Phan Khôi – Thầy Cãi – Đỗ Lai Thúy

Phan Khôi – Thầy Cãi – Đỗ Lai Thúy

Tranh cãi là mẹ của chân lý TỤC NGỮ NGA

Quảng Nam hay cãi… TỤC NGỮ VIỆT

Báo chí Việt Nam trước năm 1945 rất nhiều tranh luận. Và những tranh luận đó hầu hết nếu không do Phan Khôi khởi xướng thì ít nhất cũng dính dáng đến ông. Ta hãy chỉ kể ra một số cuộc:

– Tranh luận về luân lý Truyện Kiều.
– Tranh luận về vấn đề Quốc học.
– Tranh luận về Nho giáo và cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim.
– Tranh luận về duy tâm và duy vật.
– Tranh luận về chế độ phong kiến ở Việt Nam.
– Tranh luận về vấn đề thơ cũ thơ mới.

Và Phan Khôi cũng “đọ bút” với rất nhiều “cao thủ” như Trần Huy Liệu, Phạm Quỳnh, Lê Dư, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Hải Triều, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Tiến Lãng..

Nhưng, có lẽ, điều quan trọng nhất là trong các cuộc tranh luận với các đồng nghiệp của mình, nhiều vấn đề quan trọng, mới mẻ đã được Phan Khôi nêu ra và giải quyết. Như vấn đề tranh luận về quốc học: Hiểu thế nào là quốc học? Nước ta có quốc học không? Làm thế nào để chấn hưng quốc học? Như Phan Khôi đã là người đầu tiên đặt vấn đề nước ta có chế độ nô lệ không? Có chế độ phong kiến không? Và cần phải phân biệt cái vẫn gọi là chế độ phong kiến của ta với cái Féodalisme của châu Âu… Như Phan Khôi là người hết sức chống lại Tống nho, đặc biệt là lý thuyết Tống nho trong vấn đề phụ nữ cải giá. Ông cũng là một trong những người đầu tiên dám để cập đến vấn đề “Người Việt Nam xấu xí”, tức nêu và phê phán những nhược điểm trong tâm tính, ứng xử của người Việt để mong họ tiến bộ. Còn trong việc tranh luận thơ mới thơ cũ thì Phan Khôi, chẳng những là người ủng hộ Thơ Mới mà còn là một người mở đầu của phong trào này với bài thơ Tình già…

Những vấn đề mà tình trạng học thuật bấy giờ đặt ra và Phan Khôi tham gia vào giải quyết qua những tranh luận nói trên, có thể bây giờ chúng ta đã vượt qua, hoặc còn đang tiếp tục giải quyết, trên cơ sở những tri thức mới, những lý luận mới. Nhưng điều đáng nói ở đây: Phan Khôi đã dám đặt ra vấn đề để tranh luận, văn hóa tranh luận của ông và nhân cách khoa học của ông.

Phải nói rằng, Phan Khôi có thể trở thành Phan-Khôi-người-cãi, trước hết nhờ tính chất dân chủ trongtranh luận học thuật bấy giờ. Đây là thời đại của tranh luận. Một phần, do ý thức cá nhân phát triển. Phầnkhác, như là nguyên nhân và hệ quả của nó, đời sổng đô thị bấy giờ, nói gì thì nói, đã là một xã hội dân sự, trong đó có nhiều trí thức độc lập, sống bằng các nghề như dạy học tư, mở văn phòng luật sư, phòng khám bệnh riêng, làm văn, viết báo ngoài “biên chế” nhà nước. Nhờ vậy, một tầng lớp trí thức tự do đầu tiên trong xã hội Việt Nam bước ra từ đội ngũ thư lại. Một trong những điều kiện để một người có học trở thành người trí thức là có tư duy độc lập, vượt thoát khỏi chuyên môn hẹp của mình để suy nghĩ về những vấn đề chung thuộc vận mệnh đất nước, tương lai văn hóa của dân tộc.

