Nét Sổ Ngang Hung Bạo – Huy Tưởng

Nét Sổ Ngang Hung Bạo – Huy Tưởng

30 Tháng Tư

Đó là thời điểm không thể nào phai mờ trong tâm trí của những người Việt Nam, mà còn là vết thương hay phát súng kết liễu rạng ngời, tùy theo cách nhìn của mỗi phía, thắng hay bại cuộc. Nói khác hơn, đó là bước thay biến lớn lao trong dòng sử lịch của đất nước, trong đó có lịch sử của học thuật, của văn chương…

30 Tháng Tư, đó là nét sổ ngang hung bạo và cay nghiệt. Áp dồn nhau sát chân tường, sát biển cả! Hai bên đều có những “cố gắng” gượng gạo để tạm khống chế và sinh tồn, để cùng cố bước qua lằn ranh vô hình kỳ thị và ngờ vực. Nhưng vô vọng: bước hoài vẫn không sao vượt qua!

Sự bùng vỡ (thầm lặng) tất yếu phải có để giữ gìn và tự vệ, để ngăn chặn sự bức hại nham nhở do thời khí chính trị gây nên. Những trận gió mùa có pha trộn chất độc hại cũ càng, ngày một nhợt nhạt mất hiệu quả, thì trái lại, sự trong lành dần dà được hiển lộ, được phục sinh dù chưa tươi tắn, vẫn còn chút ủ ê vì năm tháng nhiều bụi bặm, nhiều phế nhiễu khó lòng tránh khỏi.

Nêu câu hỏi về những khác biệt và ranh giới giữa trước và sau 1975, hoặc trong và ngoài nước trước thời và không gian, thật ra đây chỉ là vấn đề giả vấn đề, bởi chưng đã có quá nhiều tổng hợp, phân tách và so sánh trước nay rồi, chúng ta không phải nhọc công trở lại.

Biến cố cũng chỉ là biến cố đối với những bản lĩnh vững vàng, kiên định. Ràng buộc, có chăng cũng chỉ là những ràng buộc cá nhân, ước thuận theo nhu cầu riêng tư hẹp hòi, theo từng thời điểm cần thiết (…) Nhưng những phong trào, những tuyên hô cũng khiến cho đôi bên thăm dò, học hỏi và nghe ngóng từ nhiều phía, ra công tìm hiểu và thử nghiệm. Công việc này gây khó khăn cho những cây bút trong nước. Trước, họ phải vận dụng hai tai để nghe ngóng từ nhiều phía; sau, họ vấp phải những thói quen đã được lập trình đến nỗi thấm thậm vào trong máu tự bao đời, cảm xúc về cái mới khiến họ bỡ ngỡ, lạ lẫm, dẫn đến những bất cập thô tháp hoăc bùng vỡ giả tạo, tình trạng của 2 thập niên sau biến cố. Người viết ở ngoài nước thì, vướng bận với hội nhập, với mưu sinh. Khi trở về với văn chương, dồn nhiều thời gian cho sao lục, phục hồi những giá trị cũ tản mạn, rải rác khắp nơi vô cùng cam khó, sáng tác thì hầu như chỉ đọng lại với đề tài thuyền nhân và khóc thương cho quá khứ oai hùng đằng đẵng hờn oán, dành một quãng dài cho quá khứ. Song hành theo đó, lác đác những tác giả sinh sau “biến cố” cất tiếng nói lấp lánh như tiếng hạc trong trăng. Chúng ta ngước lên và khấp khởi niềm vui thoáng chốc !

Trong nước, cũng có những vùng vẫy đáng trân trọng, những cá nhân hay tập thể có bản lĩnh, tự tin và can đảm rất đáng được chờ đợi. Nhưng ồn ào là những tác phẩm dễ dãi được viết bởi những người rất trẻ, nhanh và nghiêng về giải trí, nhẹ hẫng. Tôi thật không thích thú gì trong việc tóm tắt tình hình sách vở, như thế.

Giữa một gò đống lợn cợn đầy hồ nghi như thế, dòng chữ của câu hỏi: “Biến cố này đã(và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam?”Tôi e rằng to tát quá, và khiên cưỡng sao ấy, hoăc tôi tay không đủ rộng để ôm hết vào cho trả lời thích đáng (?).

Nhìn lại mình, tôi tự cảm thấy thật sự bất lực, đôi khi hèn yếu, nên đó cũng là một trong nguyên do khiến tôi bỏ viết mấy mươi năm, và có ý định từ biệt cõi văn chương. Tôi thấy mình, và cả Thơ Ca quá yếu ớt, thiếu trọng lượng trước một thời thế kiềm hãm đầy ách tắc, tai ương.

Tôi thà cam phận sống lặng lẽ mà sạch sẽ, vẫn hơn.

Và, làm sao trả lời cho thỏa câu hỏi “NẾU…” của Bạn ?

Đời sống, rồi lịch sử luôn cho thấy, từng trang sử lịch của mỗi thời đại, theo đó, sẽ sản sinh ra những nghệ sĩ, những nhà học thuật, những nhà Thơ… của chính thời đại ấy, cất tiếng nói và trượt trên dòng chảy cùng trào lưu tiến hóa phía trước…

Văn học miền Nam Việt Nam chỉ thực sự khởi động từ những năm của thập niên 60. Và chỉ 15 năm ngắn ngủi thôi, đã đem về một gia tài đáng kể, trong khi phải lầm lụi xây dựng, phải chinh chiến liên hồi.

Chúng ta hôm nay, có đến 40 năm, bốn mươi năm… hoang vắng, nghèo nàn và gỉ sét như những chiếc loa phường cũ kỹ mưa nắng dãi dầu!

Tiếp nối bốn mươi năm “hòa bình” như thế, tôi thực khó hình dung được những bước đi vạm vỡ mà vững chắc có nền tảng của lớp lớp những nhà học thuật miền Nam, vừa thu nhiếp vừa hòa nhập, sáng tạo với thế giới…

Còn về tôi ư?

Bốn mươi năm trước khóc hết nước mắt cho bao người thân bỏ xác trên biển cả!

Bây giờ, Bốn mươi năm sau, khóc vì cá, vì chim, vì biển chết theo!

Và cái gì sẽ chết nữa?

Chắc chắn “NẾU…”, thay vì những bài Thơ đẹp, sẽ chẳng phải viết những dòng đầy nước mắt, thắt lòng cho đất nước, cho đồng bào, cho… như vừa mới:

Tháng Tư!

Tháng Tư rơi như nước mắt

Tháng Tư đọng khô khuôn mặt điệu-buồn-phương-nam

Chúng tôi sẽ lớn lên

Chúng tôi sẽ già cỗi

Chúng tôi chết mất tăm tro bụi

Chúng tôi tan hình trên cõi thế quạnh hiu…

Nhưng điệu buồn và nước mắt tình yêu

Còn lăn và còn lăn mãi

Và vết thương thì lớn dần. lớn dần theo sử lịch

Lớn dần theo ngữ điệu rồng tiên

Vết thương cất cao lời tống tiễn

Một cơ đồ thống thiết gọi nhau đi…!

Huy Tưởng

Share this post