Nguyễn Tất Nhiên, Nhà Thơ Biểu Tượng? – Nguyên Bảo Hưng

(Viết để tưởng niệm nhà thơ bất hạnh quá cố)

Tôi không hề quen biết Nguyễn Tất Nhiên và cũng chẳng một lần được tiếp xúc với anh. Lần đầu tôi được biết đến tên anh là khi quanh tôi bỗng vang vang một số câu ca chẳng mấy chốc bỗng trở nên quen thuộc: “Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa… ” hoặc “Thà như giọt mưa vỡ trên tương đá!…, Có còn hơn không, có còn hơn không… “. Đó là mấy câu thơ phổ nhạc, lời lẽ dung dị nhưng hình ảnh độc đáo, vần điệu tự nhiên lôi cuốn, dễ thấm sâu tâm thức người nghe. Hồi đó, đang mang tâm sự buồn vì mới phải khoác bộ đồ lính và bị chôn chân tại một nơi đèo heo hút gió, những lúc buồn tình tôi hay buột miệng nhâm nhi mấy câu thi nhạc này. Có lúc tôi còn nghịch ngợm đổi câu: “Ta chạy vòng tròn, ta chạy mòn chân” ra thành: “Ta chạy vòng tròn, ta chạy vòng quanh” rồi khoái chí cười thầm tự nhủ: “Đúng là thơ với thẩn, đúng là thẩn với thơ. Cái anh chàng Nguyễn Tất Nhiên quả khéo chọn cho mình cái tên tiền định. Khi không được ông Phạm Duy nổi hứng phổ nhạc cho một vài bài thơ, thế là bỗng dưng đâm nổi tiếng”.

Sự liên hệ giữa tôi với Nguyễn Tất Nhiên chỉ có vậy, không quá giới hạn mấy câu thi nhạc do quen miệng vẫn thường nghêu ngao hát hỏng. Bẵng đi một thời gian cho mãi tới cuối năm 1992, tôi bỗng nghe tin anh mất và được người bạn gửi cho bản sao chụp một vài bài báo nói về cái chết của anh. Nhờ đó tôi mới biết anh đã đi tìm cái chết bằng tự vẫn trong chiếc Toyota cũ kỹ với bộ quần áo nhầu nát, râu tóc lởm chởm. Bên cạnh các bản tin, có khi tôi được đọc đôi ba lời của những người thân quen với anh, nói về anh, nhắc nhở một vài kỷ niệm đã sống với anh, ái ngại cho thân phận anh hoặc bày tỏ lòng trắc ẩn trước cái chết thân tàn ma dại của anh. Nhưng, cát bụi rồi cũng phải trở về với cát bụi, chẳng mấy chốc không mấy ai còn buồn nhắc nhở tới anh thêm nữa. Vả lại, xét cho cùng, với những người còn sống trên thế gian này, có biết bao điiều ăn khách hơn để mà nói. Cái vụ cô ca sĩ sồn sồn nổi danh vừa bắt thêm được một kép nhí này. Cái vụ án sex giữa cô thư ký với nhà chính khách khả kinh lúc nào cũng lên mặt đạo đức răn đời này. Rồi lại còn vụ anh chàng khôi ngô tuấn tú, ăn nói thật nhỏ nhẹ dễ thương, ấy vậy mà giết người hàng loạt không gớm tay ; giết xong còn đem xác ra cưa như cưa gỗ không mảy may xúc động… Những vụ việc đó đem khai thác có phải ăn khách biết mấy không. Công đâu tốn giấy mực để nói nhiều về một anh chàng nằm chết rũ như dân bụi đời chính cống trong một chiếc xe tồi tàn. Cho dù người chết có là một nhà thơ từng được người đời biết đến. Muốn có thế đứng trong cái xã hội chạy theo danh vọng tiền bạc này cần phải biết mần ăn chút đỉnh. Văn chương, nghệ thuật gì cũng cần có Marketing, phải biết làm Show, phải biết biến nó thành Business. Thời buổi này mà vẫn láng cháng thích kể chuyện tình kiểu chú Cuội mơ tưởng Hằng Nga thì chỉ có nước đi chấm công thất nghiệp. Riêng tôi, tin anh chết có làm tôi phần nào xúc động. Giây lát, tôi liên tưởng tới cái chêt của nhà văn Ernest Hermingway. Nhưng rồi, cũng như mọi người, tôi lại lăn xả vào cuộc sống bon chen để kiếm miếng ăn. Và hình ảnh anh, cuối cùng, cũng bị xóa nhòa trong ký ức.

