Những Kinh Nghiệm Về Kỳ Thị Chủng Tộc Của Tôi Tại Hoa Kỳ – Carolee Giaouyen Tran

Những Kinh Nghiệm Về Kỳ Thị Chủng Tộc Của Tôi Tại Hoa Kỳ – Carolee Giaouyen Tran

Như nhiều người Việt Nam khác đến Hoa Kỳ vào năm 1975, cuộc sống của gia đình tôi ở đây có một sự bắt đầu rất khiêm tốn. Tôi chỉ mới 8 tuổi lúc đó. Một tuần sau khi chúng tôi được định cư tại thành phố Lafayette, California vào cuối tháng 10 năm 75, ba tôi bắt đầu làm việc tại một công ty thu nhặt những bộ phận của xe hơi bị phế thải. Lương ba tôi lúc đó là $2.50 một giờ. Chủ công ty là một thành viên của nhà thờ mà gia đình Mỹ bảo lãnh cho chúng tôi thuộc vào. Lúc đó, ba tôi đã 35 tuổi và công việc này là một bước xuống thật thấp trong đời ông. Từ một thiếu tá trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bây giờ ông thành một người phu quét dọn.

Nhưng ba tôi không hề phàn nàn về sự thay đổi này. Ông hãnh diện đã có thể kiếm được đồng tiền một cách lương thiện, thành thật và có đuợc cơ hội để tự nuôi gia đình mình.Với tinh thần làm việc chăm chỉ, ba tôi được thăng cấp lên chức vụ quản lý cho một ban trong công ty vài năm sau đó. Trong chức vụ này, ba tôi có một người đồng nghiệp tên Lew, một người Mỹ da trắng cũng đã từng là cựu quân nhân chiến đấu ở Việt Nam. Họ làm việc bên cạnh nhau mỗi ngày và trở thành bạn tốt. Họ gọi nhau là “work brothers” (anh em làm việc).

Ba tôi nhiều lần chịu đựng những sự cố hận thù chủng tộc trong khi làm việc. Ông kể cho chúng tôi nghe về nhiều lần những khách hàng đàn ông hung hăng gọi ông bằng những từ thóa mạ như “gook”, “chink”, hoặc “commy”, và mắng chửi ông bằng những từ hạ cấp khác. “Cút về nước mày đi, thằng Tàu”, họ la lối lên. Những lần khác thì có người lại la “Cút ra khỏi nước tao, đồ cộng sản! Trở về nơi của mày.”

Nhiều lần có khách hàng khạc nhổ vào ông.

Tôi cảm thấy muốn bảo vệ ba tôi và rất đau lòng khi biết ông phải chịu đựng những sự sỉ nhục và thù hằn như vậy. Nhưng ông cố trấn an tôi rằng “Không ai có thể làm ba đau được với những lời hay hành động vô học và thù ghét của họ. Hành vi cư xử của họ nói nhiều về bản chất con nguời của họ hơn là về ba. Ba biết mình là ai, là một con chiên Công Giáo tốt, luôn hết lòng cho gia đình mình, là một người chiến sĩ đã đổ máu và chiến đấu cho nước mình cho đến phút cuối cùng. Không có gì mà bất cứ ai nói hay làm có thể thay đổi được điều này.”

Ông Lew đến nhà chúng tôi ăn tối nhiều lần và kể cho chúng tôi nghe những sự cố kỳ thị chủng tộc khác ba tôi gặp phải mà chính ông chứng kiến. Lew và ba tôi nói đùa với nhau và nhiều khi còn cười về sự quái đản vô lý của những sự thù hằn chủng tộc mà ba tôi đã trải qua. Tôi rất biết ơn khi nghe Lew bày tỏ sự phẫn nộ của ông đối với những thủ phạm như vậy, và khi ông chia sẽ những cách lách qua những sự đụng độ này để bảo vệ ba tôi. Tôi cảm thấy ấm lòng và cảm động khi nghĩ đến hai người cựu chiến binh can đảm này, khi xưa đã sống sót qua khỏi những hiểm nguy trên chiến trường, và bây giờ còn phải tiếp tục đánh những trận chiến kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ với nhau. Họ có một tình bạn sâu đậm, dựa vào sự quan tâm, khâm phục, và kính trọng lẫn nhau.

Khi ba tôi kể lại những câu chuyện như vậy, ông dùng nó để dạy tôi và các em tôi về sự quan trọng của việc đối xử với mọi người bằng lòng tốt và sự kính trọng, bất kể về màu da, tôn giáo, công việc, hay địa vị của họ trong xã hội. Ông nhấn mạnh với chúng tôi về tầm quan trọng của sự siêng năng, cần mẫn, và làm việc lương thiện, thành thật để nuôi nấng gia đình mình.

Khi bắt đầu nhập học năm 1975, Kim Uyên, em gái tôi, và tôi là hai đứa trẻ da màu (không phải là người Mỹ da trắng) duy nhất trong trường. Điều này khiến chúng tôi nổi bật ra và trở thành mục tiêu của những đứa trẻ khác soi mói và trêu chọc. Mặc dù việc các bạn học này tò mò về những người mà họ cho là khác lạ là điều tự nhiên, sự chú ý không ngừng khiến chúng tôi cảm thấy bị thiệt thòi và không được đón nhận với thiện cảm. Bọn con nít đến Betty (Kim Uyên) và tôi để chạm vào người và bóp tóc, mặt, cánh tay, và chân. Những đứa khác thì nhạo báng và cười nhạo cách chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, hoặc khi chúng tôi cố gắng nói tiếng Anh. Trong khi tôi cũng bị thu hút bởi những đứa trẻ này, đặc biệt là những đứa trẻ có đôi mắt màu xanh lam, hoặc xanh lá cây, hoặc tóc đỏ, tóc vàng, tôi không dám nghĩ đến việc chạm vào người hay mặt chúng

Thử thách khó khăn nhất khi tôi lên học lớp ba là cô giáo của tôi, bà D. Bà ta là một phụ nữ trung niên cao lớn, mập mạp, không thân thiện, và toát ra sự nghiêm khắc, lạnh lùng, không hề vui vẻ, và độc đoán. Bà D hiếm khi mỉm cười và thường la hét. Bà cũng sử dụng hình phạt đánh đập để kiểm soát và đe dọa học sinh của mình. Nếu học sinh nào có hành vi sai trái trong lớp, bà sẽ hét tên họ, bảo chúng đi trước lớp và bảo cúi xuống. Sau đó, bà sẽ tiến hành đánh đòn chúng trước toàn bộ lớp học, sử dụng một cái mái chèo gỗ dày. Dĩ nhiên, những hành động trừng phạt như vậy và mối đe dọa của chúng đã khiến tất cả bọn học sinh chúng tôi phải ngoan ngoãn. Và vì tôi vẫn đang cố gắng học và nói tiếng Anh, sự thiếu kiên nhẫn và nghiêm khắc của bà D đã khiến tôi lúc nào cũng sợ hãi.

