Sự Giàu Có Và Các Nghề Nghiệp Mới – lltran

Sự Giàu Có Và Các Nghề Nghiệp Mới – lltran

(TVVN.ORG)

Một số cư dân Huê Kỳ trở nên giàu có nhanh chóng, dù chỉ sau vài mươi năm làm việc, buôn bán, nhiều người đã có thể tích lũy một tài sản kếch sù bạc tỷ. Giàu có nhanh chóng thường đi đôi với việc muốn hưởng thụ và những con người giàu có ấy đã tạo ra một số nghề nghiệp mới, các công việc có tên “Wealth work”; nghĩa là cung cấp những dịch vụ làm hài lòng người giàu! Ông David Autor, một chuyên gia về kinh tế tại Đại Học MIT đã đặt tên cho ngành kỹ nghệ phục vụ người giàu như thế.

“Wealth work” được định nghĩa là các công việc có tính cách cá nhân đi cùng với mục đích làm hài lòng khách hàng giàu có, chẳng hạn như việc làm đẹp, đấm bóp, nấu ăn, chuyên chở… bất kể ngày giờ, bất kể dịch vụ nào. Khách hàng chỉ cần đòi là ý muốn được thỏa mãn cấp kỳ; từa tựa như vua chúa và người hầu ngày trước. Tạm hiểu là có tiền mua tiên, và “Wealth work”, tạm dịch là “phục vụ người có tiền”. Đây không hẳn là một tên gọi mang ý nghĩa tốt đẹp, vì hai chữ giản dị kia nói đến sự “giàu có” và ám chỉ sự bất bình đẳng xã hội, social inequality. Đáng ngại hơn, đây là ngành “kỹ nghệ” đang phát triển nhanh nhất trong xã hội Huê Kỳ!

Sự phát triển của “Wealth work” là kết quả của sự phát triển kinh tế mạnh mẽ nhất của Huê Kỳ trong thập niên vừa qua và đã làm giàu cho giới giàu có nhất nước. Tỷ số người giàu gia tăng mạnh mẽ nhất sau lần Kinh Tế Suy Thoái (Great Recession*) bắt đầu từ năm 2007 nhưng chỉ 2% số tài sản kếch sù ấy rơi vào tay 50% cư dân “trung lưu – nghèo” còn lại.

Theo bộ Lao Động Huê Kỳ, số chuyên viên đấm bóp cũng như làm móng tay, móng chân đã tăng gấp đôi trong thập niên vừa qua. Số đầu bếp “riêng” đã tăng gấp năm lần và số người chăm sóc thú cưng đã tăng 60% trong cùng thời gian đến mức ngày nay đã có chương huấn luyện và chăm sóc chó tại trường đại học! Xem ra số nhân công trong các nghề nghiệp kể trên sẽ tiếp tục gia tăng vào những năm sắp tới, nhất là tại các thành phố lớn.

Mức nhân công của ngành “Wealth work” gia tăng nhưng theo các nhà kinh tế, những công việc này không nhất thiết sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cho nhân công cũng như cho xã hội như các công việc truyền thống. Đầu tiên là lương thấp, kế đến là lợi tức thay đổi theo số thân chủ chưa kể việc thui chột tiềm năng của nhân công vì họ không có cơ hội để học hỏi những điều mới lạ hầu tiến thân hoặc phát huy khả năng hầu chuyển nghề. Đáng ngại hơn là nhóm nhân công này tự “làm chủ”, làm việc theo hợp đồng nên không có bảo hiểm y tế, không có quỹ hưu bổng và các lợi nhuận khác.
Về mặt xã hội, lương thấp nên nhân công trong ngành “Wealth work” đóng thuế ít, hoặc không đóng thuế trong khi vẫn thụ hưởng các lợi nhuận giáo dục, y tế…từ xã hội. Do đó, nhu cầu mướn người gia tăng, việc làm cần nhân công gia tăng nên tỷ lệ thất nghiệp thấp nhưng chưa hẳn là kinh tế / xã hội đang phát triển mạnh mẽ!? Nói một cách khác, xã hội Huê Kỳ xem ra giàu có kiểu “ăn sổi” nhưng không có dấu hiệu bền bỉ vững vàng như các nền kinh tế khác.