Phê bình và tranh luận báo chí từ 1932 trở đi, nhờ thế, khác hẳn lối phê điểm trung đại thường bao giờ cũng dựa trên những quyền lực cũ, những nguyên lý cũ, thường do người già quen sống trong các xã hội kinh nghiệm, hoặc những danh nhân mới do những người có chức quyền trong các xã hội toàn trị nắm giữ. Bây giờ, phê bình và tranh luận ít nhiều đã theo một quyền lực mới. Đó là tri thức. Tri thức nhiều hay ít. Tri thức đúng hay sai. Có thể nói, đây là một sự “đổi thay quyền lực”. Từ một quyền lực có tính chất độc tài, bạo quyền sang quyền lực của dân chủ, của trí tuệ. Nhờ đó, tranh luận từ khẩu khí độc thoại áp đặt sang khẩu khí đối thoại thuyết phục, dân chủ và bình đẳng. Chấp nhận đối thoại tức thừa nhận quyền có ý kiến của người khác, đặc biệt là ý kiến khác với ý kiến của chính mình. Và mình phải tôn trọng ý kiến đó. Thiết nghĩ, hẳn chỉ khi ý thức cá nhân phát triển cao trong một xã hội đã xã hội hóa rộng thì mới tạo ra dân chủ, một thứ dân chủ không chỉ cho đám đông mà còn là dân chủ cho cá nhân, thì mới là điểu kiện cần và đủ để đảm bảo cho đối thoại.

Tuy vậy, một đối thoại dân chủ và bình đẳng còn do trong đối thoại không phải là sự cọ xát của bản thân những cá nhân tham gia tranh luận. Họ phát ngôn bởi vì họ là đại diện cho những quan điểm, ý kiến được đưa ra tranh luận. Bởi vậy, nếu có sự “đánh đổ”, phủ định một ý kiến nào đó thì, trước hết, không phải đánhđổ, phủ định cá nhân nào đó, nên ở đây không có xúc phạm cá nhân. Hơn nữa, chúng ta cũng nên hiểu, chữ phủ nhận trong phê bình văn học không phải là “tiêu diệt” một ý kiến nào đó, mà chỉ là một chứng minh ý kiến đó còn thiếu sót, chưa đầy đủ, hoặc bác bỏ tham vọng trở thành cái đúng phổ quát của nó để đưa nó xuống thành cái đúng trường hợp.

Có thể nói, trong các cuộc tranh luận của mình, Phan Khôi đã có một ý thức như vậy. Trên cơ sở khoa học, dân chủ và tâm thành đó, người ta thấy Phan Khôi là một con người tự do. Ông đã rất mạnh dạn đề cập đến cái xấu của người Việt mà không sợ bị quy hết là xúc phạm tính tự tôn dân tộc khi viết về Cái cười của con rồng cháu tiên trong tranh luận với Tản Đà và Nguyễn Tiến Lãng: “Chúng ta cứ mở miệng ra là xưng mình là con rồng cháu tiên, cứ tưởng mình là văn minh lắm, khôn ngoan lắm, ngờ đâu chỉ một cái cười cũng không nên dáng”. Hoặc trong tranh luận, Phan Khôi có thái độ rất thẳng thắn, thẳng băng rất khó chấp nhận trong xã hội Việt Nam ưa nghi lễ. Với ông, lẽ đúng sai là trên hết, không nề hà đến các quan hệ thân tộc, như khi tranh luận về vấn đề quốc học với Lê Dư, không e sợ quyền uy, sẵn sàng “Cảnh cáo các nhà học phiệt” khi tranh luận với Phạm Quỳnh… Những khi biết mình sai do hấp tấp hoặc chưa tra cứu kỹ, hoặc quá lời, Phan Khôi sẵn sàng thừa nhận và xin lỗi đối phương. Con người Phan Khôi là như vậy.
Con người Phan Khôi, tôi nghĩ, trước hết là hoa trái của đất Quảng. Đèo Hải Vân như một bức trườngthành kéo dài từ Trường Sơn ra biển chia đôi Việt Nam ra thành hai miền khí hậu khác nhau. Từ Quảng Nam trở vào chỉ còn có hai mùa: khô và mưa. Từ đó mà tạo ra một thiên nhiên khác. Cái khác nếu ai vượt qua một con đèo. Hơn nữa, Quảng Nam còn là một mảnh đất giàu có, địa hình đa dạng, có núi rừng, đồng bằng, ven biển và hải đảo. Đây vốn là đất dinh trấn thời các chúa Nguyễn, nơi cọ xát của các thế lực quân sự, các tính cách người của lính thú, kẻ phiêu lưu, tội đồ lưu đày, và cuối cùng là những người muốn đi tìm một cuộc sống khác.