Cơn ác mộng lớn nhất của tôi đã trở thành sự thật trong tuần thứ hai của tôi trong lớp, trong giờ ra chơi. Nó bắt đầu từ sự tranh dành một quả bóng. Một con bé đến gần tôi và giựt quả bóng ra khỏi tay tôi trong khi tôi đang chơi với nó. Vì thế, tôi quay qua nó và và lấy lại. Con bé này lập tức chạy đến méc với cô giáo về tôi, và tôi không thể nói đủ nhanh để giải thích phần của mình về câu chuyện. Bà giáo D thô bạo kéo tôi bằng cánh tay vào lớp học trống rỗng của chúng tôi, bảo tôi cúi xuống, và đét tôi ít nhất năm cú đánh thật mạnh. Trong cơn đau dữ dội, mông tôi có cảm giác như đang bốc cháy và đầu tôi quay cuồng vì chóng mặt. Tôi cảm thấy nhục nhã và tức giận vì bị trừng phạt bất công trong khi không thể tự vệ. Tôi tự thề sẽ cố gắng học tiếng Anh chăm chỉ hơn để không bao giờ bị đặt vào vị trí bất lợi như vậy nữa.

Vài tuần sau, tôi lại gặp một bất ngờ lớn trong một trong những lễ nguyện bắt buộc hàng tuần. Tại các buổi lễ này, chúng tôi thường được trông đợi là phải cư xử ngoan ngoãn, hát, cầu nguyện, đọc các câu Kinh Thánh và lắng nghe bài giảng của mục sư. Giữa buổi lễ ngày hôm đó, bà giáo D kéo tôi ra khỏi chỗ ngồi và lên sân khấu. Sau đó bà ấy, mục sư và ba giáo viên khác đặt tôi vào giữa một vòng tròn họ hình thành xung quanh tôi. Họ tiến hành đặt tay lên tôi và cầu nguyện một lúc thật lâu mà tôi cảm thấy như là vĩnh viển. Tôi bắt đầu toát mồ hôi khi cảm giác muốn xỉu và kinh hãi siết chặt lấy tôi. Tôi không hiểu điều gì đang xảy ra, nhưng tôi nhớ đã nghe thấy cụm từ “Chấp nhận Chúa Jesus Christ là Chúa và Cứu Chúa của bạn.” Sau một thời gian không biết bao lâu, tôi được đưa ra khỏi sân khấu và trở về chỗ ngồi của mình trong hàng ghế.

Nhưng cái hoạn nạn này đã không kết thúc ở đó. Sau buổi lễ, tôi bị bà giáo D đưa đến một căn phòng trống cạnh nhà nguyện. Tôi im lặng đợi ở đó trong khi bà ấy và một giáo viên khác trò chuyện với nhau một cách hào hứng, nói thêm những từ mà tôi không hiểu. Tôi càng sợ hãi hơn từng phút, tự hỏi tại sao tôi lại bị giữ trong phòng này và họ sẽ làm gì tôi sau đó. Khi các học sinh khác ngồi xuống vào các lớp học của chúng, hai giáo viên này kéo tôi đi diễn hành quanh trường, đưa tôi vào từng lớp học. Khi chúng tôi vào mỗi lớp, một trong hai người nói thông báo một cách vui mừng và với giọng lên. Tôi nghe loáng thoáng được cụm từ “Đã chấp nhận Jesus Christ là Chúa và Cứu Chúa” trong những lời họ nói. Mỗi lời nói của họ được theo sau bởi tiếng vỗ tay và cổ vũ của mọi người trong lớp. Trong khi bị kéo diễn quanh trường, tôi cảm thấy như có một nút thắt trong bụng, một cục u ở cổ họng, và cơ thể tôi bị hóa đá vì sợ hãi. Đồng thời, tôi sợ đến nỗi không dám bày tỏ bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào, vì sợ rằng tôi có thể bị bà D. trừng phạt nhiều hơn nữa.

Hơn 40 năm sau, tôi và các em tôi đều đã trở thành những chuyên gia thành công nhờ sự học hành, làm việc chăm chỉ và kiên trì. Sau khi vượt qua nhiều nghịch cảnh, chướng ngại, và chấn thương trên đường đi của mình, tôi trở thành một nhà tiến sĩ tâm lý học thực hành (clinical psychologist) và là giáo sư giảng dạy tại Đại học California, Davis. Chồng tôi, Ladson Hinton, cũng là giáo sư tại trường đại học này. Tôi đã hy vọng rằng sự phân biệt chủng tộc mà gia đình tôi và tôi đã trải qua nhiều năm trước sẽ là quá khứ. Tôi đã sai.

Vào ngày 9 tháng 11 năm 2016, tôi đã bị choáng váng bởi chiến thắng Tổng thống của Donald Trump. Nó làm tôi tự hỏi liệu nước Mỹ đã lạc đường đi.

Những ngày sau cuộc bầu cử, tôi thấy mình cảm thấy sợ hãi và lo âu mỗi khi bật nghe tin tức. Tôi đã rất kinh hoàng và tức giận vì sự khinh miệt của Trump đối với người di trú và người tị nạn, cách ông ta đặt họ chung vào với những kẻ khủng bố và tội phạm. Bầu không khí thù địch, hăm dọa và vô nhân đạo mà ông và chính quyền của ông đang tạo ra để chống lại người di trú cảm thấy không phải chỉ vô nhân đạo, bất công và phân biệt chủng tộc mà còn giống như một cái tát cá nhân vào mặt những người này. Tôi đặc biệt hoảng hốt và phẫn nộ vì cách đối xử vô nhân đạo của Trump đối với những đứa trẻ di cư, tách biệt chúng khỏi cha mẹ và nhốt chúng vào lồng. Vô số trẻ em kể cả Felipe Gomez Alonzo và Jakelin Caal Maquin, lần lượt 8 và 7 tuổi, đã chết trong sự chăm sóc của chính phủ Mỹ. Những đứa trẻ này trút hơi thở cuối cùng trên trái đất này mà không có một người nào trong gia đình ở bên cạnh.

