Những Người Muôn Năm Cũ Hồn Ở Đâu Bây Giờ (Vũ Đình Liên) – Giao Chỉ San Jose

Những Người Muôn Năm Cũ Hồn Ở Đâu Bây Giờ (Vũ Đình Liên) – Giao Chỉ San Jose

Hơn nửa đời người sống tại San Jose, dài gần nửa thế kỷ, chúng tôi có nhiều bằng hữu. Mỗi lần tiễn người đi, tôi có dịp viết một bài ai điếu. Có duyên thì sáng tác, bất kể thân sơ, nhưng không may mắn viết cho tất cả anh chị em. Không phải vì giàu nghèo hay sự nghiệp hơn kém. Bây giờ gần đến lượt mình bèn góp lại những bài vô tình còn lưu lại trên thế giới ảo để in thành tác phẩm. Giữ cuộc đời của anh chị em còn ở lại bằng văn tự Giao Chỉ. Lấy câu thơ của cụ Vũ Đình Liên làm tựa đề tác phẩm. Mỗi bài tạp văn mang linh hồn của một bằng hữu đã cùng một thời sống gần nhau. Xin gọi là nhờ văn chương một lần giữ Đời cho nhau.


Năm nay 2021, nhân danh Viet Museum chúng tôi sẽ đem tất cả các DVD và tác phẩm hiện có và sẽ xuất bản, gửi đi bốn phương cho tất cả bè bạn xa gần. Bán cũng không phải bán, biếu cũng không hẳn là biếu. Chỉ là chương trình nhờ độc giả và khán giả Giữ Đời Cho Nhau. Cuốn tạp văn này cũng thế. Trân trọng. Giao Chỉ, San Jose.

(1) HÀ THƯỢNG NHÂN, không một lời than thở.

Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm. Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của Văn bút Việt Nam Hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca. Không tác phẩm là không hội viên. Nói gì là chủ tịch.

Chàng thi sĩ niên trưởng ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (1939- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Xanh của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra…”

Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các đàn anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình.Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

Các anh từ khu Tư nổi tiếng về họp tại đình làng Bình Hải.Năm đó, tuổi 16 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh 15 tuổi tham dự chống nạn mù chữ hát bài chữ i chữ tờ.

Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

Một đời văn nghệ

Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến trung tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú.

Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

Buồn xưa náo động mấy vần thơ…

Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thuở xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

Do nhu cầu của tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me-xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang lon đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc: 1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobile, và nhà dưỡng lão.
Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là Trung tá Lực lượng Đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

Sau đây là giai đoạn cuộc đời bằng Anh Ngữ.

DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobile Home, Nursing Home.

Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn.Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Willow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa…

“Ta từ có bạn đến giờ,

Lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…”

Những bài thơ…

Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bảy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha Chiến tranh Tâm lý xuất bản.

Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

Ông đã từng viết :

“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

Ta viết vào trang Thơ, tình yêu ta không mất.”

Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

“Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu dao.”

Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp Sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh.Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau:

Thắp sáng muôn vì sao

Nếu như không đau khổ.

Làm sao biết căm hờn.

Càng muôn trùng sóng gió.

Tay chèo càng vững hơn.

Chúng ta cùng có nhau.

Nhìn nhau vui hớn hở.

Trên luống cày khổ đau.

Hoa Tự do vẫn nở

Những mái đầu cất cao.

Không một lời than thở.

Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là:

“Những mái đầu cất cao, không một lời than thở”.

Nhưng có hai bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa Buồn từ trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ Biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4/75.Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

Ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

Mưa Buồn Long Giao

Trời có điều chi buồn?

Mà trời mưa mãi thế!

Cây cỏ có chi buồn? Mà cỏ cây ứa lệ!

Anh nhớ em từng phút,

Anh thương con từng giây.

Chim nào không có cánh,

Cánh nào không thèm bay.

Người nào không có lòng,

Lòng nào không ngất ngây.

Gửi làm sao nỗi nhớ,

Trao làm sao niềm thương.

Nhớ thương như trời đất,

Trời đất vốn vô thường.

