Tâm Bình Liệu Thế Giói Có Được Bình An – Trần Trung Chính

Tâm Bình Liệu Thế Giói Có Được Bình An – Trần Trung Chính

Cuối năm 1972, ông Hoàng Đức Nhã lên nắm Bộ Trưởng Bộ Thông Tin trong chính phủ VNCH dưới danh xưng chính thức là Tổng Ủy Trưởng Tổng Ủy Thông Tin Dân Vận. Để chuẩn bị ngành Thông Tin có được số cán bộ cao cấp có văn bằng Đại Học (Học Viện Quốc Gia Hành Chánh cung cấp không đủ), văn phòng Tổng Ủy Thông Tin Dân Vận ra thông cáo tuyển mộ, các ứng viên đủ mọi ngành Nhân Văn như Luật Khoa, Văn Khoa, Khoa Học Xã Hội, Chính Trị Kinh Doanh, Báo Chí, Kinh Tế Tài Chính…kể cả các du học
sinh tốt nghiệp các trường Đại Học của Pháp, Hoa Kỳ , Germany, Nhật Bản , Australia, New Zealand cũng nạp đơn ứng tuyển.

Anh bạn Từ Bửng của tôi được trúng tuyển (anh là Cử Nhân Khoa Học Xã Hội của Viện Đại Học Vạn Hạnh), anh cho biết đa số các du học sinh bị rơi rụng trong lúc bộ ba Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại + Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Nội và Phó Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Nội (nhà báo Lê Đình Điểu) phỏng vấn. Hơn 90% các ứng viên du học từ ngoại quốc bị rớt đài vì không trả lời được 3 câu hỏi :

1) Cửa khẩu Sa Huỳnh nằm ở tỉnh nào của VNCH ?
2) Vùng Tam Biên thuộc địa giới nào của VNCH ?
3) Vùng Ba Biên Giới ở đâu trong lãnh thổ VNCH ?

Có lẽ các du học sinh đều là học sinh thi đậu Tú Tài hạng Bình Thứ trở lên rồi ra ngoại quốc học giỏi về sinh ngữ và chính trị thế giới nhưng môn Sử Địa của Việt Nam thì lại lơ mơ nên trả lời trật lất. Theo ý kiến riêng của người viết, ngoại trừ các cựu quân nhân VNCH đã từng tham chiến tại các chiến trường sôi động, còn lại đa số người Việt Hải Ngoại bây giờ cũng không trả lời chính xác 3 câu hỏi trên.

Trả lời câu số 1 : Cửa khẩu Sa Huỳnh nằm trong tỉnh Quảng Ngãi, trước ngày 27 tháng 01 năm 1973, Việt Cộng chiếm giữ Sa Huỳnh, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng- Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1, chỉ thị uân đội VNCH phải tái chiếm Sa Huỳnh trước giờ ngưng bắn. Vì có sự hiện diện của Ủy Hội Quốc Tế

Kiểm Soát Đình Chiến nên không có sự yểm trợ của Không Quân. Do đó Đại Tá Lê Thương – Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Vùng I đã sử dụng hàng trăm khẩu đại bác bao gồm 105 mmm, 155mm và pháo binh 175mm đã bắn vào mục tiêu cửa khẩu Sa Huỳnh theo kỹ thuật TOT ( target on time). Kết quả quân ta đã tái chiếm Sa Huỳnh trước khi phái đoàn Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đến quan sát chiến trường. Lý do : hàng ngàn quả đạn pháo đã cùng nổ một lúc nên Việt Cộng chiếm giữ cửa khẩu Sa Huỳnh không còn ai sống sót.