Mãi tới gần đây, bất ngờ tôi nhận được thư của một cô học trò cũ đã từ lâu không có liên lạc. Trong thư cô cho biết đã quyết định rời hẳn Sài Gòn để về sông ở làng quê thuộc một vùng Tiền giang hẻo lánh, nơi tôi được gửi tới dạy học khi mới ra trường. Trong thư cô viêt: “Thầy ơi ! Sao thầy không chịu về Việt Nam để biết đến đời sống Sài Gòn ngày nay ra sao. Ít ra thầy cũng phải thực hiện một chuyến di để thăm dân cho biết sự tình chứ. Có về thầy mới biết được Sài Gòn trong thời kỳ mở cửa bước sang kinh tế thị trường đã biết đua đòi thói sống văn minh tiến bộ như thê nào. Có về thầy mới thấy được là Sài Gòn nay đang tái diễn lối sống như thời Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam trước đây, nhưng ở qui mô còn lớn hơn gấp bội. Cũng cảnh những tòa cao tầng sang trọng ngày được dựng thêm, nhưng càng để lộ bộ mặt vênh váo xấc xược bên cạnh nhưng khu nhà ổ chuột càng như chìm ngập giữa những đống rác chất cao như núi. Phố phường tấp nập người, xe như mắc cửi. Phòng trà, quán ăn mọc lên như nấm. Ai nấy đều hối hả nhớn nhác lo chạy miếng ăn hay giành dật áp phe để được ăn chơi thả dàn. Và bên trên tất cả vẫn là thần đô la ngự trị. Có điều khác là Sài Gòn trước đây em còn nghe được mạch sống ưu tư, em còn được thấy những con người, em còn bắt gặp những tâm hồn. Dẫu sao thì bên cạnh những bộ mặt hoạt đầu chính trị, những tướng tá tham nhũng bất tài, những gian thương đầu cơ bất chính, Sài Gòn thời đó còn nặng chĩu một bàu không khí quê hương. Sài Gòn thời đó còn có những cuộc biểu tình xuống đường, còn có những đêm thao thức không ngủ. Và trong cái không khí đấu tranh sôi sục ấy, còn có những con người khắc khoải một nỗi ám ảnh về quê hương đất nước. Ngày nay giữa một Sài Gòn thanh bình trong lòng đất nước đã độc lập thống nhất, vậy mà em có cảm giác như người người đều hướng ngoại và chỉ thích trọng ngoại, dường như chẳng còn mấy ai buồn nhớ rằng hãy còn một quê hương đang chờ được vực dậy và bồi đắp cả. Hay đúng ra hai chữ quê hương, nếu còn mang một ý nghĩa nào dó, thì nó chỉ đọng lại trong niềm chua xót của những con người, dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến, đã từng chấp nhận xả thân cho lý tưởng bảo vệ quê hương, nay đang bị hắt hủi gạt sang bên lề cuộc sống. Thầy ơi, thầy hãy về đi. Thầy phải về thăm một lần để hiểu dùm em tại sao em không còn tha thiết với Sài Gòn nữa. Em hết muốn ở lại để khỏi phải chứng kiến cảnh những người lính cộng hòa thời trước, nay phải lê lết tấm thân tật nguyền trên chiếc nạng gỗ để kiếm miếng ăn. Họ chỉ biết tìm lẽ sống trong niềm hãnh diện đã dám ở lại chiến đấu tới cùng để sống chêt vì niềm tin, chứ không hốt hoảng bỏ trốn như đám chỉ huy bất tài hèn nhát. Em cũng không muốn ở lại để phải chia sẻ niềm chua xót với nhưng con người từng được tuyên dương dũng sĩ diệt Mỹ cứu nước. Vậy mà nay, cũng vì một dạ sắt son với lý tưởng đấu tranh, họ đành chịu ngán ngẫm trước cảnh các đồng chí đã từng chung lưng đấu cật, nay nhờ có chức vụ và biết tham ô móc ngoặc, đã thản nhiên quay lưng với lý tưởng để được thỏa thuê thụ hưởng với tài sản và quyền hành trong cương vị một đẳng cấp mới. Thầy ơi, Sài Gòn ngày nay đã trở thành xa hoa tráng lệ hơn khi xưa nhiều ! Nhưng cảng phô bày cảnh xa hoa tráng lệ bao nhiêu, em càng thấy cuộc sống nó lạc điệu bấy nhiêu. Bởi vậy em chán sống ở Sài Gòn lắm. Phải nói là em sợ sống ở Sài Gòn mới đúng. Em không muốn ở lại để phải chứng kiến những cảnh Sài Gòn đổi mới trong giai đoạn mở cửa kinh tế. Em ngại rằng tiền bạc đầu tư được đổ thêm vào, nếu có giúp cho tăng trưởng kinh tế, thì tình trạng này cũng chẳng đem lại cải thiện đồng đều cho toàn xã hội. Sự tăng trưởng, nếu có, rút cục chỉ giúp cho việc huênh hoang tạo thành tích nâng cao được tỉ số đô la về lợi tích bình quân tính theo đầu người ; nhưng thực chất có thê nó còn khoét sâu hố ngăn cách giàu nghèo và đảy đất nước lún thêm trong bãi lầy chậm tiến. Thầy ơi, trước đây khi phong trào đấu tranh sôi sục của học sinh, sinh viên dâng cao, trong làn không khí sặc sụa hơi cay và trước dùi cui thô bạo của cảnh sát dã chiến em chẳng biết sợ là gì. Vậy mà sao bây giờ em lại thấy sợ nhiều điều quá, thầy ơi ! Em sợ cảnh đô la hàng hóa ngày càng tràn ngập thành phố sẽ làm cho con người sài gòn ngày càng bị cướp đoạt linh hồn. Em cũng sợ mỗi lần phải gặp bộ mặt vênh váo trên thân hình béo ngậy của những kẻ từng bị coi là quân bán nước bám đít giặc, nay nhờ có mớ đô la vác về lại được trọng hậu tiếp đón như những bậc chính nhân quân tử : bởi vì những cảnh ngộ đó bắt em cứ phải nhớ lại rằng cuộc đời thực chất bao giờ cũng vô luân và tàn nhẫn lắm. Em càng sợ hơn nữa khi có những lúc em tưởng như không còn nhận ra được ngay chính em. Trước đây, thầy cũng biết, em sôi nổi nhiệt tình là thê. Vậy mà ngày nay, mỗi lần nghe nhắc đến nào là độc lập tự do, nào là công bằng xã hội, nào là dân chủ dân quyền, em chỉ nghe lòng mình lạnh giá, tưởng như còn thêm muốn đóng băng. Bởi thế nên em sợ, em sợ, em sợ lắm thầy ơi ! Bởi thế em chi muốn sống xa, xa thiệt xa, sống xa Sài Gòn… “. Cuối thư cô không quên hỏi tôi có còn giữ được cuộn băng nào mang những tình khúc Nguyễn Tất Nhiên hay không ? Cô còn nhắc đến bản nhạc ” Thà như giọt mưa… ” mà cô rất ưa thích và cũng là bản tôi được nghe cô hát trong một buổi sinh hoạt văn nghệ của nhà trường. Cô cho biết cô đã khóc nhiều khi nghe tin Nguyễn Tất Nhiên mất. Cô khóc vì ý thơ anh đã đem lại cho cô nhiều cảm xúc đẹp. Bởi vậy cô đã khóc cái chết của nhà thơ như khóc cho chính cô, khóc để tiễn đưa một thiên đường đã mất. Nay cô mong được nghe lại những bản nhạc mang ý thơ Nguyên Tất Nhiên, chắc vì muốn được trở về với bàu trời thơ nay đã bị đẩy lui vào dĩ vãng, cái bàu trời thơ đã đùm bọc cô bằng những kỷ niệm ấm áp của thời con gái khi lòng mình chớm biết xôn xao. Thư chỉ có bấy nhiêu hàng chân tình giản dị : nhưng cảm xúc lại tràn đầy, ý tưởng thật súc tích.

Bức thư vẫn nằm trong tay, tôi chưa dứt được nỗi bàng hoàng xúc động. Trước những tâm tình bộc lộ trong thư và trước niềm mơ ước của cô được trở về với thê giới nhỏ nhoi của mình, tôi không khỏi liên tưởng tới thái độ ơ hờ của tôi khi nghe tin Nguyễn Tất Nhiên mất. Tôi cho rằng do môi trường sống khác biệt, những kẻ nay đã làm quen với nếp sống văn minh máy móc tây phương khó mà còn biết rung cảm với ý thơ Nguyễn Tât Nhiên như nhưng con người còn ở lại Việt Nam. Chỉ những con người vẫn sống bám rễ trên mảnh đất còn đói khổ ấy, những con người đã lớn lên trong đau thương đầy máu và nước mắt, và nay vẫn tiếp tục phải đi tìm ý nghĩa cuộc đời trong chất đắng men cay của kiếp người : chỉ có họ thôi mới cảm nhận được hết cái đẹp của ý thơ Nguyễn Tất Nhiên trong trạng thái nguyên thủy của nó.

Hình ảnh Nguyễn Tất Nhiên nằm chết trong chiếc Toyota cũ kỹ bỗng lại hiện về, mỗi lúc một rõ nét, như một tra vấn, như một ám ảnh. Tôi bỗng đâm thắc mắc. Tôi bỗng trở nên suy tư. Tôi bỗng ham muốn tìm hiểu sâu xa về anh, về con người anh, về quyết định ra đi của anh. Cố lục lọi trong đám băng nhạc cũ bị bỏ só từ lâu, tôi mừng rỡ khi tìm ra cuộn băng ” Những năm tình lận đận ” mà cô ngỏ ý muốn tôi sang cho một cát sét. Tôi dành cả buổi tối để nghe cuộn băng, đặc biệt nghe đi nghe lại bản ” Thà như giọt mưa… ” qua tiếng hát Lệ Thu (1). Giọng người hát nay có bị chai đi ít nhiều nhưng tài năng diễn xuất vẫn điêu luyện như thuở nào.

Âm thanh từ máy hát đã dứt từ lâu… Trong bóng đêm bao trùm sự sống lắng đọng, tôi nằm im chờ giấc ngủ, tai như còn nghe vang vang giọng hát điệu nhạc. Những lời ca ” Thà như giọt mưa vỗ trên tượng đá… Có còn hơn không!” vẫn vang vang trở đi trở lại, nhịp nhàng thấm dần tâm thức tôi như những giọt nước còn sót lại của cơn mưa đầu mùa, từ mái tranh vẫn nhỏ đều, nhỏ hiền lành, nhỏ kiên trì, nhỏ thánh thót, nhỏ như muốn thấm sâu vào lòng đất nứt nẻ khô cằn, để từ đó làm nẩy lên một mầm mới xanh tươi. Thế rồi tôi bỗng nghe toàn thân tỏa lan một cảm giác trong sáng êm dịu, tươi mát như lần đầu tiên tôi được tiếp xúc thế giới thơ anh. Thì ra không phải nhờ được Phạm Duy phổ nhạc mà thơ Nguyễn Tất Nhiên được người đời biết đến. Chính vì thơ anh chan chứa hồn thơ nên mới gợi hứng cho Phạm Duy muốn đem phổ nhạc. Riêng tôi, càng lắng nghe bản ” Thà như giọt mưa… ” tôi càng tìm thấy nơi bản tình ca một kỹ năng diện đạt điêu luyện. Điêu luyện đến mức có thể đem so sánh với những bài thơ thành tựu nhất theo đòi hỏi của Thi phái biểu tượng.(2)

