Phương Cách Nào Để VN Thoát Khỏi “Mê Hồn Trận” Công Pháp Quốc Tế Của TQ?

Phương Cách Nào Để VN Thoát Khỏi “Mê Hồn Trận” Công Pháp Quốc Tế Của TQ?

Thông qua nội dung công hàm ngày 17 tháng tư 2020 gởi TTK LHQ, TQ “leo thang” trong ngôn từ, bằng những lời lẽ hăm dọa mà người ta có thể hiểu rằng từ nay TQ có thể sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo Trường Sa.

Sau đó một ngày, với quyết định của Bộ Dân Chính, 18 tháng tư 2020, TQ tuyên bố thành lập hai Khu nhằm kiểm soát lãnh thổ ở Biển Đông. Một là khu Nam Sa đặt trụ sở tại đảo Phú Lâm, thuộc Hoàng Sa. Hai là khu Tây sa đặt trụ sở ở đá Chữ thập, một bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, chiếm của VN bằng vũ lực năm 1988.

Tuyên bố thành lập hai Khu của TQ có ý nghĩa về pháp lý là “củng cố chủ quyền – consolidation de titre”. Hành vi thường thấy ở các quốc gia đối với một lãnh thổ tranh chấp, như trường hợp Nhật “quốc hữu hóa” các đảo Senkaku tháng 10 năm 2012. Vấn đề là việc củng cố chủ quyền HS và TS của TQ chỉ dựa lên những bằng chứng mơ hồ trong lịch sử. Ngoại trừ công hàm ngày 10 tháng chín năm 1958 của chính phủ VNDCCH. TQ cho rằng, qua văn kiện này, VN đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại hai quần đảo HS và TS.

Theo lập luận của TQ, VN đã vi phạm nguyên tắc “Estoppel”, làm ngược lại những gì đã “hứa”, khi đem quân “giải phóng” Trường Sa ngày 4 tháng tư năm 1975.

Lý ra sự việc chỉ giới hạn chung quanh hồ sơ “Thềm lục địa mở rộng” của Mã lai gởi Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa, thông qua Tổng thư ký LHQ, ngày 12 tháng 12 năm 2019. Việc “leo thang ngôn từ”, cùng với tuyên bố hai Khu và hành vi cho tàu HD 8 rà soát thềm lục địa của Mã lai, có thể nằm trong tính toán của TQ. Thừa lúc các đại cường đang bị khốn đốn vì Covid-19, TQ có thể có những quyết định, như tháng giêng năm 1974 tại Hoàng Sa, nhằm “thu hồi các lãnh thổ bị địch chiếm đóng về đất mẹ”.

Theo tôi, VN cần phải thận trọng trong ngôn từ. “Tiếng súng” có thể thay “tiếng nói” bất cứ lúc nào. “Leo thang” trong ngôn từ sẽ đưa “bàn cờ Biển Đông” vào thế “triệt buộc”.

VN sẽ phải trả lời ra sao với TQ trong công hàm phản biện gởi LHQ những ngày sắp tới ?

Bài viết này thử bàn về một số ý kiến của học giả VN chung quanh hiệu lực pháp lý của công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Đồng thời thử đề ra một lối thoát, nhằm loại trừ ảnh hưởng công pháp quốc tế mà TQ cố tình lôi kéo học giả VN vào một “mê hồn trận”.


Khi nại công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, TQ đặt toàn bộ hồ sơ tranh chấp dưới ánh sáng của công pháp quốc tế.

Công hàm 1958 của PVĐ vắn tắt chỉ hai câu, nhằm đáp lời Tuyên bố đơn phương của TQ ngày 4 tháng 9 năm 1958 về chủ quyền lãnh thổ và hải phận.

« Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. »

Hầu hết các học giả VN cho rằng công hàm 1958 có nội dung : VNDCCH “ghi nhận và tán thành quyết định về hải phận 12 hải lý của TQ”.