Trả lời câu số 2 : Tam Biên có nghĩa là ranh giới của 3 nước Việt – Miên –Lào, vùng Tam Biên nằm trong địa giới của tỉnh Kontum với các địa danh quen thuộc trong các bản nhạc của Trần Thiện Thanh như Dakto, Toumorong, Dakseng, Daksut, Ben Het, Tân Cảnh…

2
Trả lời câu số 3 : Vùng Ba Biên Giới có nghĩa là biên giới của 3 vùng đất Cao Miên – Hoàng Triều Cương Thổ và Nam Kỳ . Vùng Ba Biên Giới nằm giữa 2 tỉnh Quảng Đức và Phước Long của VNCH với các địa danh giao tranh nổi tiếng như Đồng Xoài, Đức Cơ, Đức Lập, Bùi Gia Mập…

Trong mùa bầu cử 2020, những người Việt CUỒNG CHỐNG TRUMP nổi tiếng nhu Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Thanh Giao, Nguyễn Tài Ngọc, Vũ Văn Lộc, Nguyễn Xuân Nam, Nhã Duy,Hoàng Cơ Lân, Trần Văn Tích, Đỗ Thị Thuấn…đã ra sức đả phá và công kích Donald Trump. Những người CUỒNG CHỐNG TRUMP hả hê, thích thú và sướng khoái vì ông TRUMP rời khỏi Tòa Bạch Ốc. Điểm khôi hài là khi Biden lên ngôi , không thấy đám CUỒNG CHỐNG TRUMP nâng bi Biden mà vẫn tiếp tục chỉ trích Trump (hay là Biden
không còn bi nữa nên có muốn nâng bi Biden đi nữa nhưng tìm không ra bi để mà nâng !!) . Người viết không phản bác hay đả kích nhóm CUỒNG CHỐNG TRUMP vì đó là quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu ý kiến của họ (được Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo vệ), nhưng mới đây Phạm Thanh Giao lên tiếng “dạy đời” người Việt Hải Ngoại (được Đỗ Thị Thuấn tán dương tới tận mây xanh), người viết phản bác Phạm Thanh Giao bởi 2 lẽ :

A. Phạm Thanh Giao “dốt nát và dốt đặc “ về Lịch Sử Việt Nam mà lại đưa ra những luận cứ mơ hồ và đầy tiên kiến xấu xa về Lịch Sử oai hùng của đất nước Việt Nam, có lẽ Phạm Thanh Giao ỷ mình là cựu giám đốc chương trình Việt ngữ của VOA nên khua môi múa mỏ khoác lác chăng ? Phạm Thanh Giao có lòng NHÂN TỪ DỎM khi cảm thương cho số phận Suy Vong của nước Chiêm Thành cũng như thân phận Mất Nước của Dân Tộc Chiêm Thành !

Chú thích : “dốt nát” = hiểu biết rất ít. “ Dốt đặc ” = dốt hoàn toàn , không biết một ti gì.

B. Phạm Thanh Giao có tâm địa hèn kém vì đã cam tâm làm tay sai cho Trung Cộng, cũng có thể Trung Cộng đã chi tiền cho y nên ở phần cuối bài viết y kêu gọi người Việt phải nên”khuất phục Trung Cộng” để khỏi bị tiêu diệt như Việt Nam đã tiêu diệt Chiêm Thành trong thế kỷ 16.

Năm 1970, tôi ghi danh học thêm Pháp Văn tại Trung Tâm Ngôn Ngữ của Viện Đại Học Vạn Hạnh (Trung Tâm Ngôn Ngữ do giáo sư Trần Cẩm Huỳnh – Cao Học Văn Chương Pháp – làm Giám Đốc). Lớp Pháp Văn của tôi do cô Nguyễn Thị Huyền Mai (1942) vừa tốt nghiệp cử nhân Sử Địa của Đại Học Sorbonne phụ trách. Cô Huyền Mai hay tổ chức họp mặt các sinh viên tại nhà của cô và có vài lần cô hướng dẫn sinh viên đi thăm Bảo Tàng Viện. Thú thực bọn sinh viên con trai chúng tôi đi vào Sở Thú Sài Gòn rất nhiều
lần ( đi tán và ngắm những hoa khôi của trường TRƯNG VƯƠNG ) nhưng chưa có tên nào vào thăm Viện Bảo Tàng hết cả. Với kiến thức về Sử Địa , cô Huyền Mai đã hướng dẫn bọn sinh viên chúng tôi nhiều điều lạ lùng :

