Kim Dung Tự Truyện: Nguyệt Vân – Nguyễn Vũ (Dịch)

(TVVN.ORG) “NGUYỆT VÂN”

月云

Lời giới thiệu

Kim Dung từ khi gác bút năm 1972 đã không còn sáng tác nữa mà chỉ nhuận sắc các tác phẩm cũ của ông. Đến đầu năm 2000, trong số đầu tiên của tạp chí “Thu Hoạch”, ông mới viết một tản văn đầu tiên từ khi gác bút, chính là truyện Nguyệt Vân này.

Truyện Nguyệt Vân được Kim Dung cho biết là hồi ức về tuổi thơ của mình. Với thủ thuật mượn mây vẽ trăng, Kim Dung đã dùng câu chuyện Nguyệt Vân để vẽ lại bức tranh xã hội thời thơ ấu của mình. Vì truyện này khá mới như vậy nên độc giả của Kim Dung, vốn mê truyện kiếm hiệp của ông, ít có người biết đến.

Kim Dung có rất nhiều sở trường trong sáng tác. Một trong những sở trường đó là phép dụng ẩn ý qua tên các nhân vật. Chẳng hạn như cô em A Tử (màu tía) ăn hiếp cô chị A Châu (chu: Màu đỏ) ám thị câu Luận Ngữ “Ố tử chi đoạt chu dã! 惡紫之奪朱也!” (Ghét màu tía hung ác lấn át màu đỏ). Hay Lệnh Hồ Xung令狐沖, Nhiệm Doanh Doanh任盈盈 (Tiếu Ngạo Giang Hồ): Xung, ý nói trống rỗng, Doanh, lại có nghĩa là đầy, hai cái tên nói lên sự khác biệt tính cách nhưng bổ sung cho nhau. Lão Tử 老子 viết: Đại doanh nhược xung, kỳ dụng bất cùng.大盈若沖,其用不窮 (Đầy mà như vơi, thì dùng mãi chẳng hết), ý nói cái đầy và cái vơi đi liền với nhau, thống nhất với nhau. Hay như Nhậm Ngã Hành 任我行 (làm theo ý mình), Hướng Vấn Thiên 向問天, … và vô vàn thí dụ khác.

Tác phẩm Nguyệt Vân 月云 như chính Kim Dung nêu trong truyện rằng không phải là tên thực, cũng không phải nhân vật chính. Xin mời độc giả cùng chiêm nghiệm và thưởng thức thủ pháp dụng vân hoạ nguyệt qua đoản văn này của cố tác giả Kim Dung qua bản dịch của Vũ Nguyễn.

1.

Một ngày mùa đông trong thập niên 1930, tại một thị trấn nhỏ ở Giang Nam, gió bấc rít từng cơn, trời xám xịt u ám dường như muốn đổ tuyết. Thình lình, tiếng chuông leng keng, leng keng từ phía trường tiểu học vang lên.Một nhân viên nhà trường mặc áo dài bông màu lam cầm chuông đồng, giơ lên cao và lắc mạnh liên hồi. Hai ba chục đứa học trò nam nữ ở trong lớp ồn ào bỏ sách vở vô cặp rồi ùa ra hành lang xếp hàng. Bốn thầy giáo và một cô giáo cũng cùng bước lên bục giảng thành một hàng. Cô giáo trạc 20 tuổi, mỉm cười đưa tay khẽ hất mái tóc về phía sau rồi ngồi xuống chiếc ghế trước chiếc dương cầm kê phía phải bục giảng. Cô mở nắp đàn, nhếch môi cười nửa miệng. Tiếng đàn vang lên và lũ học trò gân cổ hát như hét:

“Ngày đã tàn,
Hôn lại hoàng.
Chuông vang vang,
Trường đã tan.
Học trò reo
Trở về nhà,
Hẹn mai ngày
Lại đến lớp…”

Hát xong, lũ học trò hướng về phía bục giảng cúi đầu chào thầy cô. Năm vị thầy cô cũng cười hiền từ hát câu đáp.

“Chào các em
Hẹn gặp lại
…”

Rồi thì học sinh ở bốn hàng đầu xoay lại về phía các bạn ở phía sau để cùng chào nhau. Nhưng lũ nghịch ngợm có mấy đứa lén nhăn mày nhăn mặt làm bộ làm tịch trông rất hoạt kê. Thằng Nghi Quan thì còn lè cả lưỡi ra để chọc quê bè bạn. Nó đứng hàng đầu, quay mặt về hướng sân trường[1]nên biết chắc thầy cô không thể thấy cái bộ tịch làm trò của nó. Học sinh đứng thẳng người, các trò ở hàng sau bắt đầu đi ra cổng. Ai nấy đều cố đi đứng ngay hàng thẳng lối thật nghiêm chỉnh nhưng vừa ra khỏi cổng, cả đám nhao nhao như bầy chim vỡ tổ. “Ê thằng Tường, mầy nhớ 8 giờ sáng mai tới sớm đá banh đó nghe”. “Tao biết rồi”. “Ê con Phấn, mày hứa đem cho tao con chim non, mai nhớ đem nhe”. “Ừa, tao nhớ mà”.

Anh người làm Vạn Thịnh đã đứng chờ trước cổng trường. Thấy Nghi Quan bước ra thì gọi lớn: “Cậu Nghi Quan”, vừa cười vừa gật đầu chào, tay thì đỡ cái cặp, tay thì dắt cậu. Nghi Quan vội rụt tay, chạy vụt lên trước, không chịu cho nắm tay dắt. Anh Thịnh cũng chạy vội theo.

Cả hai chạy hết đoạn đường lộ, qua khỏi cây cầu đá thì rẽ vào con đường sình lầy dẫn vô xóm. Lúc ngang qua hàng liễu dọc bờ hồ, anh Thịnh quay lại nắm cổ tay Nghi Quan nhưng Nghi Quan dùng dằng không chịu. Anh Thịnh nói: “Ông chủ dặn đi dặn lại biểu tôi nhớ nắm tay cậu khi đi qua hồ”. Nghi Quan cười nói: “Chắc ba sợ em té xuống hồ hả? À anh Thịnh, anh đi bắt dùm em một con chim con được không? Hay là hai con đi”.

Vạn Thịnh gật đầu nói: “Được mà, nhưng bây giờ thì chưa được. Ít nhất qua sang năm, tới mùa Xuân thì chim mẹ mới đẻ trứng nở ra chim con”.

“Chim cũng ăn Tết sao? Vậy đầu năm chim có đi chùa lễ Phật không?

“Chim không ăn Tết nhưng chim hót cho bồ tát nghe. Sang Xuân, khí trời ấm áp, chim non mới nở để cho khỏi chết cóng”.

2.

Hai người vừa đi vừa nói, chẳng mấy chốc về đến nhà. Anh Thịnh đưa Nghi Quan vào gặp bà chủ, để bà biết là đã về tới nhà bình an. Nghi Quan chỉ buột miệng: “Thưa mẹ” rồi đi thẳng về phòng. Nó nhớ mấy con ngỗng sứ be bé trắng phau của nó. “Nguyệt Vân ơi. Nguyệt Vân ơi. Đem mấy con ngỗng sắp ra lẹ lên đi”.

