Tháng Ngày “Lính Lác” –

Tháng Ngày “Lính Lác” –



Hồi Ức


Dẫn 1.


Không biết chữ “lính lác” có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng Tư Bảy Lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ “lính lác” – lính là người gia nhập trong quân đội, lính Bắc Việt gọi là bộ đội. “Lác” theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền Nam, miền Trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh “lác”. Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị “lác”.

Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc…). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia quân đội gần bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền Nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975).

Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ chạy chiếc xe Suzuki ra Đà Nẵng, vào Bộ Tư Lệnh QĐI và QK1 để trình diện nhập ngũ. Lòng tôi rất vui vì tôi đã thi đậu vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, một quân trường mới mở đâu được khoảng 2 năm. Đã có Khóa 1 đang theo học, sắp ra trường…Tôi thi đậu vào Khóa 2, mà trong các lời quảng cáo trên báo chí, trên các poster dán khắp nơi, là trường sẽ đào tạo những sĩ quan văn võ song toàn, sẽ là những kỹ sư tâm hồn sau này… Tôi thích chí, làm đơn thi vào và đã trúng tuyển. Theo suy nghĩ, tôi sẽ vào đây học trong hai năm…Hai năm là một thời gian tạm cho là dài, để có thể thay đổi tình hình chính trị, quân sự, trong ván bài Việt Nam. Biết đâu hai năm sẽ hết chiến tranh, hai năm ra trường tôi sẽ về một đơn vị không tác chiến, như làm ở các văn phòng, các đơn vị CTCT. Đầu óc tôi đã trải qua những đêm dài không ngủ vì chuyện “đi lính” này. Bây giờ thì tạm ổn trong 2 năm.

Trước đó, tôi đã loay hoay tính toán cho cuộc đời mình. Nghĩa là sau khi đậu tú tài 2, được cha mẹ cho vào Sài Gòn học Đại Học, tôi luôn luôn suy nghĩ đến tương lai mình.

Ai không muốn tương lai mình, với tuổi trẻ mình, đạt được hoài bảo, như thi đậu vào một trường Đại Học Sư Phạm, ra trường sẽ đi dạy ở một trường trung học nào đó. Chuyện đứng trên bục để giảng cho học sinh nghe về những điều mình học được, về văn chương, chữ nghĩa, về văn học sử, các tác giả văn học mà mình yêu thích, thì  thú vị biết bao. Tôi cũng từng mơ thi vào một trường Y khoa, Nha khoa, để ra trường, trở thành một bác sĩ, nha sĩ. Nếu có đi lính thì cũng được làm ở hậu phương, ở các bịnh viện quân đội.

Hay thi vào trường Quốc gia Hành Chánh để học khóa Đốc sự, ra phục vụ trong chính quyền, tệ nhất là phó quận hay trưởng ty…Tất cả những mơ ước đó đã vượt khỏi tầm tay tôi. Lý do chính là thi vào các trường đó, ngành nghề đó, thí sinh thi vào rất đông và tiêu chuẩn lấy vào rất ít.

Hình như Y khoa chỉ thâu vào khoảng 20, 30 ngươi cho một năm. Đại Học Sư Phạm cũng vậy. Quốc Gia Hành Chánh ban Đốc sự 4 năm, cũng chỉ lấy vào 25 hay 30 thí sinh/năm. Niên khóa 1966, tôi thi vào Nha khoa, với hy vọng mơ hồ…Vì trình độ ngoại ngữ yếu nên tôi rớt là chuyện bình thường. Quốc gia hành chánh và Đại Học Sư phạm, tôi không thi, nhưng tôi nghĩ, có thi vào cũng khó mà đậu, vì sĩ số thí sinh lấy vào quá ít, với lại tình trạng con ông cháu cha, thí sinh có thân có thế, con nhà giàu có lắm tiền nhiều bạc, có thể “chạy” cho con cái họ vào các trường ấy, cũng chiếm một số, nên bản thân tôi, một học sinh nhà quê, mới bước chân vào đại học, học lực chỉ vào hạng khá thôi, thì chắc chắn là không chen chân vào những trường “danh giá” đó được.

Học đại học ở Sài Gòn, tôi vừa đi học vừa đi dạy kèm cho các gia đình có con em cần học thêm ở nhà. Trước tiên tôi ghi danh ở Đại học khoa học, khoa MPC (Toán Lý Hóa). Học đâu được khoảng 3 tháng, tôi thấy tôi không thể tiếp tục theo học được, vì quá khó, dù tôi đậu tú tài 2 ban B (Toán). Tự lượng sức mình, tôi bỏ. Tôi nhảy qua ghi danh bên trường Luật.