Tôi lo lắng cho những đứa trẻ di cư này và tự nhiên cảm thấy “đồng bệnh tương liên” với chúng. Tôi nhớ lại cuộc trốn thoát của chính mình và nỗi đau buồn và kinh hoàng tôi cảm thấy khi bị tách khỏi gia đình, trong khi chúng tôi trốn khỏi Việt Nam năm 1975. Tôi rùng mình khi nghĩ đến những gì các trẻ em này phải trải qua khi chúng bị xé ra khỏi tay cha mẹ, và không biết liệu họ có được đoàn tụ hay không. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những chấn thương như vậy có cả tác động ngắn hạn và dài hạn về não bộ, phát triển tâm lý, sinh lý và xã hội của trẻ em. Khi tôi suy nghĩ về hoàn cảnh của những đứa trẻ này, một câu nói của Tiến sĩ Martin Luther King Jr. cứ vang vọng mãi trong tâm trí tôi “Sau cùng, chúng ta sẽ không nhớ đến lời nói của kẻ thù, mà nhớ đến sự im lặng của bạn hữu mình.”

Lời nói của Tiến sĩ King gặm nhấm tôi và buộc tôi phải suy nghĩ và tự xét mình. Tôi tự hỏi mình có thể làm gì để giúp những đứa trẻ này. Tôi mệt mỏi bị quay vòng giữa những cảm giác tức giận, sợ hãi và tuyệt vọng. Đồng thời, tôi biết tôi không thể là người bạn thầm lặng mà tôi phải làm một việc gì đó! Là một người tị nạn, tôi cảm thấy có trách nhiệm sâu sắc trong việc quở trách lại Trump và chính quyền của ông ta vì những cố gắng giảm giá trị, quỷ dị hoá, và phi nhân hóa người tị nạn bằng cách gọi họ là những kẻ xâm lược, tội phạm, hay những kẻ khủng bố. Là một bác sĩ tâm lý học và một người mẹ, tôi cảm thấy có một nghĩa vụ, bổn phận đạo đức mạnh mẽ phải lên tiếng chống lại tác hại chính quyền đang gây ra cho những đứa trẻ vô tội này.

Sau cùng, tôi quyết định rằng tôi sẽ cố gắng giúp đỡ chúng bằng cách nói lên thêm về kinh nghiệm của tôi khi là người tị nạn Việt Nam. Tôi sẽ cố gắng nhân cách hóa chúng ta là ai và minh họa rằng chúng ta, người tị nạn, là thành viên hữu ích của xã hội, là những người có đóng góp quý giá cho đất nước này. Tôi hy vọng rằng bằng cách chia sẻ kinh nghiệm của mình, tôi có thể nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và sự hiểu biết thông cảm hơn cho những người di trú và tị nạn.

Vì thế tôi đã chấp nhận lời mời nhiều nơi để nói về kinh nghiệm là người tị nạn của mình. Tôi đã nói chuyện với báo, tạp chí, chương trình phát thanh, và hàng ngàn sinh viên đại học tại các cơ sở khác nhau. Tôi tin rằng những sinh viên này đại diện cho hy vọng lớn nhất trong tương lai của chúng ta – họ có thể và đang thực hiện các sự đàm thoại và hành động chính trị xã hội của đất nước này để hướng tới sự khoan dung, công bằng và bình đẳng hơn. Trong các lớp học, câu lạc bộ và các tổ chức của họ, tôi đã nói về những gì chính tôi và gia đình tôi đã trải qua khi còn là người tị nạn. Tôi nói rõ ràng và không hề thu lại những chỉ trích của tôi về Tổng thống Trump và chính quyền của ông về chính sách nhập cư, cách đối xử vô nhân đạo của họ đối với các gia đình di cư, và sự diễn tả tiêu cực của họ về người di trú. Tôi cũng nhấn mạnh với các sinh viên này tầm quan trọng của sự tham gia vào các hoạt động công dân và chính trị, và kêu gọi họ bỏ phiếu trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ 2018.

Vào tháng 3 năm 2017, tôi đã được lời mời từ đài truyền hình công cộng Sacramento, KVIE, để quay phim nói về trải nghiệm trốn thoát Việt Nam của tôi. Nó sẽ được phát sóng vào mùa thu, đồng hành với bộ phim tài liệu “Cuộc chiến Việt Nam” của Ken Burns. Câu chuyện của tôi là một phần của bộ sưu tập video mang tên “Câu chuyện chiến tranh Việt Nam của tôi”. Tôi đã chấp nhận yêu cầu này và xem nó như một cơ hội để chia sẻ với công chúng về kinh nghiệm của tôi và gia đình tôi với tư cách là người tị nạn. Tôi hy vọng rằng câu chuyện của chúng tôi sẽ đánh thức ý thức nhân bản chung ở những người khác và thúc đẩy sự đồng cảm lớn hơn đối với những người di trú. Một cuộc hẹn đã được thiết lập để ghi hình tại studio.

Vào ngày hôm đó, tôi đến đài KVIE. Cái phòng quay phim thật lạnh cóng. Điều này làm tôi thật lo lắng, vì tôi không chịu lạnh được do hậu quả của bệnh bại liệt. Tôi cũng bị run cơ bản, bởi vì bệnh rối loạn thần kinh gây ra sự run rẩy không kiểm soát được ở tay và đầu. Khi tôi lạnh, cơn run có thể trở nên nghiêm trọng đến nỗi có vẻ như tôi mắc bệnh Parkinson. Tôi yêu cầu họ tăng nhiệt độ nhưng được bảo rằng phòng thu hình cần được giữ lạnh vì ánh sáng có khả năng làm cho nó quá nóng. Vì vậy, tôi đã không làm lớn chuyện và chỉ tiếp tục với việc ghi âm. Tôi đã nói hơn một giờ về việc tôi thoát khỏi Việt Nam và quá trình định cư của gia đình tôi.

Vào ngày 12 tháng 9 năm 2017, tôi đã nói chuyện tại một buổi thảo luận lớn của KVIE cho cả loạt phim tài liệu của Ken Burns và KVIE về Việt Nam. Hai ngày sau, tôi được phỏng vấn trên làn sóng radio bởi Beth Ruyak, cho Insight, tại Capital Public Radio. Cuộc thảo luận tập trung vào hai bộ phim tài liệu và kinh nghiệm của tôi khi là người tị nạn Việt Nam.

Trong cả hai buổi nói chuyện này, tôi nói về tầm quan trọng của việc nhân bản hóa bộ mặt chiến tranh bằng cách bàn luận về sự kinh hoàng, mất mát nhà cửa, gia đình, và tổ quốc, và sự đau khổ do chiến tranh gây ra. Tôi cảm ơn các cựu chiến binh Việt Nam đã chiến đấu cho đất nước chúng tôi và xin lỗi họ vì sự đối xử tồi tệ mà họ nhận được khi trở về nước Mỹ. Tôi một lần nữa chỉ trích Trump và chính quyền của ông về việc quỷ dị hóa và đối xử tàn tệ với người di trú. Tôi nói với khán giả rằng tôi đến đây để nói lên một hình ảnh khác về những người di cư và người tị nạn là những công dân chăm chỉ, tuân thủ luật pháp, những người không có sự lựa chọn nào khác ngoài chạy trốn khỏi quê hương của mình vì hoàn cảnh chiến tranh và bạo động. Chúng tôi đã trốn thoát để tìm kiếm đất lành cư ngụ và cơ hội được sống cuộc sống hữu ích, những điều cơ bản mà tất cả mọi con người phấn đấu để đạt được.