Nguyệt Vân là con bé tớ gái của nó vội đáp: “Dạ”, rồi con bé kéo cái hộc tủ, cẩn thận bưng từng con ngỗng sứ ra để lên trên bàn. Gương mặt vàng vọt của con bé có vẻ lo lắng. Đưa mấy ngón tay sờ vào mình con ngỗng sứ, con bé vội rụt về dường như sợ làm vỡ con ngỗng đến nơi

Nghi Quan xếp mấy con ngỗng thành hai hàng tả hữu, mỗi hàng bốn con. Rồi nó hát: “Chào các cưng. Mình lại gặp nhau rồi hén! Cạp-cạp-cạp, Ủa ? ” Nó nhặt con ngỗng bên phải lên, xem xét kỹ lưỡng cái cổ. Trên cái cổ dài có một vết nứt. “Ui trời!” Nó khẽ vặn trái một cái thì vết nứt gãy lìa một cái ‘tách’ rồi cái đầu con thiên nga rơi xuống mặt bàn. “Nguyệt Vân đâu, Nguyệt Vân đâu!” Giọng nó run run, vừa tức, vừa giận. Gương mặt nhỏ nhắn của nó đỏ bừng lên tận mang tai, tay run run từ từ đặt con ngỗng không đầu xuống bàn.

“Không phải tôi. Không phải tôi làm bể!”

Nguyệt Vân mặt mày tái mét, bất giác đưa tay lên che trước mặt như sợ bị Nghi Quan tát tai. Con bé bằng tuổi Nghi Quan nhưng thấp hơn một cái đầu, tóc tai thì vàng quạch lưa thưa rối bời. Giá như Nghi Quan muốn đánh nó, nó cũng không dám chạy, hai đầu gối đã run cầm cập rồi.

Cậu chủ chẳng lưu tâm tới vẻ sợ sệt khốn khổ của con bé, cũng không đặc biệt thích con ngỗng sứ này nhưng vì tám con ngỗng bỗng dưng có một con bị gãy đầu, niềm vui bỗng nhiên mất đi một chút. Mà rõ ràng chuyện đổ vỡ này không phải lỗi của cậu, cũng không biết từ đâu xảy đến làm hỏng một món đồ chơi cậu ưa thích. Cậu không biết vì lẽ gì nó lại vỡ, cứ nhìn hàng bên trái có đủ bốn con ngỗng mà hàng bên phải chỉ còn ba con với một con gãy mất đầu lăn lóc một bên. Bất giác, cậu ngồi phệt xuống đất bật khóc oà.

Nguyệt Vân bối rối không biết phải làm sao. Giá như cậu Nghi Quan đánh đòn thì nó cũng đành cắn răng chịu đựngkhông dám khóc vì quả thực nó đã không cẩn thận làm vỡ con ngỗng. Lúc nó làm vỡ đã vội vàng chạy đi tìm chị Thuỵ Anh, người hầu của bà chủ trẻ (mẹ của Nghi Quan). Chị Thuỵ Anh vốn là người hầu cận thân tín của mẹ bà chủ trẻ. Khi bà chủ trẻ xuất giá, mẹ bà đã tặng chị Thuỵ Anh làm của hồi môn đem theo về nhà chồng. Ông chủ trẻ lo quản lý công việc tiền trang [1]trên thị trấn, ít khi về nhà. Bà chủ trẻ thì vừa yếu sức, vừa nhác việc nên chị Thuỵ Anh giúp bàlo việc bếp núc,coi sóc từ các cậu các cô và các tôi tớ hầu hạ trong nhà đến người làm công việc đồng áng bên ngoài. (Ở các địa phương khác gọi ông chủ, bà chủ nói chung nhưng ở Giang Nam, nếu ông bà nội còn sống chung trong nhà gọi là cụ ông, cụ bà, ông bà chủ gọi là ông chủ trẻ, bà chủ trẻ, con cái ông bà chủ thì gọi là các cậuvà các cô). Chị Thuỵ Anh tốt bụng, thấy Nguyệt Vân run rẩy liền bảo nó đừng sợ, rồi bày cho nó lấy gạo nếp nấu thành hồ để dán cái chỗ con ngỗng bị gãy lại.

Chị Thuỵ Anh nghe tiếng Nghi Quan đang khóc liền lên an ủi đọc mấy câu vè:

“Nghi Quan ơi Nghi Quan.
Nghi Quan thật là ngoan.
Ngờ đâu ông bán ngỗng
Tưởng ngay thế mà gian”.

Nghi Quan hỏi: “Chị Thuỵ Anh, lão bán ngỗng tưởng ngay thế mà gian nghĩa là làm sao?”. Chị Thuỵ Anh bịa: “Ờ thì cái người ngoài phố bán tám con ngỗng cho chúng ta hôm qua láu cá lắm đấy. Trong tám con ngỗng có một con bị gãy cổ rồi. Hắn qua mặt chúng ta lấy hồ keo dán lại vờ như ngỗng còn nguyên ». Rồi chị lại có ca có kệ: “Cậu đấy. Nghi Quan ơi Nghi Quan. Nghi Quan thật là ngoan. Ngờ đâu ông bán ngỗng, tưởng ngay thế mà gian”. Người Giang Nam ăn nói lễ độ, không thô lỗ cộc cằn. Thằng bán dạo bịp bợm vẫn được gọi lịch sự là “ông bán ngỗng”. Con ngỗng sứ đầu cổ mảnh khảnh dễ vỡ, ắt đã nứt bể sẵn rồi, nhưng chị Thuỵ Anh chỉ nói ‘thế mà gian’ chứ không một lời trách cứ. Khuôn mặt nhỏ nhắn của Nguyệt Vân giờ mới dãn ra, nở một nụ cười, trong bụng không lo nữa.

Nghi Quan tưởng thật đã hiểu ra được nguyên nhân của tai hoạ nên không còn thắc mắc nghi ngại gì nữa. Hoá ra cái kẻ bán hàng rong kia là người ‘không thật thà’ chứ không phải người trong nhà dấu diếm hay làm hỏng của cậu cho nên cậu đã thấy thư thái trở lại. Cậu với tay lấy một quyển sách mà hôm qua chưa kịp đọc hết. Đó là một quyển truyện của nhà văn Ba Kim[2]mà anh của cậu mua tận Thượng Hải. Không nhớ đó là truyện “Ngày Thu trong mùa Xuân” hay “Ngày Xuân trong mùa Thu” gì đó, kể chuyện một cậu bé ngoại quốc với một con bé trong đoàn xiếc kết thành đôi bạn thân rồi yêu nhau. Chẳng may, hai người không có duyên lâu, bị ông bầu chia cách không cho gặp mặt. Nghi Quan càng đọc càng thấy nặng nề u uất pha lẫn chút buồn bã ngọt ngào, chẳng khác gì chiếc bồn hoa thuỷ tiên đựng sỏi vũ hoa [3]để trên bàn. Mùi hương ngọt ngào nhưng có ẩn chút thê lương tịch mịch. Thuỷ tiên kia tuy chưa tàn nhưng chẳng bao lâu rồi cũng héo hon thôi.