Quảng Nam cũng là một mảnh đất đa văn hóa điển hình. Trước hết là văn hóa Chăm Việt, Việt Chăm. Đây là xứ sở với nhiều dấu ấn văn hóa rực rỡ: Di tích Mỹ Sơn (di sản văn hóa thế giới), kinh đô Trà Kiệu, cảng thị HộiAn (xưa là cửa Đại Chiêm, nay là đô thị cổ Hội An di sản văn hoa thế giới). Những dấu ấn gợi nhớ đến nền văn hóa hướng biển, năng động, linh hoạt và ưa phiêu lưu của Champa xưa. Đây cũng là nơi giao lưu của người Việt và các tộc người nguyên Đông Dương ở Đông Trường Sơn theo trục Đông Tây rừng – sông – biển. Tính cách đa văn hóa này làm cho người Quảng ham học, sản sinh ra những thầy đồ Quảng nổi tiếng, nhưng quan trọng hơn, khác với những đồ Nghệ còn nổi tiếng hơn, ở chỗ ít bảo thủ, biết chấp nhận cái mới, cái khác.

Chất Quảng Nam này đặc biệt bộc lộ rõ vào những thập niên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Một phần do miền Trung có nhiều cảng biển thông thương với nước ngoài, nhất là cảng Đà Nẵng, phần khác do tính chất hướng biển của người Quảng, nên các nhà nho xứ này sớm tiếp thu được Tân thư theo thuyền buôn từ Trung Hoa sang. Vì, với người Tàu, lúc này tân thư hẳn cũng là một thứ hàng hóa. Còn vùng Điện Bàn Quảng Nam quê Phan Khôi với sự phát triển của dâu – tằm – tơ thì không thiếu gì hàng hóa để đổi lại. Từ đó, ở đây mọc lên nhiều nhà nho duy tân nổi tiếng như Phạm Phú Thứ, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp… Là con của một vùng đất và vùng người như vậy, Phan Khôi, một mặt kế thừa được những gì tốt đẹp nhất; mặt khác, với tư cách là một con người cá nhân, ông tự làm lấy cuộc đời mình.

Phan Khôi đỗ tú tài Hán học vào năm 1905 khi mới 20 tuổi. Sau đó ông tham gia Đông Kinh nghĩa thục. Khi Pháp khủng bố, ông trở về Quảng Nam và bị bắt trong phong trào chống thuế (1908), và bị ngồi tù 3 năm. Ra tù, ông quyết định thôi hoạt động chính trị để chuyên viết báo, làm văn hóa. Từ chính trị sang văn hóa, có lẽ, là một hằng số trong lịch sử trí thức Việt Nam. Phan Khôi đã hiện thực “bước rẽ” này trước cả Đào Duy Anh và Nguyễn Kiến Giang, và chủ động hơn họ rất nhiều. Bởi vậy, phải nói rằng, đây là một quyết định dũng cảm, bởi lẽ hành động ấy rất dễ gây ra những hiểu lẩm, ngộ nhận, thậm chí có thể còn bị coi là phản bội, từ phía những đồng chí cũ và – bất hiếu khi đi trệch truyền thống gia đình, họ tộc. Hơn nữa, khó khăn của sự “chuyển nghiệp” này không hề nhỏ: để có thể viết báo, ông phải đi học chữ Pháp, chữ quốc ngữ, khi đã lớn tuổi. Nhưng Phan Khôi không hề ngại phải làm bạn đồng học với lũ trẻ con. Ông học ở khắp nơi. Học khi ra Bắc làm thư ký nhà buôn cho Bạch Thái Bưởi. Học khi vào Nam viết báo, khi ra Hà Nội dịch Kinh Thánh. Học khi viết báo chữ Tây… Ngoài việc học chữ viết văn, Phan Khôi còn học được lôgíc học. Nhờ đó, ông cắt đứt được với tinh thần khoa cử, chống lại lối làm văn hào nhoáng, sáo rỗng của truyền thống “tầm chương, trích cú”, ưa thích lối viết rõ ràng, mạch lạc, thậm chí cộc lốc, thô lỗ. Ông nổi tiếng là người thích lý luận, hay cãi lý. Một bậc thầy tranh luận.

