Lá Thư Úc Châu 26 Tây tháng Chín 2015 – NNS

Lá Thư Úc Châu 26 Tây tháng Chín 2015 – NNS

(1) Chuyện Thời Sự & Xã Hội

(i) Ts Nguyễn Hưng Quốc: Mất cảnh giác
Một người bạn của tôi, từ Hà Nội sang, kể tôi nghe chuyện này: Cách đây mấy năm, Bộ Công An Việt Nam xây dựng trụ sở mới ở đường Phạm Hùng, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở rất đồ sộ và lộng lẫy do một nhà thầu Trung Quốc thiết kế và xây dựng. Đến lúc xây xong, người ta mới sực nhớ một chuyện: Có thể Trung Quốc cho gắn các thiết bị do thám trong toà nhà để ghi âm tất cả các cuộc đối thoại trong đó. Thế là người ta sợ. Nhưng không có cách gì lật tung cả toà nhà ra để tìm các thiết bị do thám ấy. Mà tìm chưa chắc đã thấy. Cuối cùng, người ta chọn giải pháp: Cho các nhân viên cấp trung và cấp thấp vào làm việc trong trụ sở mới, còn giàn lãnh đạo cao cấp thì vẫn ở lại trụ sở cũ.

Nghe câu chuyện ấy, tôi không thể không thắc mắc: Tại sao một việc đơn giản như vậy mà người ta không thể đoán trước được? Bạn tôi cười: “Thế mới nói! Ở Hà Nội, ai cũng đặt ra câu hỏi ấy. Nhưng không ai công khai và chính thức trả lời cả. Có khi câu trả lời rất đơn giản: Bất cẩn!”.

Một chuyện nữa cũng làm tôi thắc mắc: Trung Quốc đã khởi sự việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo ít nhất cũng từ một hai năm trước, vậy tại sao bộ đội Việt Nam đóng trên các hòn đảo gần đấy lại không hay biết gì cả? Thế giới – và cả người Việt nữa – chỉ biết sự kiện ấy vào đầu năm nay khi Mỹ loan tin kèm theo các bức ảnh được chụp từ vệ tinh. Tại sao? Câu trả lời không chừng cũng vì họ không quan tâm, hay nói cách khác, bất cẩn.

Có thể nói, trong quan hệ với Trung Quốc, giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay rất bất cẩn. Trước đây, Bộ Thương Mại Việt Nam giao hẳn cho phía Trung Quốc toàn quyền quyết định nội dung tờ báo mạng bằng tiếng Việt của họ. Nhiều tờ báo loan cả tin bộ đội Trung Quốc tập luyện ở những vùng biển và hải đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam theo các bản tin lấy từ báo chí của Trung Quốc mà không một chút phân vân hay phê phán. Nhiều cơ sở du lịch in bản đồ Việt Nam trong đó Hoàng Sa và Trường Sa được ghi rõ là thuộc về Trung Quốc. Cách đây mấy năm, dư luận rất phẫn nộ khi biết một số tỉnh miền Trung và miền Bắc cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn (trong vòng 50 năm) trên 300.000 hecta đất rừng đầu nguồn được xem là có vị trí chiến lược. Cuối năm ngoái, người ta cũng phát hiện nhà cầm quyền Thừa Thiên – Huế cho phép công ty Trung Quốc xây dựng khu du lịch ngay dưới chân đèo Hải Vân, nơi, cũng theo giới quân sự, có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Mới đây, báo chí lại loan tin chính quyền Quảng Ngãi thuê một công ty của Trung Quốc (CPG, có trụ sở chính tại Tân Gia Ba) làm dự án quy hoạch huyện đảo Lý Sơn, nơi được xem là có vị trí trọng yếu ở mặt trận Biển Đông. Bị hỏi, giới chức ở tỉnh Quảng Ngãi trả lời là họ không biết vai trò của Trung Quốc trong tập đoàn ấy, hơn nữa, họ còn nhấn mạnh là họ làm theo đề nghị từ “các đơn vị cấp trên”. Chưa hết. Ông Lê Viết Chữ, bí thư tỉnh uỷ, còn nói thêm: “Quan điểm cá nhân của tôi thì tôi không phân biệt tập đoàn đó thuộc quốc gia nào, tất cả chúng ta đều có quan hệ với nhau hết”.

Lời tuyên bố của ông Lê Viết Chữ rõ ràng là sai. Trong quan hệ với Việt Nam, không phải nước nào cũng như nước nào. Với các nước khác, kinh tế chỉ là kinh tế. Nhưng với Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đã từng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Trung Quốc cũng đã chiếm bảy hòn đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa vào năm 1988. Trung Quốc đã từng xua quân tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979. Trung Quốc đã từng đưa giàn khoan HD-981 vào thăm dò ngay trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014. Trung Quốc cũng đã từng ngang ngược cho Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, là “sân sau” của họ. Đó là những chuyện trong quá khứ. Lại là quá khứ không xa xôi gì lắm. Trong tương lai, ai cũng biết rõ không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên con đường 9 đoạn vốn trùm lấp lên phần lớn Biển Đông của Việt Nam. Nói cách khác, cụ thể hơn: Nếu Trung Quốc không có ý định đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam thì họ cũng sẽ tìm mọi cách để chiếm đoạt Biển Đông của Việt Nam. Điều đó, trên thế giới, hầu như không ai nghi ngờ cả. Vậy tại sao chính quyền Việt Nam lại không biết, lại vẫn tiếp tục bất cẩn?