Tôi cũng kêu gọi khán thính giả suy nghĩ về hoàn cảnh của tám trăm ngàn Dreamers (đây là những người di trú trẻ không có giấy tờ chính thức đến Hoa Kỳ khi còn nhỏ, đã sống và đi học ở đây, và trong nhiều trường hợp họ coi mình là người Mỹ) và gia đình của họ, những người đang sống trong sợ hãi và một tương lai bất an, không chừng. Tôi kêu gọi họ gây áp lực lên Quốc hội để khôi phục Chương trình Hành động Trì hoãn cho Trẻ em (DACA – Deferred Action for Childhood Arrivals), và thúc đẩy việc cho nhập tịch của những người trẻ này. Cuối cùng, tôi đã thách thức khán thính giả suy nghĩ họ sẽ làm gì nếu chiến tranh và bạo động nổ ra ở ngay nơi họ ở. Họ muốn cộng đồng thế giới đối xử với họ như thế nào?

Trong suốt tháng 9 và tháng 10 năm 2017, bộ phim tài liệu của tôi đã được đài KVIE phát sóng nhiều lần. Đối với tôi, phần ý nghĩa nhất khi tham gia dự án này là nghe ý kiến của công chúng và tìm hiểu câu chuyện của mình đã ảnh hưởng họ như thế nào. Nhiều người đã gọi, viết và chia sẻ rằng bộ phim tài liệu đã khiến họ hiểu biết sâu sắc và có đánh giá cao hơn đối với những người di trú, người tị nạn, và cuộc đấu tranh của họ. Ngay sau khi “Câu chuyện chiến tranh Việt Nam của tôi” được phát sóng, tôi đã biết từ KVIE rằng bộ phim này đã được đề cử giải Emmy trong khu vực. Dù không thắng giải, đây vẫn là một vinh dự khi được đề cử.

  • Vào chiều chủ nhật đẹp trời ngày 24 tháng 9 năm 2017, tôi trở về nhà sau một ngày cuối tuần đi chơi thật vui với những những người bạn thật thân của tôi từ thời đại học, những người mà tôi coi là chị em cùng một tâm hồn với mình. Chúng tôi là bạn trong ba mươi lăm năm và đã luôn giúp đỡ, lo lắng cho nhau trong lúc vui cũng như khi hoạn nạn. Bất kể việc gì xảy ra trong cuộc sống, chúng tôi luôn dành ít nhất một ngày cuối tuần để gặp nhau mỗi năm. Trong những chuyến họp mặt này, chúng tôi cập nhật tin tức, hoàn cảnh gia đình, chia sẻ những lời khuyên làm cha mẹ, trao đổi với nhau những cuốn sách hay nên đọc và cùng nhau thưởng thức những bữa ăn tuyệt vời. Năm nay, chúng tôi đã đi lên núi gần hồ Tahoe, California.

Sau khi về nhà và nói hello nhanh chóng với chồng và con gái tôi, Ladson, Carina và Mika, tôi đã đi đến gym tập thể dục. Theo thói quen, tôi tập thể dục năm lần một tuần để tự chăm sóc sức khỏe bản thân. Sau khi tập xong, tôi luôn đến ngâm trong bồn tắm nước nóng ngoài trời, xem như là một phần thưởng của mình. Tôi sử dụng thời gian yên tĩnh này để thiền và để giảm sự nhức mỏi và cơn đau kinh niên của tôi, tàn dư từ bệnh polio (sốt tê liệt) lúc nhỏ.

Sau năm phút ngâm mình thư giãn, tôi nghe thấy một tiếng nước văng bắn lên. Một người đàn ông da trắng khoảng 50 tuổi bước vào bồn nước nóng. Tôi sẽ gọi ông ta là John. Chúng tôi đã nhìn nhau và cười xã giao. Sau đó, tôi nhắm mắt lại và tiếp tục thiền. Một phút sau, ông ta lên tiếng hỏi “Bà có phải đang thiền không? Bà giống như là đang thiền vậy.”

Tôi gật đầu và không nói gì. Sau đó, John tiếp tục nói với tôi rằng hắn ta đã nghe một thành viên câu lạc bộ khác bảo rằng tôi đã sống ở Boston một thời gian. Rồi hắn ta bắt đầu nói về “tên khủng bố đánh bom ở Boston” và “tại sao gia đình của tên ấy đáng lẽ không bao giờ nên được đưa vào đất nước này”, và “tất cả những người tị nạn đều là kẻ gian trá và nên bị tống về nước”. John cũng ngang nhiên khoe rằng hắn là một chuyên gia về công nghệ thông tin và có thể tìm được chi tiết hay thông tin về mọi việc và mọi người. Mặc dù tôi đã nhìn thấy John ở câu lạc bộ nhiều lần, tôi chưa bao giờ trao đổi nhiều hơn một vài lời xã giao với hắn ta, và tôi cũng chưa bao giờ nói với hắn bất cứ điều gì về bản thân mình.

Tôi mở mắt ra và nói dứt khoát rằng “Tôi không nghĩ rằng tất cả những người tị nạn phải bị trả về nước. Đừng nói chuyện với tôi nữa, tôi đang thiền.” Rồi tôi lại nhắm mắt lại.

John làm lơ lời yêu cầu của tôi và tiếp tục lên giọng với tôi rằng hắn “ghét tất cả người da đen và người Mễ”, “tất cả bọn chúng đều là tội phạm”, và “chúng là thủ phạm của đa số các tội ác và tại sao nhà tù đầy dẫy bọn chúng.”

Tôi không thèm trả lời. Cùng lúc đó, một người đàn ông khác bước vào bồn nước nóng. Tôi cảm thấy bớt căng thẳng và hy vọng rằng John sẽ chuyển sự chú ý của mình sang người mới vào. Nhưng không, John lại lên giọng cao hơn và nói “Hey, Hey, mày có nghe không? Mày có nghe thấy những gì tao vừa nói không?”

Tôi vẫn lặng yên. Rồi John hét lên “Mày có phải là đồ tị nạn không? Tao biết mày là ai mà!”