Chị Thuỵ Anh thấy Nghi Quan ràn rụa nước mắt, nghĩ cậu còn tiếc con ngỗng gãy nên vỗ nhẹ vào lưng cậu khẽ ngâm nga: “Nghi Quan ơi Nghi Quan, Nghi Quan thật là ngoan…”

3.

Nguyệt Vân bê cái lồng ấp bằng đồng lại gần Nghi Quan cho ấm. Nghi Quan lơ đễnh ngắm vẻ vàng vọt của Nguyệt Vân nhớ lời mẹ nói hồi mới gặp Nguyệt Vân: “Con bé mặt mũi đàng hoàng, nhưng trông gầy ốm không nô đùa, ắt tại gia đình túng thiếu không đủ ăn nên suy dinh dưỡng, gần lên mười vẫn đèo đẹt…” Lúc ấy thím Toàn mẹ của Nguyệt Vân thưa: “Bà chủ thương cho, nhà chúng cháu cùng quẩn, rau cháo bữa đói bữa no, cơm không đủ ăn, lại phải nhường thày nó, anh nó ăn trước. Đàn ông ăn no để có sức mà cày cấy. Tôi … cháu … cũng không có cơm mà ăn nên mất sữa.Thành ra con bé Vân không được bú, chẳng bữa nào no. Khi cháu không đi gặt mướn được thì nhà cũng không có gạo. Con Vân nhiều ngày không ăn cơm luôn…”. Mẹ Nghi Quan nghe vậy thở dài: “Tội quá, tội nghiệp quá…” Lúc ấy Nghi Quan chõ miệng vào: “Con Vân không chịu ăn cơm là kén ăn, là không ngoan đó…” Thím Toàn vội nói: ”Cậu Quan ơi. Con Vân không phải kén ăn. Chỉ là muốn ăn cũng không có mà ăn”.

Nghi Quan lúc nào trái ý là tới bữa không chịu ăn cơm để làm nư. Có lần nó dỗi rất lâu chỉ vì cánh con bướm thêu trên dép chỉ có viền ngoài, không đẹp như con bướm trên hài chị họ con bác hai. Con bướm trên hài của chị họ có hai cánh thêu màu sắc sặc sỡ, trông thật bắt mắt. Sau mẹ phải nhờ chị Tịnh thêu dùm đôi bướm trông đẹp như bướm thật. Lúc đó Nghi Quan mới tươi cười. Mỗi khi nó bỏ ăn, mẹ và chị Thuỵ Anh hay nói nó ‘kén ăn, không ngoan’ cho nên nó mới nghĩ con bé Học Vân bỏ ăn là trái tính trái nết, cố ý làm nư như nó.

Học Vân là tên thật của con bé. Nhưng hôm bố con bé dẫn đến nhà Nghi Quan, cha Nghi Quan bảo: “Học Vân đọc nghe như Nhạc Vân, kỵ huý với công tử của Nhạc đại nhân. Chi bằng đổi thành Nguyệt Vân”. Bố con bé vội cười thưa: “Dạ, dạ. Ông chủ đổi thế hay lắm. Chúng cháu quê mùa chẳng biết gì cả. ”. Ở thị trấn này, giọng địa phương phát âm chữ họcnghe na ná như chữ nhạc. Nhạc Phi đại tướng quân chết vì đại nghĩa ở Hàng Châu, mà Hàng Châu cách cái thôn nhỏ này không xa nên dân địa phương ở đây sùng bái và thờ phụng ngài. Từ đó về sau, mọi người đều gọi Học Vân là Nguyệt Vân.

Ở Giang Nam, thời trước, bần nông thường bán con gái hay đợ con cho địa chủ và phú hộ. Con gái nhỏ mười một, mười hai tuổi cũng đã biết làm chút đỉnh việc nhà. Tám, chín tuổi cũng có. Bán con là bán đứt, thường giá hơn hơn trăm đồng, có khi được hai trăm tuỳ tuổi tác sức vóc, mặt mũi dễ nhìn, đầu óc lanh lợi, chân tay nhanh nhẹn hay không. Đợ con thì được khoảng tám, chín chục hay sáu, bảy chục vì thường sau mười năm, cha mẹ ruột được quyền đón về nếu trả hết nợ. Đợ con là hình thức gán nợ, mượn vốn khỏi trả lãi, chỉ gán con gái làm thế chấp, ở làm công không lương, chủ chỉ cho cơm ăn áo mặc. Tiếng là thế chấp nhưng thường thì gia đình bần nông không trả nổi tiền chuộc nên dù bán dù đợ, khi con bé lên mười tám, đôi mươi là chủ đem gả cho người ở trên thị trấn hay tá điền để thu ít quà sính lễ, coi như lấy lại chút vốn. Nếu bán thì coi như nô lệ, con bé có bệnh hay chết thì chủ không gánh trách nhiệm. Nếu đợ thì đỡ hơn một chút, tuy vậy cũng thường bị chủ đánh đập hay bỏ đói. Sau nếu biết thì cha mẹ có quyền kêu ca thương lượng, mà lỡ như bất hạnh bệnh nặng hay qua đời thì có thể bị khiếu nại lên quan phủ mà như vậy thường chủ bị mất số tiền nợ không đòi lại được. Nguyệt Vân thì chỉ ở đợ vì cha mẹ nó thương không nỡ bán. Mẹ Nghi Quan thì chê nó ốm yếu vàng võ xấu xí không đáng giá để mua.

4.

Nghi Quan ngủ chiêm bao thấy hoá thành thằng bé ngoại quốc trong truyện, dắt tay cô bé trong đoàn xiếc cùng nhau chạy chơi quanh bờ hồ. Cô bé trông hơi giống Nguyệt Vân tiếng cười giòn tan thật dễ nghe. Nó hiếm khi nghe Nguyệt Vân cười, mà giá có nghe thì tiếng cười của con bé chắc cũng không êm tai như vậy. Hai người thấy có nhiều ngỗng trắng đang bơi lội trên hồ, lông rụng trắng phau trôi nổi trên mặt hồ biếc. Dần dần, mấy con ngỗng bơi thành hai hàng đối mặt nhau sau rặng liễu, cổ một bên vươn ra, một bên rụt lại như đang xếp hàng chào nhau. Nghi Quan chun mặt rồi hát: “Chào thầy cô. hẹn gặp lại. Chào bạn bè, hẹn gặp lại,…” Đột nhiên, nó ngửi thấy mùi thơm sực nức như mùi bánh tổ mới ra lò. Nó mở mắt dậy và thấy Nguyệt Vân đang bưng đĩa bánh đến trước mặt, cười cười nói: “Cậu Nghi Quan, mời cậu ăn bánh tổ ”.