Theo tôi, có 3 lý do chính:

Thứ nhất là người ta bị Trung Quốc mua chuộc. Có hai yếu tố khiến khả năng này là hiện thực: Một mặt, Trung Quốc vẫn nổi tiếng xưa nay về các việc đút lót trong quan hệ ngoại giao với các nước khác; mặt khác, cán bộ các cấp Việt Nam từ trước đến nay cũng nổi tiếng về việc nhận hối lộ. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các dự án của Việt Nam đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc: Tiền “bôi trơn” và “lại quả” của họ cao.

Thứ hai, người ta thành thực tin là Trung Quốc tốt, là Trung Quốc sẽ không bao giờ đánh Việt Nam, do đó, người ta không cần phải cảnh giác hay lo lắng gì trong các quan hệ với Trung Quốc cả. Sự tin tưởng này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả của công tác tuyên truyền của đảng Cộng Sản và chính quyền trung ương vốn tập trung vào khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng” lúc nào cũng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ sau vụ giàn khoan HD-981 đến nay, các khẩu hiệu này ít được nhắc nhở, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dám nói thẳng Trung Quốc là một sự đe doạ lớn đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo. Tin tức về các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như các hành động ngang ngược của Trung Quốc như truy đuổi các thuyền đánh cá Việt Nam ngay trong hải phận của Việt Nam ít được đề cập. Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vẫn là hình ảnh Trung Quốc như một đối tác chiến lược gần gũi của Việt Nam. Dưới ảnh hưởng của việc tuyên truyền như thế, một số người Việt Nam, kể cả các viên chức cán bộ, từ trung ương xuống địa phương, nghĩ sai về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó, đâm ra bất cẩn trước âm mưu bá quyền của Trung Quốc không có gì là khó hiểu.

Thứ ba, người ta không tin cũng không bị mua chuộc, nhưng người ta mặc kệ, coi đó là chuyện của người khác, không dính líu gì đến mình cả. Có lẽ đây là tâm trạng khá phổ biến ở Việt Nam. Trong những người bạn ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi tiếp xúc, nhiều người hiểu rất rõ những nguy cơ đến từ Trung Quốc nhưng khi nhìn thấy giới lãnh đạo bất động, họ cũng không quan tâm, xem việc Việt Nam rơi vào quỹ đạo thống trị của Trung Quốc là chuyện đã rồi và không thể đảo ngược được. Từ bất cần, nếu có chút quyền hành, họ cũng trở thành bất cẩn.

Dù vì bất cứ lý do gì, những sự thiếu cảnh giác như thế cũng là một điều rất đáng ngạc nhiên. Một trong những truyền thuyết cổ và phổ biến nhất của Việt Nam, chuyện Mỵ Châu và Trọng Thuỷ, đã đặt vấn đề cảnh giác trong quan hệ với Trung Quốc. Những năm chiến tranh, mặc dù quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Quốc vẫn còn êm thắm, Tố Hữu vẫn nhớ bài học ấy và từng nhắn nhủ:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu / Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc / Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Sự bất cẩn hay thiếu cảnh giác của chính quyền Việt Nam hiện nay chắc chắn không phải vì chuyện “trái tim lầm chỗ để trên đầu”. Nhưng nếu không phải “trái tim” thì là cái gì? Theo tôi, không chừng chỉ có tính ích kỷ và sự ngu dốt.

(ii) Thụy My: Pháp – Vì sao di dân không được thương cảm như thuyền nhân Việt 1979?

Trước làn sóng người nhập cư đổ vào Châu Âu hiện nay, người Pháp vẫn có tâm lý e ngại, thờ ơ, cho đến khi những hình ảnh thương tâm của em bé Syria chết đuối đánh động được dư luận. Tâm lý này tương phản với phong trào cứu vớt thuyền nhân Việt Nam vào cuối thập niên 70.

Vào thời kỳ đó, một phong trào đầy cảm động đã nổi lên ở nước Pháp và nhiều quốc gia phương Tây khác, nhằm cứu vớt hàng chục ngàn thuyền nhân chạy trốn chế độ cộng sản Việt Nam trong các điều kiện bi thảm, và cả người Cam Bốt, người Lào.