Vào giữa thế kỷ thứ 19 xuất hiện tại Âu châu một trào lưu tư tưởng dẫn đến một hệ thẩm mỹ mới mở đường cho một trường phái sáng tác mới gọi là trường phái biểu tượng hay trường phái tượng trưng (école symboliste). Ra đời vào lúc chủ nghĩa tư bản phôi thai đã bước sang thời kỳ phát triển quá độ, trường phái biểu tượng xuất hiện như một bừng tỉnh của đời sống tâm linh trước xu hướng đương thời ồ ạt chạy theo tiện nghi vật chất. Trên bình diện văn học, nó là phản ứng chống lại trào lưu thời đại bộc lộ óc tôn sùng khoa học thái quá. Vào lúc Ernest Renan với cuốn ” L’avenir de la science, 1890 ” đặt niềm tin vào khoa học có thể giải quyết toàn bộ vấn đề tri thức cho loài người và nhũng Emile Zola (3), những Paul Bourget(4) muốn áp dụng các phương pháp quan sát và lý luận khoa học vào việc nghiên cứu các hiện tượng đời sống xã hội và con người trong văn học, nhà thơ Charles Baudelaire và các đồng môn của ông lại muốn ca ngợi sự hiện hữu của một thế giới siêu việt huyền diệu, huyền bí bên trên cái thế giới của tồn tại hữu hình. Cái thê giới siêu việt ấy chính là cái thế giới của đời sống tâm linh mà ta chỉ có thể gợi lên theo cảm nhận của trực giác chứ không thê mô tả theo ghi nhận của giác quan. Và chỉ với thi ca nay được quan niệm như một phương pháp biểu thị mới, ta mới có khả năng nói lên được tính huyền diệu, huyền bí của thế giới siêu việt ấy. Do đó Baudelaire đã đè xuất một quan niệm mới về thi ca hoàn toàn khác biệt với quan niệm thi ca truyèn thống, đồng thời cũng đánh dấu một cuộc ly dị trong lãnh vực ngôn ngữ giữa thi ca và văn xuôi. Quan niệm mới về thi ca này chính là chủ trương của thi phái biểu tượng hay thi phái tượng trưng (poésie symboliste) (5).

Theu Baudelaire cùng các đồng môn của ông, thơ không cùng chung ngôn ngữ với văn xuôi vì thế giới thi ca và thế giới của văn xuôi là hai thế giới biệt lập. Thế giới thi ca là thế giới siêu việt (transcendant), thế giới ưu tú thuộc về đời sống tâm linh, vượt hẳn lên cái thế giới thực dụng dung tục của giác quan. Do đó thơ phải là một loại ngôn ngữ đặc biệt mang chức năng cao cả nói lên đuộc tính chất siêu việt của đời sống tâm linh. Bản chất khác với văn xuôi, nó không thể -theo quan niệm cổ truyền ” poesis ut pictural ” (thơ là tô họa)- là cách phát biểu hoa mỹ hơn, có vần điệu hơn, để cũng chỉ nói lên những gì văn xuôi có thể diễn đạt được.

Văn xuôi là ngôn ngữ của thực dụng, ngôn ngữ của kinh nghiệm thực tiễn để nói với lý trí, nói với giác quan. Nó chỉ nêu ra các sự kiện, gây cho ta một ý niệm về các sự kiện hoặc dựng lên trước mắt ta hình tượng một sự vật đã được ghi nhận theo giác quan. Chỉ danh, mô tả hoặc giải thích một sự vật (cái nhà) hay một ý niệm (ái tình) , dễ làm ta liên tưởng tới tới hình ảnh tới quan niệm ta sẵn có về sự vật, về ý niệm đó. Và do trí óc, trí tưởng tượng đã được thỏa mãn, ta không muốn cố gắng đi sâu xa hơn để vượt qua cái vỏ bên ngoài, đi sâu đến cốt lõi, đi tận vào bản thể của từng sự vật, từng sự kiện được nêu ra. Đối với thế giới hữu hình đã vậy, văn xuôi lại càng bị giới hạn, nếu không muốn nói đôi khi còn bất lực, để nêu lên những trạng thái sống, những hình thức sinh hoạt của tâm linh. Khác với ý niệm hay hình tượng chỉ là phóng chiếu hay sao chụp của một thực tại bỗng trở nên cứng nhắc, mỗi trạng thái tâm linh đều là một thực thể cá biệt, đơn thuần, phong phú và sinh động. Nêu tên hoặc mô tả tức là đem lồng nó vào những khung sẵn có, giản lược nó vào những khuôn mẫu chung chung, làm nó trở nên nghèo nàn khô héo, giết chết tính đặc thù, tính sinh động của nó.

Để bổ xung cho khả năng hữu hạn của văn xuôi, Baudelaire chủ trương thi ca phải là một ngôn ngữ mới, một phương thức biểu thị mới, một cách tiếp cận mới hiện thực (une nouvelle approche de la réalité) để đảm nhiệm một chức năng mới : cho phép ta nói lên những gì mà ngôn từ hàng ngày không thể diễn đạt hết được. (Nhưng thơ cũng không vì thế phải là một cách nói hũ nút, nói tối tăm bí hiểm khiến không ai cảm nhận nổi). Muốn đạt được mục tiêu, thi ca phải chấm dứt ngay cuộc ăn nằm vụng trộm đã từ lâu trót lỡ với văn xuôi. Từ nay thi ca phải thay thế thói quen chỉ danh, mô tả hay kể lể của văn xuôi bằng phương thức ám chỉ, bằng dùng các biểu tượng để gợi ý. Nhờ vào các hình tượng, các biểu tượng để gây liên tưởng, nhờ biết tận dụng khả năng khêu gợi của thanh âm, của màu sắc tiềm ẩn nơi ngôn từ, thi ca sẽ lần lần dẫn dắt người đọc, người nghe hình dung được một cách sinh động, thậm chí cảm cảm thấy như sờ được (6) toàn bộ điều nhà thơ muốn nói lên. Đặc biệt trong công tác này, nhà thơ còn phải dành cho nhạc tính một địa vị ưu thế. Nhạc tính (la musicalité) không chỉ đơn thuần là nhạc điệu (la musique) được tạo thành bởi vần điệu (la rime) và tiết nhịp (le rythme) tức là sự phân bố hài hòa giữa các âm thanh trầm bổng và các điểm nhấn trong câu thơ, trong mạch thơ. Nhạc tính cũng có thể là một hình tượng hay một nhóm tù được sử dụng như nốt nhạc chủ trong một bản nhạc hay như câu đọc lâm râm làm lời niệm chú trong một bản kinh cầu. Nhưng dù dưới dạng thức nào, nhạc tính cũng phải giữ một vai trò chủ chốt vì nó là thành phần có khả năng mê hoặc và gợi cảm nhất. Nhờ nó thi ca sẽ có thêm quyền lực để ru ngủ lý trí, đánh thức dậy những cảm xúc, những ấn tượng còn bị giam cầm nơi tiêm thức, giải thoát chúng được tự do bay bổng, đưa tâm hồn ta đi vào cõi huyền diệu, cõi huyền bí của đời sống tâm linh. Đi vào cõi thơ.

Trên đây là tóm lược nội dung quan điểm về bản chất và chức năng của thơ theo mỹ quan biểu tượng. Chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn qua nghiên cứu kỹ năng bộc lộ chất thơ và ý thơ trong bản “Thà Như Giọt Mưa…. ” (7)
—————————————————————————
(1). Lệ Thu của Sài Gòn trong khoảng thập niên 1965-75.

(2). Bài viết này chỉ muốn nói lên sự giao cảm và đồng cảm của bản thân người viết với con người thơ, thế giới thơ Nguyễn Tất Nhiên : qua tiếp xúc với một bài thơ được phổ, người viết, bằng những cảm nghiệm riêng, đã nghe dội lên trong tâm thức những âm vang nào để, từ đó, dẫn đến một vài suy tư tản mạn liên quan đến nhiều lãnh vực trong cuộc sống.

