế giới sau cái chết rõ ràng và cụ thể.

Trong tập sách này, Schopenhauer cũng khẳng định rằng, sự sợ chết chẳng phải phát sinh từ ý thức. Ông cho rằng con người bị đời sống thu hút cũng chỉ vì cái “xu hướng hão huyền về khoái lạc”. Đó chính là cái ý chí không có tri thức. Ông đề cao tri thức, như một sự cứu cánh, giải thoát con người khỏi những ngu muội của ham muốn và ảo ảnh. Nói về cái chết, Schopenhauer đã viện dẫn hài hòa nhuần nhuyễn rất nhiều những tri thức của các tôn giáo, từ tư tưởng Bà La Môn, kinh Vệ đà đến Đức phật. Nguồn tri thức giàu có và dồi dào cùng với tư tưởng sâu sắc, văn phong nhuần nhuyễn, mạch lạc, Schopenhauer đã tạo nên một bầu không khí gần gũi cho độc giả muốn tiếp cận suy niệm về cái chết của ông. Dù vậy, như đã nói ở trên, trong tư tưởng của Schopenhauer hàm chứa những điều bi quan, bởi thế trong phần “siêu hình sự chết” của ông cũng phảng phất nhiều nỗi buồn. (theo Thủy Nguyệt).

 Tôi nhớ nhạc sĩ Anh Bằng có làm bài nhạc rất “định mệnh” trước khi ông mất: “Mai Tôi Đi”, phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa:

“Mai tôi đi, chắc trời giăng mưa lũ 
Mưa thì mưa, chắc tôi không bước vội 
Nhưng chẳng thế nào, thì cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau

Mai tôi đi, chắc rằng Paris khóc, 
nhưng lệ rơi sẽ khô theo tháng ngày 
Cho dù cách nào, thì cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau

Mai tôi đi xin đừng nhìn theo, xin đừng đợi chờ 
Đời trăm muôn góc phố, con đường dài thật dài 
Thẳng mãi có bao nhiêu, thẳng mãi có bao nhiêu

Mai tôi đi, xin đừng gọi tên, thêm nhiều muộn phiền 
Dù môi kêu đắm đuối, hay mặn nồng một trời 
Cùng đành lòng xa thôi, cũng đành lòng xa thôi

Mai tôi đi, chắc dòng sông Seine nhớ 
nhưng dù sao, nhớ nhung rồi sẽ mờ 
Muôn vạn u sầu, rồi cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau.”

Ngày nhạc sĩ Anh Bằng ra đi, những văn nghệ sĩ đã từng gắn bó với ông, sinh hoạt với ông dĩ nhiên buôn và buồn lắm. Cảm tưởng và thi ca tiễn đưa ông trong nuổi tiếc, mến thương.

Rồi sau đây hãy xem thơ Hoàng Phong Linh…

Chim BẰNG vút cánh bay

Giữa khuya tôi tỉnh giấc
Tưởng mình còn quê hương.
Rồi thêm tin Anh mất
Thơ-Nhạc nghẹn đêm trường !

Lặng nhìn ra khung cửa
Hiu hắt một màn sương.
Thêm một người đi nữa
Vừa khuất bóng bên đường.

Vai hành trang còn nặng gánh tang thương
Bao năm rồi nhạc Anh dìu chung bước.
Ngày mai đây, vạn nẻo đường xuôi ngược
Tôi tìm Anh, chung thế hệ, còn đâu ?
“Nỗi lòng người đi” cung nhạc đã hằn sâu (*)
Trong tâm khảm, thêm niềm đau lẻ Bạn.
Tuổi già nua, lệ tôi đà khô cạn
Giữa trời khuya còn ứa giọt về Anh.
Tình Huynh-Đệ song vai bước Đồng Hành
Chung tâm sự của người dân mất Nước.
Anh “Xa Hà Nội ” từ bao năm trước
Đến tàn hơi, nhạc vẫn mộng về Quê.
Trời lưu vong, lòng thao thức tỉnh-mê
Không cúi mặt dù nỗi đau viễn xứ.
Tôi ngồi bên Anh, đổi trao tâm sự
Nhạc Hội buồn, đồng đội Thương Binh. (*)
Hồn loang máu từ một thuở chiến chinh
Qua tiếng nhạc tưởng chừng nghe tiếng khóc.
Khóc Quê Hương đang chìm sâu tang tóc
Cung phím buồn vời gọi “Gót Chinh Nhân” (*)
Đường Anh đi, qua bao nẻo phong trần
Luôn Tâm nguyện thuyền về neo bến cũ.
Giờ chia tay, nhạc chìm theo thác lũ
Giữa hồn tôi, đêm tối bóng Anh đâu ?
Thêm người đi, dù chấp nhận bể dâu
Nhưng cố níu, Vô Thường sao đến vội !
Qua bao đường, cuối đời Anh rẽ lối
Trao tình hoa phím nhạc gửi ngàn sau.
Dù đêm nay bóng hạc đã chìm sâu
Tôi vẫn thấy chim BẰNG tung vút cánh.
Xin tạ từ ! – Giữa ngàn sao lấp lánh
Một vì sao rụng xuống, hướng trời Quê
90 năm theo tiếng nhạc, Anh về …. !