Vô số hình ảnh những con tàu nhỏ bé trôi dạt trên Biển Đông được phổ biến rộng rãi, đã thức tỉnh lương tâm mọi người. Những hình ảnh này cũng giống những gì thấy được trên báo chí trong mấy tháng gần đây : những ánh mắt hoảng loạn, những thân người kiệt sức, chen chúc trên những con tàu thô sơ ở Địa Trung Hải.

Nhưng bối cảnh rất khác nhau. Nước Pháp vào lúc ấy với tỷ lệ thất nghiệp thấp (chỉ 3,3%, còn nay là 10%), đã nhiệt tình đón tiếp. Hơn nữa người Việt và người Cam Bốt đến từ Đông Dương thuộc Pháp cũ, biết được ngôn ngữ và ít nhiều thấm đẫm văn hóa Pháp, trong khi di dân hiện nay đa số là người Hồi giáo. Đặc biệt là sự dấn thân ngoạn mục của giới trí thức Pháp thời ấy, cả cánh tả lẫn cánh hữu, từ nhà văn đồng thời là nhà triết học nổi tiếng Jean-Paul Sartre cho đến Raymond Aron – nhà báo kiêm nhà sử học, triết gia, chính khách.

Cuối năm 1978, tàu Hải Hồng chở 2.500 người Việt Nam đã đến được Mã Lai Á nhưng bị đẩy ra, phải trôi dạt 45 ngày trên biển từ bến này sang bến khác, đã gây xúc động lớn. Các nhà báo quay phim những cảnh khốn khổ của thuyền nhân trên tàu trong đó có nhiều trẻ em: Thiếu thức ăn, nước uống, thuốc men, trốn tránh ánh nắng đổ lửa dưới những tấm bạt rách nát. Cuối cùng, các nước châu Âu quyết định tiếp nhận những người Việt tị nạn này. Bị chấn động trước số phận chiếc tàu vô tổ quốc, và thảm kịch của những người mà người ta bắt đầu gọi là «boat people», nhiều nhân vật tiếng tăm của Pháp tập hợp xung quanh bác sĩ Bernard Kouchner và triết gia André Glucksmann, năm 1979 đã quyết định tung ra chiến dịch «Một Con Tàu Cho Việt Nam». Họ vận động quyên góp để cải tiến một chiếc tàu mang tên «L’île de lumière» (Đảo Ánh Sáng) thành một tàu bệnh viện, đi vớt các thuyền nhân khác trên Biển Đông, rồi thả neo ở đảo Palau Bidong (Mã Lai Á) để các bác sĩ Pháp tình nguyện chăm sóc cho 34.000 người Việt bị giam trên đảo.
Trên đài truyền hình TF1, người dẫn chương trình Roger Gicquel kêu gọi: «Hỗ trợ cho chiến dịch không chỉ là hào hiệp mà còn là điều cần thiết». Người bác sĩ trẻ Kouchner từ trên boong tàu «Đảo Ánh Sáng» thuyết phục nhà báo Jacques Abouchar trước ống kính đài truyền hình France 2. Vị «French doctor» muốn tuyên truyền rộng rãi trên truyền thông, trong khi những người khác lại muốn âm thầm hoạt động. Ủy ban «Một Con Tàu Cho Việt Nam» được thành lập, được nhiều nhân vật lỗi lạc ủng hộ: Triết gia Michel Foucault, giáo sĩ Do Thái Josy Eisenberg, Đức Hồng Y François Marty, nhà văn Đức Heinrich Boll, ca sĩ kiêm diễn viên Yves Montand… Ông Michel Rocard, chính khách đảng Xã Hội chống lại chủ nghĩa Cộng Sản, ký vào bản kiến nghị nhưng tổng thư ký đảng là ông François Mitterrand thì không. Một bộ phận trong cánh tả Pháp vẫn e dè vì nhiều người vẫn coi chủ nghĩa Cộng Sản là một mô hình để noi theo.

Cảm động nhất là sự ủng hộ của nhà văn mác-xít Jean-Paul Sartre và nhà trí thức lớn chủ trương tự do Raymond Aron, hai nhân vật này vốn không nhìn mặt nhau suốt 30 năm qua. Hôm 20/09/1979, Tổng Thống Valéry Giscard d’Estaing đã hội tụ ở điện Elysée nhiều tên tuổi, trong đó hai trí thức lừng lẫy trên đã siết chặt tay nhau. Đó là một hình ảnh gây tác động mạnh mẽ, chứng tỏ một nước Pháp đoàn kết, ít nhất là trong chủ đề thuyền nhân Việt.