Đến cuối năm, gia đình Nghi Quan làm nhiều bánh dày và bánh tổ[1]. Đường để áo bên ngoài vỏ bánh làm bằng mật ong xênh với đường cát trắng, lại ướp thêm hoa quế, hoa hồng còn trộn thêm hạt dẻ thơm lừng. Nguyệt Vân dở nắp hoả lò, đặt tấm vỉ lưới bằng đồng lên, xong cắt bánh rồi xếp lên vỉ nóng. Khi bánh nướng nóng tới độ, da bánh phồng rộp lên rồi xì hơi nhìn như nụ hoa đang nở.

Bánh bột và bánh đường

Nghi Quan cầm đũa gắp một cái ăn ngay, rồi gắp thêm một cái quay sang Nguyệt Vân nói: “Nguyệt Vân, mày xoè tay ra đây”. Nguyệt Vân co rúm người lại, chìa tay phải ra, tay trái thì rút cây thước đưa cho Nghi Quan, nước mắt lưng tròng. Nghi Quan nói: “Tao có đánh mày đâu?”, rồi gắp cái bánh tổ còn nóng hổi đặt vào bàn tay Nguyệt Vân, con bé kêu lên: “Á, nóng quá”. Nghi Quan nói: “Đúng rồi, từ từ ăn”.

Nguyệt Vân sợ hãi ngó Nghi Quan, thấy vẻ mặt ra chiều khích lệ của cậu, nửa tin nửa ngờ đưa bánh lên miệng, ngậm chiếc bánh trong miệng. Nó từ từ nhai, lấm lét nhìn cửa phía sau, sợ có người nhìn thấy. Nghi Quan hỏi: “Ngon không? Ăn xong chưa?”. Nguyệt Vân ráng sức nuốt miếng bánh xuống. Gương mặt nó bây giờ trông hết sức mừng rỡ. Cả đời nó chưa từng được ăn một miếng bánh tổ nào, ngay đến mứt cũng chả mấy khi được ăn. Trước nay nó chỉ nướng bánh cho cậu Nghi Quan ăn, ngửi mùi thơm mà nuốt nước bọt, mà không dám nuốt thành tiếng sợ có ai nghe thấy.

5.

Mấy ngày sau, thím Toàn bế thằng nhỏ mới sanh mấy tháng đến thăm con gái. Chị Thuỵ Anh giữ thím lại ăn cơm, rồi gói hai miếng thịt nhỏ để thím cầm về cho chồng con. Nguyệt Vân ôm thằng em, tiễn mẹ nó ra cổng lớn. Tới cổng tường[1], Nguyệt Vân chưa muốn rời mẹ, cứ nắm lấy chéo áo rồi đột nhiên khóc thút thít. Nghi Quan đi phía sau mấy mẹ con, cầm cái trống bỏi định cho thằng bé chơi. Nó nghe thím Toàn hỏi Nguyệt Vân: “Vân à, đừng khóc nữa. Con ở đây có tốt không?” Nguyệt Vân gật đầu. Thím Toàn lại hỏi: “Ông chủ trẻ, bà chủ trẻ có đánh con không? Có mắng con không?” Nguyệt Vân lắc đầu, nghẹn ngào nói: “U ơi, con muốn về nhà với thày u”. Thím Toàn nói: “Con gái yêu của u, đừng khóc nữa. Thầy u đã đợ con cho nhà người ta để vay tiền của ông chủ trẻ mà đong gạo. Gạo thì đã ăn xuống bụng rồi, tiền còn đâu mà trả lại. Con không về được đâu”. Nguyệt Vân chầm chậm gật đầu, giọng vẫn nghẹn ngào, thổn thức nói: “U ơi, con muốn về với u. Nhà ta không có gạo thì con không ăn nữa. Con chỉ muốn về ngủ dưới chân giường thày u thôi”. Thím Toàn ôm con gái vào lòng, vuốt tóc nó thủ thỉ: “Con gái yêu của u, nín đi. U sẽ dặn thày ngày mai đến thăm con”. Nguyệt Vân gật đầu nhưng vẫn chưa buông mẹ ra. Thím Toàn lại hỏi: “Con gái yêu, cậu Nghi Quan có đánh đòn, la mắng con không?” Nguyệt Vân lắc đầu quả quyết rồi nói lớn: “Cậu Nghi Quan còn cho con ăn bánh tổ nữa”, giọng pha chút đắc ý.

Cổng tường

Nghi Quan ngạc nhiên nghĩ thầm: “Ăn bánh tổ thì có gì là lạ ? Ngày nào mình chẳng ăn ?”. Nó chạy lên trước, lắc mạnh cái trống bỏi kêu ‘tung tung’ mà bảo: “Nguyệt Vân, lấy cái này cho em mày chơi đi”. Nguyệt Vân tiếp lấy rồi đặt vào tay thằng em. Rồi nó lưu luyến không rời nhìn mẹ bế thằng em chầm chậm đi xa. Thím Toàn cứ bước đi một đoạn lại ngoái nhìn con gái.

Về sau, khi lớn lên, Nghi Quan đọc thêm nhiều tiểu thuyết khác của nhà văn Ba Kim. Cậu không giống như Giác Tuệ trong truyện “Nhà”, đem lòng yêu con bé người ở là Minh Phượng vì thấy Nguyệt Vân ngốc nghếch, chẳng có gì dễ thương. Tuy nhiên cậu cũng hiểu ý sách của Ba Kim muốn dạy con người đối xử bình đẳng bác ái thương yêu nhau. Cậu không bao giờ đánh đập, la mắng Nguyệt Vân, có khi còn kể những chuyện trong sách cho nó nghe. Cậu có tài kể chuyện hấp dẫn, bạn bè cùng trường rất mê nghe cậu kể chuyện. Chỉ có cái con gàn dở Nguyệt Vân ù ù cạc cạc nghi nghi ngờ ngờ: “Khỉ chỉ biết leo cây thôi. Làm sao biết bay lên trời lộn nhào được? Khỉ không biết nói tiếng người, cũng chẳng biết múa côn đánh người ta đâu”. “Đã bảo ngu như lợn thì họ Trư kia sao biết cầm cây đinh ba được. Đinh ba chỉ để cào cỏ, bừa đất chứ có để đánh nhau đâu?”. Nghi Quan nghĩ bụng: “Con này ngu hết thuốc chữa rồi”. Từ đó không còn hứng thú kể chuyện cho nó nghe.

Khi Nghi Quan lên trung học, quân Nhật tràn sang chiếm cứ cái thị trấn nhỏ ở bờ nam sông Dương Tử đó. Tôi tớ người làm phân tán, cả nhà tản cư sang qua sông Tiền Đường. Trên đường di tản, mẹ cậu ngã bệnh không có thuốc uống nên qua đời. Hai người em trai của Nghi Quan cũng lần lượt yểu mạng.