Trong khi tuyên bố của TQ, nội dung điều 1 ghi rõ: “Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…”

Ta thấy lập luận “nhìn nhận 12 hải lý” ở các học giả Nguyễn Hồng Thao trong tập “Le Vietnam et ses différends maritimes dans la mer de Biển Đông”, Edition A. Pedone, ISBN 2-233-00451-5, trang 251. Học giả Monique Chemillier-Gendreau trong tập “La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys” – NXB Harmattan 1996, trang 122-123, tiến sĩ Balazs Szalontai qua bài viết trên BBC…

Trên trang Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ thuộc Đại học Oregon (US-Vietnam Research Center University of Oregon) ngày 23 tháng tư 2020 có bài viết, trong đó có đoạn cho rằng: “Bản thân tuyên bố của Trung Quốc mà ông Phạm Văn Đồng tán thành đã tự thân phủ nhận đường 9 đoạn.”

Bài báo trên BBC, GS Ngô Vĩnh Long cho rằng “Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ủng hộ các đảo thì được 12 hải lý, chứ không phải chấp nhận là Trung Quốc có chủ quyền ở Hoàng Sa.”

Mục đích nhằm “khoanh vùng” tranh chấp giữa VN và TQ ở khoản 12 hải lý “hiệu lực của các đảo”.

Lập luận này có nhiều điều “nguy hiểm”. Trước hết mặc nhiên nhìn nhận công hàm 1958 của PVĐ có hiệu lực, dưới ánh sáng của luật quốc tế (mà lý ra phải phủ nhận triệt để và toàn diện).

Điều này đưa đến việc nhìn nhận TQ có chủ quyền tại HS và TS.

Các học giả không thể “ghi nhận và tán thành” yêu sách của TQ, hiệu lực lãnh hải 12 hải lý ở khu vực này mà không nhìn nhận 12 hải lý ở các đảo thuộc HS và TS.

Chính phủ VNDCCH không hề có một bảo lưu nào, về chủ quyền HS và TS, trước Tuyên bố của TQ.

Khi VN nhìn nhận hải phận 12 hải lý của TQ ở HS và TS, VN cũng nhìn nhận chủ quyền của TQ ở HS và TS.

Hiển nhiên, khi VN “nói ngược lại”, TQ không có chủ quyền ở HS và TS, VN bị “estoppel”.

Việc khác, quan trọng hơn. Công hàm 1958 của PVĐ không hề có hiệu quả “tự thân phủ nhận đường 9 đoạn” như Trung tâm Ngiên cứu Việt-Mỹ đã dẫn trên.

Luật về “thời hiệu – contemporainéité” cho phép TQ điều chỉnh các “quyền chủ quyền” và quyền tài phán của quốc gia này, áp dụng từ năm 1958, theo tiêu chuẩn của Luật Quốc tế về Biển 1958, sao cho phù hợp với Luật Quốc tế về biển 1982.

Án lệ của Tòa Trọng tài thường trực 1998 giữa Yemen và Erythrée về chủ quyền các đảo trong Hồng hải, đặc biệt đảo Mohabbakah. Yemen yêu sách đảo này, cho rằng họ có “chủ quyền lịch sử”.

Trải qua nhiều biến động, cả khu vực từng nhiều lần thay đổi chủ, từ đế quốc Ottoman, qua Thế chiến thứ I, lãnh thổ phải trả lại cho phe chiến thắng. Thế chiến thứ II lần nữa làm xáo trộn cả khu vực. Lúc thì thuộc Ý, sau đó Ý thua trận phải trả lại cho Anh quản lý.

Số phận đảo Mohabbakah lại tùy thuộc vào Công ước quốc tế năm 1928. Theo đó, tất cả các đảo nào nằm trong vòng lãnh hải 3 hải lý của quốc gia thì đảo này thuộc chủ quyền của quốc gia đó. Đảo Mohabbakah nằm ngoài giới hạn lãnh hải 3 hải lý. Nhưng sau đó luật mới về biển 1982 cho phép các quốc gia mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý. Tòa áp dụng nguyên tắc “contemporainéité” quyết định đảo này thuộc Errythrée, đơn giản vì nằm trong giới hạn lãnh hải 12 hải lý của nước này.