Nhân dịp này, nhà văn nổi loạn Jean-Paul Sartre đã trở thành nhà hoạt động nhân đạo. Ông nhắc lại những từ ngữ mà chính ông đã chỉ trích nhà văn Albert Camus 25 năm về trước: «Tôi ủng hộ những con người mà có lẽ không phải là bạn tôi vào thời kỳ Việt Nam đấu tranh cho tự do, nhưng điều này có quan trọng gì, vì đó là những người đang gặp nguy hiểm đến tính mạng». Tiếp bước triết gia Aron, cánh hữu Pháp trở nên thoải mái hơn trong hồ sơ này. Đô trưởng Paris là ông Jacques Chirac đưa ra lời kêu gọi tiếp đón boat people, và bản thân ông cũng nhận một thuyền nhân trẻ Việt Nam – cô Anh Đào – làm con nuôi. Năm năm sau đó, vào năm 1984, một nhóm nhạc rock Pháp mang tên Gold phát hành một album trong đó có bản nhạc «Gần Bên Những Ngôi Sao», nhằm vinh danh thuyền nhân Việt Nam, đã thành công rực rỡ với 900.000 đĩa bán ra.

Từ năm 1975 đến đầu thập niên 80, đã có trên 120.000 người Việt Nam được đón tiếp tại Pháp, được cấp giấy tờ chính thức là «người tị nạn». Giáo Sư Karine Meslin vào năm 2006 đưa ra con số «128.000 người Đông Dương, trong đó có 47.356 người Cam Bốt đã nhập cư hợp pháp vào lãnh thổ nước Pháp». Nhiều người khác đến Pháp nhưng không với tư cách tị nạn. Từ năm 1975 đến 1985, trên một triệu người Việt đã bỏ trốn khỏi đất nước, trong đó có 800.000 boat people, và theo các nhà nghiên cứu, một phần tư những người vượt biên đã thiệt mạng.

Vì sao cuộc khủng hoảng di dân hiện nay không tạo nên được một làn sóng tương trợ như đối với thuyền nhân Việt Nam cuối thập niên 70? Bên cạnh nguyên nhân kinh tế và văn hóa như đã nói ở trên, còn có nhiều lý do khác. Đợt sóng thuyền nhân Việt mang tính giai đoạn, trong khi áp lực dân số ở Châu Phi, sự phức tạp của những cuộc xung đột ở lục địa đen và Syria, quân thánh chiến đủ các phe nhóm có thể tạo nên những cuộc di dân hàng loạt kéo dài.

Nhiều người còn nêu lên mặc cảm của cánh tả Pháp, trước đây ngưỡng mộ chủ nghĩa Mác Xít nên giang tay cứu vớt những người tị nạn Cộng Sản như một cách chuộc lỗi. Còn trước Hồi Giáo cực đoan hiện nay, châu Âu không có cùng tình cảm này, ngược lại còn là nạn nhân. Bên cạnh đó, vai trò của trí thức Pháp cũng không còn như 36 năm về trước. Thế nên cách đây vài tháng, khi xảy ra hàng loạt vụ chìm tàu làm chết hàng ngàn người trên biển, cũng đã có những lời kêu gọi tương trợ. Nhưng rốt cuộc, Địa Trung Hải năm 2015 không phải là vịnh Thái Lan năm 1979, và «Đảo Ánh Sáng» đã không xuất hiện tại đây.

*** TS Nguyễn Hưng Quốc (VOA): Vượt biên

Một trong những sự kiện thu hút sự chú ý của thế giới nhiều nhất trong mấy tuần lễ vừa qua là làn sóng tị nạn từ Syria, Iraq và một số quốc gia khác ở Trung Đông tràn đến Châu Âu.

Thật ra, hiện tượng người Trung Đông vượt biên để tránh những hậu quả khốc liệt của các cuộc nội chiến đẫm máu trong nước họ không phải là điều gì mới mẻ. Chỉ riêng tại Syria, trong hơn bốn năm vừa qua, đã có trên bốn triệu người vượt biên để tị nạn tại các quốc gia láng giềng, như Thổ Nhĩ Kỳ (gần 2 triệu), Lebanon (trên 1 triệu), Jordan (trên 600.000), Ai Cập (hơn 130.000). Oái oăm nhất là, bị đẩy vào đường cùng, hơn 250.000 người Syria chạy cả sang Iraq, nơi cũng đang có nội chiến như nước họ. Tuy nhiên, làn sóng tị nạn ấy chỉ thực sự đánh động dư luận khi, gần đây, cả hàng triệu người tràn đến Châu Âu, đặc biệt là Áo và Đức. Người ta xem đó là cuộc khủng hoảng di dân lớn nhất thế giới kể từ sau Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ 2.

Nguyên nhân dẫn đến làn sóng tị nạn ấy tương đối dễ thấy: Một là những cuộc nội chiến tàn khốc ở quốc gia họ; hai là sự đe doạ của lực lượng Nhà Nước Hồi Giáo (IS), vốn vô cùng tàn bạo, đặc biệt với những người không phải tín đồ của Hồi Giáo. Trong bài này, thay vì đi sâu vào các nguyên nhân ấy, tôi chỉ tập trung vào những phản ứng của thế giới trước làn sóng tị nạn. Trừ nước Áo và đặc biệt, nước Đức vốn rất hào hiệp khi tuyên bố có thể nhận đến 800.000 người tị nạn (trên thực tế họ đã nhận gần nửa triệu), phản ứng của hầu hết các quốc gia khác là dè dặt. Nhiều quốc gia ở Châu Âu, đặc biệt là Đông Âu, chủ trương dứt khoát: Không nhận cho người nào định cư cả. Một số quốc gia khác, kể cả Mỹ và Úc, nhận người tị nạn một cách khá miễn cưỡng, chủ yếu do sức ép của dư luận. Lý do, khá dễ hiểu: Người ta sợ Hồi Giáo.