(3). Emile Zola (1840-1902), nhà văn thuộc trường phái hiện thực (réaliste) nhưng theo khuynh hướng tự nhiên (naturaliste) với chủ trương mô tả tâm lý các nhân vật đều ít nhiều bị chi phối bởi tính di truyền và môi trường xã hội qua bộ trường thiên tiểu thuyết ” Les Rougon-Macquart .- Histoire naturelle et sociale d’une famille au XIXè siècle” (Giòng họ Rougon-Macquart – Lịch sử tự nhiên và xã hội của một gia đình ở thế kỷ 19). ” L’Assomoir(1877), Germinal(1885), La Bête humaine (1890), là một vài tên truyện được biết tiếng nhiều nhất trong bộ trường thiên gồm 20 tập này (1871-1893).
Không chỉ là nhà văn, E. Zola còn được biết tiếng nhờ bài báo “J’accuse” (Tôi Cáo Buôc) trên nhật báo “L’Aurore” (13-1-1898), qua đó ông tố cáo Bộ Tham Mưu Pháp đã ngụy tạo hồ sơ để vu oan đại úy làm gián điệp cho Đức chỉ vì ông này gốc Do Thái. Kết quả là vụ án được đem ra xét lại, Dreyfus được minh oanh và phục hồi chức tước tháng 12-1900.

(4). Paul Bourget (1840-1935), tác giả cuốn “Le Disciple ” (Đệ tử), một loại tiểu thuyết luận đề vừa là sự mô tả đồng thời cũng là một tố cáo việc áp dụng máy móc các lý thuyết khoa học vào đời sống tâm linh. ” Le Disciple ” (1889) là chuyện chàng thanh niên Robert Grilou, do óc sùng bái và muốn ứng dụng thuyết tâm lý tất định (le déteminisme psychologique) của ông thầy dậy triết là Adrien Sixte, nên đã tìm cách ve vãn tán tỉnh Charlotte con gái của gia chủ mướn anh tới dạy kèm. Hậu quả dẫn đến cái tự tử của Charlotte vì tưởng rằng đã bị Grilou lường gạt và Grilou, bị cáo buộc tội đầu độc Charlotte, đã chấp nhận ngồi tù để bảo vệ thanh danh cho Charlotte.

(5). Chúng tôi chỉ muốn giới thiệu thi phái biểu tượng như là một mỹ quan (une esthétique), một nhãn quan (une vision), một cách tiếp cận (une approche) mới về hiện thực, về cuộc sống bằng thơ, qua thơ. Chúng tôi khống hề chủ trương thi phái biểu tượng là tất cả thơ. Chúng tôi cũng không có ý tham dự vào cuộc tranh luận về thõ mới, thơ cũ, thơ hiện đại hay hậu hiện đại. Vốn không phải là một đệ tử lưu linh, nhưng tôi có được nghe nói khách sành điệu chỉ đánh giá hương men qua phẩm chất của loại nếp cất rượu và kỹ thuật ủ men, chứ không phải do rượu được rót ra từ bình mới, bình cũ, bình hiện đại hay bình hậu hiện đại.

(6). Muốn biết đến khả năng không chỉ tạo hình mà còn nói lên tính sinh động của một vật thể bằng phương pháp, ám chỉ, gợi ý để gây liên tưởng ta có thê đọc lại bài “Quả Mít” của Hồ Xuân Hương mà các bài thơ gợi cảm ý vị có thể là những bước chân còn đi trước cả tập ” Les Fleurs du Mal ” (1857) của Baudelaire nữa.

(7). Trong phần trình bày dưới đây, chúng tôi chi muốn tìm hiểu, qua lời lẽ bộc lộ trong bản tình ca, hồn thơ và ý thơ của anh đã khơi động được tâm tình của cả một thế hẹ thanh niên miền Nam như thê nào. Chúng tôi không có ý coi bài viết này như một biên khảo về thân thế và thi nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên.

Sau ngày 30-4-1975, thời gian còn kẹt lại ở Việt Nam, Nguyễn Tất Nhiên đã sinh sống ra sao ? Tôi nào có biết. Lo lắng cho số phận mình chưa xong, tôi đâu có thì giờ quan tâm đến chuyện người khác, nhất là giữa anh và tôi chẳng có một mối liên hệ thân tình nào. Mãi sau này tôi mới biết anh đã vượt biên trốn khỏi Việt Nam vào năm 1978. Thời gian ba năm kẹt lại ở Việt Nam anh có phải đi cải tạo như tôi, hay may mắn không thuộc diện phải ra trình diện học tập ? Nhưng dẫu có thế nào chăng nữa, tôi cũng phỏng đoán là anh không thể thích nghi với khung cảnh sống đột ngột đổi mới này. Bản chất con người thơ chân phương, chắc chắn anh cảm thấy bị chết ngộp trong cuộc sống khuôn đúc chỉ đòi rập ra một loại tình cảm đơn điệu. Làm sao anh tìm ra được cảm hứng trước cảnh người người buộc phải đeo mặt nạ để làm bộ nhảy múa reo mừng. Bởi vậy bất chấp gian nan hiểm nghèo, anh quyết định tìm đường ra đi. Anh tìm đường ra đi do thôi thúc của hồn thơ sáng tạo, như cánh én tìm về phương nam nắng ấm theo tiếng gọi của bản năng. Phương nam, với anh, là không khí tự do trong lành, điều kiện phát triển hồn thơ anh. Và ước mơ của anh trở thành hiện thực : Sau bao gian nan trắc trở, cuối cùng anh được đặt chân lên đất Pháp, quốc gia đầu tiên tiếp nhận anh là dân tị nạn.

Pháp quốc ! Đất nước của Cách Mạng 1789. Cái nôi của Bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Quê hương của Victor Hugo, của Lamartine, của Baudelaire, của Prévert…, những nhà thơ đã bao lần anh được nghe nhắc tên tuổi… Ôi ! Ba Lê, thủ đô của ánh sáng, trung tâm văn hóa nghệ thuật thế giới ! Cái địa danh mỗi lần được nghe nhắc đến đã làm dấy lên trong anh biết bao ước mơ thầm kín, nay không ngờ lại trở thành hiện thực. Nhưng sau vài buổi đi dạo trên đại lộ Champs-Elysées như một du khách nhàn hạ, nhìn ngắm những cửa tiệm nguy nga tráng lệ, các dòng người qua lại như mắc cửi, chẳng mấy chốc cái tâm trạng lâng lâng phơi phới ấy đã biến đi để nhường chỗ cho một nỗi ê chề buồn tủi khi anh phải đối diện với hiện thực. Ôi, Tự Do ! Tự Do ! Hai chữ Tự Do anh hằng mơ ước chỉ có là vậy sao ? Ở Việt Nam sau 75, vì không được sống và bày tỏ cảm xúc theo ý muốn, anh ao ước tự do, thèm khát được ca ngợi tự do. Nhưng nay được sống trên mảnh đất tự do, sự háo hức ca ngợi tự do nay chỉ như một đống tro tàn. Ở một xứ mà tự do đã trở thành thứ không khí thở hít hàng ngày, mấy ai còn cần tới anh ca tụng hai chữ Tự Do nữa. Riêng với bản thân anh, hai chữ Tự Do nay cũng chỉ đồng nghĩa với tấm thẻ tị nạn công nhận anh được quyền sinh sống và tìm kiếm công ăn việc làm trên đất Pháp mà thôi. Và anh đã bộc lộ nỗi niềm thất vọng đầu tiên bằng lời lẽ cay đắng như sau :

kẻ vượt biển đã tới bến mạnh lành
nhưng chết ngay khi đặt chân lên bờ đất
kẻ leo rào đã chụp được Tự Do
nhưng tức thời buông tay bổ ngửa
là ta.
(Nguyễn Tất Nhiên : «Chuông Mơ, Paris, Khúc Tháng Chín », tr.8. Văn Nghệ xuất bản – California 1987)

