Thiếu Sinh Quân Miền Nam

Thiếu Sinh Quân Miền Nam

Trận Đánh Cuối Cùng Của Thiếu Sinh Quân Ngày 30/4/1975

Biến cố ngày 30/4/1975 thường được nhìn như một sự đau đớn, bi thương, mất mát, chia lìa và phẫn uất … của tập thể Người Việt Quốc Gia, nhưng trên sự kiện thực tế cũng có thể được xem như khởi điểm của một phong trào “Hải Ngoại Du” trong lịch sử đấu tranh để Sống Còn, Tiếp Nối, Tiến Hóa của dân tộc Việt. Có khoảng hơn 3. 000 000 (ba triệu) người Việt đang sinh sống tại các quốc gia tự do hải ngoại, được tham dự và nhìn thấy những tiến bộ lớn lao của khoa học kỹ thuật mà các cường quốc kỹ nghệ đã thành công đạt được và tận hưởng những tiện nghi vật chất, những điều kiện thuận lợi về tinh thần dành cho người dân của các nước thuộc khối tự do … Chính những thành phần Người Việt Hải Ngoại nầy sẽ là chất xúc tác để làm thay đổi tình trạng ngưng đọng, ù lì trải dài khắp đất nước Việt Nam ngày nay. Họ sẽ đóng góp sức người, sức của để kiến thiết, xây dựng đất nước trong nhiều lãnh vực khi có điều kiện thuận lợi với ước mong chung là: Làm sao theo cho kịp người, rút ngắn khoảng cách chậm tiến gần một thế kỷ! Bấy nhiêu là kỳ vọng của lực lượng người Việt Hải Ngoại trợ giúp người Việt trong nước là sự tận hiến sức người, sức của trong đại sự phục hoạt Nước Nòi sau khi Cộng Sản Bắc Việt cáo chung. Chính phần là ở đồng bào trong nước sẽ phải quật khởi đánh đổ bọn gia nô Hán Thất mà giành lấy Quyền Làm Người cho bản thân và gia đình để được sinh sống Tự Do mưu cầu Hạnh Phúc.

Trong tưởng niệm tháng Tư 1975, Jane đã chọn lọc trình bày điển hình, tiêu biểu cũng là minh chứng toàn Dân – Quân Miền Nam Cộng Hòa chúng ta đã chiến đấu thật sự như nhiệm mầu suốt 20 trong Cuộc Chiến Quốc Cộng để Bảo Quốc – An Dân như:

  • Nam Nhi Chinh Chiến Kỷ Nhân Hồi – Những Anh Hùng Vô Danh Đồn Dakseang là chiến đấu tính triệt để khi lâm nguy thì cùng chết với kẻ thù, xem chuyện tử sinh nhẹ như cơn gió thoảng của người Lính trong tập thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
  • Đóa Hoa Thời Chinh Chiến là tiêu biểu cho giới Người Vợ Lính đã quyết liệt chiến đấu chống Cộng đến chết để bảo vệ cho chồng con và miền Nam thân yêu.
  • Trận Tử Thủ Cuối Cùng với giặc từ miền Bắc vô Nam của Nhà Tướng Số Đinh Sơn là tiêu biểu cho khí tiết Dân chúng miền Nam chống Cộng Sản Bắc Việt vào Nam bắn giết đồng bào.

Và đêm nay trong chương trình này, Jane xin đơn cử bài viết tổng hợp đã chọn lọc của những tác giả là nhân chứng và là người trong cuộc chiến đấu sau cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Hòa với bộ đội Cộng Sản Bắc Việt ngày 29 rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975 là tiêu biểu cho thế hệ là con em của Tử Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Cha Mẹ nghèo khó mới thấu tình con thảo ! Quốc Gia lâm nguy trong cơn chiến nạn mới thấy lòng trung kiên và sự can trường của con dân nước Việt!

Sự việc các Thiếu Sinh Quân tuổi vị thành niên , vốn là con em của Tử Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã hiên ngang tử chiến khốc liệt với giặc thù từ Bắc Việt vào xâm lăng miền Nam lần cuối tại Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu là một Thiên Anh Hùng Ca lưu danh Lịch Sử Việt Nam thời cận đại.