Học ở trường Luật, trên đường Duy Tân (sau này mới có bản nhạc Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy, “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, coi như là một con đường tình sử của những cặp trai gái yêu nhau). Khi tôi học niên khóa 1966, trường luật bị khuấy động bởi những cuộc biểu tình, bãi trường, bãi khóa, và cuộc tranh dành trong cuộc bầu cử Ban Đại Diện Đại Học Luật Khoa. Tôi là một sinh viên mới, từ quê vào, chỉ lo cho đời sống của mình, với chiếc xe đạp cọc cạch, đạp xe từ Hòa Hưng đến giảng đường trường Luật, trong những buổi chiều các giáo sư dạy  từ 4 – 6 giờ.

Sau khi bãi lớp, tôi phải đạp xe từ trường Luật về ngã ba ông Tạ, chạy xe vào đường Thánh Mẫu, dạy kèm cho 2 cô con gái một vị giáo sư…(mà tôi không biết tên.) Hai cô gái khoảng 11, 12, 13 tuổi. Cô chị lớn hơn cô em chút. Cô chị thì tính tình hiền lành, dễ thương. Còn cô em thì giọng nói gắt gõng, chát chúa, mất đi tính ngây thơ của một cô bé học trò trung học đệ nhất cấp (khoảng đệ thất hay đệ lục).

Thêm một thời gian nữa, hình như khoảng đâu 6 hay 9 tháng, tôi nhận ra sống và đi học ở Sài gòn thấy linh đinh quá, nhiều lúc phải đi dạy kèm đến 8, 9 giờ tối mới về, cho nên có người bạn mách nước là Bộ Giáo Dục đang tuyển giáo sư dạy giờ ở các tỉnh miền trung, tôi bèn nộp đơn xin đi dạy.

Khoảng 3 tháng sau, tôi nhận được Sự Vụ Lệnh của Bộ Quốc Gia Giáo dục bổ về dạy tại trường Mộ Đức, Quảng Ngãi. Tôi bèn mua vé máy bay về Quảng Ngãi, và đây là bước đầu tôi làm một thầy giáo quận lỵ. Mộ Đức là một quận nằm phía trong thị xã Quảng Ngãi khoảng 20 cây số…Một quận “nửa nạc nửa mỡ”, có nhiều xã ban ngày quốc gia ban đêm cộng sản.

Tôi được thầy hiệu trưởng trường này là anh Lê Hữu Quả, tốt nghiệp viện Hán học Huế, cho dạy khoảng 40 giờ một tuần, vì một trường quận, đang ở trong tình trạng chiến tranh, thiếu giáo sư nghiêm trọng, nên tôi bao thầu. Nhưng giáo sư dạy giờ, phải dạy khoảng 2, 3 tháng mới kê khai giờ dạy, rồi cũng khoảng một tháng nữa mới được lãnh lương, nghĩa là từ ngày bắt đầu dạy, đến lúc lãnh được lương cũng, 3, 4 tháng. Nhưng rồi cái gì cũng qua đi. Dạy ở đây thật là vui, trường mới mở đến lớp đệ ngũ, nhưng các em đà lớn sộ, vì học trò nhà quê đi học trễ. 

Dạy học ở trung học Mộ Đức, tôi buổi sáng vào trường dạy, và tối thì chạy xe về thị xã Quảng Ngãi ngủ. Tôi xin giáo sư Lê Hữu Quả, ở chung với anh, và chia sẻ với anh tiền thuê phòng. Cứ như vậy khoảng một năm trôi qua. Tôi biết được chiến tranh trong những buổi sáng đi vào trường dạy, phải đợi cho toán rà mìn của Mỹ rà mìn xong mới cho xe các loại lưu thông, những lúc ấy tôi thấy chiến tranh gần kề mình quá, như khi đi trên đường, thấy những chiếc xe nhà binh, hay xe đò, bị mìn nổ hất tung lên, xe bị cháy đen, còn người thì không biết thế nào. Vì chứng kiến những chuyện như vậy nên tôi lo sợ về chuyện đi đi về về mỗi ngày, cho nên tôi cùng với một anh bạn giáo viên tiểu học tên là Lê Văn Thí, thuê một căn nhà tranh nhỏ của một phụ huynh, nhờ vị phụ huynh này nấu cơm luôn cho chúng tôi ăn. Đây là những ngày bình an nhất của tôi khi đi dạy ở trường trung học Mộ Đức.