Theo ông Mark Muro, Brookings Institution (một trung tâm đầu não nghiên cứu sinh hoạt xã hội), năm 2007, khoảng 3.2 triệu công việc trong ngành “wealth worker” so với 2.8 triệu vào năm 2010; tạm hiểu là số việc làm trong ngành “wealth worker” (như giúp việc nhà, làm vườn, huấn luyện thể thao, làm đẹp…) gia tăng nhanh và nhanh hơn so với các nghề truyền thống như bán hàng, giáo dục, hãng xưởng sản xuất và hành chánh văn phòng. Tuy nhiên, lợi tức của công nhân trong ngành này trung bình khoảng 31 ngàn mỹ kim, thấp hơn so với mức lợi tức trung bình 51 ngàn mỹ kim của các công việc truyền thống.

Viện nghiên cứu [xã hội] the McKinsey Global Institute ước tính rằng số chuyên viên đấm bóp sẽ gia tăng 88% nữa vào năm 2030. Số chuyên viên dinh dưỡng (dietitians & nutritionists) cũng gia tăng ít nhất 50% và ngành chăm sóc vườn tược cũng gia tăng khoảng 30%. Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là việc gia tăng số người khá giả (upper-middle class) trong xã hội. Tiền bạc rủng rỉnh, con người chi tiêu thoải mái hơn, dễ dàng thuê mướn người khác làm các công việc cần thiết trong nhà, giúp bản thân dễ chịu hơn, có nhiều thời giờ hưởng thụ hơn. Bản tường trình của nha Kiểm Kê Dân Số cho thấy khoảng 8% nóc gia Huê Kỳ có mức lợi tức cỡ 200,000 mỹ kim / năm (so với 6% vào năm 2007).
Như mọi loại việc làm khác, “Wealth work” cũng tùy thuộc vào nền kinh tế, khi kinh tế Huê Kỳ suy thoái thì các bản ước tính kể trên không còn chính xác nữa. Giản dị là nếu thị trường chứng khoán sụp hố, tài sản của những cư dân giàu có sẽ sút giảm, và tất nhiên là họ sẽ bớt tiêu xài, bỏ bớt các dịch vụ không cần thiết. Ngược lại, khi kinh tế suy thoái, công xưởng hàng quán sẽ thải bớt nhân viên, và do đó số người tham gia vào ngành “Wealth work” sẽ gia tăng. Nhiều nhân công thì giá dịch vụ sẽ sút giảm.

Chi tiết hơn, kỹ nghệ làm vui lòng người giàu thu hút nhóm người không có nghề chuyên môn nên mức lương rất thấp; phần lớn nhân công là phụ nữ và di dân. Các công việc này mọc như nấm quanh các thành phố lớn nơi tài phiệt và những người rất nghèo cư ngụ và cũng là nơi sự khác biệt về giàu – nghèo rõ rệt nhất.

Tất nhiên các chỉ số nói lên sự gia tăng công việc làm là một điều tốt đẹp nhưng đằng sau các con số ấy, sự gia tăng các công việc cung cấp dịch vụ cá nhân [dành cho người giàu] lại trở thành một nỗi bất an của những nhà xã hội, họ gọi nhóm người cung cấp dịch vụ cá nhân, sống quây quần quanh nơi giàu có là “urban servants.”

Một cách khách quan, ta có thể nói rằng các công việc tại hãng xưởng sản xuất đang hồi sút giảm, kỹ nghệ cung cấp dịch vụ [cá nhân] trở thành quan trọng và cần thiết cho những người không [có] nghề chuyên môn. Di dân là nhóm người lấp đầy khoảng trống “nhân công” này. Theo dữ liệu của Brookings Institute, khoảng 20% nhân công trong kỹ nghệ phục vụ người giàu là di dân (dưới 10% tổng số nhân công Huê Kỳ). Di dân ngoại quốc thường sinh sống tại các thành phố lớn để dễ tìm việc làm; sau đó khá giả hơn, chọn chỗ ở thoải mái hơn họ mới dời về ngoại ô để mua nhà cửa sống lâu dài. Nói giản dị, “wealth work” là cây một cầu nối, giúp di dân và cư dân không nghề chuyên môn đặt chân vào thị trường lao động.