Lúc Nghi Quan lên đại học thì kháng chiến thành công. Nghi Quan được phân công đi làm việc ở Hong Kong. Nguyệt Vân lúc trước không đi theo gia đình ông bà chủ qua sông. Nghi Quan không còn nghe tin tức của cô, không biết cô về sau ra sao. Thời buổi loạn lạc, người còn kẻ mất, thất lạc tung tích không biết trôi dạt về đâu. Khi Nghi Quan viết thư về thăm nhà cũng chẳng hỏi về Nguyệt Vân. Mà thư từ của anh chị em viết gửi lại cũng chẳng ai nhắc tới con bé.

6.

Khi Hồng Quân từ Sơn Đông kéo về thôn của Nghi Quan, cha của Nghi Quan bị đấu tố là địa chủ, bóc lột nông dân nên bị kêu án tử hình. Nghi Quan ở Hồng Kông khóc lóc suốt ba ngày ba đêm, đau lòng hơn nửa năm nhưng cậu cũng không để bụng cái quân đội đã giết cha cậu, bởi lúc ấy ở Trung Quốc đất bằng dậy sóng, có hàng nghìn hàng vạn người bị kết tội địa chủ rồi mang ra xử tử. Thảng hoặc, Nghi Quan có nhớ đến cảnh thím Toàn và Nguyệt Vân bịn rịn trước cổng tường. Giới địa chủ ở Trung Quốc từ ngàn năm luôn khiến gia đình kẻ cùng đinh cốt nhục chia lìa, vợ con ly tán. Trên đời có hàng ngàn, hàng vạn Nguyệt Vân, có khi ngẫu nhiên được ăn một miếng bánh tổ cảm kích vô cùng nhưng thường thì quanh năm cơm không đủ ăn, mặt mày xanh xao vàng vọt, mà ở nhà chủ thì lúc nào cũng lo lắng căng thẳng, sợ sệt đủ điều. Nó lúc đó chưa tới mười tuổi mà thà nhịn đói chỉ cầu được ngủ dưới chân cha mẹ mà cũng không được. Nghi Quan mỗi lần nhớ đến là mắt rưng rưng, muốn ra tay thay đổi mọi thứ trên đời. Cha cậu thừa kế đất đai của tổ tiên để lại. Cha mẹ cậu không làm điều xấu, không ép bức người khác nhưng họ sinh ra trong truyền thống và nếp sinh hoạt đời đời tiếp nối truyền lại. Dầu muốn dầu không họ cũng thản nhiên sống phong lưu trên sự đói nghèo của người khác, sống chết mặc bay.

Nghi Quan họ Tra. Nghi Quan chỉ là tên ở nhà do ông nội đặt. Tên thực là Nghi Tôn, vì cậu là con thứ và có một người anh cả. Nghi Quan khi đi học, tên ở trường là Lương Dung. Lương là chữ lót theo ngôi thứ[1]nên tất cả anh em trong nhà tên đều lót chữ Lương. Về sau, khi viết tiểu thuyết, cậu chiết chữ Dung bộ Kim ra làm hai, lấy bút hiệu là Kim Dung.

Các tiểu thuyết của Kim Dung viết không hay chẳng qua chỉ biết rằng không nên hiếp đáp kẻ yếu đuối cô thế không có sức phản kháng chống đỡ chỉ biết cắn răng chịu đựng, nên ông mới viết truyện kiếm hiệp.

Ông viết, rồi sau đó khi đọc lại tác phẩm của mình, ông thường khóc vì sự bất hạnh của nhân vật trong truyện. Khi ông viết rằng Dương Quá mòn mỏi chờ đợi Tiểu Long Nữ cho đến khi mặt trời khuất bóng, ông khóc thành tiếng. Khi ông viết rằng Trương Vô Kỵ và Tiểu Siêu bị buộc phải chia tay nhau, ông lại khóc nức nở. Khi ông viết rằng Tiêu Phong giết người yêu A Châu vì hiểu lầm, ông khóc càng thảm hơn. Khi ông viết đoạn ở trấn Phật Sơn, cả gia đình gã bần cùng Chung A Tứ bị ác bá Phượng Thiên Nam sát hại, ông sôi máu, nổi cơn thịnh nộ, đập bàn mạnh đến nỗi bị sưng cả tay. Ông biết rõ truyện là hư cấu nhưng cuộc đời thế sự không thiếu những bất công, mà những ai oán bi thương chân thực của người đời có rất nhiều, nhiều lắm thay.

Kim Dung

Chú thích

[1]Nguyên văn là thiên tỉnh天井. Khi quần thể kiến trúc bao quanh một cái sân, từ dưới nhìn lên trời giống như nhìn lên miệng giếng nên tục gọi là thiên tỉnh nghĩa là ‘giếng trời’ . Trường học có phòng học vây xung quanh sân trường nên sân trường cũng gọi là thiên tỉnh.

[2] Tiền trang钱庄: Từ đời Thanh, nhiều cơ sở tư nhân bắt đầu dịch vụ chuyển đổi ngân phiếu ra tiền mặt hoặc vàng bạc, tiền thân của ngân hàng. 1890s là giai đoạn các nước phương Tây ồ ạt mở chi nhánh ngân hàng ở TQ cạnh tranh với các tổ chức tiền trang tư nhân. Sức cạnh tranh và pháp luật dần bóp chẹt sự hoạt động của các tiền trang và sau cách mạng, sự hợp pháp hoá của đồng nhân dân tệ trên toàn quốc và hệ thống ngân hàng trung ương đã đẩy hoạt động của các tiền trang vào bóng tối thành một hệ thống ngầm (underground) với các dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ hoặc rửa tiền bất hợp pháp. Tính ra thời gian tồn tại công khai và phát triển của các tiền trang thật ngắn ngủi chỉ 2 thế kỷ (giữa thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 20).

[3] Ba Kim 巴金(1904-2005): Nhà văn, nhà thơ, phiên dịch và xuất bản Trung quốc, từng du họcở Pháp và Nhật, cóảnh hưởng lớn trong phong trào ngũ tứ cách mạng văn hóa. Có nhiều tác phẩm nổi tiếng như bộ tam thiên liên hoàn truyện Nhà (1931) Xuân (1938) Thu (1940), Giấc Mộng Hải Hồ 海的梦 (1932), Ngày Thu Trong Mùa Xuân 春天里的秋天 (1932) là quyển truyện Nghi Quan đang đọc, …

[4] Nguyên văn: Vũ Hoa Thạch 雨花石 là một loại sỏi bằng đá hoa cẩm thạch xuất xứ từ Nam Kinh nên cũng còn gọi là Nam Kinh Vũ Hoa Thạch 南京雨花石 để phân biệt với loại sỏi thường làm bằng thủy tinh màu. Nhà giàu dùng để trong các bình hoa pha lê vừa trang trí, vừa giữ cho bình hoa đứng vững.