Lâu nay, dưới mắt quần chúng khắp nơi, Trung Đông đồng nghĩa với Hồi Giáo; và từ sau biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001, người ta xem Hồi Giáo đồng nghĩa với khủng bố. Cho phép người Trung Đông định cư trong nước mình, do đó, đồng nghĩa với việc chấp nhận thật nhiều rủi ro. Đó là lý do tại sao chính phủ Úc, sau khi công bố quyết định nhận khoảng 12.000 người Trung Đông, nói xa nói gần: Chủ yếu chỉ nhận những người theo Thiên Chúa Giáo. Có lẽ nhiều quốc gia Tây phương khác cũng chủ trương tương tự tuy người ta không dám nói thẳng ra vì sợ mang tiếng là kỳ thị.

Điều đáng để ý là ngay những người Việt Nam cũng có cảm giác không thoải mái. Trên các diễn đàn mạng, quanh các cuộc trao đổi về làn sóng tị nạn người Trung Đông trong mấy tuần vừa qua, tôi thấy hầu hết đều sợ, một lúc nào đó, chính những người xin tị nạn ấy sẽ trở thành những tên khủng bố trên đất nước từng mở rộng vòng tay đón nhận họ. Người ta củng cố sự lo sợ ấy bằng cái tin nghe nói là do chính lực lượng Nhà Nước Hồi Giáo tung ra: Có ít nhất 4000 người của họ len lỏi trong số những người tị nạn ấy.
Những sự lo sợ như thế cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Thứ nhất, cộng đồng người Trung Đông theo Hồi Giáo ở Tây phương là cộng đồng ít có khả năng hội nhập vào quốc gia mới và văn hoá mới nhất. Ở đâu họ cũng có khuynh hướng hình thành những ghetto khép kín, biệt lập với ngôn ngữ riêng, tôn giáo riêng, cách sống riêng, với những bảng giá trị riêng nhiều khi trái ngược hẳn với các bảng giá trị phổ biến ở Tây phương.

Thứ hai, lâu nay, hầu hết các cuộc khủng bố ở Tây phương đều gắn liền với những người Hồi Giáo gốc Trung Đông. Như ở Úc, chẳng hạn. Chưa xảy ra một cuộc khủng bố lớn nào, nhưng tất cả các nghi phạm bị bắt trong giai đoạn chuẩn bị khủng bố đều cho thấy họ đều là người gốc Trung Đông và theo Hồi Giáo. Trước, họ tìm mọi cách để xin được định cư tại Úc, rồi xin vào quốc tịch Úc. Nhưng sau khi đã được ở lại và đã được vào quốc tịch, những người ấy lại tuyên truyền những luận điệu thù ghét nước Úc và chống lại nước Úc, khuyến khích những người đồng đạo nổi lên giết hại những người Úc khác. Chuyện tương tự cũng xảy ra ở nhiều nơi. Tham gia cuộc khủng bố tại Mỹ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 có nhiều người Hồi Giáo, như Muhammad Atta, Ramzi bin al-Shibh, Ziad Jarrah, Said Bahaji và Marwan al-Shehhi từng sinh sống lâu năm ở Đức. Những kinh nghiệm ấy khiến không những chính phủ mà cả người dân đều đâm lo lắng.

Tuy nhiên, nhiều người khác lại lý luận ngược lại: Đó chỉ là một thiểu số. Một thiểu số cực kỳ ít ỏi. Lại lấy Úc làm ví dụ. Trong khoảng gần 300.000 người Trung Đông hiện định cư tại Úc (phần lớn là người Lebanon, người Ai Cập và người Iraq), có bao nhiêu người thực sự dính líu đến các cuộc khủng bố? Tối đa là vài ba trăm người. Có nên vì một thiểu số ít ỏi như vậy mà ngoảnh mặt trước những sự cùng khốn của hàng triệu người còn lại?

Nhớ, cách đây gần 40 năm, khi làn sóng tị nạn người Việt đổ tràn ra thế giới, trong dư luận cũng có nhiều ý kiến trái ngược, nhưng cuối cùng, như chúng ta đã thấy, ở rất nhiều quốc gia, đứng đầu là Mỹ, Gia Nã Đại và Úc, lòng nhân đạo đã thắng. Trong suốt mấy chục năm vừa qua, cộng đồng người Việt tị nạn ở Tây phương càng ngày càng lớn mạnh và có nhiều đóng góp cho quốc gia nhận họ định cư. Nhưng những góc tối cũng không ít: Một số người sa vào con đường mua bán cần sa và ma tuý làm hại biết bao nhiêu người khác. Nhưng có thể vì cái thiểu số ít ỏi ấy mà phủ nhận những mặt tích cực của cả cộng đồng?

