Tại Sao Dùng “I” Thay “Y”? – Lê Xuân Nhuận

Tại Sao Dùng “I” Thay “Y”? – Lê Xuân Nhuận

Dùng “I” thay “Y” (nằm ở cuối chữ) là một trong nhiều đổi-mới nằm trong toàn-bộ chương-trình cải-tiến chữ viết tiếng Việt, chứ không phải chỉ thay-thế mỗi một mẫu-tự liên-hệ mà thôi. 

1/ Tại sao thay “Y” bằng “I”? Đây là một trong nhiều câu trả lời: Dùng “I” thay “Y” là để “giải-phóng” mẫu-tự “Y” ra khỏi vị-trí (nằm ở cuối chữ) và vai-trò nguyên-âm (vowel) của nó ở cuối các chữ:Hy, Hý  –  Ky, Ký, Kỳ, Kỷ, Kỹ, Kỵ  –  Ly, Lý   Mỹ, Mỵ  –  Ty, Tý, Tỳ, Tỷ, Tỵ 

2/ Ra khỏi vị-trí và vai-trò của nó ở cuối các chữ nêu trên, mẫu-tự “Y” sẽ có vị-trí và vai-trò gì khác? Thứ nhất, “Y” (phát-âm là “giơ”) trở thành một phụ-âm (consonant) và có vị-trí cũng như vai-trò giống các phụ-âm khác.Từ nay, “Y” sẽ kết-hợp (được ghép) với các mẫu-tự khác, để làm thành một hợp-âm:“Y” (phát-âm là “giơ”) đứng sau các mẫu-tự khác để làm thành các hợp-âm: ay, áy, ày, ảy, ãy, ạy                                ây, ấy, ầy, ẩy, ẫy, ậy                                uy, úy, ùy, ủy, ũy, ụy 

3/ Và đây là đặc-điểm của sự đổi mới: “Y” (phát-âm là “giơ”) đứng đầu các mẫu-tự khác để làm thành các hợp-âm:                                ya, yá, yà, yả, yã, yạ                                yă, yắ, yằ, yẳ, yẵ, yạ                                yâ, yấ, yầ, yẩ, yẫ, yậ                                ye, yé, yè, yẻ, yẽ, yẹ                                yê, yế, yề, yể, yễ, yệ                                yi, yí, yì, yỉ, yĩ, yị                                yo, yó, yò, yỏ, yõ, yọ                                yô, yố, yồ, yổ, yỗ, yộ                                yơ, yớ, yờ, yở, yỡ, yợ                                yu, yú, yù, yủ, yũ, yụ                                yư, yứ, yừ, yử, yữ, yự 

4/ Mục-đích xa hơn của sự đổi mới này là: Trong xu-thế toàn-cầu-hóa mọi sự+việc, và nhu-cầu hội-nhập quốc-tế, của chữ viết Tiếng Việt, ta cần: a)  Viết chữ Việt không có dấu, như đại-đa-số các bộ chữ của các nước khác; b)  Giúp mọi người viết thẳng một mạch, không cần ngưng lại hoặc quay lui thêm dấu vào các mẫu-tự đã viết, nhất là khi viết trên các loại máy điện-tử; c)   Giữ những mẫu-tự, âm, hợp-âm, hợp-âm ghép, vốn được đánh vần và phát-âm giống như, hoặc gần giống với các bộ chữ của người nước ngoài, để họ dễ nhận ra; d)  Giúp người nước ngoài dễ học chữ Việt, và có thể đánh vần, đoán mà biết là chữ gì; v.v… 

5/ Viễn Kiến: Mấy năm gần đây, trong nước đã có một số chương-trình cải-tiến chữ viết Tiếng Việt.  Tuy chưa có bộ chữ nào được chính-thức chấp-nhận toàn-diện, nhưng đã có một số trường-hợp áp-dụng cụ-thể bước đầu, ngay trong học-đường, cho thấy có thể sẽ có một sự đổi mới thực-sự chữ viết Tiếng Việt trong tương-lai. Trong tình-hình đó, rất mong các bước đề-nghị của tôi (sẽ được tiếp-tục phổ-biến) có thể góp được phần nào bổ-ích cho bất-cứ công-trình cải-tiến chữ Việt nào, xuất-phát từ trong nước cũng như ngoài nước. 

Share this post