[5] Nguyên văn: Bạch niên cao(hoà) đường niên cao 白年糕(和) 糖年糕. Bạch niên cao là bánh làm bằng bột nếp, hấp miếng bằng ba ngón tay, hình thức mùi vị giống bánh dày ở Việt Nam nhưng người Trung Quốc không quết xôi, khi ăn chấm đường hay mật ong chứ không kẹp chả quế giò lụa. Đường niên cao thì thêm đường khi nhồi bột, làm xong đóng bánh để khô, hình thức mùi vị giống hệt bánh tổ ở Việt Nam. Khi ăn thì xắt lát nhỏ đem nướng hoặc chiên, sên nước đường rắc mè lên tuỳ thích. Nhà Nghi Quan giàu có nên thêm mật ong và các mùi ướp, rắc hạt dẻ. Ở đây thay vì dịch bánh bột và bánh đường, người dịch dùng bánh dày và bánh tổ cho dễ hình dung.

[6] Nguyên văn: Tỉnh lan井栏. Tỉnh lan có nhiều nghĩa. Những nhà giàu người Trung Hoa làm nhà nhiều phòng thành hình vuông chung quanh một cái sân chung cũng gọi là tỉnh lan, một phía là cổng ra vào, hướng ấy người dịch tạm gọi là cổng tường cho dễ hình dung.

[7] Nguyên văn: Bài hàng排行. Những đại gia Trung Hoa đặt chữ lót trong tên theo một thứ tự nhất định cho thứ tự trên dưới trong gia tộc gọi là bài hàng hay bài hành. Ví dụ như nước ta bài hàng nổi tiếng là bài Đế Hệ Thi 帝係詩 do vua Minh Mạng đặt cho hoàng tộc nhà Nguyễn.

Nghĩ về nhà thơ THÀNH TÔN / Trần Huy Bích

Cuối mùa hè năm 1955, sau khi các lực lượng tàn dư của Bình Xuyên đã rút khỏi Sài Gòn, thủ đô miền Nam tương đối ổn định. Bộ Thông Tin của chính phủ Quốc Qia (trước ngày 26 tháng 10 năm ấy chưa có từ ngữ “Việt Nam Cộng Hòa”) hỗ trợ việc thành lập một Câu Lạc Bộ Văn Hóa trên đường Phan Đình Phùng để trí thức, văn nghệ sĩ (thành phần chính hình như là những vị mới từ miền Bắc tới) có nơi để gặp gỡ, chuyện trò, uống trà, uống café, thưởng thức những món ăn nhẹ… Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục được mời điều khiển Câu Lạc Bộ này. Cất lời chào mừng cử tọa trước khi bắt đầu những sinh hoạt chung, ông tự giới thiệu là “anh chủ quán.” Lui tới với Câu Lạc Bộ là một số trí thức từ miền Bắc di cư như các Giáo Sư Nguyễn Thiệu Lâu, Vũ Khắc Khoan …, các nhà văn Vi Huyền Đắc, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng … và một số văn nghệ sĩ trẻ hơn. Ban hợp ca Thăng Long (lúc ấy còn cả Khánh Ngọc) từng được mời đến giúp vui. Nhạc sĩ Phạm Duy từng nói lời giới thiệu, “Xin được trình bày bài ‘Hội Trùng Dương’ của Phạm Đình Chương, do Phạm Duy hòa âm.” Khi một vị trong cử tọa cao giọng hỏi đùa, “Do ai trình bày?” ông đã tươi cười trả lời, “Do gia đình chúng tôi.”

Thỉnh thoảng (hình như mỗi tháng một lần) có một bài thuyết trình về một vấn đề liên quan tới văn hóa. Lúc ấy đang là một học sinh Đệ Nhị Cấp ở Trung Học Chu Văn An, kiến thức khá hạn hẹp và phải lo việc học nhiều hơn, người viết những dòng này chỉ tới 3, 4 lần khi theo chân một vị đàn anh, người có danh hiệu “văn nghệ sĩ.” Có một buổi thuyết trình với đề tài “Tiếng Việt là đơn âm hay đa âm?”. Nhưng buổi thuyết trình được nhớ đến nhiều hơn là hôm nhà thơ Đông Hồ đến trình bày bài “Thăng Long h=Hành,” do ông sáng tác khi ra thăm Hà Nội ba năm trước đó.

Bài thơ do thi sĩ Đông Hồ đọc tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa Sài Gòn ngày 27 tháng 8 năm 1955 được nhiều người chú ý vì lần đầu tiên một nhà thơ danh tiếng của miền Nam đến đích thân trình bày tại một nơi quy tụ nhiều trí thức, văn nghệ sĩ mới từ miền Bắc tới. Bài thơ khá dài (110 câu), kể lại chuyến ra thăm Hà Nội năm 1952 của Đông Hồ và Mộng Tuyết, cũng rất có ý nghĩa với cử tọa, những người vừa phải lìa Hà Nội. Lời thơ đẹp ngay từ đoạn đầu tiên, phác họa hình ảnh một Hà Nội dưới mưa bão, đúng hôm hai nhà thơ miền Nam đến phi trường Gia Lâm:

Bão táp tơi bời trời cố quốc
Gió mưa ủ rũ đất danh đô
Tiêu điều cỏ lấp hoa Long Đỗ
Lạnh lẽo trăng soi nước Kiếm hồ.

Nhà thơ Đông Hồ kể lại những buổi được bè bạn đưa đi thăm Hà Nội, được ngắm những cảnh:

Tháp đảo chơ vơ rùa nhớ kiếm
Tượng vườn chót vót đá mong vua

hay:

Lãng Bạc sóng xao hờn oán cũ
Hành cung hương tỏa nhớ thương xưa…

Bài thơ kết thúc với những tình cảm lưu luyến của một người từ xa tới, rồi phải ra về sau khi chỉ ở trong ít ngày:

Phúc Xá bãi phơi niềm ý biệt
Long Biên cầu nối đoạn tình xưa
Gia Lâm mấy dặm tình trường đoản
Ngọn cỏ dầm sương nặng khứ lưu
Hoa cúc để gầy thu đất Bắc
Tháng ngày vương một mối tương tư…

Tuy người thuyết trình vừa đọc vừa giải thích từng câu, những người ngồi nghe chỉ ghi nhận được một phần, không thể nhớ toàn bài. Nhiều năm sau không thấy “Thăng Long Hành” được in ra. Từ khi được nghe năm 1955, nhất là sau biến cố 1975, người viết vẫn ao ước có hoàn cảnh gặp lại bài thơ đặc sắc mang nhiều ý nghĩa ấy, nhưng không biết có thể kiếm ở đâu.

Trong một buổi đàm đạo văn chương ở hải ngoại khoảng giữa thập niên 1980, nhà văn Võ Phiến cho biết ông thích sự súc tích, rất ít lời nhưng nhiều ý trong hai câu thơ sau, do Đông Hồ làm để tặng Nguyễn Hiến Lê:

Ôi! Hà Tiên đó còn Tần lĩnh,
Thì Việt Trì kia vẫn Thái Hàng.