1/ Lạ lùng thứ nhất : Indochine tên của bán đảo Đông Dương là nơi hội tụ của 2 nền văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa. Những tượng Phật của Cambode và của Lào xuất xứ từ Ấn Độ nên tượng Phật có dái tai to và dài nhưng có một vết rạch theo chiều thẳng đứng, trong khi một số tượng Phật tại các chùa Việt Nam lại không có vết rạch này. Thái Tử Tất Đạt Ta là con nhà quý tộc nên tục lệ của giai cấp quý tộc là phải đeo những khoen tai to và nặng bằng kim loại quý, do đó tai của Ngài (trước khi thành Phật) bị kéo căng và
dài xuống phía dưới chứ không phải Ngài có “gene” di truyền dái tai dài khác thường. Truyền sang Việt Nam các nhà điêu khắc mô phỏng các tượng Phật đã có sẵn nhưng lại không có 2 vết rạch 2 bên tai.

3
2/Lạ lùng thứ hai : Văn minh Ấn Độ thể hiện qua các Tháp Chàm và các tượng Chàm, trong khi hiện nay cho rằng người Chàm ở Châu Đốc là con cháu của nước Chiêm Thành lưu lạc xuống Châu Đốc là không đúng, người Chàm ở Châu Đốc theo đạo Hồi (muslim sunni), kiến trúc các đền thờ của người Chàm Châu Đốc không phải là kiến trúc của văn minh Ấn Độ. Giáo chủ Mohamad xuất hiện vào thế kỷ thứ 6 sau Công Nguyên bên Trung Đông, trong khi cổ sử ghi nhận nước Lâm Ấp (tên cũ của Chiêm Thành) đã xuất
hiện ở miền Trung từ thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên. Thực tế , dân Châu Đốc gọi người Chàm theo đạo Hồi là người Chà Và (tức là cộng đồng người Chàm theo đạo Hồi đến VN từ đảo Java hay Malaysia), cộng đồng thiểu số này liên lạc chặt chẽ với Tòa Đại Sứ Malaysia tại Sài Gòn và mỗi năm họ trở về Malaysia đithi đọc Kinh Koran cũng như đi thăm Thánh Địa Mecca ở Arab Seoud.

3/Lạ lùng thứ ba : cộng đồng người Chà Và Châu Đốc đến Nam Việt cùng thời với cha con ông Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích cũng thần phục chúa Nguyễn vào thế kỷ 17. Đọc các tài liệu và các sách vở của các trí thức trong cộng đồng gốc Chà Và Châu Đốc , tôi suy ra rằng người Chàm Hồi Giáo ở Châu Đốc không dính dáng gì với cộng đồng người Chàm gốc Chiêm Thành (xin xem sách viết về người Chàm theo đạo Hồi do đốc sự Đỗ Hải Minh – Dohamide và Dorohiem viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt : 2 ông Đỗ Hải
Minh – Dohamide và Dorohiem là viên chức hành chánh cao cấp của Bộ Phát Triển Sắc Tộc của chính phủ VNCH đồng thời 2 ông cũng là sáng lập viên của Hiệp Hội Chàm Hồi Giáo tại Việt Nam)

4/ Lạ lùng thứ tư : trong thời gian học ở Sorbone, cô Huyền Mai có đọc tài liệu bàn về SỰ SUY VONG CỦA VƯƠNG QUỐC CHAMPA (cô không nói rõ là tài liệu nghiên cứu hay thèse của các tiến sĩ Sử và thời gian 1970, người viết không thể nhớ được tên của tác giả)

4.1 Nước Chiêm Thành bị suy vong vì ông vua nào lên ngôi cũng lo đi xây lăng tẩm (Tháp Chàm), nước thì nhỏ, tài nguyên thiên nhiên không dồi dào sung túc, dân ít người thưa không lo sản xuất mà cứ phải phục dịch xây cất lăng tẩm cho các tân vương nên quốc gia này không có sinh lực để sinh tồn lâu dài.