Ngày xưa chim hồng hộc,

Vượt chín tầng mây cao,

Ngày xưa khắp năm châu,

Bước chân coi nhỏ hẹp,

Bây giờ giữa Long Giao,

Ngồi nghe mưa sùi sụt,

Cuộc đời như chiêm bao.

Có hay không nẻo cụt,

Anh châm điếu thuốc lào,

Mình say, mình say sao!!

Trại Long Giao 1975

Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, liên khu 4, Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa:
Xin Làm Cỏ Biếc

Anh cầm tay em,

Bàn tay khô héo.

Anh nhìn mắt em,

Gió lùa lạnh lẽo.

Anh nhìn lòng mình,

Mùa Đông mông mênh.

Cỏ non mùa Xuân,

Còn vương dấu chân.

Trăng non mùa Hạ,

Ướt đôi vai trần.

Có xa không nhỉ

Ngày xưa thật gần.

Thời gian! Thời gian.

Em vẫn là em…

Nụ cười rạng rỡ,

Ngày nào vừa quen,

Mai đưa em về,

Xin làm cỏ biếc,

Vương chân em đi.

Xin làm giọt mưa

Mưa dầm rưng rức.

Trên vai người yêu,

Sài Gòn Sài Gòn, Không là quê hương, Mà sao mình nhớ, Mà sao mình thương.

Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh Chương Nghệ Tĩnh 1978.

Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Sài Gòn. Nhưng có ai yêu Sài Gòn hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

Saigon Saigon, / không là quê hương.

Mà sao mình nhớ, / mà sao mình thương.

Gửi ông bạn già,

Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi thập niên 70 ở Sài Gòn tôi cũng không quen bác. Bác H.O. về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bản tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó.

Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

“Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

Năm nay bác đã ngoài 90.Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê.Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác.Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

Bác phê bình Giao Chỉ tôi viết văn như bổ củi.Hết bó này đến bó khác.Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi.Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp: “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng:

“Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh. Bác sống say say.

Bác tự hỏi lòng : “Mình say sao? Bác say thật rồi.

Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời.

Bác thuộc về một số rất ít.

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

Ngoc Lan post (theo Giao Chỉ)

Phần tiểu sử Nhà thơ HÀ THƯỢNG NHÂN

Hà Thượng Nhân (1920- 11/10/2011) là bút hiệu của nhà thơ Phạm Xuân Ninh, nguyên danh Hoàng Sĩ Trinh.Ông quê ở Hà Thượng, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.

Ông từng dạy học ở trường Dũng Lạc Hà Nội và trường Thiếu Sinh Quân Liên khu IV, rồi theo Kháng chiến nhưng đến năm 1952 thì ông về thành rồi di cư vào Nam. Ông gia nhập Quân đội VNCH lúc đó thăng đến cấp trung tá.

Đóng góp văn học

Nhà thơ Hà Thượng Nhân làm Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia, chủ bút rồi chủ nhiệm nhật báo Tiền tuyến, lúc đầu do Cục Tâm lý chiến đảm nhiệm, sau tập thể của quân đội. Với nhật báo Tự Do ông thường góp bài dưới bút hiệu Tiểu Nhã và phụ trách mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung”. Bút hiệu khác của ông là Nam Phương Sóc trên báo Ngôn luận. Ông là thành viên của Trung tâm Văn Bút VN.

Về tài văn thơ, ông có biệt tài làm thơ trào phúng nhưng khi còn trẻ tuổi ông cũng sính thơ Đường. Khi vào Huế trong một cuộc chơi thơ, ông có ứng khẩu một bài thơ vịnh “Trăng Thu” được chấm là hay nhất.”

Nhà thơ Hà Thượng Nhân từng được Phủ Quốc vụ khanh Văn hóa của VNCH đề cử làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật về bộ môn Thơ.

Sau năm 1975 ông đi “tù cải tạo” cho đến năm 1983 mới được về và sang định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990 dưới diện HO. Ông mất vào ngày 11/10/2011 tại San Jose California, thọ 91 tuổi.

Share this post