Tức là TQ có quyền áp dụng Luật Biển 1982, mở rộng vùng biển, ngoài lãnh hải 12 hải lý, còn có 12 hải lý vùng tiếp cận lãnh hải, vùng Kinh tế độc quyền (ZEE – rộng 200 hải lý tính từ đường cơ bản), thềm lục địa (có thể rộng tới 350 hải lý)…

Ngoài vùng biển phát sinh từ các đảo, TQ còn có các yêu sách về “biển lịch sử” (giới hạn theo bản đồ đường lưỡi bò).

Học giả VN cũng cố gắng phủ nhận hiệu lực công hàm 1958 của PVĐ bằng các lý lẽ như sau:

1/ Công hàm 1958 của PVĐ không có hiệu lực vì ông Phạm Văn Đồng không có tư cách pháp nhân để ra một văn bản có liên quan đến lãnh thổ.

Nếu ta xét công hàm 1958 của PVĐ dưới ánh sáng của công pháp quốc tế, phần nói về hiệu lực ràng buộc của các “tuyên bố đơn phương”. Ta thấy rằng các chức vụ tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng bộ Ngoại giao… là những người có đủ tư cách đại diện quốc gia để ra một “tuyên bố đơn phương”, nhằm thể hiện thái độ, lập trường của quốc gia mình đối với một vấn đề quốc tế.

Công hàm 1958 của PVĐ thực chất không phải là một kết ước về lãnh thổ. Đây chỉ là chỉ là ý kiến của chính phủ VNDCCH trước quyết định của nước CHNDTH về lãnh thổ và hải phận của TQ.

Công hàm 1958 không phải là một tuyên bố từ bỏ chủ quyền.

2/ Lập luận khác cho rằng, chiếu theo hiến pháp VNDCCH, ông Đồng không có tư cách để tuyên bố về một vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ.

Thật vậy, theo hiến pháp của VN hiện tại, hay trong thời kỳ ông Đồng làm thủ tướng, vấn đề phân định biên giới phải được thể hiện bằng một kết ước, có sự đồng thuận giữa hai nước, phải được quốc hội thông qua.

Vấn đề là, tuyên bố 1958 của ông Đồng, đã nói ở trên, không phải là một “tuyên bố” liên quan đến vấn đề lãnh thổ, hay có mục đích thay đổi đường biên giới. Nếu văn bản có mục tiêu làm thay đổi đường biên giới, tuyên bố này vi hiến.

Dầu vậy, theo tập quán quốc tế, một tuyên bố đơn phương nếu đi ngược lại tinh thần hiến pháp của quốc gia tuyên bố, thì tuyên bố này vẫn có hiệu lực. Tuyên bố đơn phương không phải là một văn bản “hành chánh” thuộc phạm trù quốc gia mà là một văn bản thuộc phạm trù quốc tế (nếu đặt công hàm PVĐ dưới ánh sáng của công pháp quốc tế).

Một văn bản hành chánh chịu chi phối của luật quốc gia nhưng một tuyên bố đơn phương (liên quan đến một vấn đề quốc tế) chịu chi phối của luật pháp quốc tế. Mà luật quốc tế có giá trị “cao” hơn luật quốc gia.

3/ Về hoàn cảnh ra đời của công hàm 1958. Hầu như các học giả VN đều vịn vào lý do “chiến tranh”, lý do căng thẳng eo biển Đài Loan ở thời kỳ đó, lý do hai nước VN và TQ là “đồng chí, anh em” trong khối xã hội chủ nghĩa… để biện hộ cho sự xuất hiện công hàm 1958.

Vấn đề là quí ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Mạnh Cầm, những người “trong cuộc”, đã minh bạch việc này qua các cuộc trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài.