Học giả Nguyễn Hiến Lê quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, gần Việt Trì. Vì công việc, ông được cử vào Nam từ năm 1935 ở tuổi 23. Sau chuyến về Bắc lần cuối năm 1944, do chiến tranh và hoàn cảnh đất nước chia đôi, ông sống biền biệt ở trong Nam từ đó. Giữa thập niên 1960, chiến tranh trở nên khốc liệt. Tình trạng đối nghịch của nhà cầm quyền hai phía càng khiến triển vọng về thăm quê của ông xa vời hơn. Để an ủi bạn phần nào, Đông Hồ gửi tặng Nguyễn Hiến Lê bài thơ với hai câu nói trên.

Nhà thơ Đông Hồ quê ở Hà Tiên nhưng từ những năm loạn lạc, về sống ở Sàigòn. Chiến tranh lan rộng giữa thập niên 1960 cũng khiến ông không thể về thăm Hà Tiên tuy khoảng cách chỉ chừng 300 cây số. Ông muốn nói với Nguyễn Hiến Lê, “Ôi, Hà Tiên ngay đó mà tôi còn phải chịu cảnh ‘Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại? (Mây chắn ngang núi Tần, nhà ở đâu?—Thơ Hàn Dũ).’ Huống chi Việt Trì của bác, xa hơn nhiều, phải chịu nông nỗi ‘nhà cha mẹ ta dưới đám mây kia’ thì cũng đành thôi.” Đông Hồ muốn ví Nguyễn Hiến Lê như Địch Nhân Kiệt đời Đường, lên núi Thái hàng, chỉ đám mây ở xa nói với tả hữu, “Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây kia,” tuy vẫn nghĩ đến nhưng không thể tới. Hai câu thơ vừa nói lên được hoàn cảnh cá nhân của Đông Hồ và Nguyễn Hiến Lê, vừa cho thấy khung cảnh chung của đất nước trong giai đoạn đó, cùng mối quan tâm, tình đồng cảm của hai người bạn thân. Chỉ với 14 chữ trong hai câu, nhà thơ Đông Hồ đã diễn được thật nhiều ý. Đó quả là hai câu thơ xuất sắc!

Từ khi được nhà văn Võ Phiến đọc cho nghe, người viết rất muốn dùng hai câu thơ ấy làm dẫn chứng mỗi lúc muốn trình bày với những người bạn trẻ về công dụng của việc dùng điển tích trong văn chương. Muốn lời nói mang tính cách khả tín, cũng cần biết một cách đích xác hai câu thơ ấy được lấy từ bài nào, in trong tác phẩm nào của Đông Hồ. Sau khi lìa nước năm 1975, những tài liệu còn trong tay nhà văn Võ Phiến không đủ để ông cho biết điều ấy một cách tường tận và chính xác. Từ khá lâu, việc tìm xuất xứ của hai câu thơ trên cũng là một trong những quan tâm của người viết.

Cuối năm 2016, sau khi đưa ra vài bài viết ngắn về một số thi phẩm của Đông Hồ nhưng đã bị phổ biến với khá nhiều sai lạc trên Net, người viết nhận được một món quà quý từ một người bạn trẻ: tập thơ Bội Lan Hành của Đông Hồ. Đây là bản được scan rồi in lại từ bản chính do Quình Lâm xuất bản tại Sàigòn năm 1969. Scan lại cả tập thơ, đóng thành quyển chặt chẽ và đẹp để tặng một số thân hữu là việc làm chung của Nguyễn Vũ, người bạn trẻ, và anh Thành Tôn. Nhưng có được tập thơ quý hiếm sau cuộc “phần thư” khốc hại năm 1975 là nhờ công phu sưu tầm cần cù với khá nhiều hi sinh của anh Thành Tôn. Điều đáng nói là sau khi có tập thơ, anh không giữ cho riêng mình mà sốt sắng chia sẻ với bè bạn.

Mở tập Bội Lan Hành, nhìn qua phần Mục lục, người viết thấy ngay bài “Thăng Long Hành” đã lưu tâm tìm kiếm từ nhiều năm. Đọc thêm ít trang, đến bài thơ Đông Hồ tặng Nguyễn Hiến Lê, trông thấy ngay hai câu:

Ôi! Hà Tiên đó còn Tần lĩnh,
Thì Việt Trì kia vẫn Thái Hàng

vẫn muốn tìm từ giữa thập niên 1980. Tập Bội Lan Hành, món quà từ anh Thành Tôn, có giá trị thật lớn đối với người nhận. Trong thi tập ấy của nhà thơ đất Hà Tiên, dĩ nhiên cũng còn nhiều bài xuất sắc khác.

Qua anh Phạm Phú Minh, tôi chỉ mới có cơ hội gặp anh Thành Tôn mấy năm gần đây sau khi đã thôi việc, về sống ở Quận Cam. Từ trước chỉ nghe danh anh là một nhà thơ, từng có những thi phẩm đặc sắc trước 1975, từng có bài trên tạp chí Bách Khoa, rất được bạn bè quý mến vì lòng tốt và sự hiền hòa. Cũng được nghe rằng anh từng mầy mò tìm mua một số văn thi phẩm giá trị của miền Nam trước kia, nhưng ra tới ngoại quốc, thấy chính tác giả những tập ấy không còn giữ được bản nào, đã sốt sắng tặng lại. “Anh ấy cần cuốn đó hơn mình.” Đã có lần tôi thử đặt mình vào địa vị của một trong những tác giả như thế, và nhận thấy ở anh Thành Tôn một trái tim Bồ Tát.

Trong những việc tôi nhờ anh làm giúp trong thời gian gần đây, có hai việc đáng nhắc đến hơn cả.

Một anh bạn trong Hội Ái hữu Cựu Giáo chức tìm mua được từ một sạp bán sách cũ bên lề đường Paris tập Rừng Phong của thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Tập thơ ở tình trạng cũ rách, gáy đã long, một số trang đã rời ra. Nhưng đó là một bản đặc biệt, nhà thơ Vũ Hoàng Chương tặng nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, với lời đề tặng cùng chữ ký của tác giả. Khi trao tập thơ cho tôi, anh bạn nói, “Tôi đem đến đưa anh, vì thấy anh đáng giữ tập thơ này.” Không xã giao thoái thác, tôi cám ơn anh và đưa tay nhận.

Nhưng lập tức, tôi cũng thấy ngay trách nhiệm của mình: không thể để tập thơ nằm chết trong tình trạng cũ nát ở đáy tủ sách của mình, mà phải làm cách nào để có một số bản ở tình trạng tốt và đẹp đẽ hơn, có thể mở ra đọc dễ dàng, để tập thơ có một địa vị xứng đáng trong tủ sách của một số người biết đến giá trị thơ Vũ Hoàng Chương. Ít nhất phải có một bản đưa tới gia đình nhà văn Nguyễn Sỹ Tế (đã quá cố). Rồi một bản cho người bạn mua được tập thơ nhưng không giữ riêng, đem đi cho một cách dễ dàng, không đặt một điều kiện nào. Thứ ba là một bản giữ cho mình. Nếu có thể làm thêm ít bản cho một số bạn văn cũng biết trân quý thơ Vũ Hoàng Chương thì thật hay.