Tuy nhiên, Phan Khôi không chỉ tranh cãi với những người cụ thể, mà còn cả với một hiện trạng văn hoá xã hội đương thời. Sở hữu một trí tuệ độc lập chưa đủ, cần phải sở hữu một công cụ để hiện thực hoá trí tuệ đó. Làm bỉnh bút (cộng tác viên), kể cả chủ bút cho một tờ báo của người khác không phải là một giải pháp. Bởivậy, khi có cơ hội mua lại tờ tạp chí Sông Hương, Phan Khôi đã Dốc toàn bộ gia tài của mình và “trưng dụng” cả vợ con để thực hiện giấc mơ ấy. Trong thời gian làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Sông Hương (1/8/1936-27/3/1937), Phan Khôi đã đặt ra nhiều vấn đề về pháp lý, về tư cách người làm báo. Ông có nhiều ý kiến rấtngược dòng thời cuộc, nhưng ngày nay nhìn lại hóa ra rất viễn kiến. Với một “tinh tần . báo chí” như vậy thì tờ báo khó có tiền đề tổn tại lâu dài. Nhưng Sông Hương và kiểu-làm-báo-Phan- Khôi rất đáng để hậu thế ngày nay suy nghĩ.

Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Phan Khôi tham gia văn hóa kháng chiến ngay từ buổi đầu (6/1946). Ở Việt Bắc ông đã tham dự các lớp chỉnh huấn tư tưởng và có bốn câu ca nổi tiếng thể hiện tâm trạng bế tắc, cù nhầy rất trái ngược với đầu óc lôgíc của ông: “Làm sao cũng chẳng làm sao/ Nếu có thể nào cũng chẳng làmchi/ Làm chi cũng chẳng làm chi/ Nếu có làm gì cũng chẳng làm sao”. Và, để thoát khỏi “U tỳ quốc” này, Phan Khôi lao vào nghiên cứu tiếng Việt, dịch và viết về Lỗ Tấn, nhà văn có nhiều điểm gần gũi với ông.

Kháng chiến thành công, Phan Khôi trở về Hà Nội. Ông tranh thủ xuất bản những “Điện Biên” riêng của mình, mà ông đã làm được trong chín năm: Việt Ngữ Nghiên Cứu và Tuyển Tập Tiểu Thuyết Lỗ Tấn, để nhanh chóng bắt tay vào xây dựng hòa bình. Ai cũng háo hức được tự do sáng tạo, một nhu cầu tự thân và chính đáng, nhưng lại phải, vì đại cuộc, nín nhịn trong suốt thời gian kháng chiến. Có được chỗ dựa “pháp lý” của Nghị quyết Đảng Cộng Sản Liên Sô lẩn thứ XX và phong trào “Trăm Hoa Đua Nở” của Trung Quốc, một số văn nghệ sĩ trẻ như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cẩm… thành lập tờ báo Nhân Văn và đề nghị Phan Khôi làm chủ nhiệm (9/1956). Ông khảng khái ra đứng mũi chịu sào. Tờ này ra được 5 số, đến số 6 đang in thì bị tịch thu và đình bản. Ông tiếp tục cộng tác với tờ Giai Phẩm. Ở Giai Phẩm Mùa Thu – tập II (30/9/1956), Phan Khôi cho đăng bài khảo cứu Ồng Bình Vôi, còn ở Giai Phẩm Mùa Thu – tập III (cuối 10/1956) có ba bài thơ của ông Hổng Gai, Hớt Tóc Trong Bệnh Viện Quân Y, Nắng Chiều.. Tháng 1 năm 1958, Phan Khôi cho đăng truyện ngắn Ồng Năm Chuột trên báo Văn (số 36, tờ báo của Hội Nhà Văn, và cũng sớm bị đóng cửa). Những năm tháng này ông làm việc theo tinh thẩn Nắng được thì nắng. Sau khi phong trào (quen gọi là) Nhân Văn – Giai Phẩm bị đàn áp, Phan Khôi sống trong cô đơn, bệnh tật. Tháng 1 năm 1959, ông qua đời và được chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện, một nghĩa trang làm phúc do Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng (chủ nhiệm tạp chí Tri Tân) mua đất thành lập từ trước 1945. Về sau, nghĩa trang bị dời đi để lấy đất cho nhà máy dệt 8/3. Mộ Phan Khôi bị thất lạc.

Có thể nói, Phan Khôi là sự tổng hợp kỳ lạ của văn hóa Đông Tây : Nền cổ học thâm trầm của Việt Nam và lối suy nghĩ minh bạch, khúc chiết của Pháp. Phan Khôi là con người không chịu giam mình vào một biên giới nào, dù vô hình hay hữu hình. Vì thế, ông là người luôn luôn tự biến đổi. Phan Khôi không biết sợ một thứ quyền uy nào, hay đúng hơn, ông chỉ sợ lẽ phải và chỉ chịu trách nhiệm với lẽ phải.

(Trích từ tác phẩm Vẫy Vào Vô Tận của Đỗ Lai Thúy, nxb Phụ Nữ, 2014)

Share this post