Quê Ngoại – Châu Yến Loan

Quê Ngoại – Châu Yến Loan

Ông ngoại tôi quê ở Hòn Kẽm Đá Dừng, một vùng rừng núi xa xôi nằm ở thượng nguồn sông Thu Bồn cách Đà Nẵng chừng 100 cây số về phía Tây, thuộc địa phận hai xã Quế Lâm và Quế Phước của huyện Quế Sơn, xưa gọi là Đá Ngang Thạch Bích, ngày nay nó là ranh giới của hai huyện Quế Sơn và Hiệp Đức.

Hòn Kẽm Đá Dừng với những vách núi đá có độ cao đến 531m và dòng sông Thu hiền hòa miệt mài chảy, len lõi giữa những vách đá sừng sững oai nghiêm, tạo nên cảnh quang thơ mộng và trữ tình.

Hồi còn bé, tôi thường nghe mẹ kể rằng, hòn núi ở quê ông có mỏ kẽm nên gọi là Hòn Kẽm, theo cách nói của người Quảng Nam, Kẽm cũng có nghĩa là khe giữa hai vách đá, còn Đá Dừng là đá dựng đứng thành vách.

Chuyện kể rằng:

“ Ngày xửa ngày xưa, dân làng quanh đó thường rủ nhau lên núi chặt cây, đốn củi làm cho núi dần dần trơ trọc khiến Sơn thần giận dữ. Bỗng trời đất nổi cơn giông bão, mưa to, gió lớn, nước ngập mênh mông, thế rồi những tảng đá to bằng mấy cái nhà ào ào lăn xuống, chắn ngang mặt đất, lòng sông, như những tấm phên dựng đứng, nên gọi là Đá Dừng”

Ngày trước, muốn về quê ông tôi, phải đi bằng đò, từ Trung Phước trở lên chỉ độc có con đường thủy đạo để đến đó. Đò ngược sông Thu Bồn tới Tí, Sé, Dùi chiêng rồi mới đến Hòn Kẽm Đá Dừng. Càng lên sông càng hẹp, lọt thỏm giữa hẽm núi hùng vĩ, lòng sông có nơi lởm chởm đá, có những tảng đá lớn như những bức vách dựng đứng, chắn ngang đường đi, muốn che cả mặt trời, nhiều khi đò như muốn xô vào đá, lúc lại nằm ì ra chẳng chịu đi nữa, đò đã mắc cạn, có những lúc đò tròng trành như muốn hất khách xuống đuổi về xuôi khiến cho những ai mới đi lần đầu phải một phen kinh hồn bạt vía. Nhưng chớp mắt niềm vui rộn ràng từ đâu ùa đến, trời bỗng sáng trưng, đất như hò lên theo gió trải rộng mênh mông, những đụn cát dài và cao, những triền dâu, nà bắp xanh tươi, khỏe chắc, thênh thang chạy dọc hai bên bờ, những xóm làng yên tĩnh, mái rạ thấp thoáng dưới vòm tre, mấy đứa trẻ tắm sông đùa giỡn tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên, cô gái quê gánh nước, bóng ngã dài ven sông…khiến ta lại thấy bình an, yêu đời, ham sống, háo hức muốn vượt trường giang lên tận dãy núi xanh nhấp nhô vẫy gọi ở chân trời.

Vào mùa hè, cảnh vật nơi đây thật là kỳ thú. Những phiến đá được thiên nhiên đẽo gọt thành nhiều hình thù kì lạ, con nước ròng phơi những dòng chữ ngoằn ngoèo trên những tảng đá sừng sững soi mình xuống dòng sông, không biết do người Chàm khắc lên để đánh dấu kho tàng hay những câu bùa chú trị thủy của tổ tiên?, những câu chuyện huyền thoại về các địa danh như Miếu Ba Hang, Ghềnh Nước Mắt, Hòn Đá Bùa, Khe Nghiêng … đưa ta vào cái thế giới huyền ảo, mơ màng.

Quả thật đường lên Hòn Kẽm gian nan như đường lên trời. Tuy thế, đôi khi nó cũng mang lại cái thú cho khách lữ hành, đó là lúc đi thuyền vào đêm trăng. Trời quang mây tạnh, gió thổi hiu hiu, dòng sông hiền hoà như một dải lụa bạc lấp lánh, uốn lượn giữa hai bờ cát trắng. Tiếng hò trong trẻo theo gió vọng lại từ xa lúc to lúc nhỏ:

“À ơ, dòng sông bên lở, bên bồi,

Người xuôi về bến kẻ trôi lên nguồn”

như nỉ non, kể lể, ru hồn người vào giấc ngủ bình yên.