4.2 Ảnh hưởng bởi Bà La Môn nên xã hội nước Champa có quá nhiều giai cấp, do đó khi giai cấp quý tộc của nước Champa yếu thế hơn binh đội Việt Nam, nhiều lần lui phải lui về phía Nam, không kéo theo dân chúng thuộc giai cấp thứ dân nô lệ đi theo được.

4.3 Cũng bởi quan niệm giai cấp, nên chỉ có giai cấp quý tộc cầm quyền mới có được đi học biết chữ trong khi toàn dân mù chữ và cũng mù luôn cả ý thức dân tộc và ý thức đất nước + ý thức Tổ Quốc.

Cô Huyền Mai nói nước Việt Nam của chúng ta quá may mắn khi những vị lãnh đạo đất nước có cái nhìn viễn kiến và hy sinh hưởng thụ cá nhân để chuẩn bị cho thế hệ kế thế có phương cách sinh tồn đối đầu với cường địch phương Bắc có sức mạnh gấp trăm lần.

Thí dụ như sứ quân Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong các sứ quân khác (thập nhị sứ quân), ông lên ngôi vua xưng là Đinh Tiên Hoàng. Tuy thời gian làm vua quá ngắn ngủi (ông và con trai lớn là Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám sát) nhưng vua Đinh Tiên Hoàng đã thực hiện được 3 việc quan trọng, đó là :

Việc quan trọng thứ nhất : Chọn thủ đô, triều đình nhà Đinh đóng đô tại Hoa Lư, vùng này là cuối tỉnh Ninh Bình giáp ranh với Thanh Hóa, triều đình mới thành lập còn quá yếu về nhân sự cai trị và binh bị, nếu giặc Bắc qua xâm lược thì rút vào rừng núi của Thanh Hóa để bảo toàn lực lượng.

4
Việc quan trọng thứ hai : Vua Đinh Tiên Hoàng tự biết mình là dân võ biền, nên đích thân ông đi mời các vị sư Phật Giáo (như nhà sư Khuông Việt) ra giúp ông để luật pháp bớt phần hung bạo cũng như tiếp đón các sứ giả của Trung Hoa : thế kỷ thứ 9 và thứ 10, chỉ có các nhà sư trong chùa mới được học viết được tiếng Phạn, viết bằng Hoa ngữ. Các sứ giả Trung Hoa thì phải bút đàm với các nhà sư Việt Nam thì 2 bên mới “hiểu nhau”