Đến Tết năm đó, tôi chuẩn bị tổ chức một bữa tiệc cho các em học sinh lớp đệ ngũ do tôi làm cố vấn. Tôi cho tiền mua kẹo, bánh ngọt, nước ngọt cho các em “liên hoan”. Nhưng ở một nơi toàn lính tráng, giữa buổi liên hoan, có một anh lính nghĩa quân say rượu, vào sân trường la lối, hăm dọa các giáo sư, và bắn súng chỉ thiên ngoài sân trường, nên tôi đành cho giải tán buổi liên hoan. Và vào dịp Tết ấy, tôi lại được thêm một Sự Vụ Lệnh nữa của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, cho tôi về trường trung học Lý Tín Quảng Tín dạy. Nên tôi suy nghĩ, và cũng có ý tham công tiếc việc, tôi liền chia dạy hai nơi, một trường Mộ Đức, (khoảng 35 giờ/tuần), dạy buổi sáng từ 7 giờ đến khoảng 12 giờ trưa, là tôi chạy xe ra Lý Tín dạy buổi chiều, từ khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều (khoảng 20 giờ/tuần). Như vậy tôi dạy hai nơi khoảng 55 giờ/tuần. Tổng cộng tôi dạy khoảng từ 55 đến 60 giờ một tuần. (Vì nhiều lúc hiệu trưởng nhờ dạy thêm). “Cày” như vậy khoảng 2 tháng, thì tôi đuối sức, chạy xe từ Mộ Đức ra Lý Tín khoảng 50 cây số, quá vất vã, nhất là lúc đó, hãng RMK đang thầu làm đường quốc lộ 1, nên đường sá bị đào lên, toàn đá, nên tôi nghỉ dạy ở Mộ Đức luôn.

Dẫn 2.

Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi về Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng ngăn hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ.


Tết Mậu Thân, tôi về ở đây ăn Tết cùng cha mẹ. Và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi rất sợ bị lạc đạn, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà.

Lúc đó tôi thấy chiến tranh thật quá gần kề.

Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn lộn xộn. Tôi ghé thăm nhà trọ cũ của thầy hiệu trưởng Lê Hữu Quả, thì nghe tin, thấy Quả chết. Tôi rất bàng hoàng. Thì ra, trong dịp Tết này, thầy Quả về Huế ăn Tết, đã bị bắt và vì là công chức (dù là giáo chức) thầy Quả đã bị giết với một số đông. Tôi nghe mà thương cảm cho thầy. Thiệt tình thầy Quả tốt với tôi, đã giúp đỡ tôi tận tình những ngày đầu tiên tôi về dạy học ở Mộ Đức. Thầy lại mới cưới vợ đâu được ba, bốn tháng gì đó.

Nghe tin thầy Quả mất, tôi buồn vô cùng. Thấy mình không có duyên với xứ Quảng Ngãi, nên tôi quyết định nghỉ dạy luôn ở Mộ Đức, chỉ dạy ở trường Lý Tín thôi.

Lý Tín là quận lỵ mới mở sau này. Tỉnh Quảng Nam được cắt từ quận Thăng Bình trở vào trong, là tỉnh Quảng Tín. Các cấp chính quyền thấy quận Tam Kỳ quá rộng, nên cũng cắt đôi ra, từ xã Kỳ Hưng trở vô trong là quận Lý Tín.

Quận Lý Tín có quận đường và Bộ Chỉ Huy Chi Khu đóng ở xã Kỳ Khương. Phía trong quận đường là trường trung học công lập Lý Tín. Khi tôi về dạy, trường mới mở đến lớp đệ ngũ.

Ngôi trường mới thành lập được hai, ba năm gì đó. Hiệu trưởng là thầy Tôn Thất Khởi. Thầy tốt nghiệp Sư Phạm Quy Nhơn (hay Huế?). Sau, vì thầy Khởi có bằng tú tài 2, nên được đưa lên dạy trung học. Thầy được đề cử giữ chức vụ hiệu trường.

Tôi về dạy ở trường trung học Lý Tin cũng rất vui. Có thầy Tú, dạy Anh Văn. Với thầy Tú, cũng quen biết nhau khi học ở Tam Kỳ. Thầy Trương Văn Hào, cùng học lớp với tôi, khi học ở Trần Cao Vân. Có thêm thầy Nguyễn Viên, quê ở Chiên Đàn, Kỳ Lý, học sinh Nguyễn Dục, Tam Kỳ. Thầy Nguyễn Viên không học chung với tôi, nhưng nhà thầy Viên ở trên đường tôi đi học, nên tôi biết thầy. Về đây, thầy Trương Văn Hào đã có vợ, thầy làm nhà ở riêng, còn lại, tôi, Đặng Hữu Tú, Nguyễn Viên, ở nhà trọ của một phụ huynh học sinh, ăn cơm tháng.