Dòng sông bên lở bên bồi

Quê ngoại tôi, từ xa xưa đã gắn liền với những câu ca buồn, những giai thoại về cuộc khởi nghĩa của chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu, người anh hùng đất Quảng dám hiên ngang cầm súng đánh Tây nhưng cuối cùng phải chọn cái chết đau thương.

Đầu thế kỷ XX các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp từng lên vùng này hoạt động Duy Tân, các cụ đi tìm đất khẩn hoang làm cơ sở vật chất cho phong trào. Một người luôn sảng khoái, hồ hởi mỗi khi trở về với thiên nhiên như cụ Trần Quy Cáp, có lúc :

Hoách chân dựa lấy chuôi cày,
Vỗ tay hát khúc Nam san, ừ cũng thú !
Nói chi nữa đến ngày hoa vụ,
Gà lộn, cu quay, xôi vò, rượu hủ,
Gà lộn, cu quay, xôi vò, rượu hủ,
Vui cùng nhau ăn cơm mới, nói chuyện xưa

Mà cũng ê ẩm vì con đường hiểm trở này. Cụ có câu đối tức cảnh :

Lúc lắc đò đưa : Tí, Sé, Kẽm
Gập ghềnh chân bước: Gành, Truông, Đèo

Người ta không những ngao ngán vì con đường trầy vi tróc vảy, mà còn run sợ vì cái độc địa hiểm ác của vùng sơn địa hoang vu: những cơn sốt rét rừng.

Ở đây, muốn vận chuyển hàng hoá chỉ có cách phải gánh nông sản đến khe Sé rồi mới chuyển xuống thuyền. Giao thông trắc trở lại thêm những cơn run rẩy, vật vã của bệnh sốt rét rừng, những tiếng hổ rống, cú kêu, những trận gió rít trong đêm khuya đã làm nản lòng người, khiến các sĩ phu không chịu nổi phải rời bỏ nông trường Cờ Vĩ rút về Cẩm Nê (Yến Nê).

Ớn lạnh vì quê chồng, bà ngoại tôi hỏi ông ngoại :

  • Can cớ chi mà các cụ nhà ta lại chọn chỗ khỉ ho, cò gáy để khai cơ lập nghiệp ?

Ông ngoại tôi nghe hỏi mà không giận lại còn à à ra vẻ đắc chí :

  • Bà không biết chớ, hy sinh cả mà, bà về Quế Sơn mà coi, mộ các tiền hiền tộc Lê nằm rải rác khắp Ngũ hương Quế Sơn, họ là những người đầu tiên gầy dựng đất Quảng Nam đấy. Hồi vua Lê Thánh Tông khai phá Quảng Nam, các cụ là những người đi đầu được đưa lên chỗ ma thiêng nước độc, các đầu nguồn vừa khẩn hoang vừa phòng thủ, ngăn những bộ tộc trên núi không cho xuống đồng bằng quấy phá đó, ở lâu rồi thành quê kiểng, bỏ đi đâu đành.

Thương chồng thương cả quê chồng, bà ngoại tôi thường ru tôi bằng câu hát:

Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng,
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi !

Mẹ tôi cũng thường ru tôi bằng câu ca dao đó vì thương quê cha đất tổ, cả đến bà cố tôi cũng ru tôi bằng câu hát chan chứa tình thương đó vì thương con rể.

Câu ca này còn hai câu nữa :

Thương cha nhớ mẹ thì về

Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng

Nhưng cả bà cố tôi, bà ngoại tôi, mẹ tôi chẳng ai thèm hát hai câu sau.

Ông ngoại tôi trách sao các bà hát cụt ngang, không hát hai câu tiếp. Bà ngoại tôi đôn đả trả lời :

  • Ai thèm hát, nói gì mà kỳ vậy, thương cha nhớ mẹ thì về, thương quê, thương kiểng đừng về, ăn nói hồ đồ, ông mồ côi sớm, ông ra ở đây với tôi, cha mẹ không còn, ông bỏ luôn Hòn Kẽm Đá Dừng không về thăm sao? Đường có khó đi, nước có độc địa, nhưng còn mồ mả ông bà, tôi không nghe họ sử dại, không hát, chỉ hát hai câu trên thôi.

