Mùa Dịch, Có Những Người Già Lặng Lẽ – Phạm Nga

Mùa Dịch, Có Những Người Già Lặng Lẽ – Phạm Nga

Nếu Có Nhìn Sâu Vào Những Đôi Mắt Già Nua Mới Thấy Đó Là Những Đôi Mắt Trống Rỗng,

Không Vui Cũng Không Buồn, Cũng Chẳng Trầm Ngâm, Tư Lự

1.

Khi dịch bắt đầu xuất hiện một vài ca rải rác trong thị trấn, ngoài đường vắng dần người qua lại, rõ ràng người dân ai nấy đều tiết giảm các chuyện đi đứng, tụ họp, thăm viếng nhau… Nhưng nhóm bạn già – tạm gọi “đám ông Mười” – vẫn lai rai tụ tập, gặp gỡ nhau.

Ngụ cùng một ngõ hẻm, qua lại dễ dàng bởi nhà gần gần nhau, không hiểu sao cái nhóm bạn già 4-5 ông, tuổi đều đã trên 70 này chỉ thích tụ nhà ông Mười, cứ như đây là trụ sở sinh hoạt một “câu lạc bộ phụ lão” thu nhỏ và tự phát mà ông Mười được tiếng hiền lành, tử tế kia coi như chủ nhiệm CLB. Kế đó, phải kể ngay đến hội viên nhiệt tình nhất: bác Sáu Sơn, ở đối diện nhà ông Mười. Hai người bạn rất thân này còn là anh em cột chèo do vợ ông Mười là em ruột vợ bác Sáu. Ngày nào bác Sáu cũng qua nhà ông Mười – có thể đến 2 – 3 bận, nhất là rất hiếm khi bỏ qua cữ cà phê đầu ngày với ông bạn cặp bài trùng.

Bác Sáu kể chắc do già rồi nên khó ngủ nhưng có lẽ trong thâm tâm, hằng đêm bác thao thức còn là vì mong sớm đến giấc 2 giờ, là giờ cái quán cà phê ở đầu hẻm rục rịch mở cửa. Khi ấy, dù trời còn tối đen, cả khi có mưa lâm râm hay mưa nhỏ, khách mở hàng cho cái quán cà phê cóc này bao giờ cũng là cặp bạn già.

2.

Tại nhà ông Mười, dù khi võn vẹn chỉ có ông với bác Sáu hay khi đông đủ 4-5 người, đám bạn già chỉ quanh quẩn bên chiếc bàn nhỏ kê ở gian trước. Khách đến cứ tự động ngồi vào cái ghế mà có lẽ mỗi người đã ngầm chọn trước cho mình – lý do là ghế đó sát vách, tha hồ dựa lưng hay vị trí dễ nhìn ra đường chẳng hạn; còn chủ nhà luôn vắn tắt “Ngồi chơi!” rồi khẽ khàng châm thêm nước nóng bình thủy vào bình trà hay pha trà mới.

Điều đáng nói là đám người già này rất lặng lẽ. Ngay lúc chạm mặt nhau tại miếng sân trước nhà, khách cùng chủ nhà rất hiếm khi lên tiếng, ai nấy chỉ nhướng mắt một cái hay gật đầu thật nhẹ, coi như chào nhau cho đủ phép lịch sự. Và sau đó, khi bắt đẩu buổi uống trà, họ chuyện trò bình thường, như trao đổi nhau vài tin tức, hỏi han nhau tình trạng sức khỏe, nhắc chuyện xưa hay chuyện hồi mới tiếp thu… Gần đây, trong câu chuyện tất nhiên có đề tài mới và nóng – dịch Covid19. Nhưng ngày qua ngày, chuyện thời sự này giảm dần tính nóng bỏng. Các ông nhắc đến dịch Covid với giọng bình thãn đều đều, không có gì sôi nổi hay bức bối, y như nói về hai đề tài thông thường nhất mà các ông hay nói, đó là chuyện bệnh tật người già và chuyện đánh đề.

Thật tiếc, dù là về bất cứ đề tài còn ‘nóng’ hay đã ‘nguội’ nào đi nữa, mảng sinh hoạt có tiếng nói và cử động ấy rất sớm tự lụn tàn hay bị bỏ ngang. Nói qua nói lại một đỗi, ai nấy như bị hụt hơi hay bí đề tài hoặc thậm chí chợt làm biếng nói mà dần hồi nối tiếp nhau tắt đài. Nhiều khi, một người còn ráng kể cho xong đoạn chót của câu chuyện cũ hay đặt một câu hỏi bâng quơ, nhưng cũng nín luôn khi nhận ra người nghe một mực dửng dưng, không ừ hử gì. Ai nấy ngồi thừ ra, im bặt – nhưng nếu có nhìn vào những đôi mắt già nua mới thấy đó là những đôi mắt trống rỗng, không vui cũng không buồn, cũng không có vẻ gì trầm ngâm, tư lự. Những người già cùng làm thinh rất lâu, hết ngó người đối diện lại ngó ra đường, có khi cả 20 phút hay nửa tiếng đồng hồ trôi qua mới nghe ông nào đó kiếm ra chuyện gì đó mà lên tiếng. Cũng có khi chủ nhà bỏ mặc khách một mình, ra nhà sau làm việc gì đó, đến khi trở lên thấy nhà trước trống trơn, khách đã thầm lặng ra về tự lúc nào, chẳng một lời hô lớn để kiếu từ; còn nếu khách chưa về, màn kịch câm-phân-nửa lại diễn tiếp…