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

(Kính tiễn đưa Hương Hồn Nhạc Sĩ ANH BẰNG, ra đi ngày 12.11.2015)
Úc Châu, 12 giờ khuya đêm 14.11.2015.

(*) – Tên các bản nhạc của NS. Anh Bằng.
(*) – Trong một buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh – Người Thương Binh VNCH – tổ chức tại Nam Cali, Hoa Kỳ, tôi ngồi bên cạnh NS Anh Bằng và Nhiếp Ảnh Gia Quân Đội Nguyễn Ngọc Hạnh.

A Silence Tear For BAB *

Sadness still comes over us,
Tears in heart we miss,
Memory keeps you ever near us,
Thank you for your friendship.

Only your image of bygone days,
Smiles, jokes and face unseen;
A constant feeling of emptiness,
What we’ve treasured at last.

From our happy memories past
God has taken one we love;
Gone away from sin and sorrow
To a better land above.

Within our store of memories,
You hold a place apart,
For no one else can ever be
More cherished in our hearts.
with love forever,

Việt Hải & Lệ Hoa
(*: BAB denotes Bác Anh Bằng)

Good memories always stay in our deepest soul. VHLA.

Lý ra tụi này làm sách kỷ niệm 90 tuổi ta cho NSAB năm nay 2015, nhưng ông nói ông sẽ sống đến 118 tuổi nên sang năm 2016 mới chính thức 90 tuổi, Việt Hải nếu làm sẽ không muộn. Bà con hỏi ông con số 118 ở đâu ra, ông diễn giải Tết đến ai cũng chúc ông sống lâu 100 tuổi, mà bài ca “Nỗi Lòng Người Đi” có câu “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi νừɑ biết уêu”. Vị chi: 100 + 18 = 118 tuổi. Câu nói dí dỏm cho thấy NSAB vui tính, thích joke.

Năm 2012, chúng tôi họp nhau ở nhà nhạc sĩ Lam Phương nhân kể về con số 118, NSLP nói với NSAB: “Tôi chỉ cầu mong có con số lẻ đó thôi, anh à.”, vì năm 2012 NSLP được 75 tuổi, cộng thêm 18 là 93 tuổi, NSLP mơ con số như vậy.

Tuy nhiên như câu nói của người Pháp: “Người nghệ sĩ không có tuổi” (L’artiste n’a pas d’âge). Sống trăm tuổi hay 118 tuổi chỉ là số thời gian đo lường một kiếp người trong ước mơ hay phút giây vui khôi hài. Nhưng cái giá trị của những tác phẩm của người nghệ sĩ là điều đáng nói. Họ ra đi để lại cho hậu thế những tác phẩm tim óc vượt thời gian, vượt bao kiếp sống, bao thế hệ con người, ví dụ như những Charles Baudelaire với “Les Fleurs du mal”, Pablo Picasso với “Garçon à la pipe”, Alexandre Dumas với “Les Trois Mousquetaires” hay “La Dame Aux Camélias”, hoặc với Việt Nam mình thi văn phẩm của Hoàng Phong Linh – Võ Đại Tôn với “Mẹ Việt Nam ơi! Chúng Con Vẫn Còn Đây” hay “Chim Bắc Cành Nam”, hay với nhạc sĩ Anh Bằng với “Gót Chinh Nhân” hay “Nổi Lửa Đấu Tranh”,…

NSAB đã sống trọn vẹn, cống hiến những tác phẩm văn hóa cho đời, ông không lãng phí phút giây nào dành cho âm nhạc, tức cho văn hóa, ông yêu quê hương, dù là quê hương mang theo, quê hương tự do cho người dân Việt. Với NSAB, ông sống trong cõi hạnh phúc sáng tác, sống hữu ích vì vậy cho nên điều đó thật cần thiết như con người vốn cần không khí để hít thở.

Đôi dòng chia sẻ cùng quý bạn, tâm thức tôi mênh mang, ý tưởng bềnh bồng nghĩ về người nhạc sĩ đáng kính của chúng ta. NSAB đi rồi. Sao chúng ta gặp nhau trong thoáng chốc rồi mãi mãi xa nhau? Phải chăng kiếp người vốn phù vân vô thường?

“Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”

(Tống Biệt Hành, Thâm Tâm)

“Dòng đời vui buồn cảnh tử sinh
Kiếp nhân thế phù vân phiêu lãng 
Trót tạm bợ an bài định mệnh 
Sớm ở tối về! Ôi, lẽ thường…”

(Chia tay NS. Anh Bằng!, VHLA)
——————————————–

PS: Hai câu thơ tiêu biểu mà tôi tình cờ đọc trên net như sau, lời mang hồn thơ là một ý thức và một thái độ mang ý nghĩa triết lý nhân sinh về việc khi chúng ta buông xuôi kiếp nhân sinh ra đi:


“Cõi Trần nơi khách tạm dừng chân.
Đến lúc ra đi chẳng ngại ngần”.

Trần Việt Hải, Los Angeles

PS: Hai câu thơ tiêu biểu mà tôi tình cờ đọc trên net như sau, lời mang hồn thơ là một ý thức và một thái độ mang ý nghĩa triết lýnhân sinh về việc khi chúng ta buông xuôi kiếp nhân sinh ra đi:


“Cõi Trần nơi khách tạm dừng chân.
Đến lúc ra đi chẳng ngại ngần”.

Share this post