Trước đây, khi còn ở Việt Nam, anh đã được nghe ca tụng biết bao điều về Paris. Nào là thủ đô của ánh sáng, nào là trung tâm của văn hóa nghệ thuật, nào là ga Lyon đèn vàng nơi đưa tiễn em về xứ mẹ. Rồi lại còn những buổi hẹn hò với người em gái tóc vàng, mắt xanh, sợi nhỏ trong căn gác trọ nữa… Ôi, mấy lời thơ phổ nhạc ấy, mỗi lần nghe có ai cất lời ca, anh lại thấy cuộc đời ở bển sao mà nó ồ mề lý, mế ly đời ta thế …. Nhưng nay có mặt trên xứ sở của văn hóa nghệ thuật rồi, anh lại không tìm ra được nguồn cảm hứng sáng tác. Những lời lẽ diễn tả tâm tình của một vài chàng trai được qua Pháp du học trong khoảng thập niên 1950-60 có thể là những rung cảm chân thành đấy. Nhưng ở cương vị một kẻ tị nạn, nếu anh vẫn đem tâm tình ấy ra hâm lại bằng những vần điệu cũng mang hơi hướng thơ Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, anh biết chắc sẽ chỉ nặn ra được một thứ văn chương văn nghệ, văn chương ảo giác mà thôi. Là con người thơ để nói lên tiếng nói chân thật, anh đành gửi gấm nỗi lòng qua mấy lời lẽ thô kệch như sau :

em thì xa quá xa
làm sao nghe tiếng dội dồn
hơi thở người
vỗ theo từng nấc thang cây xưa rích
Paris
ta mỗi bữa lếch thếch leo
mút bảy tầng
sống – tóc cọ quẹt nóc nhà
sống – nơi đặc biệt
dành riêng cho hạng ở đợ.
(Chuông Mơ, bdd. tr.9)

Phải chăng tâm sự ê chề này đã thúc đẩy anh rời bỏ cái xứ sở anh hằng mơ ước để xin tới định cư tại quận Cam bang California có nhiều nắng ấm, là nơi anh nghe nói tề tựu hầu hết tập thể người Việt tị nạn và cũng là nơi anh mong tìm lại được bàu không khí quê hương.

Thời gian lưu lạc tại Mỹ, anh sinh sống ra sao ? Tôi không may mắn, ít có hân hạnh được quen biết nhiều các giới văn nghệ sĩ nên không có điều kiện để thăm hỏi những gì họ biết về anh. Nhưng có lẽ nhờ vậy, tôi đỡ tốn thì giờ, mất công lọc lựa để lấy ra một vài dữ kiện hữu ích trong số các mẩu tin thuật lại, phần đông thường là giai thoại có thêm mắm thêm muối để tăng phần hấp dẫn. Rút cục, tôi đành trông cậy vào mớ tư liệu cỏn con tôi gom góp được. Cái mớ tư liệu ấy, vỏn vẹn chỉ có một số ít bài thơ của anh và dăm ba bài báo nói về cái chêt của anh hoặc nhắc nhở tới anh. Tư liệu như vậy, quả là có ít. Nhưng may mắn thay, trong số này lại lọt vào một bài viết đặc biệt của Khánh Trường. Khánh Trường ! Cái tên nay được nhắc đến như là họa sĩ hơn là nhà văn, nhà báo. Vậy mà cũng cái tên ấy, trong năm đầu của thâp niên chót thế kỷ trước, đã có lần gây náo động trong giới cao thủ võ lâm chuyên nghề múa bút ở hải ngoại vì cho ra mắt tạp chí Hợp Lưu với chủ trương đi tìm sự hòa giải hòa hợp bằng con đường văn hóa dân tộc và nhân bản (11). Nhưng hôm nay tôi có nhắc đến Khánh Trường, không phải để nói về anh, mà vì cái bài anh viết về Nguyễn Tất Nhiên trên tờ Hợp Lưu số 58 tháng 3&4 năm 2001 khi anh còn đứng tên chủ biên và giữ mục ngày… tháng… dưới bút hiệu Kim Thi. Trong bài viết này, phần nói về Nguyễn Tất Nhiên vỏn vẹn có bảy trang thôi (H.L 58, tr.118-124). Nhưng với tôi, đây là một tài liệu quí giá còn hơn cả thỏi vàng ròng : Vào buổi chạng vạng tối giữa mùa đông rét mướt, có kẻ lại thích lang thang vào nghĩa trang đi tìm sưởi ấm tâm hồn giữa những tấm mộ bia, thì những điều người ấy nói lên về một con người đã khuất, tôi tin phải là lời lẽ của một tấm lòng. Bởi vậy, bằng một phương pháp tiếp cận văn học mới và dựa trên những điều Khánh Trường viết ra, tôi hi vọng có thể tìm hiểu thêm về con người thơ Nguyễn Tất Nhiên, diễn biến tâm hồn anh trong giai đoạn cuối đời để rồi đi đến quyết định tối hậu (ít ra là cũng theo óc tưởng tượng và cảm nhận của riêng tôi).

Những ngày đầu được sống trong khung cảnh sinh hoạt của khu Little Saigon với những cửa tiệm, hàng quán y hệt Sài Gòn và giữa những đồng hương có người chỉ thích nói toàn tiếng Việt làm như không cần biết tiếng Mỹ là gì, anh tưởng mình đã là cánh chim tìm được về tổ ấm. Nhưng chẳng bao lâu cảm giác lạc lõng bơ vơ lại trở vê với anh. Và hơn bao giờ hết anh mới thể nghiệm được điều mà anh đã linh cảm qua mấy lời thơ anh thốt ra tại Việt Nam khi vừa mới đôi mươi:

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
phải đau theo từng hớp rượu tàn
phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định !
(Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng, 1972, Khánh Trường trích lại – H.L 58 bdd, tr.219)

Điều mà anh linh cảm, ấy là cái bất hạnh anh sinh ra thuộc dòng dõi các nhà thơ mang số kiếp bị nguyền rủa (la race des poètes maudits). Lỡ sinh ra với nghiệp chướng (hay thiên chức ?) phải (được ?) là nhà thơ chỉ có thể nói lên những lời thơ đậm đặc tâm hồn Việt Nam, anh cảm thấy không thể hội nhập xã hội mới như những người khác. Trong lúc mọi người hân hoan phấn khởi như kẻ vừa thoát địa ngục tới được thiên đàng, thì anh lại càng thấm thía điều mà anh đã linh cảm sau khi được đặt chân lên đất Pháp :

phải, ta đánh rơi ta
nát vụn
sau khi đánh rơi Việt Nam
bên kia bờ biển mịt .
(Chuông Mơ – bdd, tr.9)

Ta đánh rơi ta nát vụn, bởi vì cái Hạnh Phúc và Tự Do khiến anh phải liều mạng vượt biển để tìm kiếm đâu có phải chỉ là sự mưu tìm một khung cảnh tồn tại thích hợp đáp ứng cho nhu cầu hưởng thụ của một sinh vật chỉ thích sống phóng túng theo bản năng ? Và tự do tư tưởng đâu có phải chỉ là quyền ăn nói vô tội vạ bằng những lời đao to búa lớn để, hễ gặp dịp, là phang ngay một trận, bằng không thì lại sực mùi bốc thơm ? Bởi vậy trong khung cảnh sống mới mẻ mà mọi người đều cho là thích hợp, anh lại sống như một kẻ mộng du. Và chỉ những kỷ niệm xa xưa với những hình ảnh và rung cảm thuần khiết Việt Nam mà anh gợi lại qua mấy bài thơ như Nhớ Nội, Cứ Ngỡ Như Là Mới Nhớ Thôi, Chở Em Đi Học Trường Đêm… mới làm anh thức tỉnh như những hồi « Chuông Mơ ». ( mời coi phần phụ lục). Trạng thái mộng du ấy ngày càng ăn sâu vào tâm thức anh để rồi dần dà biến thành một thứ bệnh hoang tưởng. Là người sống gần gũi bên anh, Khánh Trường đã ghi nhận những biến chuyển trong tâm hồn anh như sau: «Những tháng cuối cùng trước khi tự chọn cho mình cái chết bằng những viên thuốc, bệnh tình Nguyễn Tất Nhiên khá nặng, hắn thường xuyên sống đật dờ trong thế giới khác, đầy ắp hoang tưởng… Ám ảnh và hoang tưởng mỗi ngày mỗi nặng, chúng tôi ngại rồi sẽ đến lúc Nhiên hoàn toàn không còn biết mình là ai. » (Hợp Lưu 58 ; bdd. tr.219-220). Cái mà mọi người đều cho là bệnh hoang tưởng ấy, theo tôi, chính là biểu hiện của hội chứng (syndrome) một não trạng không thích nghi được với môi trường sống mới. Thế nhưng, đồng thời với sự phát triển của chứng bệnh hoang tưởng ấy, có lúc Khánh Trường lại phát hiện nơi Nguyễn Tát Nhiên sự kiện đặc biệt như sau : « Thế mà, lạ lùng thay, giữa cõi tối tăm của tâm thức mù lòa ấy, lại lóe sáng những tia lửa của tài hoa khi Nhiên chạm đến thơ ca. Những sáng tác của Nhiên thời kỳ này chân thật đến nao lòng. » (HL 58 ; bdd. tr.220). Và Khánh Trường đã dẫn chứng bằng bài thơ « Buồn ơi… » mà tôi lấy ra một vài trích đoạn sau :

buồn ơi…
tôi bỏ tôi chìm đắm
trong tiếng làm thinh của ghế bàn
ghế bàn không xẻ chia sầu thảm
nhưng biết làm thinh lặng cảm thông

buồn ơi tôi muốn như bàn ghế
chịu đựng đời không biết thở than!
(…)
buồn ơi…
tôi bỏ tôi rời rã
bất lực làm sao trước cuộc đời