Lý Tín là một quận mới, trước đây, tôi chưa một lần vào nơi nầy. Học trung học Trần Cao Vân 7 năm, tôi cũng chỉ đi loanh trong thành phố Tam Kỳ, ngày hai buổi đi học từ Quán Rường – Tam Kỳ rồi Tam Kỳ – Quán Rường. Chỉ có một lần tôi và Trịnh Tộ, bạn cùng quê, cùng lớp, hồi học tiểu học, rủ nhau đạp xe đạp ra Hà Lam, quận lỵ Thăng Bình chơi. Nhưng, đi như vậy chỉ đến Hà Lam, vào quán cơm ăn trưa, quanh quất, loanh quanh, khoảng 1 tiếng đồng hồ, rồi hai đứa đạp xe về. Chẳng biết gì hơn là những hàng quán bán cơm, bán mì Quảng, bán phở mà thôi.

Bây giờ về dạy trường Lý Tín, tôi biết thêm phía dưới biển là căn cứ Chu Lai (lúc đó mới có tên). Tôi không hiểu Chu Lai có nghĩa là gì. Dĩ nhiên là danh từ riêng. Mỹ đóng quân ở căn cứ Chu Lai rất đông. Thêm trên các ngọn núi phía Tây, lính Mỹ cũng có đóng đồn. Phía ngoài cầu ông Bộ, có một nơi gọi là quán bà Miết, trên đồi có một đồn lính Mỹ đóng, nên dẫn dắt theo một đám “chị em ta” ăn theo. Họ làm các dãy nhà tranh dọc theo quốc lộ một, là nơi ăn chơi của lính Mỹ.

Ở trường trung học Lý Tín, thầy Khởi làm hiệu trưởng, thầy Tú dạy Anh văn. Thầy Khởi có mời một số lính Mỹ đến dạy cho học sinh tiếng Mỹ. Những người lính Mỹ này rất dễ thương, họ đối xử ôn hòa với giáo sư và học sinh. Thường thường mỗi tháng, những người lính Mỹ này đem đến nhiều thùng Ration C, (thực phẩm), cho các giáo sư. Tôi cũng thực buồn lòng và (hơi) xấu hổ khi thấy các giáo sư tranh dành nhau lấy thực phẩm. 

Phía trong trường trung học, qua một cây cầu gọi là cầu An Tân, là thuộc xã Kỳ Liên. Đây cũng gọi là An Tân. An Tân là một khu phố ăn chơi của lính Mỹ. Dãy nhà từ ngoài vào, 2 bên, là những nơi gọi là “động”, chứa “chị em ta”. Chứa công khai, mời gọi công khai. Với thể diện của một người giáo sư, tôi ít giám vào đây, vì đi đâu cũng có thể gặp học sinh hoặc phụ huynh học sinh. Một quận lỵ nhỏ, làm giáo sư trung học, tôi nghĩ, chắc ai cũng biết mình, nên không giám léo hánh đến những nơi đó.

Lúc này, tin về việc, chính phủ ban hành luật Tổng Động Viên, sau Tết Mậu Thân, rất là gắt gao. Thanh niên đến tuổi, có tú tài 1 trở lên, là phải bị động viên đi lính hết. Nên tôi rất lo lắng cho số phận của mình. Vào dạy ở trường, có tin là các giáo sư trung học, có thể được động viên tại chỗ, chỉ đi thụ huấn quân sự 9 tuần, ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, rồi sẽ được trả về dạy học lại. Tin đó thì vui, nhưng tôi không vui tí nào vì tôi chỉ là giáo sư tư nhân dạy giờ, không có tốt nghiệp trường sư phạm nào, không biết có được về dạy lại hay không? Tôi hoang mang quá. Thật sự lúc này tình hình rất xao động, thanh niên cở tuổi tôi, đi đến đâu cũng đều nói đến luật Tổng Động Viên, đi lính.