Cộng đồng, bất cứ là cộng đồng nào, kể các các cộng đồng tị nạn, đều bao gồm nhiều người, trong đó có người tốt và kẻ xấu. Trước hiện tượng cả triệu người bỏ hết tài sản và cả quê hương, bất chấp nguy hiểm, vượt biên ra ngoài xin tị nạn, chúng ta có nên vì bị quá ám ảnh trước nguy cơ một số phần tử xấu và quá khích nào đó mà thành ra dửng dưng?

Tôi nhớ, khi làn sóng người Việt vượt biên tràn ra thế giới, dù nhiều người có ít nhiều lo ngại, nhưng nói chung, thế giới đã mở rộng vòng tay tiếp nhận cả triệu người tị nạn. Bản thân tôi, năm 1985, vượt biên đến Nam Dương; chỉ sáu tháng sau, được định cư tại Pháp. Quá trình làm giấy tờ định cư thật dễ dàng và chóng vánh. Không ai hỏi tôi theo đạo gì. Cũng không ai lo sợ tôi trở thành một kẻ ăn bám xã hội hoặc buôn bán những thứ quốc cấm. Không có ai cả. Tôi biết ơn những tấm lòng hào sảng của mọi người không những đối với bản thân mình mà còn đối với những người Việt Nam cùng vượt biển như mình nói chung. Bởi vậy, riêng tôi, một mặt, tôi vẫn lo lắng trước các nguy cơ khủng bố do một số người Hồi giáo cực đoan gây ra tại Úc cũng như ở tất cả các quốc gia khác; mặt khác, tôi vẫn xúc động khi nhìn thấy hình ảnh những người tị nạn bất hạnh chết trên biển, xác trôi giạt vào bờ, và tôi nghĩ việc cứu giúp những người vượt biên từ Trung Đông là điều nhân đạo và hết sức cần thiết.

(iii) Huỳnh Bá Hải: Người hiên ngang ra đi và người lén lút ẩn trốn.

Trong những ngày qua có 2 nhà báo Việt Nam xuất hiện ở Mỹ gây xôn xao dư luận. Thứ nhất là nhà báo tự do Tạ Phong Tần đi thẳng từ nhà tù Cộng Sản đến Mỹ được chào đón nồng nhiệt. Thứ nhì là nhà báo lề đảng Beo – Hồ Thu Hồng bị phát hiện đang mở tiệm phở ở San José. Người thì vui mừng trong vòng tay bè bạn khi thoát khỏi nhà tù tàn độc của Cộng Sản, người thì hậm hực, bực bội vì đã cố ẩn náu mà bị phát hiện. Cũng là những nhà báo, đôi khi gặp nhau vài lần trong biểu tình chống Trung Cộng nhưng lối đi khác nhau, lý tưởng khác nhau, cho nên diễn biến cuộc đời về kết cục số phận của họ rất khác nhau.

Vào thời điểm 2007-2008 các cuộc biểu tình chống Trung Cộng do Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do (CLBNBTD) có sự xuất hiện của bà Beo – Hồ Thu Hồng. Người ta có cảm nghĩ là bà Beo – Hồ Thu Hồng sẽ đứng chung trong hàng ngũ những người đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam. Nhưng không bao lâu sau đó bà Beo – Hồ Thu Hồng được bổ nhiệm làm tổng biên tập báo Thể Thao thành phố. Từ đó trên blog cá nhân và cho đến bây giờ là Facebook của Beo – Thu Hồng luôn có thái độ nhục mạ những người đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam và Beo – Hồ Thu Hồng chửi Mỹ không tiếc lời. Vào lúc đỉnh điểm phiên xử ông Cù Huy Hà Vũ, các phóng viên nội chính các báo lớn muốn tham dự cũng khó khăn, nhưng Beo – Hồ Thu Hồng làm báo Thể Thao thì tham dự như là VIP. Chân dung Beo – Hồ Thu Hồng bộc lộ hẳn từ đây. Sau khi bị cách chức tổng biên tập báo Thể Thao vì tham nhũng số tiền trên 10 tỷ đồng nhưng nhờ có ô dù lớn Beo – Hồ Thu Hồng không một ngày tù và ung dung đến Mỹ. Vấn đề là Beo – Hồ Thu Hồng qua Mỹ đã đổi họ và làm động tác giả là đang ở miền Đông Hoa Kỳ ở thành phố Boston. Nhưng Trời cao có mắt dù đổi họ, cố ẩn náu nhưng Beo – Hồ Thu Hồng bị phát hiện đang bưng bê ở một tiệm phở tại thành phố San Jose của tiểu bang California tận Bờ Tây.