Jane xin trân trọng trình bày với quy đồng đội thân tình và cám ơn những tác giả đã chia sẻ bài viết trên diễn đàn và thành thật cáo lỗi đã không đề danh tác giả của quy vị, vì xá gì với những anh linh Thiếu Sinh Quân đã lẫm liệt ngã xuống trong trận chiến cuối cùng là nét vàng son đậm dấu trong Lịch Sử Ngàn Người Viết và là một Nền Văn Chương Của Người Việt Tự Do chất chứa biết bao tính chiến đấu quyết liệt, triệt để với lý tưởng bảo vệ sơn hà, xã tắc trong cơn chiến nạn và tình người trong thế nước mất, nhà tan là hướng thượng và xứng danh dòng giống Lạc Hồng – Nước Việt với chiều dài Lịch Sử … !

Trong tương lai khi có đủ điều kiện tài chánh, Jane sẽ tập họp và xuất bản Tuyển Tập Lịch sử Ngàn Người Viết. Mong lắm vậy !

Trân trọng.

Trận Đánh Cuối Cùng Của Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu Ngày 30/4/1975

Như chúng ta đã biết sau Hiệp Định Genève 1954, Việt Nam Cộng Hòa đã chia địa giới quân sự ở Miền Nam Việt Nam ra thành 4 vùng chiến thuật mà sau này gọi là 4 Quân Khu gồm:

  • Quân Khu 1: Từ Nam sông Bến Hải thuộc Tỉnh Quảng Trị còn gọi là địa đầu giới tuyến đến Tỉnh Quảng Ngãi.
  • Quân Khu 2 : Từ Quy Nhơn đến Phan Thiết hai Tỉnh cao nguyên trung phần là Pleiku và Buôn Ma Thuột.
  • Quân Khu 3: Cao nguyên Nam phần + các Tỉnh phía Nam Phan Thiết đến Bắc Cần Thơ và Quân Khu thủ đô Sài Gòn.
  • Quân Khu 4 : Từ Cần Thơ đến Cà Mau – đảo Phú Quốc là điểm tận cùng Nước Việt.

Đặc Khu Vũng Tàu là Thị Xã của Tỉnh Phước Tuy cũ, thuộc Vùng 3 duyên hải, cách Sài Gòn 105Km về hướng Đông.

Trở về thời gian trước, khi Cộng Sản Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris 1973, đưa quân đội và khí tài ào ạt vào Miền Nam Việt Nam cưỡng chiếm nhiều vùng miền, và đến những ngày đầu tháng 4/1975 thì Vùng I và Vùng II Chiến Thuật lần lượt rơi vào tay Cộng quân, từ đó làn sóng tị nạn Cộng Sản bằng nhiều cách và nhiều phương tiện đã tháo chạy vào miền Nam định cư, đặc biệt đường thủy mà điểm đến đầu tiên là mảnh đất Vũng Tàu.
Trước năm 1975 muốn vào Vũng Tàu, chỉ có đường lớn độc đạo và thuận tiện nhất là từ Ngả Tư Giếng Nước chạy trực diện đến trước cổng trường Thiếu Sinh Quân ở Quốc lộ 15, rẻ trái rồi vào trung tâm Thị Xã và cũng chính tại vị trí chiến lược nầy, mà cuộc tử chiến đã nổ ra vào sáng 30/4/1975 giữa Thiếu Sinh Quân và bộ đội chính qui Cộng Sản Bắc Việt là điều không thể tránh khỏi. Vũng Tàu là một trong những thành phố an ninh bậc nhất của Miền Nam lúc bấy giờ, nên có nhiều hậu cứ Quân Binh Chủng, Trung Tâm Huấn Luyện, Quân Trường … trú đóng trải rộng khắp Thị Xã Vũng Tàu và vùng ven Bà Rịa. Trường Thiếu Sinh Quân cũng không ngoại lệ, nhưng đặc thù hơn vì có hạ tầng xây dựng kiên cố, to lớn do người Pháp xây dựng vào những năm đầu thế kỷ 20 mà lại nằm tại điểm chiến lược như sẽ nói … Mặt trước là thị xã Vũng Tàu , Bến Đình , mặt sau trường được tựa lưng vào ngọn Núi Lớn như một bức tường vững chải đã giúp anh-em Thiếu Sinh Quân chúng tôi chống trả với Cộng quân quyết liệt vì lẽ không còn đường tháo lui ! Trước đó toàn thể Liên Đoàn Thiếu Sinh Quân vẫn sinh hoạt bình thường hay nói đúng hơn là rất quân kỷ, nghĩa là chúng tôi phải tập họp đi học mỗi sáng, tự học về đêm tại khu Văn Hóa rồi học Võ Thuật Thái Cực Đạo (Taekwondo) mỗi buổi chiều, và tập luyện Quân Sự sáng Thứ Năm theo lịch định… Mọi thứ không gì thay đổi cho đến ngày 28/4/1975 … Vì chúng tôi là những Thiếu Sinh Quân đàn anh, lớn và uy tín, lại thâm niên nhất, như là “niên trưởng” của cả Liên Đoàn Khóa Sinh vậy, mặc dù danh xưng nầy chúng tôi không dùng đến. Được lệnh từ Thiếu tá Liên Đoàn Trưởng Nguyễn Hồng Hoàng đặc cách 10 người trong chúng tôi nhận 10 khẩu súng Carbine M1 để tự vệ và chỉ huy khi cần thiết … tôi liền nghĩ: “bắt đầu sẽ có thay đổi lớn và nguy cấp đây” !