Sự khinh miệt trong giọng nói của John đã làm tôi lạnh xương sống. Tôi tự hỏi làm thế nào mà hắn biết rằng tôi là một người tị nạn và tại sao hắn ta lại la lên điều này. Tôi mở mắt ra và thấy John đang trừng mắt vào tôi. Tôi nói với hắn một lần nữa rằng tôi không muốn nói chuyện.

Rồi John bắt đầu hét lên “Chắc mày đọc những thứ chết tiệt như tờ New York Times, phải không! Tao muốn phát điên lên vì bọn ngu dốt chúng mày không biết nghĩ cho chính mình!”

Tôi đứng dậy, nhìn thẳng vào mắt hắn ta và nói với giọng bình tĩnh nhưng cứng rắn “Ông phải ngừng ngay bây giờ, nếu không tôi sẽ báo cáo ông về sự quấy rối người khác!”

“Không, mày cần phải tự học, bitch. Mày phải suy nghĩ cho bản thân mình, bitch!” (Bitch, nghĩa đen là con chó cái, là một từ thóa mạ trong tiếng Anh)

Tôi nhìn người đàn ông kia trong bồn tắm và hỏi “Ông có nghe thấy hắn vừa gọi tôi là gì không?”

Người đàn ông kia lắc đầu, tránh mắt đi và không dám nói gì.

Câu trả lời thụ động và thờ ơ của người đàn ông kia dường như khuyến khích John tiếp tục tăng cường độ sự tức giận của hắn. Hắn ta hét lên những tiếng thóa mạ, chửi mắng tôi với những từ tục tĩu hạ tiện nhất, trong khi tôi liên tục bảo hắn ngừng lại.

Sau khoảng năm phút chửi mắng thậm tệ và dai dẳng của hắn, tôi bước ra khỏi bồn nước nóng và đi về phía phòng thay đồ, trong khi hắn vẫn tiếp tục hét lên những lời tục tĩu với tôi. Khi tôi bước vào phòng thay đồ của phụ nữ, tôi thấy nó vắng người. Lúc này tôi lên cảnh giác cao độ. Tim tôi đập thình thịch và óc tôi căng thẳng lên. Tôi tự hỏi liệu John có cả gan xông vào phòng thay đồ phụ nữ và tiếp tục cơn thịnh nộ của hắn không. Tôi đã cố gắng nghĩ về những phải ứng của mình nếu hắn làm như vậy. Tôi sẽ phải hét lên để được người khác giúp đỡ? Nếu không ai nghe tôi thì sao? Tôi phải nhanh chóng ra khỏi đây!

Tôi vội bước vào một phòng tắm, khóa cửa và thay mặc quần áo thật nhanh. Khi tôi bước ra khỏi phòng tắm, một người phụ nữ mà tôi chưa bao giờ gặp trước đây bước vào phòng và hỏi tôi với sự lo lắng “Bạn có ok không? Tôi nghe tên ấy nổi xung với bạn. Bạn thật là can đảm tuyệt vời khi dám đứng lên đối đầu với hắn. Tên đó thiệt là hung hăng! Lúc nãy, tôi sợ hắn ấy sẽ đặt tay lên đánh bạn.”

Tôi thật biết ơn người đàn bà ấy đã đến để xem tôi có ok không. Tôi cảm thấy bà ta như một thiên thần được Chúa và Mẹ Mary gửi đến để giúp tôi. Tôi cảm ơn lòng tốt và hỏi xin tên và số điện thoại của bà. Tôi nói với bà ấy rằng tôi muốn báo cáo hành động thù ghét của John với chủ của câu lạc bộ và sẽ thật biết ơn nếu bà có thể làm nhân chứng cho việc này. Bà cho tôi biết tên (tôi sẽ gọi bà ấy là Stacey), và nói rằng bà ấy sẽ rất vui khi nếu có thể giúp đỡ bằng bất cứ cách nào. Stacey và tôi đến quầy lễ tân của câu lạc bộ và báo cáo việc này với một nhân viên. Sau đó tôi đi thẳng về nhà.

Khi về đến nhà, tôi kể với chồng và các con gái tôi, Ladson, Carina và Mika, về những gì vừa xảy ra và sau đó đi thẳng vào máy tính của tôi để viết xuống tất cả những chi tiết khi sự việc vẫn còn nóng hổi trong tâm trí mình.

Vào lúc đó, Carina và Mika mới mười chín và mười bốn tuổi. Ladson (chồng tôi) và tôi thật buồn và thất vọng vì con gái chúng tôi đã phải bị va chạm với thực tế của nạn phân biệt chủng tộc, nhắm vào mẹ chúng và ở thành phố của mình. Chúng tôi đến sống ở thành phố này (Davis, California) và nghĩ rằng vì đây là một thành phố đại học với trào lưu cấp tiến, những điều như vậy sẽ không xảy ra với chúng tôi ở đây. Chúng tôi đã sai.

Trong các bữa ăn tối, gia đình tôi đã có nhiều cuộc thảo luận về các vấn đề liên quan đến chủng tộc và công bằng xã hội. Tối hôm đó, chúng tôi bàn về sự cố chấp là một vấn đề lớn như thế nào trong xã hội, sự kỳ thị chủng tộc ngày càng rõ ràng như thế nào, và thật là vô phước khi một số sắc tộc và tôn giáo bị gánh nặng kỳ thị nhiều hơn so với những người khác, và tất cả mọi người trong chúng ta phải có trách nhiệm lên tiếng chống lại những sự bất công này.

“Mẹ có định bỏ việc đi tập thể dục trong ít lâu không?”, các con tôi hỏi tôi.

“Không,” tôi bảo chúng. “Chúng ta không bao giờ để những người như John hăm dọa chúng ta hoặc thay đổi cách mình sống.”

Tôi bảo gia đình là tôi sẽ báo cáo John với cảnh sát và chủ câu lạc bộ vào ngày hôm sau. Nếu John làm bất cứ điều gì, tôi sẽ áp dụng toàn bộ luật pháp để truy tố hắn ta. Ladson tự hỏi liệu John có thể đã xem phim tài liệu của tôi phát sóng trên đài KVIE và vì thế nhắm mục tiêu vào tôi.

Sau bữa tối, tôi xem điện thoại làm việc của mình và thấy mình đã nhận được bốn cái text messages từ một số mà tôi không nhận ra lúc 8:24 tối. Khi tôi mở những texts này ra, tôi nhận ra ngay John là người đã gửi chúng. Chúng chứa các bài báo, đồ thị và số lượng tỷ lệ giam giữ trong tù ở California phân chia ra theo chủng tộc. Trong texts của hắn, John nói rằng hắn gửi tôi những thông tin này để “dạy dỗ” tôi và tôi chứng minh rằng đa số các tội ác ở Mỹ đều do người da đen và người châu Mỹ La Tinh (Hispanics) phạm phải.

