Ra Trại – Sưu Tầm

Còn mấy ngày nữa là đúng thời khắc bốn mươi năm trước, cầm giấy ra trại trên tay và mười mấy đồng tiền xe tàu làm lộ phí. Lòng nhẹ nhõm. Thế là ước mơ được trở về nhà sau mấy chục tháng “tu tiên “ đã trở thành hiện thực. Dù biết rằng chưa thành người công dân nhưng khi bước ra cổng trại, ngoái nhìn lại những dãy nhà tranh đơn sơ đã một thời là mái ấm, lòng vẫn thấy vừa vui, vừa bùi ngùi. Một thời gian dài bắt tay viết lại lịch sử đời mình, có những góc ký ức không cố nhớ mà sao khó quên.

Buổi sáng, đứng chờ xe lửa trên ga nhỏ Trản Táo trở về thành phố, lòng rộn ràng khó tả. Nhìn mười mấy người cải tạo gầy gò, thuộc nhiều lứa tuổi, mặt mày ai cũng rạng rỡ, măc bồ đồ tươm tất nhất có được, sao thấy đứa nào cũng ngố. Bộ đồ trên người cũng vậy. Hồi đi trình diện mặc một bộ, hai bộ còn lại nhét ở túi xách; theo thời gian hai bộ kia đã rách bươn. Bộ đồ sạch sẽ nhất được giặt và cất kỹ ở đáy túi xách, chỉ mặc vào dịp lễ Tết và chờ ngày hôm nay. May mà ngày ấy, cũng kịp đến, bộ đồ có cũ đi nhưng vẫn còn nguyên.

Ba mươi hai tháng trong trại, ngày ngày lao động, có khi lên rừng đốn cây, thường mặc bộ đồ lính cũ, nay đã rách bươn, vá chằng chịt, hôm qua tặng lại cho thằng “sún“, trẻ nhất trong 6 đứa còn lại ở trại như một kỷ niệm để nó có thêm áo quần thay khi tắm giặt, bởi vì mỗi lần giặt, ai cũng phải phơi nắng ở bìa rừng hai ngày mới khô. Tội nghiệp thằng nhỏ mới khoảng hơn hai mươi tuổi, hồi nhỏ chạy giấy tờ làm lính kiểng ở đơn vị nào đó và ăn rồi cà nhỏng đi chơi, đi học ở Sài Gòn. Rồi phải lòng một cô gái trong xóm lao động gần nhà, cô này lại mê sĩ quan nên anh chàng mỗi lần đến nhà cô gái lại mang bộ đồ lính rằn ri “giật le”, trên vai đeo hai bông mai vàng chói (trung úy) mua ngoài tiệm. Sau ngày 30 tháng Tư, đi trình diện như lính ”đơ dèm cùi bắp” bị mấy ông “nằm vùng” tố cáo “khai man lý lịch nên bắt đi cải tạo 10 ngày, chung chỗ với sĩ quan. Không biết chừng nào mới được về với cha mẹ.

Nó nằm gần, trên cái giường tre tập thể, (quên mất tên gì rồi, xin lỗi em), đêm nào cũng khóc hu hu vì nhớ nhà làm nhiều đứa cũng khó ngủ theo. Đưa cho em, hết đồ cá nhân còn lại trong trại, tôi chỉ cầm cái xắc nhỏ đeo vai trên người y như ngày đi trình diện 3 năm trước. Khi chiếc tàu lửa đổ xịch trên sân ga, mười mấy đứa lên tàu, cái cãm giác nhẹ nhõm lộ hẳn ra trên nét mặt. Vậy là được tự do thật rồi, sắp về nhà rồi. Là tàu chợ Nha Trang-Sài Gòn nên trên tàu chật nêm, đầy những bao bố, thúng gánh hầm bà lằng trên sàn. Tôi chen được một chỗ trước mặt nhờ có bà già đang ngồi thấy người dáo dác tìm chỗ nên co ro, rút một chân lên ghế.

– Tụi bây là cải tạo phải không?

– Dạ, thưa bác, đúng rồi. Mà tại sao, bác biết. Tôi ngạc nhiên hỏi bà cụ.

Bà cười hiền hậu, cái miệng móm mém, chỉ còn lưa thưa một hai cái ở trong miệng:

– Tổ cha mày, má nhìn mấy cái mặt tụi bây, ngơ ngơ ngáo ngáo là biết không giống mấy người trên tàu này, thấy không con?

Mà bà già nói đúng thiệt. Xung quanh,phần lớn là đàn bà, phụ nữ, ai nấy, tiều tụy, căng thẳng, nhiều âu lo, nét mặt phong trần , đầy vẻ láu lỉnh; còn, nhìn kỷ lại tụi này, thằng nào cũng ngơ ngơ, mắt mở to, thấy cái gì cũng nhìn vì lạ quá. Chiếc tàu mệt mỏi, xình xình leo qua đồi tre. Nhiều đứa cố nhón gót, nhìn lại lần cuối, nơi quen thuộc bao nhiêu tháng miệt mài với rừng núi.