ừ nhỉ, bây giờ tôi mới biết
ghế bàn nên kính trọng như thầy
bàn ghế dạy tôi diều nhẫn nhục
dạy tôi bình thản thứ tha đời

buồn ơi tôi muốn như bàn ghế
thương đời như thể bỉ khinh tôi!
(…)
buồn ơi…
tôi có tôi-bàn-ghế
nguyện hiến cho đời một tấm lưng.
(Hợp Lưu 58; bdd. Tr.221-222)

Mấy câu “buồn ơi…” này của Nguyễn Tất Nhiên làm tôi nhớ lại hai câu thơ trong bài “Milly ou la terre natale” của Lamartine mà hồi còn là học sinh trung học tôi vẫn thích chép đi chép lại tuy đã thuộc làu làu :

Objets inanimés avez-vous donc une âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer ?

Hỡi vật vô tri, phải chăng các ngươi cũng có một linh hồn
Đã quyện vào hồn ta làm ta phải biết luyến thương ?

Giờ đọc lại, tôi thấy hai câu trên, thơ thì có thơ thật, nhưng tâm tình của Lamartine hãy còn thuộc về cái chung thiên hạ, vẫn chưa ra khỏi cái thiên la địa võng của những công thức ước lệ, và hình thức diễn tả hãy còn ít nhiều trí tuệ : Chúng chỉ nói lên tâm trạng hoài niệm các cảnh vật làm ta gắn bó và tìm cách lý giải nỗi luyến nhớ ấy. Cái buồn của Nguyễn Tất Nhiên, trái lại, cô quạnh hơn, cá thể hơn, đau đớn hơn : Nó là tiếng kêu tuyệt vọng của một nỗi cô đơn cùng cực không tìm ra được sự đồng cảm nơi những người đã từng trải qua những cảnh ngộ như mình, đành phải tìm an ủi nơi bàn ghế là những vật vô tri vô giác, nhưng lại đươc coi là những nhân chứng biết cảm thông.

Trước mấy câu thơ này, Khánh Trường thắc mắc tự hỏi : « Tôi chịu, không thể nào hiểu hắn làm những bài thơ ấy vào lúc nào, và cái gì đã giúp hắn tỉnh táo để có thể nặn ra được mớ chữ nghĩa giàu hấp lực kia. Cái hấp lực người bình thường chúng ta thúc thủ, đã đành, mà ngay cả nhiều tài năng thi ca khác cũng sẽ vất vả vô cùng, nếu muốn thủ đắc. » (Hợp Lưu 58 ; bdd. tr.220). Cái hấp lực của mấy câu thơ xuất thần ấy, theo tôi, ấy là những lúc anh được trở thành kẻ thấu thị (le voyant) theo chữ của Rimbaud, nghĩa là những lúc anh hoàn toàn thức tỉnh và tìm lại được cái ngã con người thơ đích thực nơi anh, chứ không phải cái « Tôi là kẻ khác » (Je est un autre – Rimbaud) (12), tức thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên dưới con mắt người đời.

Cuối cùng, bởi không tìm ra được sự đồng cảm, nên Nguyễn Tất Nhiên cứ phải buồn, nên Nguyễn Tất Nhiên sinh tuyệt vọng. Để rồi, một sớm thu, anh đành đi tìm quên lãng. Anh đi tìm quên lãng trong một khung cảnh thanh tịnh hài hòa của một sân chùa vắng vẻ. Nơi đây chỉ có lá rơi xào xạc. Nơi đây chỉ có chim muông ca hót. Nơi đây anh được gần gũi với thiên nhiên. Nơi đây anh được trở về với cuộc sống cội nguồn.

Nguyễn Tất Nhiên ! Thế là anh lại quyết chí ra đi. Anh đã ra đi thật rồi. Anh ra đi để đi tìm quên lãng. Anh ra đi để được đi vào lãng quên. Nhưng sao hôm nay tôi lại chợt nhớ tới anh. Nhưng sao hôm nay tôi lại thèm được ở bên anh. Thèm được ở bên anh trong những giây phút ngắn ngủi ấy. Thèm có mặt bên anh để, nếu không xin được làm kẻ đồng hành, thì ít ra cũng chúc anh hoan hỉ lên đường.

Nguyễn Tất Nhiên ! Người đời đã chỉ muốn nhìn anh nằm ngủ vùi trong chiếc Toyota cũ kỹ như một con người thua cuộc. Nhưng tôi, tôi thấy anh ra đi thật cao cả ! Nhưng tôi, tôi thấy anh ra đi rất tuyệt vời ! Nguyễn Tất Nhiên, anh ! Anh ra đi dẫu có trong lãnh đạm. Anh ra đi dẫu có giữa thờ ơ. Nhưng anh ra đi sao làm tôi lại ham muốn. Nhưng anh ra đi sao bắt tôi phải thèm thuồng. Trong bộ quần áo nhàu nát cùng với gương mặt tóc râu bờm sờm ấy, anh chính là hình ảnh của người khách phong sương muôn thuở, yêu sóng cả sông dài, yêu trời cao biển rộng. Và chiếc Toyota cũ kỹ chính là chiếc xe lãng tử sẵn sàng đưa anh tới những phương trời lộng gió. Cõi sống này sao nó nham nhở kệch cỡm quá ! Nên anh buộc lòng phải dứt khoát ra đi.

Cuộc viễn du lần này tôi biết anh chuẩn bị đã từ lâu. Anh chuẩn bị âm thầm lặng lẽ. Anh chuẩn bị trống trải cô đơn. Anh chuẩn bị mà không muốn thố lộ cùng ai. Bởi vì, đã mang tâm tư khát vọng ấy, và trong cõi đời ấy, có nói năng chi cũng thừa.

Trước giờ khởi hành, tôi biết anh hân hoan phấn khởi lắm. Tim anh rộn ràng. Mắt anh ngời sáng. Tai anh nghe trổi dậy khúc nhạc giục dã với những lời mời gọi quyến rũ như những vần thơ kết thúc bản trường ca « Viễn Du » của nhà thơ Baudelaire (13) :

O Mort, vieux capitaine, il est temps ! levons l’ancre !
Ce pays nous ennuie, O Mort ! Appareillons !
Si le ciel et la mer sont noirs comme de l’encre,
Nos cœurs que tu connais sont remplis de rayons !

Verse-nous ton poison pour qu’il nous réconforte !
Nous voulons, tant ce feu nous brûle le cerveau,
Plonger au fond du gouffre, Enfer ou Ciel, qu’importe ?
Au fond de l’inconnu pour trouver du nouveau !
(Baudelaire : Le Voyage.- Les Fleurs du Mal – p.186; GF Flammarion , Paris, 1991)

Hỡi Thần Chết, vị thuyền trưởng già nua, tới giờ rồi !
nhổ neo thôi !
Cõi này làm ta chán ngấy, hỡi Thần Chết ! Nào ta lên đường !
Nếu trời và biển đều tối đen màu mực,
Tâm can ta, ngươi cũng biết, lại chan hòa ánh sáng !

Hãy rót trong ta chất độc dược làm ta hưng phấn !
Bởi có ngọn lửa đang hừng hực trong não nên ta muốn
Lao xuống đáy vực thẳm, dù Địa Ngục hay Thiên Đường,
có xá chi ?
Miễn là ở tận cùng cõi xa lạ kiếm ra được cái mới mẻ.