Nhận được các texts của John càng làm tôi thật bực mình. Tôi cảm thấy như hắn ta đang xâm phạm không gian cá nhân của tôi. Tôi nói với Ladson về các texts này và sau đó quay trở lại phòng của chúng tôi để thiền, một việc tôi làm mỗi tối trước khi đi ngủ. Khi tôi ngồi trên chiếc đệm thiền của mình, những lời nói của ba tôi đã quay trở lại với tôi “Không ai có thể làm tổn thương mình bằng những lời nói và hành động ngu dốt và đáng ghét của họ. Hành vi của họ nói nhiều về con người của họ hơn là mình.”

Ba tôi đã bảo tôi điều này từ nhiều năm trước, khi tôi rất lo sợ cho sự an toàn của ông trong thời gian ông ta là nạn nhân của nhiều hành vi thù ghét chủng tộc. Ông đã ngẩng cao đầu và không để cho sự thiếu hiểu biết và nọc độc của người khác ảnh hưởng đến mình. Bây giờ, những lời dạy thâm thúy của ông đã mang đến cho tôi sự thoải mái và cân bằng khi tôi trải nghiệm sự thù ghét chủng tộc của người khác đối với chính mình.

Sáng hôm sau, tôi đến phòng tập thể dục và nói chuyện với chủ câu lạc bộ thể dục, người mà tôi sẽ gọi là Sheri, về những gì đã xảy ra đêm hôm trước. Tôi đọc cho cô ấy ghi nhận của tôi về việc ấy và đưa cho cô ấy một bản sao. Tôi cũng cho cô ta thông tin liên lạc của Stacey, vì bà ta là nhân chứng. Sheri bảo tôi rằng cô ấy sẽ xem xét vấn đề và nói chuyện với tôi sau buổi tập.

Khi tôi gặp cô ta sau đó, Sheri tỏ ra hối tiếc và lo lắng cho những gì đã xảy ra với tôi. Sau đó cô ấy gọi cho John khi tôi vẫn còn ở đó để báo cho hắn rằng membership của hắn đã bị cắt đứt. Lúc đầu John cố gắng chối mọi thứ. Hắn nói rằng “chúng tôi chỉ nói chuyện thôi”. Khi Sheri nói với hắn rằng có những nhân chứng đã báo cáo hắn, hắn hét lên và hăm dọa cô ta. Sau khi Sheri tắt điện thoại với John, cô lập tức báo cáo của cảnh sát và bảo nhân viên của mình hãy hết sức cảnh giác và hướng dẫn họ gọi 911 nếu hắn vào phòng tập thể dục. Cô ấy cũng bảo tôi rằng cảnh sát đã khuyên tôi nên đến đồn cảnh sát ngay lập tức để báo cáo “hate crime” (tội phạm thù hận) này.

Tôi rời phòng tập và đi thẳng đến đồn cảnh sát. Tôi được tiếp bởi cảnh sát Tim (không phải tên thật của ông ta), và ông dẫn tôi vào một căn phòng không có cửa sổ. Tôi đã đọc cho ông ta nghe những gì tôi đã viết về việc xảy ra tối hôm qua và nói với ông những gì đã xảy ra với Sheri tại phòng tập thể dục sáng hôm đó, và luôn cả tên viên cảnh sát mà cô ấy nói chuyện đã hướng dẫn tôi đến để báo cáo “hate crime” (tội phạm thù hận) này. Tôi bảo ông sĩ quan Tim rằng những bình luận kỳ thị chủng tộc của John và cơn thịnh nộ của hắn làm tôi thật lo sợ. Tôi muốn biết những gì tôi có thể làm để bảo vệ bản thân mình vì hắn đã gửi cho tôi bốn cái text messages.

Sĩ quan Tim, người khoảng mới hơn ba mươi, có một nét mặt lạnh lùng và nói với tôi với một giọng nói thiếu tình cảm, đơn điệu phẳng lặng “Đây không phải là tội phạm luật. Hắn ta chưa làm điều gì bất hợp pháp. Ông ta có thể thi hành quyển First Amendment (tự do ngôn luận) và có thể nói bất cứ điều gì ông ta muốn nói. Để việc này thực sự trở thành một tội ác, anh ta phải gây ra tổn thương cơ thể hoặc đe dọa nguy hiểm ngay lập tức đến tính mạng của bà. Ngoài ra, số điện thoại của bà được công bố. Vì thế ông ấy có thể gửi text cho bà nhiều như ông ấy muốn. Nếu bà không muốn điều đó xảy ra, bà phải thực hiện các bước để xóa số điện thoại của mình.”

“Vậy là tôi không có thể làm gì để tự bảo vệ bản thân mình à?”

“Không, không có gì cả.”

Tôi sững sờ và im lặng nhìn viên sĩ quan vô tình này.

Tôi nói “Tôi thật bối rối không hiểu tại sao một sĩ quan khác từ đồn cảnh sát này chỉ bảo tôi đến nộp báo cáo cảnh sát ngay lập tức nếu những gì ông nói là đúng.”

Sĩ quan Tim thở dài và trả lời “Thôi được, nếu bà muốn bà có thể điền vào một báo cáo sự cố thù hận.”

“Có”, tôi đã trả lời ngay lập tức, “Tôi nhất định muốn làm điều đó.”

Ông ta yêu cầu tôi đưa cho ông bản in của tôi về sự việc tối hôm qua. Rồi ông ta đứng dậy đột ngột và đưa tôi ra ngoài.

“Tôi có thể nhận được một copy của báo cáo sau khi hoàn thành không?”

Tim trả lời nhạt nhẽo “Tôi không biết thủ tục làm thế nào để bà có thể xin được copy của bản báo cáo.”

“Tôi có thể nói chuyện với ai khác biết thủ tục này không?”

“Bà hãy gặp người khác ở phía trước”, Tim trả lời rồi nhanh chân bước ra khỏi phòng.


Rời đồn cảnh sát, tôi cảm thấy choáng váng, thất vọng và tức giận. Tôi thật bực dọc với cách viên cảnh sát Tim đối xử với tôi. Nó làm tôi hiểu rõ hơn lý do tại sao một số nạn nhân có thể chọn không báo cáo các tội ác họ gặp phải với cảnh sát, và cảm thông hơn với sự tái tổn thương của họ bởi vì sự đối xử tiêu cực mà họ nhận được từ cơ quan thi hành pháp luật.