Không ngoài dự đoán, sau bữa cơm chiều Trung tá Ngô văn Dzoanh quyền Chỉ Huy Trưởng thay Đại Tá Hồ Nhật Quang đã vắng mặt, an ủi toàn thể anh em chúng tôi và hứa sẽ có kế hoạch di tản tất cả trong những ngày sắp tới.

Vào buổi sáng ngày 29/4/1975, tình hình trở nên tồi tệ hơn, quân số cán bộ cơ hữu và sỉ số Thiếu Sinh Quân giảm đi rõ rệt. Vì phần anh em Thiếu Sinh Quân cư trú tại Vùng 3 và Vùng 4 Chiến Thuật được đặc cách cho 800 Thiếu Sinh Quân về với gia đình. Lúc nầy chỉ còn tại Trường là những Thiếu Sinh Quân ở Vùng 1 và Vùng 2 và một ít Thiếu Sinh Quân thuộc miền Nam chưa về kịp. Số anh em còn tại trường lúc nầy vào khoảng 600 trong tổng số 1400 người.

Đến 7h30 ngày 29/4 chúng tôi nghe từ loa phóng thanh ở Khu Giải Trí Liên Đoàn do Thiếu tá Hoàng Liên Đoàn Trưởng thông báo: “ Tất cả TSQ chuẩn bị tập họp, cuộc di tản bằng trực thăng ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ ngoài khơi sẽ bắt đầu, hành lý lên máy bay chỉ được 2kg cho mỗi người và tuyệt đối không mang theo Quân trang hay Quân dụng vũ khí quân sự…”.

Sau khi nhận lệnh, chúng tôi khẩn cấp tập họp 4 Tiểu Đoàn Thiếu Sinh Quân khắp bốn chung quanh sân banh trước Kỳ Đài “NHÂN – TRÍ – DŨNG” thật trang trọng. Ngoài 4 Tiểu Đoàn Thiếu Sinh Quân được chia từ lớn đến nhỏ gồm:

  • Tiểu Đoàn 1 Hùng Vương,
  • Tiểu Đoàn 2 Lê Lợi,
  • Tiểu Đoàn 3 Ngô Quyền,
  • Tiểu Đoàn 4 Quang Trung và còn thêm quân nhân cơ hữu của trường và gia đình họ, tổng cộng chừng 800 người.

Tới khoảng 8h00, một chiếc trực thăng UH1-A – ICCS trực thăng của phái bộ Kiểm Soát Đình Chiến thi hành Hiệp Định Paris đáp xuống chở 7 em TSQ nhỏ nhất thuộc Tiểu Đoàn 4 Quang Trung và gia đình một cán bộ chỉ huy là Chuẩn úy Hà Văn Cúc bay đi làm tiền trạm. Lúc chiếc UH1-A bay lên là như có dấu hiệu cho 2 chiếc trực thăng vận tải cỡ lớn Chinook 47 lượn vòng trên Núi Lớn còn gọi là núi Tao Phùng chuẩn bị đáp xuống … Nhưng bất ngờ quanh bãi đáp bị pháo kích dữ dội, một trái rơi phía sau Trường, một trái nữa dội trúng sườn Núi Lớn làm bụi mù tung tóe…