Vì sự hoang mang và tính toán đó, nên tôi nghĩ, nếu động viên theo giáo chức, đi học quân sự 9 tuần ở Quang Trung, mà mình không được xét, về đi dạy lại, mà phải qua quân trường Thủ Đức, thì eo ơi! Ra tác chiến như chơi. Với thân cô, thế cô, như tôi, thì chuyện ra tác chiến, với cái lon chuẩn úy (quai chảo) trên vai, nắm giữ chức trung đội trưởng, thì chết chắc. Những người bạn cùng quê tôi, như anh Đoàn Bán, đi sĩ quan địa phương quân, ra trường chuẩn úy, mấy tháng sau thì chết. Một anh nữa là Trần Ngọc Nam, bị động viên đi Thủ Đức trước tôi mấy khóa, ra trường mấy tháng cũng tử trận. Tin buồn diễn ra liên tiếp, sao mà không lo lắng cho được.

Như tôi đã nói trên, vì sự lo lắng, lo sợ, chuyện đi lính, nên tôi tính toán phải “nhảy”. Những người có thân có thế, có tiền có bạc thì có thể “chạy” bằng cách đem sự thân thiết, quen biết với các cấp chỉ huy, rồi bỏ tiền bạc ra “chạy” cho được về đơn vị không tác chiến. Còn tôi không có gì cả, nên tôi có hai cách “nhảy”. Cách nhảy thứ nhất, là thi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, học 4 năm, lúc này cũng đang kêu gọi thi tuyển vào Khóa 25. Và cách nhảy thứ hai, là thi vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, học 2 năm.

Vào trường Võ Bị học 4 năm, thời gian 4 năm, ngon ơ, ở trong quân trường 4 năm, tình hình chiến tranh ở VN, có thể thay đổi. Nhưng tôi biết chắc, là học ở Võ Bị ra trường, 100% là đi tác chiến, là đi đánh nhau, chữ “thọ” cũng không chắc lắm, dù có được lên lon cao, lên chức cao, nhưng cũng trầy vi tróc vãy. Sống sót như hột gạo trên sàng. Dù biết vậy, nhưng tôi cũng “bắt cá hai tay”, tôi nộp đơn thi vào  cả 2 trường.

“Nhảy” vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, chỉ học hai năm, nhưng sơ qua danh xưng trường cũng hấp dẫn tôi hơn. Tôi lúc này chỉ hiểu biết sơ sài là trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, nôm na là trường sẽ đào tạo những sĩ quan thuộc về ngành chiến tranh chính trị, đánh giặc bằng mồm (nói) hay bằng viết lách (sách vở, lý thuyết). Tôi cũng nghĩ thêm, theo ý tôi, là tốt nghiệp trường này như là, văn trong võ. Lính là võ, nhưng Chiến Tranh Chính Trị là Văn.

Đề thi hai bên, trường Võ Bị và Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, tôi đều làm được cả, nghĩa là theo suy đoán của tôi là trên 70%. Dù sĩ số lấy vào mỗi bên khoảng 200, nhưng tôi rất hy vọng. Khi kết quả bên trường Võ Bị tôi chưa có, thì tôi được thông báo là đậu vào Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, nên tôi “hồ hởi, phấn khởi” đi trình diện nhập ngũ như đã kể trên.

“Hồ hởi, phấn khởi”, nói thì nói cho vui thế thôi, chứ tôi không phải là người thanh niên hào hùng, như trong các bản nhạc của các nhạc sĩ mà sau này tôi biết, chỉ là người ở hậu phương an lành, viết ra những bản nhạc như “người ơi quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai, tôi đã ra đi rồi…” Rồi mong chiến thắng “Giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu”…hay rẻ tiền hơn là “đi quân dịch là thương nòi giống.”

Tôi cũng xin cá cược là có những ai, khi bước chân vào đời, học giỏi, có thể thi đậu vào những trường “danh giá” như Y, Nha, Dược, hay các ngành Kỹ sư Phú Thọ, hay Quốc gia Hành Chánh, Đại Học Sư Phạm, mà bỏ nhưng nơi đó, để vào Thủ Đức để làm người hùng “trong đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu” thì tôi phải phục là “thánh”.

Trong lúc đó, tôi biết, có một số anh em, bạn bè, dù có bằng Tú Tài 1 hay Tú Tài hai, cũng xin vào nghĩa quân thị xã, để được an thân (lính kiểng). Một số vào Xây Dựng Nông Thôn để được ở gần nhà. Những bạn học giỏi, xuất sắc, đều đứng ngoài cuộc chiến, khi thi đậu vào trường Kỹ thuật Phú Thọ, xin hoản dịch vì lý do học vấn từng năm… cũng thoát qua vòng quân đội.

Trần Yên Hòa

Share this post