Một người bạn xin phép tôi để hỏi ý kiến của một city council member (thành viên hội đồng thành phố) đáng tin cậy, mà cũng là bạn của cô ấy, để hỏi xem những gì đã xảy ra với sĩ quan Tim có phù hợp hay không. Người city council này đã nhanh chóng gửi email cho tôi và kết nối tôi với ông cảnh sát trưởng. Ông cảnh sát trưởng đã liên lạc với tôi và mời tôi nói chuyện trực tiếp với ông về sự việc xảy ra. Tôi cảm ơn ông đã mau chóng đáp ứng và sắp xếp thời gian để gặp ông ta vào tuần sau.

Vào ngày hôm đó, thư ký của ông cảnh sát trưởng dẫn tôi vào văn phòng của ông. Tôi cảm ơn ông đã tiếp tôi. Tôi chia sẻ chi tiết về cái “hate incident” (sự cố thù hận) tôi gặp phải hỏi ý kiến ông tôi có thể làm gì được. Ông cảnh sát trưởng là người có vẻ tốt bụng và đưa ra những gợi ý hữu ích. Ông bảo tôi rằng nếu John text cho tôi, tôi nên text lại cho hắn ngay lập tức “Đừng text tôi lần nữa. Ông đang quấy rầy tôi”. Sau đó tôi nên báo cáo sự việc cho cảnh sát ngay, và họ sẽ xử lý tình huống này. Ông cảnh sát trưởng cũng nói rõ sự khác biệt giữa báo cáo “hate crime” (tội phạm thù hận) so với nộp báo cáo “hate incident” (sự cố thù ghét). Điều xảy ra với tôi là một “hate incident: (sự cố thù ghét) và tôi đã làm đúng khi báo cho cảnh sát và nộp báo cáo. Ông cũng chia sẻ rằng đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng tội phạm thù hận và sự cố thù ghét xảy ra trong thành phố này kể từ cuộc bầu cử năm 2016.

Tôi đặt vấn đề với ông cảnh sát trưởng về những gì đã xảy ra với sĩ quan Tim. Tôi bảo rằng buổi gặp mặt với Tim làm cảm thấy ông cảnh sát này vô cảm, và có thái độ xua đuổi và đổ lỗi cho nạn nhân. Tôi lo rằng những hành vi như vậy có thể làm tổn thương các nạn nhân đã cố gắng báo cáo tội ác và ngăn cản các nạn nhân khác cũng làm như vậy. Tôi cảm ơn ông cảnh sát trưởng đã giải thích sự khác biệt giữa tội phạm thù hận và sự cố thù ghét và hỏi lý do tại sao sĩ quan Tim đã không cho tôi biết rằng tôi có thể nộp báo cáo cho đến khi kết thúc và tại sao ông ta dường như muốn ngăn cản tôi làm như vậy. Ông cảnh sát trưởng xin lỗi tôi vì những gì đã xảy ra và đảm bảo với tôi rằng ông sẽ chỉ bảo Tim để thực hiện những thay đổi cần thiết.

Tôi cũng đề nghị ông nên có thêm những buổi huấn luyện cho các cảnh sát viên của ông về sự nhạy cảm với công chúng bởi vì những gì đã xảy ra với tôi và một số cuộc xô xát gần đây giữa cảnh sát và những người trong cộng đồng chúng tôi. Ông cảnh sát trưởng nói rằng các sĩ quan của ông được huấn luyện nhạy cảm một cách thường xuyên, nhưng có lẽ đã đến lúc họ cần một khóa bồi dưỡng.

Sự thù ghét xảy ra ở phòng tập thể dục đã làm tôi mở mắt và rùng mình. Tôi chưa bao giờ bị ai nói như vậy và tôi cũng chưa bao giờ có những lời thậm tệ như vậy nhắm vào mình. Sự kiện này khiến tôi băn khoăn không biết có phải những phát biểu của Trump về sự phẫn nộ của người da trắng và việc ông chỉ trích và so sánh những người nhập cư như tội phạm hay ác quỷ đã thúc đẩy những người như John nhắm và công kích người di trú hay không.

John và những người như ông ta chưa bao giờ chịu tìm hiểu sự thật về thống kê tội phạm của nước Mỹ. Xét về số lượng tội phạm đã gây ra, người da trắng thực sự phạm tội ở Hoa Kỳ nhiều hơn bất kỳ nhóm dân tộc nào khác. Điều này hợp lý vì họ là đa số. Sự biểu lộ quá mức của người da đen và gốc châu Mỹ La tinh trong các nhà tù có thể được quy vào cho sự kỳ thị chủng tộc vốn có trong các hệ thống hành pháp và tư pháp của chúng ta, có xu hướng bắt giữ, kết án và tống giam các nhóm người này với tỷ lệ cao hơn và cho họ bản án dài hơn, cho cùng những tội ác phạm phải bởi người da trắng. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu trong hai mươi năm qua đã cho thấy sự gia tăng 130% trong các tội phạm ma túy do người da trắng gây ra, so với việc giảm 50% trong các tội ác như vậy của người da đen. Đồng thời, đối với các tội phạm ma túy tương tự, người da trắng được nhận các dịch vụ cai nghiện trong khi người da đen dễ bị tống vào tù hơn. Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy những người nhập cư luôn có tỷ số phạm tội ít hơn so với người Mỹ bản xứ.

Những thống kê thuyết phục này nên khiến tất cả chúng ta suy nghĩ lại và buộc chúng ta phải trực diện đối đầu với những người kêu xéo người di trú và người da màu là tội phạm. Chúng ta cũng cần phải bênh vực và đòi hỏi guồng máy hành pháp đối xử bình đẳng hơn đối với tất cả những người phạm tội theo luật, bất kể chủng tộc. Với tỷ lệ tù đày đáng kinh ngạc ở nước ta so với các nước đang phát triển khác, việc nên làm là đầu tư nhiều tiền hơn vào các chương trình cải tạo những người phạm tội bất bạo động lần đầu thay vì đưa họ vào tù. Những người bị giam giữ có thể được hưởng lợi từ nhiều chương trình chú trọng vào xây dựng kỹ năng làm việc cho họ, ảnh hưởng đến quy định, và đào tạo nghề nghiệp để giúp họ chuẩn bị cho cuộc sống bên ngoài nhà tù. Một thí dụ điển hình là các nhà tù cung cấp các chương trình giảm căng thẳng và thiền định dựa cho tù nhân đã thấy chúng rất có hiệu quả và hữu ích.