Chú thích : sau khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, các sứ giả
Trung Hoa vẫn giữ nề nếp nói chuyện với các vị sư trong chùa trước khi vào chầu vua Việt Nam, nên tại
Thăng Long mới có chùa QUÁN SỨ (=hội quán của các sứ giả)
Việc quan trong thứ ba : vua Đinh Tiên Hoàng cũng như các vị vua sau đó của các triều đại Tiền Lê, triều
đại nhà Lý, triều đại nhà Trần…không có ai đi xây lăng tẩm cho riêng cá nhân mình hay cho dòng họ của
mình, cũng không có ai đi xây dựng các cung điện nguy nga như các vị vua sáng lập các triều đại bên
Trung Hoa. Bản thân vua Đinh Tiên Hoàng đã huy động lính tráng và dân chúng đi đắp một con đường
chiến lược quan trọng – sau này trở thành “con đường cái quan” là phương tiện tiện nghi hữu ích cho
việc thông thương buôn bán cũng như về mặt quân sự tiện cho việc tiến quân và lui quân vào rừng núi.
Đọc SỬ KÝ CỦA TƯ MÃ THIÊN, triều đình nhà Hán đã cử 2 danh tướng Lý Quảng và Trình Bất Thức để
phòng chống sự tấn công của các chiến binh Mông Cổ. Lý Quảng là tướng giỏi về kỵ binh, ông đã tổ chức
các toán kỵ binh thám báo thọc sâu vào đất địch hàng trăm dặm, đồng thới cứ 10 dặm lại có “hỏa đài”
để thông tin liên lạc. Nếu quân Mông Cổ di chuyển vào ban ngày, các trạm thông tin này đốt khói báo
động, nếu quân Mông Cổ di chuyển vào ban đêm, các “hỏa đài” này đốt lửa để báo động.
Tướng Trình Bất Thức là tướng bộ binh nên ông không dùng kỵ binh như tướng Lý Quảng : ông đóng
quân ở những vị trí các nhóm có thể cứu viện cho nhau được và binh sĩ của ông bắt buộc phải canh gác
nghiêm nhặt. Ông phòng thủ kỹ đến nỗi các tướng giặc không dám tấn công vì nếu tấn công, sác xuất để
thắng tướng Trình Bất Thức không tới 5%.
Nước Việt Nam chúng ta rất may mắn vì các vị vua các triều Tiền Lê, triều Lý, triều Trần đều sẵn sàng
chuẩn bị không phải để “đánh bại” quân xâm lược phương Bắc mà là chuẩn bị sao cho quân địch không
thể thắng chúng ta. Nếu quân viễn chinh không thể thắng nhanh chóng thì với thời gian sẽ bị buộc “phải
rút lui” (vì nhiều lý do), đó là nước Việt Nam sẽ là KẺ CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG.
Ghi chú : khi bị đày ra đảo Sainte Hélène (giữa Đại Tây Dương) vào năm 1815, hoàng đế Napoleon đệ
nhất chua chát nhận xét : “ nước Anh đánh trận nào cũng thua, nhưng họ lại thắng TRẬN CUỐI CÙNG”.
Nước Việt Nam nhỏ, ít người, nội lực kinh tế không mấy dồi dào sung mãn, mặc dù bị đô hộ trên 1,000
năm nhưng dành được độc lập và giữ được chủ quyền đất nước vì chúng ta lại THẮNG TRẬN CUỐI CÙNG
đối với các triều đình Nam Hán, triều đình nhà Tống, triều đình nhà Nguyên, triều đình nhà Minh…
Thí dụ minh họa : vào thế kỷ 13, đế quốc Mông Cổ hùng mạnh nhất thế giới đã đánh bại nhiều quốc gia
hùng mạnh như Trung Hoa , Nga, các đế quốc Hồi Giáo tại Trung Đông…nhưng Thái Sư Tể Tướng Trần
Thủ Độ không hề sợ hãi, trước khi từ trần ông căn dặn con cháu (vua Trần Thánh Tôn, vua Trần Nhân