Những người lính ở tuyến đầu thường lâm vào cảnh khốn quẫn, bị địch bao vây tứ bề. Những lúc đó họ thường có quyết định táo bạo là đánh thốc vào địch để phá vỡ vòng vây. Nhờ vậy cũng có lúc họ thoát hiểm. Về tới đơn vị, với đồng đội, khi kể chuyện lại cho nhau nghe, họ chỉ tóm gọn hành động gan dạ đó trong câu nói cụt lủn : « Đi vào cái chết để tìm ra cái sống ! »

Nguyễn Tất Nhiên ! Khi bóng đêm bỗng đổ ập xuống mảnh đất thân yêu, anh đã một lần vượt trùng dương đi vào cái chết để tìm ra cái sống. Nhưng những nơi anh được đặt chân tới vẫn chưa làm anh toại nguyện. Bởi vậy lần này anh quyết tâm xông thẳng vào Cõi Chết để tìm ra Sự Sống. Giờ này anh hẳn đang ở chốn hào quang rực rỡ, nơi đó anh đã gặp được Chân, Thiên, Mỹ anh hằng mơ ước.

Nguyên Tất Nhiên ! Xin chào Anh, người chiến sĩ tiên phong dũng cảm ! Cám ơn Anh đã để lại cho chúng tôi những ý thơ tuyệt vời !

Nguyễn Bảo Hưng
Viết xong ngày 28-01-1012 – Đầu xuân Nhâm Thìn

(11) … « Chúng tôi quan niệm rằng, tác phẩm, dù rằng đứng trên quan điểm nào, nếu thực sự giá trị, thực sự đáp ứng được lòng mong muốn của đa số độc giả thầm lặng, thì dứt khoát đó phải là tiếng nói nhân bản (chữ in đậm do tôi NBH), tiếng nói của lòng lương thiện. Văn học nghệ thuật không chỉ đáp ứng cho hiện tại, nó sống mãi với thời gian. Chế độ chính trị nào rồi cũng qua đi, cái còn lại sẽ vẫn là cái cận nhân tình, cái đẹp, cái tốt.. Lịch sử là thước đo chuẩn xác nhất để minh định giá trị thực sự của một tác phẩm. Vài mươi năm sau, mọi nhãn hiệu tự gắn hay bị gắn cho người cầm bút sẽ được bóc đi, còn lại chăng vẫn là cái cốt lõi. Đó là một sự thật, dù biện minh cách nào chúng ta cũng không thể phủ nhận…

… Chính vì vậy, trong tiến trình thực hiện hợp lưu văn hóa (bao gồm giữa trong và ngoài nước lẫn Việt Nam với thế giới), điều trước tiên phải phục hồi văn hóa dân tộc. Muốn phục hồi văn hóa dân tộc, phải có tập hợp dân tộc, ở đó mọi thành phần không phân biệt quá khứ chính trị hay địa dư đều có đất đứng, đều cùng góp công sức của mình để đáu tranh loại bỏ mọi thé lực độc tài, chuyên chính, bị trị, vốn là nguyên nhân gây ra thực trạng bi thảm hiên nay tại quê hương. »
(Hợp Lưu số 1 tháng 10-1991 : « Thư tòa soạn », tr.4-5)

(12) Để nắm được ý nghĩa đúng câu « Je est un autre » của Rimbaud, trước hết ta hãy xét về mặt ngữ pháp (syntaxe). Bình thường, ta phải viết hoặc « Je suis un autre » hoặc « Il est un autre », có thế mới đúng với cách chia vẹc bờ của mấy ông Tây. Vậy mà Rimbaud đã cố ý viết sai mẹo văn phạm, ấy là vì ông muốn lưu ý ta rằng cái mà ta vẫn xưng tôi (je) để phân biệt với anh (tu), với nó (il) trong giao tiếp xã hội hàng ngày, thực ra nhiều khi chỉ là cái tôi nhân vật, cái tôi ta muốn được là, cái tôi ta thích hiện ra trước mắt mọi người, chứ không phải là cái tôi mang bản ngã ta đích thực.

Nhưng khi viết ra câu này, chủ đích của Rimbaud không chỉ nhằm lột mặt nạ cái tôi giả mạo, cái tôi kẻ chiếm chỗ (l’usurpateur), cái tôi nhân vật xã hội, mà là để nói lên cái thiên chức của nhà thơ, theo ông. Muốn nắm được cái tinh hoa trong câu nói của Rimbaud, ta cần đặt nó trong ngữ cảnh (contexte) được viết ra.

Rimbaud đã viết câu « Je est un autre » hai lần trong hai lá thư, được biết dưới tên gọi « Lettres du voyant » (Những lá thư của kẻ thấu thị) : một cho thầy dạy là Georges Izambard (13-5-1871), và một cho người bạn là Paul Demeny (15-5- 1781). Đặc biệt trong thư gửi thày học có đoạn viết như sau : « Je veux être poète, et je travaille à devenir voyant… Il s’agit d’arriver à l’inconnu par le dérèglement de tous les sens… C’est faux de dire : Je pense : on devrait dire : On me pense… Je est un autre. » (Rimbaud : Poésies complètes – Le Livre de Poche.- Librairie Générale Française, 1984 ; p.200). (Tôi muốn được là nhà thơ, và tôi đang lao tác để trở thành kẻ thấu thị nghĩa là đạt tới cõi xa lạ bằng cách làm nhiễu loạn mọi giác quan của mình. Nói rằng : Tôi suy tưởng là không đúng. Lẽ ra ta phải nói : người ta suy tưởng trong tôi… Tôi là một kẻ khác.) Đoạn văn tuy ngắn ngủi nhưng đậm đặc ý nghĩa : Nó đưa ra cái nhìn mới mẻ, có thể nói là cách mạng, của Rimbaud về thi ca. Trước hết nó đánh dấu một đoạn tuyệt với các dòng thi ca truyền thống, đặc biệt là với dòng thi ca lãng mạn trước nó. Với Rimbaud, cái tôi vẫn là nguồn cảm hứng và được dùng làm chất liệu cho các nhà thơ lãng mạn không phải là cái tôi đích thực. Không hẳn là các nhà thơ ấy thiếu chân thành. Nhưng những tâm tình mà họ ưa đem ra kể lể ấy, thực ra chỉ là cái tôi mang tâm thức của một tập thể, của một thế hệ, của một thời thượng đã xâm nhập và lấn át cái tôi mang bản ngã đích thực nơi mỗi người chúng ta. Đó là ý nghĩa của câu : « On me pense ». Bởi vậy, nhà thơ muốn nói lên được cái tôi đích thực, phải tìm cách tự giải thoát khỏi cái « Je est un autre » bằng cách làm nhiễu loạn mọi giác quan (le dérèglement de tous les sens) để cởi bỏ mọi cảm nghĩ,suy tư đã xếp nếp. Có thế ta mới mong được trở thành kẻ thấu thị (le voyant) để nói lên cái ngã đích thực (le vrai moi) nơi ta.

Câu « Je est un autre », Rimbaud viết ra khi mới sắp tròn 17 tuổi, vậy mà chẳng mấy chốc đã trở thành câu nói để đời. Ấy bởi nó là kết quả của của một khổ công tư duy tìm kiếm để sáng tạo cách tân, chứ không phải chỉ là một hình thức viết loạn chiêu để hù hè thiên hạ.