Tất nhiên, những phát biểu thù hận của Trump đối với người nhập cư đã ảnh hưởng không chỉ đến thành phố nơi tôi sống. Nó trùng hợp với sự gia tăng của các tội ác thù hận và nhóm hay tổ chức thù hận trên khắp nước Mỹ. Trung tâm Southern Poverty Law Center báo cáo rằng trong năm 2018, con số “hate groups” (nhóm thù hận những người không phải da trắng) ở Mỹ đã tăng lên mức cao nhất trong hai mươi năm. Các nhóm này chịu trách nhiệm giết chết ít nhất bốn mươi người ở Hoa Kỳ và Canada vào năm 2018, tăng gấp đôi số lượng so với năm trước. Thống kê từ FBI năm 2017 cho thấy tội phạm thù hận gia tăng 30% và “the Anti-Defamation League” (Liên đoàn chống phỉ báng) đã tiết lộ rằng những nhóm “white supremacist” (từ này dùng để chỉ những người tin rằng người da trắng phải có vị trí tối cao trong xã hội) và các nhóm cực hữu khác đã thực hiện phần lớn các vụ giết người vì cực đoan ở Hoa Kỳ vào năm 2017.

Việc Trump từ chối lên án những kẻ white supremacist (siêu quyền lực người da trắng) vì những lời lẽ và tội ác kỳ thị chủng tộc của họ được minh họa bằng sự miễn cưỡng từ chối sự ủng hộ của David Duke (một cựu cán bộ cao cấp của nhóm Ku Klux Klan) khi ông ra tranh cử tổng thống. Phát biểu của Trump rằng “Có những người rất tốt ở cả hai bên” sau cuộc biểu tình “Unite the Right” ở Charlottesville, Virginia, nơi mà người phản kháng biểu tình Heather Heyer bị giết, và mô tả của Trump về Haiti và các nước châu Phi như “shitholes” (ổ phân), là những thí dụ điển hình về sự cố chấp và ngấm ngầm ủng hộ các nhóm hate groups để chúng tiếp tục các hoạt động tàn bạo. Trên thực tế, nhiều người white supremacists đã ca tụng tên Trump tại các cuộc mít tinh và xác định ông là người ủng hộ cho mục đích của họ. Sự điên cuồng chống người nhập cư được thúc đẩy bởi Trump, với các cuộc nói chuyện của Trump so sánh các đoàn lữ hành di cư như xâm chiếm biên giới Hoa Kỳ, đã thúc đẩy một người white supremacist giết chết mười một tín đồ tại giáo đường The Tree of Life ở Pittsburg, Pennsylvania. Một người khác đã giết hai mươi hai mạng sống ở El Paso năm 2019. Nghi phạm trong vụ nổ súng ở New Zealand, người đã giết năm mươi người Hồi giáo tại hai nhà thờ Hồi giáo vào tháng 3 năm 2019, đã ca ngợi Trump và nhấn mạnh ông là “một biểu tượng của bản sắc da trắng được đổi mới và mục đích chung”.

Hơn nữa, sự dễ dàng và thường xuyên mà ông tổng thống này nói dối, cùng với sự bốc đồng, nhỏ mọn, và thiếu đạo đức của ông, là những điều thật đáng lo lắng. Cách đối xử với phụ nữ của ông ta cũng thật tệ hại và đáng trách không kém – khi ông biến họ thành những vật quan sát bằng cách đưa ra những nhận xét thô thiển về ngoại hình, dung nhan của họ, hay gọi họ bằng những biệt danh thô lỗ, và khoe khoang về việc quấy rối tình dục họ. Những hành vi này thật đặc biệt kinh hoàng khi ta hiểu rằng là tổng thống, ông ta đương nhiên là một role model (mô hình mẫu mực) cho người khác.

Việc Trump và chính quyền của ông biến những người Hồi giáo, người Mễ, người di cư và người nhập cư là việc làm không tôn trọng, hạ cấp con người, và thật nguy hiểm. Đất nước này có một lịch sử đen tối gạt ra bên lề nhiều nhóm người để chúng ta có thể từ chối các quyền cơ bản của họ: phụ nữ, từ chối họ quyền bầu cử (và nhiều nhóm khác); Người Mỹ da đỏ bản địa, để tước đoạt đất đai và văn hóa của họ; Người Mỹ da đen gốc Phi, từ chối họ mọi thứ quyền của mọi loại, cả trước và sau khi Emancipation (cuộc giải phóng nô lệ); Người Mỹ gốc Nhật, những người đã bị bỏ trong các trại tập trung và bị tịch thu tài sản trong Thế chiến thứ hai; các cặp vợ chồng từ các sắc dân khác nhau, những cuộc hôn nhân của họ không hợp pháp cho đến năm 1967; và các cá nhân LGBTQ (những người với các giới tính khác), từ chối họ quyền yêu thương, kết hôn, sinh con và phục vụ trong quân đội và các nghề nghiệp khác.

Như đã được báo cáo rộng rãi, chính quyền Trump đang vi phạm quyền của hàng ngàn trẻ em di cư bằng cách giam giữ họ bất hợp pháp trong nhiều tháng. Có thể mất đến hai năm trước khi những trẻ em này được đoàn tụ với gia đình. Một số có thể không bao giờ được đoàn tụ. Luật liên bang và một thỏa thuận của tòa án năm 1997 được gọi là Flores yêu cầu những đứa trẻ này được thả ra cho những người bảo lãnh ở Hoa Kỳ trong vòng hai mươi ngày, trong hầu hết các trường hợp. Biết được sự ngược đãi tàn bạo hiện nay đối với trẻ em di cư và lịch sử đen tối của Mỹ, tất cả chúng ta cần phải làm hết sức mình để vạch trần và lên tiếng chống lại mọi hình thức bất công, thù hận và cố chấp. Chúng ta không thể để quá khứ xấu xa của nước Mỹ tái diễn ở đây và bây giờ. Chúng ta hãy để tâm đến câu nói của Tiến sĩ Martin Luther King Jr. và đừng là người bạn im lặng.

Tôi cũng kêu gọi tất cả người Mỹ và cộng đồng thế giới tham gia và tận lực hỗ trợ người tị nạn trên toàn thế giới. Có lẽ chúng ta có thể bắt đầu bằng cách cho họ thấy lòng trắc ẩn hơn là phỉ báng họ. Mỗi phút, có hai mươi người tị nạn trên thế giới phải dời chỗ ở của họ vì chiến tranh, và hơn nửa triệu người bị từ chối cho vào các quốc gia trú ẩn an toàn. Khi tôi viết điều này, hàng ngàn người tị nạn Venezuela đang chạy trốn do cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra ở đất nước họ.

Tôi tin tưởng rằng vào cuối ngày, chính lòng nhân bản, hoạt động của chúng ta và những hành động tử tế của con người đối với nhau sẽ cung cấp cho chúng ta một loại thuốc mạnh nhất để chữa lành vết thương chủng tộc, chính trị và xã hội, và để tạo thế giới của chúng ta thành một nơi tốt đẹp hơn.

Share this post