Trong tập Rừng Phong có nhiều bài giá trị và đặc sắc của cố thi sĩ: Nguyện cầu, Bài ca sông Dịch, Chờ đợi hoài công, Tờ hoa, Cảm đề Đoạn Trường Tân Thanh, Thiên đường lại mở, Nhớ cố nhân, Hợp tan … “Thiên đường lại mở” là bài thơ thi sĩ làm để tặng bà Vũ Hoàng Chương. “Nhớ cố nhân” và “Hợp tan” là hai bài tác giả tặng kịch sĩ Tuyết Khanh. Tập thơ cũng là một giai phẩm văn chương với tranh bìa, in nhiều màu rất đẹp và trang nhã, của thi sĩ Đinh Hùng. Trình bày các trang trong cũng do Đinh Hùng với lời thơ in trên giấy nền màu. Trong tập còn một trang thủ bút của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Với nét chữ bay bướm và tung hoành, ông viết hai câu chữ Hán:

Lãnh quế hương trầm thương hải nguyệt
Loạn bồng tâm đới bạch vân thu

và hai câu tự dịch:

Quế lạnh hương chìm trăng bể biếc
Cỏ bồng mây trắng rối lòng thu

với chữ ký và ba triện son của ông.

Sau khi hỏi anh Phạm Phú Minh, tôi được biết anh Thành Tôn và Vũ là hai người bạn mà tài nghệ cùng tấm lòng với sách vở đáng được tin cậy hơn cả trong việc phục chế lại tập thơ ở tình trạng cũ rách này. Kết quả thật hoàn hảo: tập thơ được scan, được in, và đóng lại rõ và đẹp như mới được in ra. Khi đem đến bà Nguyễn Sỹ Tế, bà ngạc nhiên và cảm động, long trọng thắp hương trên bàn thờ nhà văn. Các nhà thơ Trần Dạ Từ, Trịnh Y Thư … ông bạn mua được tập thơ cũ và một số bạn văn nghệ khác, cùng trầm trồ khen ngợi.

Tập sách thứ hai anh phục chế với kết quả rất tốt đẹp là cuốn Cầm Học Tầm Nguyên của Phó Bảng Hoàng Yến.

Cụ Hoàng Yến, quán xã Minh Hương, tỉnh Thừa Thiên, đậu Cử nhân năm Mậu Ngọ 1918, Phó bảng năm Kỷ Mùi 1919 (Khải Định năm thứ 4), đồng khoa với cụ Tiến sĩ Dương Thiệu Tường (cháu nội cụ Dương Lâm), các cụ Phó bảng Đặng Văn Oánh, Đặng Văn Hướng (con cụ Hoàng giáp Đặng Văn Thụy). Trong Cầm Học Tầm Nguyên, cụ đưa người đọc trở về những nguyên lý và nguyên tắc đoan chính tự thời xa xưa của âm nhạc: “Thánh nhơn xưa bày đàn ra là để chánh tâm dưỡng tánh … ‘Cầm giả cấm dã, cấm chỉ ư tà, dĩ chánh nhơn tâm dã.’ Nghĩa là: cầm là cấm, bày cầm ra để cấm điều bậy, mà sửa cho ngay lòng người. Xưa vua Thuấn đờn đờn năm dây, ca Nam Phong mà thiên hạ đại trị …, đức Khổng tử ở nước Tề ba tháng, nghe nhạc thiều mà quên ăn.” Cụ nhắc tới một số nguyên tắc của người trước: Lục kỵ (kỵ đại hàn, kỵ đại thử, kỵ đại phong, kỵ đại vũ …), Thất bất đàn (nghe tang không đàn, khi nhạc đánh có chiêng trống ồn ào không đàn, công việc đang bối rối không đàn, trong mình không sạch sẽ, khăn áo không tề chỉnh không đàn …). Cụ giảng giải kỹ lưỡng và cung cấp hình vẽ các loại đàn thời trước như đàn cầm, đàn sắt, đàn tranh, đàn trúc, đàn tỳ bà, đàn nhật, đàn nguyệt, đàn tam, đàn đáy …, và cung cấp nhạc bản của một số bài nhạc xưa như Lưu thủy, Vọng giang nam (Nam bình), Ai giang nam (Nam ai), Kim tiền, Xuân phong, Tẩu mã, Chinh phụ, Quan thư, Tứ đại cung oán … Tập sách được đánh máy phần chữ quốc ngữ và viết tay phần chữ Hán, với lời “Tự” được viết năm Khải Định thứ hai (1917), là một tài liệu tham khảo giá trị và hữu ích về nhạc cổ. Tập sách có lời đề từ của Lễ bộ Thượng thư trí sự Tôn Thất Mộng Phật (tức cụ Tôn Thất Diệm, hiệu Mộng Phật, sinh năm 1853, làm quan từ cuối đời Tự Đức đến đời Duy Tân, mất năm 1922 trong đời vua Khải Định).

Khi thứ nam cụ Hoàng Yến, một người bạn trong thời gian dạy học ở Đà Lạt, đưa cuốn sách đến cho tôi thì cuốn ấy đã ở tình trạng không còn thọ được lâu: giấy bản cũ mòn, bìa mỏng manh. Anh nhờ tôi giúp ý xem có thể làm cách nào để bảo tồn được cuốn sách “gia truyền.” Tôi gợi ý nhờ người scan thành một file điện tử, rồi in và đóng lại trên một loại giấy tốt và bền, với một bìa dày và chắc chắn hơn. Anh nhờ tôi giúp, giới thiệu tới một người có thể làm những việc như thế. Tôi đem tới Vũ và anh Thành Tôn. Kết quả là các con cụ Hoàng Yến có một file điện tử của cuốn sách, bản gốc được trả lại nguyên vẹn, kèm thêm một bản in trên giấy trắng tốt và bền, được đóng lại chặt chẽ với bìa dày dặn hơn. Anh bạn tôi vô cùng cảm kích. Scan cuốn sách là thời giờ và công phu của Vũ. Đóng lại thành một cuốn sách mới là thời giờ và công phu của anh Thành Tôn. Gia đình tác giả cuốn Cầm Học Tầm Nguyên không phải trả một phí khoản nào. Đây không phải là lần đầu tiên anh Thành Tôn và Vũ làm những việc như thế.

Tôi không ngạc nhiên thấy anh Thành Tôn được mọi người cảm mến và quý trọng. Theo tôi, đó là lẽ đương nhiên. Tuy chỉ mới quen biết anh từ sau khi về sống ở Orange County cuối năm 2010, tôi có cảm tưởng “đã là bạn từ lâu.” Nếu chúng ta quả có nhiều kiếp sống khác nhau, rất có thể chúng tôi đã có tình thân, đã tin cậy và quan tâm đến nhau từ một đời sống trước.

Trần Huy Bích

Share this post