Tuy nhiên, các công việc dễ kiếm không hẳn là loại công việc dễ… chịu và có tính cách lâu dài. “Wealth work” bao gồm hai nhóm chính: Thứ nhất, bán hàng toàn thời gian và cung cấp dịch vụ tại các hàng quán như cửa tiệm “làm đẹp” và spas, lương bổng thấp (trung bình khoảng 31,000 mỹ kim mỗi năm) nên họ không thể sinh sống quanh nơi làm việc vì nhà cửa quá đắt. Nghĩa là họ phải di chuyển khá xa (vì cư ngụ ở ngoại ô) hoặc sống chật chội, thiếu tiện nghi gần chỗ làm. Điển hình là thành phố New York nơi nhân công sống chung để có thể cáng đáng giá sinh hoạt, nhiều người chia một phòng chỉ đủ đặt lưng và họ dễ bị chủ nhân bắt chẹt, xử tệ. Thứ nhì là nhóm công việc “Uber for X”: một loại “mạng lưới” kết nối người thuê và kẻ làm mướn cung cấp các dịch vụ như chuyên chở, giao hàng và thập cẩm các dịch vụ khác như dọn dẹp nhà cửa, “làm việc vặt” theo giờ hẹn hay “on-demand services”.

Dưới con mắt lạc quan, công nhân trong ngành kỹ nghệ này là những người hành nghề “tự do”, làm nhiều hay ít tùy ý và người mướn được thoải mái, không bị gò bó theo luật lao động. Chính sự thoải mái ấy khiến chủ nhân có thể trốn tránh luật pháp, không phải trả lương tối thiểu cũng như giờ phụ trội.

Mối tương quan giữa người làm thuê và kẻ mướn xem ra “thuận mua, vừa bán” theo sự thỏa thuận nhưng tùy theo thị trường nhân công, người làm thuê vẫn chịu thua thiệt, không nhiều thì ít.

Chuyện giàu có và người làm công nghèo khó là câu chuyện rất xưa, thời đại nào cũng xảy ra và tiếp diễn từ thế kỷ này sang thế kỷ khác với chút khác biệt. Ngày xưa, vị thế phụ nữ rất rõ ràng: là cô / bà chủ hay người hầu. Đến cuối thế kỷ XIX thì trên 50% phụ nữ làm lụng trong kỹ nghệ cung cấp dịch vụ, giúp việc trong nhà hoặc làm trong những công ty / hàng quán cung cấp dịch vụ cá nhân.

Ngày nay, tác giả Alexis Madrigal cho rằng “servant economy” đã thay hình đổi dạng khá nhiều: người giữ trẻ (vú em), giúp việc nhà, nấu ăn (tiếng Việt mới mẻ là “osin”)… đã có “tiếng nói”, họ có thể đến và đi theo ý muốn, dù vẫn chịu ràng buộc với chủ nhân nếu sống chung dưới một mái nhà và có thể bị xử tệ. Việc làm của nhóm nhân công ấy ngày nay đã uyển chuyển hơn và được các “app” trong dụng cụ điện tử sắp xếp theo lượng cung / cầu. Người đi thuê và kẻ làm [mướn] xem ra đã có phần bình đẳng hơn. Đây là sự tương quan giữa khách mua / kẻ bán hơn là “chủ / tớ”, một mối tương quan nhất thời và máy móc.

Tuy ít thân tình nhưng các công việc cung cấp dịch vụ cá nhân lại đòi hỏi sự khôn khéo lúc giao tế, khách hàng vừa ý sẽ tiếp mua dịch vụ từ nơi quen thuộc và các công việc ấy không bị thay thế bởi máy móc (automation) hoặc chuyển sang ngoại quốc để tiết kiệm lương nhân công (outsourcing). Chẳng mấy ai sang Thái, sang Ấn để cắt tóc, làm móng hoặc chọn người làm vườn!

Nhìn chung, “Wealth work” mang lại cơ hội kiếm sống (hoặc làm giàu) cho những người ít chuyên môn dù họ không bị xử tệ nhưng cũng vẫn chịu lương thấp và ít cơ hội thăng tiến. Ở một thị trường máy móc (digital marketplace) hiện nay, con người mỗi ngày một xa cách nhau và hầu như ai cũng sống hối hả, càng thuận tiện càng hay và người nghèo bao giờ cũng chịu thiệt thòi, không nhiều thì ít!?

*Great Recession bắt đầu năm 2007 và chấm dứt năm 2009. Các kinh tế gia dùng biến cố này làm mốc thời gian để so sánh và ước tính các thay đổi về kinh tế / xã hội cho những năm về sau. Theo Federal Reserve, sau trận suy thoái, tài sản của giới giàu có (30%) gia tăng 20% trong khi 70% dân số còn lại, nghèo hơn so với trước khi kinh tế suy thoái!

Share this post