Ông Phạm Văn Đồng trả lời đơn giản: “Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy”.

Còn ông Nguyễn Mạnh Cầm thì dông dài hơn, đại ý tóm lược là: vì HS và TS thuộc miền Nam quản lý, việc ủng hộ là “cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc”.

Ngoài ra, nếu ta dẫn những dữ kiện như sách giáo khoa của VN, bản đồ do VN xuất bản, hay các bài báo trên Nhân Dân… ghi chú các địa danh Tây Sa và Nam Sa thuộc TQ, hay vùng biển chung quanh HS thuộc TQ.

Ta thấy rõ rệt việc “nhìn nhận chủ quyền” của TQ tại HS và TS, thông qua công hàm 1958 của PVĐ, được VN khẳng định lại nhiều lần.

Ngay cả khi đặt giả thuyết công hàm 1958 của PVĐ “không hiện hữu”. Tức là khi TQ ra tuyên bố năm 1958, Chính phủ VNDCCH của ông Hồ chọn thái độ “im lặng”.

Quan sát sự việc theo tinh thần công pháp quốc tế, Tuyên bố đơn phương của TQ năm 1958 về hải phận và chủ quyền lãnh thổ có ý nghĩa tương tự như Tuyên bố đơn phương về vùng “Nhận diện phòng không – ADIZ” ngày 23-11-2013.

Các tuyên bố này phù hợp với tập quán quốc tế. Quốc gia nào không “bảo lưu”, phản đối các yêu sách của TQ. Tuyên bố tự động có hiệu lực.

Sự “im lặng” của chính phủ VNDCCH được đồng hóa với hành vi mặc nhiên nhìn nhận (đồng ý ám thị – implied consent), một dấu hiệu “thụ động” của nguyên tắc luật “acquiescence”.

Như vậy, khi đưa toàn bộ vấn đề ra soi rọi dưới ánh sáng của luật quốc tế, lập tức học giả VN lúng túng như lâm vào mê hồn trận.

Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng không thể đơn thuần “hóa giải” (bằng luật quốc tế).

Làm như chưa đủ khó khăn, một số các học giả VN lại chủ trương VNCH và VNDCCH là “hai quốc gia” độc lập.

(Ý kiến này phạm Estoppel vì đi ngược lại nội dung hai hiệp ước Genève 1954 và Paris 1973, mà VNDCCH là “một bên” ký kết. Theo đó VN là một quốc gia duy nhứt, độc lập, thống nhứt ba miền).

Quí vị này vịn vào lập luận “người ta không thể nhượng cái mà người ta không có chủ quyền”.

Thật vậy, HS và TS nằm dưới vĩ tuyến 17, thuộc thẩm quyền của VNCH. VNDCCH không có thẩm quyền ở HS và TS, do đó tuyên bố của PVĐ không hiệu lực.

Điều này sẽ đưa hai thực thể VNCH và VNDCCH là “đối tượng” của công pháp quốc tế. (Đối tượng công pháp quốc tế là “quốc gia – Etat).

Cái rắc rối thứ nhứt là ý này khẳng định VNCHCH không có quan hệ gì (không có chủ quyền) ở HS và TS.

TQ chiếm HS trên tay “quốc gia” VNCH. Quốc gia VNDCCH là “bên thứ ba”, tương tự như Mã lai, Thái lan v.v… Thì bây giờ tư cách gì VNDCCH lên tiếng đòi chủ quyền HS và TS ?

Tức là, khi nhìn nhận VNCH và VNDCCH là “hai quốc gia độc lập”, thì tranh chấp VN và TQ về chủ quyền HS và TS xem như không còn nữa. HS và TS thuộc TQ.

VN bây giờ làm sao có thể “kế thừa” cái mà VNCH đã “mất” ?

Câu hỏi đặt ra: Giải pháp nào để VN thoát khỏi “mê hồn trận” công pháp quốc tế của TQ ?