Vài ba đứa mặc quần áo lao động cải tạo vẫy vẫy tay. Tôi cố nhìn kỷ ,Ơ kìa, có thằng nhỏ sún răng , chung tổ. Nó nhón gót vẫy tay lần cuối. Khuôn mặt nó nhỏ dần, xa dần rồi mờ hẳn. Mắt tôi mờ đi. Chắc thế nào nó cũng khóc , khóc vì mừng cho mấy anh và cũng khóc vì nhớ nhà. Tối nào nó cũng khóc rấm rức mà. Thôi, ráng lên em. Tội nghiệp.

Bà má Nam Bộ, hỏi tôi:

– Ủa sao mày khóc, hả con?

– Tại con mới thấy thằng em còn lại trong trại nó mới vẫy tay chào, tôi nghiệp nó. Tôi ngượng nghịu trả lời.

– Nó là em mày hả con?

– Dạ, không phải. Nhưng nó hiền lắm nhỏ tuổi hơn đứa em ở nhà, nên tụi con, ai cũng coi nó như em. Thấy nó vẫy tay, tự nhiên chảy nước mắt.

Rồi bà bước xuống đứng cạnh tôi, bà hỏi:

– Hồi trước, mày làm lính, nghề gì?

– Dạ, con là trung úy, làm bác sĩ.

– Má cũng có con, cũng làm lính đánh giặc nhưng chết lâu rồi, nên má bỏ Sài Gòn, về làm ruộng trong vùng sâu Long Khánh, má sắp xuống ga tới rồi. Nhìn tụi mày, má nhớ con má. Hồi xưa, có lần má đi khám bệnh “quan đốc tây”, gọi bằng Ngài không hà. Sợ lắm, không dám nhìn mặt quan “đốc”. Ở đây, lâu rồi chưa gặp thằng bác sĩ nào trẻ như mầy. Giống con tao. Ráng giữ sức khỏe nghe con, rồi làm ăn nghe. Mà mày có vợ con gì chưa con?

– Dạ chưa má ơi. Tôi gọi “má” tự nhiên, ngọt xớt.

– Thôi ráng chịu cực khổ, làm ăn, rồi có vợ con như người ta đi.

Má lần tay vào lưng quần, rồi nắm lấy tay tôi, nói nhỏ:

– Má cho mày cái này.

Rồi bà giúi vào tay tôi mấy đồng bạc nhàu nát moi từ lưng quần. “Xuống ga mà uống nước mía rồi ăn hủ tíu”. Tôi gạt tay bà, định từ chối.

– “Mày đừng làm má khóc, nghe con. Bỏ túi đi. Cho má rờ cái mặt của bác sĩ một chút nghe con. Mắt má nhìn không rõ.

Không đợi trả lời, bàn tay sần sùi, nhăn nheo của bà rờ, mân mê trên mặt tôi từ trán xuống cằm. Tới chỗ còn ướt nước mắt, bàn tay bỗng dứng lại, ngập ngừng mân mê như có chút bâng khuâng. Má tôi chết vì bệnh lâu rồi, chắc cũng gần hai mươi năm. Ngày xưa, má tôi cũng hay mân mê trên mặt con mình, rồi vuốt tóc. Tôi bỗng ôm chầm lấy bà rồi thảng thốt” Con cám ơn má”.

Tàu rúc lên hồi còi dài, báo hiệu sắp dừng, bà buông tay tôi, chuẩn bị xuống ga. Mấy đứa đở má xuống ga. “Thôi má về nghe con. Giọng bà buồn, ướt đẫm. Đôi mắt bà bỗng sáng lên, rồi mờ đi. Tôi nắm chặt lấy tay người má Nam Bộ mới gặp, bóp chặt như một lời chia tay. “Thôi má về bình an”.

Nhìn ra cửa sổ con tàu trên đường từ ga Trản táo về hướng Saigon, cố nhớ địa điểm ga xép này. Sau này, nhiều lần tôi đã có dịp ngồi trên xe lửa Nha Trang –Saigon, đã nhiều lần lóng ngóng nhìn ra cửa sổ để tìm lại hình ảnh người phụ nữ năm xưa nhưng sao hoài vẫn chưa thấy. Cũng đã gần 40 năm rồi, ngồi viết lại mấy dòng này, mới sực nhớ chưa biết má tên gì, nhà ở vùng nào để biết đâu còn có dịp gặp lại. Nhưng mà, nếu quả thật, có duyên và Trời Phật thương, chắc thế nào cũng có ngày má con mình gặp lại, nếu má còn sống. Lúc đó, tôi tin rằng, sẽ nhận ra ngay vì hình ảnh của má vẫn còn nguyên trong trí nhớ, dù rằng, giờ này, tuổi con cũng gần như tuổi má hôm ấy.

Làm sao quên được đôi mắt nhân từ của má hôm ấy, đôi mắt ướt trên da mặt nhăn nheo và cái miệng móm mém. Khuôn mặt buồn thiên thu. Khoan chết nghe má, để còn có ngày gặp lại.

Share this post