(13) Charles Baudelaire (1821- 1867) được tôn là huynh trưởng của Verlaine, Rimbaud, Mallarmé trong dòng thơ biểu tượng. Ông cũng được coi là người sáng chế ra loại « Thơ bằng văn xuôi » (poésie en prose) với nhiều bài « Thơ bằng văn xuôi » (Poèmes en prose ) đăng rải rác trên nhiều nhật báo. Nhưng tác phẩm khiến tên tuổi ông được nhắc đến nhiều nhất đó là tập « Les Fleurs du Mal » (1857). Trước tiên, với người đương thời, vì ngay khi tập thơ được in ra, ông đã phải vác chiếu hầu tòa (cũng như Gutave Flaubert với cuốn « Madame Bovary » vài tháng trước đó) do một số bài thơ bị liệt vào hạng văn hóa đồi trụy. Nhưng tên tuổi Baudelaire được lưu truyền hậu thế không phải nhờ vào mấy bài thơ gây tai tiếng ấy, mà do những giá trị tiêu biểu của tập thơ ông. Trước hết là những bài thơ nói lên nhãn quan và mỹ học biểu tượng : Thiên nhiên là khu rừng mà mỗi gốc cây là một biểu tượng và ở đó mọi giác quan đều có thể tương ứng đối đáp nhau. (« Correspondances », Sdd. tr 62-63). Bên cạnh đó là một số bài thơ khác đưa ta vào một thế giới mới mở đường cho thi ca hiện đại: thế giới của những điều cấm kỵ, thế giới của le Mal. Le Mal, : cái từ chủ chốt mà theo dòng văn học phải đạo chính thống thời ấy, và ngay cả tới giờ, những gì có dính líu tới le Mal phải được coi là điều cấm kỵ nghĩa là ta chỉ được quyền nói lên để làm dấy lên những cảm giác khinh khi, ghét bỏ chứ không phải để ca ngợi. Vậy mà nhãn quan của Baudelaire lại khác. Ông cho rằng ở những cái mà người đời cho rằng chỉ đáng khinh thường, ghét bỏ vẫn có phần nào của cái đẹp cần được nói lên (như nọc rắn cũng có thể biến thành một thứ thần dược). Đó chính ý nghĩa của cái tựa ông đã chọn cho tập thơ của ông : « Les Fleurs du Mal » = « extraire la beauté du Mal » hay là nói lên cái đẹp chắt lọc từ những cái được coi là tồi bại xấu xa. Thí dụ như bài « Le vin des chiffonniers. Sdd. tr.152-153 » (Men say của những người lượm giẻ rách): Dưới ánh đèn vàng héo hắt của một khu phố ngoại ô tồi tàn dáng đi siêu vẹo chuếnh choáng hơi men của một người chuyên nghề lượm rẻ rách, miệng nói lảm nhảm, tự xưng mình là vua chúa đang ban phát ân huệ cho thiên hạ. Hình ảnh đó, nói chung, được coi là biểu hiện cho sự sa đọa bệ rạc. Nhưng với Baudelaire lại khác. Bằng cặp mắt nhân bản và cảm thông, ông lại phát hiện vẻ đẹp siêu thoát toát ra từ cảnh ngộ của một kiếp sống lầm than tăm tối chỉ biết tìm an ủi trong say sưa để được sống huy hoàng chốc lát với ảo ảnh hào quang về mình.

PHỤ LỤC

Sau đây là mấy bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên trong tập «Chuông Mơ» (1987) được nhắc tới trong bài viết :

nhớ nội

mưa nắng hai mùa trên xứ nội
vun trồng từng luống mạ vồng khoai
mấy dây trầu « lẹt » tươi màu lá
ôm ấp hàng cau với tháng ngày

ngoài ngõ dàn bàu rợp bóng trưa
bờ nương lả ngọn mấy cây dừa
đàn gà tíu tít bương tìm thóc
đống lúa phơi vàng sân gió đưa

no gió diều lên ở cuối đê
ca dao quê cũ ngọt hương thề
phên tre mái lá hai bà cháu
hủ hỉ vui ngầm hưởng thú quê

từ lúc giặc về, con biệt xứ
nát lòng chim quốc nhớ quê hương
mấy thu vàng úa đời xa cội
chẳng biết mộ phần nội có yên ?
(Anaheim, Ca. Ngày 28-12-82)

cứ ngỡ như là mới nhớ thôi

tâm hồn tôi có một dòng sông
chảy qua nhà cô bạn chung trường
chiều sông dâng sóng miên man gió
bay tóc bay hồn tôi thanh tân…

tâm hồn tôi có một bờ sông
bên cạnh nhà cô bạn chung trường
chiều miên man gió sông dâng sóng
dâng tuổi dâng tình tôi mênh mông…

tâm hồn tôi thức trắng đêm dài
em bay áo trắng nắng ươm mây
chiều êm nắng rủ nhau đi ngủ
trên tóc ai lành ru ngủ vai…

tâm hồn tôi có quẩn quanh tôi
có một sông quanh khúc quẩn đời
có một bàn tay ôm cặp, gói
cả mộng mơ kia, luyến tiếc này…

tâm hồn tôi có tuổi thơ tôi
có một bâng khuâng thức trắng đời
đời cứ rủ nhau đi ngủ cả
tôi thức cho buồn ngỡ… mới thôi
(Westminter, Ca. Ngày 04.7.87)

chở em đi học trường đêm

chở em đi học mưa, chiều
tóc hai đứa ủ đôi điều xót xa
mưa thánh thót, mưa ngân nga
(hình như có bão băng qua thị thành!)
bàn tay thiếu máu lạnh tanh
cóng tôi chịu đựng cho đành luyến thương!

chở em đi học mưa, buồn
tôi Honda cũ trèo luôn dốc đời
thình lình chết máy như chơi
đừng tin lắm chuyện xa vời nhớ em!

đèo nhau qua dãy cột đèn
khẳng khiu soi dõi đường đêm bóng người
bóng xấp nhập, bóng tách rời
bóng co, bóng dãn, bóng trôi dập dềnh…
(dối gian như bóng dối hình
dối gian theo những lời tình gió bay…)

đèo nhau qua đoạn đời này
cầu Trương Minh Giảng nghe đầy hoàng hôn
mưa rỉ rả, mưa nguồn cơn
mưa đâm lóc thịt, mưa dầm thuộc da…

chở em đi học mưa nhòa
đường loang loáng nước lập lòa loáng cây
lạnh vừa đủ siết vòng tay
run đi em để sau này…nhớ nhau…

chở em sa vũng lầy nào
về nhà nói mẹ qua cầu sẩy chân!
(Westminter, Ca. ngày 06.7.87)

chuông mơ

áo em trắng cả sân trường trắng
tan học chiều nay có ngẩn ngơ?
chiều nay anh ở xa lăng lắc
không cách chi về đón tiểu thơ!

chiều nay ở đất bon chen
cái mộng tan theo cái thấp hèn
cái thực lem theo ngày sông vội
không cách chi dài phút nhớ em !

chiều nay em bước ngang giáo đường
mắt Chúa chắc buồn thăm thẳm hơn
chắc cây thánh giá thành di tích
chuyện một người chuộc hoài công !

chiều nay em còn măng tóc mai
hay đã lao tâm luống bạc rồi ?
chiều nay vừa đến giờ tan học
hay vừa buông cuốc chặm mồ hôi ?

chiều nay em bước trên quê hương
chắc tóc không còn óng ả chuông
chắc chuông không mượt nâng tà tóc
chắc tóc và chuông đã…đoạn trường !

chiều nay em bước trên quê hương
chắc Chúa chẳng nhìn như mọi hôm
bởi vì mắt Chúa và em đã
lóng lánh vùi chôn ngấn lệ lòng !

áo em trắng cả sân trường trắng
tan học trong đời anh thẩn thơ
đời anh quên, nhớ, quên… nhiều lắm !
chiều chiều xứ Mỹ cũng chuông mơ…
(Westminter, Ca. Ngày 23.7.87)

Mấy bài thơ này, với tôi, khá tiêu biểu cho thế giới thơ Nguyễn Tất Nhiên. Bài “Nhớ nội” gợi lên trong ta những hình ảnh hiền hòa, trung hậu đậm đặc tâm hồn muôn thuở con người Viêt Nam, đất nước Việt Nam. Hai bài “Cứ ngỡ như là mới nhớ thôi”, “Chở em đi học trường đêm” nói lên mối tình e ấp ngu ngơ của đôi trẻ vào cái thời còn là thủa ấy – cũng mới đây thôi – nhưng sao làm ta lại ngỡ được trở về với không gian trong lành vô tội của khu Địa đàng khi mà A dong và E Va còn chưa dại dột ghé răng cắn vào trái cấm. Còn bài “Chuông Mơ” nói lên nỗi niềm hoài hương đã bám rễ trong tâm thức anh khiến Nguyễn Tất Nhiên không tìm ra được lối thoát trong môi trường sống mới.

Share this post