Chỉ có giọng người nói vang vọng, rổn rảng phát lên khi có ông Hai xuất hiện. Mới bước vào sân trước, ông già này đã lớn tiếng gọi: “Mười Tỏn ơi!” hay “Mười Tỏn! Có nhà hôn?”. Ông Hai còn được lối xóm gọi là “ông Hai sư ông” bởi đang tu ở một cái am lụp xụp trong xóm và thường xuyên mặc đồ nâu sòng. Cái am nhỏ như cái chòi chăn vịt ngoài đồng do ông tự cất khi ông bỏ Sài Gòn, bỏ gia đình xuống đất này tu hành. Chỉ già hơn ông Mười 1-2 tuổi nhưng ông Hai tỏ ra rất đàn anh, thản nhiên gọi trỏng cái tên cúng cơm “Toản” của bạn thành “Tỏn” . Nghe nói hai người đã kết nghĩa anh em sanh tử có nhau từ thời trẻ trai đi lính Cao Đài. Giờ thì hai bạn già ngồi im lặng uống trà, nhưng chỉ chốc lát ông Hai lại rổn rảng lên tiếng về một để tài tuyệt đối quen thuộc. “Sao, bữa nay đánh con mấy đây?”, hay “Sao, mày có thấy con gì hôn Mười? Con mấy hả?”.

3.

Xóm hẻm ngoại ô ở đây đã buồn bã, xơ xác, ai tiếp cận một nhúm nhỏ dân cư trong xóm là những người già này lại càng cảm thấy buồn hơn, chán hơn. Người già sống lặng lẽ, một mực kín tiếng suốt từ trong nhà mình cho đến nhà bạn bè. Cái cảnh rất ám tối, buồn nãn cứ lập đi lập lại mỗi buổi chiều muộn là người già ngồi đối diện nhau, cùng im lặng cả buổi bên chén trà đã nguội ngắt. Bầu khí lặng thầm luôn chế ngự hết những nơi họ có mặt, kể cả lúc có ông nào đó trúng số đề. Lý do là được trúng số nhưng số tiền thưởng không đáng kể, bởi hầu hết người già ở đây đều nghèo, đều sống nhờ con cái, ông nào muốn chơi đề chú đỉnh kiếm hên cũng chỉ có thể đánh rất nhỏ với chỉ vài ngàn đồng tiền xác, có trúng cũng chẳng đáng bao nhiêu.

Kể ra, kiểu sinh hoạt trầm lặng, ù lì của đám bạn già cũng có xao động chút đỉnh vào lần ông Mười trúng số, so với các bạn già từng trúng thì hơi nhiều một chút, đó là trúng được 1 triệu 4 từ 20 ngàn đồng tiền xác đánh ‘con bướm’ tức con số 41. Ông Mười lặng lẽ đi lãnh thưởng, chỗ ghi đề/trả thưởng là một địa chỉ khuất lánh trong hẻm ở xóm trên, từ lâu vẫn thầm lén hoạt động đều đặn, bất kể mùa mưa hay mùa nắng, mùa tết hay mùa dịch…Vốn tử tế, ông Mười đãi đám bạn già cà phê, cả ăn sáng. Khi đám người già lủ khủ kéo nhau từ xóm nhà thả bộ ra chợ – chừng 1 cây số, có lẽ hiếm có khách đi đường nào thèm để ý, để mắt đến cảnh tượng mấy ông già hom hem, nhợt nhạt đến phát nản này. Ra đến chợ, mấy ông vào một quán cà phê cũng kha khá – tức không thuộc hạng quán cóc xập xệ nằm trong hẻm nhưng quán cũng đang ế khách bởi phải chịu chung tình trạng dịch vừa bùng phát tại thị trấn. Tuy vậy, sự việc có vẻ sáng sủa hơn, cái quán đang hiu quạnh chợt có sinh khí hơn một chút khi ông Mười vui vẻ nói, đại khái bữa nay ông đãi nên anh em khỏi kêu cái cà phê đen rẻ mạt, tiện tặn như mọi bữa, cứ thoải mái kêu cà phê sữa, cà phê sữa đá ly lớn, hay bất cứ thứ uống nào khoái nhất … Sau chầu cà phê, cả đám đến một quán hủ-tíu-mì-hoành-thánh cũng ở gần chợ. Lại ông Hai “sư ông”, tuy mặc nâu sòng nhưng chẳng bao giờ vướng víu gì chuyện ăn chay lạt, đã gọi một tô lớn đặc biệt vừa xí quách vừa hoành thánh, rổn rãng nói: “Mười Tỏn à, kiếm một xị ngon thiệt ngon đi! Tao kêu mồi tô xí quách hoành thánh rồi nè! Từ hồi Tết tới giờ tụi già mình có nhậu lần nào đâu? Còn bữa nay Mười mày trúng ‘con bướm’, vui mà! ”.

Đã kết thúc cái gọi là bữa-đãi-trúng-đề giữa mùa dịch, mấy người già lại lủ khủ thả bộ về xóm nhà. Họ lại im lặng lê chân, bước chậm trên vỉa hè. Vừa rồi, một xị rượu đế ngẫu hứng ở cái quán hủ tíu ế khách kia đã chợt gợn lên một đỗi chộn rộn, ồn ào cho đám người già thì một chút không khí tạm gọi là sống động ấy đã bị các ông lặng lẽ bỏ lại quán…

Share this post