Theo tôi, VN không thể cãi với TQ bằng luật quốc tế. Thượng sách là VN phải kéo địch thủ qua một “mặt trận” pháp lý khác, mà trong đó luật quốc tế không thể áp dụng được.

Đó là gì nếu không phải là dựa vào thực tế lịch sử 1954-1975 ?

Theo nội dung hiệp định Genève 1954, khẳng định lại qua hiệp định Paris 1973, tư cách pháp nhân của VN là “quốc gia bị phân chia – divided state”. VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia chưa hoàn tất”. Đây là cách nói khác của pháp nhân “quốc gia hai chế độ”.

Nếu ta xét thực tế lịch sử, từ 1954 tới 1975, VNDCCH chưa bao giờ là thành viên của bất cứ một định chế, một tổ chức nào thuộc LHQ. VNDCCH không có ghế đại diện LHQ đã đành. VNDCCH cũng không phải là thành viên của bất kỳ một công ước quốc tế nào hết cả. Không phải là VNDCCH “không muốn” gia nhập. Mà bởi vì VNDCCH không có “tư cách pháp nhân Quốc gia – Etat” để gia nhập.

Thực tế lịch sử nó là như vậy. VNDCCH (và ngay cả VNCH) không phải là đối tượng của công pháp quốc tế.

Tức là tất cả những hành vi, thái độ bất kỳ của VNDCCH, trước một vấn đề “quốc tế” thể hiện từ 1954 đến 1975, hiển nhiên không thể soi sáng bằng luật pháp quốc tế.

Cũng nên nhắc lại chi tiết, sau khi TQ xâm lăng Hoàng Sa của VN tháng giêng 1974, VNCH vận động Hội đồng bảo an LHQ can thiệp cũng như lập hồ sơ “sách trắng” tung ta Đại hội đồng LHQ để kiện TQ lên tòa Công lý Quốc tế. Ngay cả có hay không có sự “chống lưng” của Mỹ, VNCH bất lực, thất bại trong tất cả các cuộc vận động.

Không quốc gia nào can thiệp, hay tỏ thái độ với VNCH, ngoại trừ các tuyên bố phản đối của LX và các quốc gia khác lên án việc sử dụng vũ lực của TQ.

Mặc dầu là thành viên của hầu hết các tổ chức thuộc LHQ, như UNESCO, FAO v.v… VNCH vẫn không có tư cách pháp nhân của “Quốc gia”.

Cả hai bên, VNCH và VNDCCH, đều không phải (hay chưa phải) là “quốc gia độc lập có chủ quyền”.

Về bối cảnh lịch sử, từ 1949 đến 1958, VNDCCH lệ thuộc và TQ hầu như toàn bộ. Từ cây súng, viên đạn, hột gạo, cục lương khô, cái áo, cái quần… tất cả đều đến từ TQ. Nếu không có sự trợ giúp tận lực của TQ thì làm gì quân ông Hồ thắng được Pháp năm 1954 trận Điện Biên Phủ ? Hiệp định Genève 1954 ký kết dưới sự chỉ đạo của Châu Ân Lai. Cho tới đồng tiền của VN, từ 1951 tới 1958, còn viết thêm chữ Tàu.

“Bối cảnh” ký công hàm 1958 là VNDCCH từ a tới z phụ thuộc vào TQ.

Với tư cách pháp nhân như vậy, lại chịu sự lệ thuộc của TQ như vậy. Hiển nhiên công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng không có hiệu lực pháp lý.

Kết luận: Con đường bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cũng như quyền và lợi ích chính đáng của VN ở Biển Đông dài như vô tận và đầy dẫy cạm bẫy khó khăn. Sai lầm một chút, sai con toán bán con trâu. Học giả và những người đại diện đất nước không thể “giỡn mặt” với ngôn từ pháp lý. Như công hàm 1958 của PVĐ. Sai một bước VN có thể bị mất hết.

Share this post