Ông ngoại tôi cười hả hả, chê bà tôi :

  • Bà nghĩ sao mà ngược ngạo vậy, ai bảo hai câu ca tiếp sau đó nói đừng về thăm Hòn Kẽm Đá Dừng, họ còn rị ở lại đó nữa kìa, dễ mô mà họ cho đi khỏi. Hai câu trên là hai câu than thở của người ở ngoài Bắc kia, họ ở đâu ngoài Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh di dân vào đây lập nghiệp, thấy cảnh động lòng, xa cha, xa mẹ lâu ngày, năm này kéo năm khác họ chẳng được về thăm người thân, xót xa họ mới dốc hết nỗi niềm của họ :

Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi.

Người quê ta thấy họ khổ, cũng đau lòng trước tình cảm thiêng liêng mới an ủi họ, bậu nhớ cha, nhớ mẹ chẳng đặng đừng được thì cố gắng thu xếp mà về thăm ông bà. Còn như bậu nhớ quê, nhớ kiểng thì đây cũng là quê kiểng của bậu rồi, hãy ở lại đây làm ăn sinh cơ lập nghiệp, đất Quảng Nam cần bàn tay khai phá của bậu, bậu đừng về. Họ có bảo đừng về Hòn Kẽm Đá Dừng mô mà không hát !

Năm 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cả đại gia đình tôi phải bồng bế, dắt díu nhau từ Đà Nẵng chạy vào Quảng Nam tránh giặc, ông ngoại tôi về quê Hòn Kẽm Đá Dừng. Bao nhiêu năm sống xa quê hương được trở lại nơi chôn nhau cắt rốn, ông ngoại tôi vô cùng vui sướng, háo hức bắt tay vào việc sản xuất . Ông tôi nói rằng giặc giã chưa biết ngày nào mới dứt, phải lo sao cho có cái ăn, mà đất ở đây không có cây gì tốt bằng cây bắp, chỉ trong vòng dăm ba tháng, ông đã trồng được mấy sào . Ở An Tân mỗi tháng một lần ba tôi lại cõng thức ăn, mắm muối lên cho ngoại tôi và xem chừng sức khoẻ của ngoại. Mỗi lần ba tôi lên, ông ngoại đều dẫn ba ra xem những thành quả của ông. Từ những cây bắp xanh mơn mởn, đến lúc trổ cờ rồi bắp chân chàn, mỗi ngày niềm vui của ông như lớn lên cùng với bắp. Đường xa cách trở, đi lại khó khăn, nguy hiểm, nhiều lần ba tôi mời ngoại về ở với ba mẹ tôi để có người chăm sóc nhưng ông ngoại tôi phần thương quê nhớ kiểng, phần tiếc mấy nà bắp cứ hẹn lần hẹn lửa chờ thu hoạch xong mới chịu đi.

Được mấy tháng, bỗng một hôm tai họa ở đâu dồn dập giáng xuống nhà tôi. Anh tôi mất một cách oan ức vì ngộ độc do con rết đái vào đĩa thịt gà lúc nào không biết. Gia đình tôi như mất đi sự sống, ba mẹ tôi suốt ngày chỉ thở dài, thờ thẫn chẳng nói chẳng rằng, không khí gia đình nặng nề, tẻ lạnh, bà con nội ngoại ai cũng thương tiếc thằng cháu đầu lòng thông minh, kháu khỉnh, đẹp trai.

Chôn cất anh tôi xong, gần hai tháng sau, ba tôi mới đủ sức lên Hòn Kẽm Đá Dừng thăm ngoại, suốt mấy ngày băng rừng vượt núi, vừa đến nơi, ba tôi sững sốt nghe tin ông ngoại tôi mới qua đời vào ngày 10 tháng 7 năm Đinh Hợi (1947) sau một cơn bạo bịnh.

Đau thương chồng chất đau thương, trời đất như quay cuồng nghiêng ngã, ba tôi không nói được một lời, đôi dòng nước mắt chảy dài trên gò má.

Chiến tranh làm cho gia đình ly tán, ông ngoại tôi lặng lẽ ra đi một mình, phút lâm chung không có con cháu bên cạnh, không một lời dặn dò trăn trối chỉ có người cháu gọi ông tôi bằng chú lo mai táng vội vàng cho ông.

Ông tôi yên nghỉ trong lòng đất ấm quê nhà, mộ của ông nằm ở chân núi Cà Tang, có dòng sông Thu Bồn lặng lờ uốn khúc bên những nà bắp xanh tươi.

Nhiều năm đã trôi qua, bà ngoại tôi rồi mẹ tôi lần lượt giả từ con cháu về với tổ tiên, nhưng thỉnh thoảng chiều chiều tôi vẫn nghe văng vẳng đâu đây lời ru ngọt ngào của ngoại tôi:

À ơ,

Ngó lên Hòn Kẽm đá Dừng,

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi!

Share this post