Nghĩ rằng mình bị lộ tung tích vì Người Buôn Gió nên Beo – Hồ Thu Hồng lồng lộn lên chửi rủa Blogger Người Buôn Gió bằng các ngôn từ thật tục tĩu. Người Buôn Gió không chụp hình Beo – Hồ Thu Hồng đang bưng bê mà chỉ công bố mấy tấm hình do một nguồn tin của riêng anh ấy cung cấp. Beo – Hồ Thu Hồng không biết ai chụp quay ra chửi Người Buôn Gió. Việc chửi rủa này kéo dư luận trên Facebook càng quan tâm đến tiệm phở giá 3 USD/1 tô của Beo. Người ta kêu gọi tẩy chay quán phở dưới nhiều hình thức điều tra làm ăn rửa tiền hay biểu tình tẩy chay một hang ổ của Cộng Sản ở ngay trái tim của cộng đồng người Việt chống Cộng.

Một nhà báo được chào đón như anh hùng ở tiểu bang California là nhà báo tự do Tạ Phong Tần. Chị vừa trở về từ địa ngục trần gian của nhà tù Cộng Sản với thân hình tiều tụy. Xúc động trước sự chào đón của bà con hải ngoại chị đã bật khóc và tuyên bố “Tôi vô cùng xúc động trước tình cảm bà con nên mới khóc, trước đây trong nhà tù của bọn Cộng Sản dù cay đắng đọa đày tôi cũng không khóc”.

Một ngày sau chị đến Mỹ tôi có cuôc nói chuyện ngắn với chị. Tôi thấy hạnh phúc vì chị được tự do và đến bến bờ nhân ái nơi chị có thể viết mà không bị cầm tù vi lý tưởng yêu chuộng công lý và hòa bình của chị. Trước khi nói chuyện với chị cũng có một nhà báo tự do trong nước gọi cho tôi và trao đổi về sự ra đi của chị Tạ Phong Tần. Nhà báo tự do trong nước cho hay rất vui mừng khi hay tin chị Tần được tự do và đến Mỹ an toàn. Nhà báo này rất gần gũi với chị Tần có nhận xét rất thực tế: “Chị Tần đến Mỹ thì Cộng Sản Việt Nam lo một nhưng một số người đấu tranh cho dân chủ trước đây chơi không đẹp với chị Tần lo đến 10”. Bây giờ còn quá sớm để đưa ra bất cứ kết luận nào cho tương lai của chị Tần. Chị Tần cho hay thứ Hai đầu tuần chị bắt đầu đi khám bệnh và kiểm tra sức khỏe. Lao tù của Cộng Sản có làm cho thân thể chị tiều tụy hốc hác nhưng tinh thần của chị thì không kẻ thù nào hãm hại được.

Thấy nhà báo lề đảng Beo – Hồ Thu Hồng đang bưng bê ở một tiệm phở tôi chợt nhớ về kỷ niệm một bữa ăn với chị Tần trong khuôn viên trường đào tạo các chức danh tư pháp ở Sài Gòn vào năm 2009. Chị Tần nói với tôi: “Em thì nhìn sau lưng chị còn chị thì nhìn sau lưng em có thằng an ninh nào theo dõi chị em mình không nhé”. Dân gian có câu “Trời đánh tránh bữa ăn” nhưng trong chế độ Cộng Sản thì mình đang bưng chén cơm của mình cũng không được yên với công an. Không biết chị Tạ Phong Tần có ý định đến quán của chị Beo – Hồ Thu Hồng ăn một tô phở không. Nhưng nếu có đến, tôi và chị Tần tin rằng sẽ không có một nhân viên an ninh nào của Mỹ đi theo theo dõi người ta đang ăn. Còn an ninh của Cộng Sản như chị Beo giả dạng cũng sẽ không dám làm gì để ám hại chị Tần cũng như CLBNBTD như trước đây chị Beo – Hồ Thu Hồng đã từng làm.

Tái bút: Chị Tần còn nợ em một bữa ăn, còn chị Beo nợ em một lời vu khống.

(iv) Bá Dương: Kẻ thù của người Trung Quốc

Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy Lạp thời nay với người Hy Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.

Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương – thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Mã Lai Á nói rằng: “Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.

Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.

Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!

Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn “chối tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?”. Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!”. Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: “Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!”

Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản Hữu (phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú.

Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.

Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế?

Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?

Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên: “Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!”

Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: “Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử”. Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào? Người ta thường nói: “Mình nắm tương lai mình trong tay mình”. Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác. Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa. Lúc chết, Chúa Giê Su (Jesus) bảo: “Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu”. Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.

Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.
Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn? Nguyên do vì sao? Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh. Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!”. Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng “Quần Ma” (Những Con Ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.

Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!

Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Ba Lê sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu Châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á Đông nhảy vào!” (Người Á Đông có khi chỉ người Châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!”.

Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.

Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: “Chúng tôi đang thì thầm với nhau”. Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?

Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.

Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch. Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.

Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi – nơi không cần quan hệ với người khác – thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau. Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.

Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Ở Trung Quốc có câu: “Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống”. Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.

Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học – anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước… – Ngày hôm sau tôi bảo: “Tôi phải đi đến đằng anh A một tí!”. Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh đưa tôi đi một lát nhé!”. Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”. Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng.

Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: Đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Mã Lai Á có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Mã Lai Á tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?”. Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?”.

Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.

Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù”. Điều này phải chia làm hai phần: Phần thứ nhất: Cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ Nhân Bang” (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.

Phần thứ hai: Chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: “Quốc Hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”, nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong Quốc Hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng Do Thái vẫn tổ chức bầu cử.

Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.

Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: Sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở Do Thái cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!”.

Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.

Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận lỗi”. Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!”. Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng. Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!”. Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.

Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: “Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai? Dĩ nhiên của đối phương. Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!”. Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?

Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới, v.v… Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.

Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ “đường mật” và “ta linh” để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh- Người dịch] thì người Trung Quốc gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích).

Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?”

Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!”. Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!” Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời. Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu. Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.

Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi. Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?

Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.

Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!”. Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn.

Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở “Tư Trị Thông Giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.

Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật “thích xem” (người khác đau khổ), hoặc “chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tí gì đến sương trên mái ngói nhà người khác”.

Họ luôn mồm “nhân nghĩa” mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: “Phải tử tế với người và súc vật!”, trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.

Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?

(2) Thơ từ bạn bè gởi

(i) Trần Mộng Tú: Gửi cho ai đó trong hành tinh mới

Em mang trái tim cũ của mình
chờ dọn vào hành tinh mới
không ai biết nơi này có bao lâu
nhưng loài người ngỡ là mình sẽ tới

loài người mới tìm ra một hành tinh
tin rằng có một trái đất khác cũng có loài người
hay có một giống loài nào đó rất thông minh
đang sống đang đưa tay ra với

có phải anh ở trong đó không
hãy mở cổng cho em vào ở trọ
anh sẽ thấy trái tim rất cũ của em
có đủ hân hoan và thống khổ

sẽ bẻ cho anh một mảnh tim em
để anh hiểu thêm những kỳ bí của bầu trời
cả hai ta sẽ cùng khám phá nhau
em đã cũ hay là anh rất mới

em đã tới từ một hành tinh muôn vàn màu sắc
có trắng đen vàng trộn lẫn trong nhau
nơi ân oán trả bằng răng bằng mắt
và có những nụ hôn cho những nỗi đau
nơi trên những nóc nhà có lửa cháy
có cả máu hòa trong dòng sông
nhưng cũng có trái tim thơm như những cánh hồng
để an ủi loài người khi buồn tủi

Hãy nói cho em nghe đi
Trái đất mới của anh có gì
có phải toàn những cái máy không có linh hồn
hay loài gì đó thông minh như điện thoại
nên tất cả viễn tưởng có thể kéo đến gần
và không tưởng có thể chạm tay với tới
rồi những ngạc nhiên không còn
chẳng có gì để khám phá
không mơ ước vì chẳng còn điều mơ ước
kể cả yêu thương cả oán thù
nơi hành tinh đó cũ hay mới vẫn rất mơ hồ
vì ở đó không ai nói về cái chết
nên không biết bắt đầu sống lúc nào

anh đã ở đấy bao nhiêu năm rồi hay mới hôm qua
vì khoảng cách không gian giữa hai ta
xa đến nghìn năm ánh sáng
những câu hỏi của em rồi sẽ
rơi vào một vũng trăng sao
và em sẽ chết trước khi nhận được tiếng trả lời

Thôi em cứ ở trái đất của mình
và anh cứ ở nguyên bờ bên kia ánh sáng…
(tmt – tháng 9/18/15)

– NASA vừa mới tìm ra một “trái đất” mới, một hành tinh rất xa, đến hơn nghìn năm ánh sáng nhưng rất giống với trái đất loài người đang ở.

(ii) Hồ Chí Bửu:

THỊ NGÂN NGHE CHỈ …

Thì thôi – ván đã đóng thuyền
Thân ta giờ đã như kiềng đeo chân
Dữ chi mà dữ hơn lân
Tối ngày trẫm phải trần thân với nàng
Đẹp chi mà cứ làm tàng
Có ngày trẫm sẽ đày nàng lãnh cung
Bãi triều..

THỊ NGÂN TIẾP CHỈ..

Phụng thiên thừa vận:
Xét rằng cái tội hay ghen
Mà ta đã cố nhiều phen giải bày
Ta là hoàng đế không ngai
Giang hồ phong ấn cho oai vậy mà
Sao nàng lại cứ la cà
Sáng vô Facebook chiều rà Zalo
Hay nàng muốn kiếm thêm bồ
Để cho trẫm phải ngóng chờ mỗi đêm
Truyền cho Thái giám canh thêm
Thị Ngân rên rỉ nửa đêm. Bỏ tù..

Khâm thử.

Share this post