5
Tôn, Tướng Trần Quốc Tuấn) : “ Mông Cổ thể nào cũng xâm chiếm nước ta, chuyện đó chỉ trì hoãn chứ
không thể tránh được, các ngươi phải có trách nhiệm gìn giữ đất nước”
Con cháu của Thái Sư Trần Thủ Độ đã thực hiện những gì để quân Mông Cổ không thể thắng :
1) Thành lập thủy binh để di chuyển quân đội nhanh hơn đi bộ hay cưỡi ngựa.
2) Chế tạo rất nhiều tên bằng tre để áp đảo binh đội Mông Cổ chỉ mang được mỗi chiến binh khoảng 200
tên khi lâm trận.
3) Liên kết đồng minh với nước Chiêm Thành để vua Chế Mân không cho quân Mông Cổ đổ bộ tại vùng
Thuận Hóa sau này ( Sau chiến tranh, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho
vua Chế Mân vì giữ lời giao ước có từ trước ). Vì các nhà lãnh đạo của nhà Trần biết chắc rằng vùng biển
từ Hà Tĩnh trở ra Thanh Hóa, không có chỗ nào hải quân của Mông Cổ có thể cặp bến và đổ bộ được. Chỉ
có vùng biển có phá Tam Giang, có cửa Thuận An, có cửa Tư Hiền…mới đổ quân lên bờ được. Những
vùng có tên vừa nêu là lãnh thổ của nước Chiêm Thành.
Các ông bà khoa bảng hiện nay quá tự hào về tri thức và kiến thức của mình mà quên rằng khi quân
Mông Cổ tiến đánh nước ta, vua Trần Nhân Tông triệu tập hội nghị Bình Than với thành phần tham dự là
các quan lại trong triều đình, các vương hầu, các tổng đốc các tỉnh… Khi được hỏi nên HÒA thì tất cả im
lặng , khi được hỏi nên CHIẾN thì chỉ có 2 phiếu của tướng Trần Quốc Tuấn và tướng Trần Khánh Dư. Tại
sao ? Đại đa số im lặng vì khối im lặng biết quá rõ tương quan TA và ĐỊCH quá chênh lệch về mặt kỹ thuật.
Tại hội nghị Diên Hồng, tất cả các bô lão được mời dự họp đều đồng thanh quyết CHIẾN trong khi các bô lão không phải là tướng lĩnh hay các văn nhân trí thức gì hết. Khi đồng thanh hô hào QUYẾT CHIẾN cũng có nghĩa là họ chấp nhận hy sinh để quân xâm lược KHÔNG THỂ THẮNG . Còn chuyện điều hành, lãnh đạo, hành quân…là chuyện của các tướng quân lãnh đạo, không phải là chuyện của quần chúng nhân dân.
Trong thời chiến tranh Việt Nam , nhiều nhà sư ngụy hòa hay giăng biểu ngữ trước chùa nhân các ngày lễ lớn như là “TÂM BÌNH, THẾ GIỚI BÌNH”
Nhận xét của người viết :
Các nhà lãnh đạo tôn giáo (bao gồm các vị chức sắc trong giáo hội PG và TCG), đa số ngay từ thời trung học và đại học đã chọn ban Văn Chương, rất kém 2 môn Toán và Lý Hóa nên khẩu hiệu TÂM BÌNH ,THẾ GIỚI BÌNH” không được đúng mà cũng không thể sử dụng được. Lớp đệ tam (lớp 10 sau này) có học về
Toán Học Luận Lý như ĐIỀU KIỆN ẮT CÓ và ĐỦ…Cho nên cần hiệu chỉnh khẩu hiệu như sau :
Điều kiện ắt có và đủ để TÂM BÌNH, THẾ GIỚI SẼ ĐƯỢC BÌNH AN NẾU QUỐC GIA LÁNG GIỀNG CŨNG
PHẢI CÓ TÂM BÌNH. Các ông bà ngụy hòa luôn hô hào (và kêu gào) chính quyền và dân chúng VNCH phải
có TÂM BÌNH, nhưng không hề có bất cứ nỗ lực nào để VNDCCH cũng phải có TÂM BÌNH thì nền hòa
bình công chính mới xảy ra được

6
Phạm Thanh Giao chắc là suýt soát 70 tuổi (tôi đoán thế) phải nên đi học lại lịch sử Việt Nam, chớ nên
làm tay sai cho Tàu Cộng kêu gọi người Việt thần phục Tàu Cộng để trở thành kẻ LƯU XÚ VẠN NIÊN vì
đầu óc bệnh hoạn chỉ muốn tồn tại trong ô nhục.

San José ngày 19 tháng 4 năm 2021

Trần Trung Chính

Share this post