Lập tức, Đại úy Lê Viết Đắc Tiểu Đoàn Trưởng – Tiểu Đoàn 1 Hùng Vương ra lệnh tan hàng tìm nơi ẩn nấp … Trên không 2 chiếc Chinook 47 không dám hạ độ cao, liền quay đầu và chuyển hướng bay đi mất dạng. Sau khi bị pháo kích, chúng tôi lại tập trung đội hình quanh sân banh, dù ít chỉnh tề hơn nhưng vẫn chờ đợi … gần đến 10h chúng tôi được lệnh mới:

– Kế hoạch không vận bị hủy bỏ, chuyển sang hải vận ở Hải cảng Cát Lở. Thiếu tá Hoàng Liên Đoàn Trưởng ra lệnh cho các Thiếu Sinh Quân có vũ khí chúng tôi hướng dẫn tất cả 4 Tiểu Đoàn di hành ra Hải cảng. Anh em di chuyển thành toán dài trật tự đi về hướng hải cảng Cát Lở cách Trường Thiếu Sinh Quân khoảng 5km, đây là căn cứ Hải Quân, nơi trú đóng của Bộ Tư Lệnh Hải Quân vùng 3 Duyên Hải. Nhưng gần đến nơi thì đoàn quân bổng dừng lại … khoảng 15 phút sau chúng tôi được lệnh đột ngột, tất cả lại trở về nơi xuất phát ? Kế hoạch Hải vận nầy bất khả thi.

Thế là hết! Trong ngày 29/4/1975 nầy, anh em chúng tôi phải chịu 3 dấu ấn não nề … sáng nay Không vận chẳng được, chiều đến Hải vận không xong và giờ đây trước mặt chúng tôi là sự rút chạy, đào ngũ của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn. Trời sắp tối, lúc leo rào trở lại Trường, thình lình tôi nghe tiếng nổ “Đoành” chát chúa phát ra từ Kho Súng, chưa biết chuyện gì, tôi vội băng ngang Khu Văn Hóa đến Kho Súng ở Khu Liên Đoàn … thì ra Thiếu Sinh Quân Nguyễn Ngọc Loan phá cửa kho súng để các em ùa vào lấy vũ khí trang bị cho riêng mình, trước mắt tôi cảnh tượng hiện ra thật khó tả, các em khẩn cấp chuyền tay nhau đủ loại súng lấy từ kho, nào là : Carbine M1 & M2, Garant, Thompson, AR15, XM16E1, Trung Liên BAR, Đại Liên30, M79 phóng lựu, súng M72 chống Tank, một vài loại Cối và một ít lựu đạn … tôi thật sự ngớ người một lúc trong tâm trạng vui vui khi thấy các em rất hăng và quá dũng khí sẵn sàng tác chiến chống trả Việt Cộng nếu chúng tấn công trường Thiếu Sinh Quân chúng tôi. Các Thiếu Sinh Quân được tự do chọn lựa rời trường hoặc ở lại chiến đấu và hiện giờ đây quân số trú phòng khoảng 600 khóa sinh, không phân biệt lớn nhỏ, đang tụ lại từng nhóm, rút gọn về tập trung ở một số phòng ngủ của Trung đội thuộc Tiểu Đoàn 2 Lê Lợi … Trong bóng đêm với ánh đèn vàng hắt ra không đủ sáng đến tận sân banh, tôi đi một vòng ngoài hành lang trong ánh sáng mờ tỏ nhìn vào từng Trung Đội dưới ánh đèn vàng vọt, tôi vừa lau chùi khẩu Carbine M1 vừa ưu tư về cảnh đời huynh đệ Thiếu Sinh Quân sẽ đối mặt với quân thù và miên mang suy nghĩ không biết tất cả gia đình, thân nhân của các anh em Thiếu Sinh Quân chúng tối đều ở Vùng 1 và 2 Chiến Thuật, hơn một tháng trước đã bị Cộng quân cưỡng chiếm, không biết còn mất, sống chết ra sao … !

Có lẽ vì căng thẳng rã rời, tôi thiếp đi … Bỗng một loạt tiếng nổ như sấm vang rền trên bầu trời làm tôi choàng tỉnh, bật dậy định thần một lúc, tôi liền một tay vớ lấy khẩu súng M1, mắt nhìn ra khoảng không trời đen tối đang mưa, không lớn lắm và liếc nhìn đồng hồ, vậy mà đã hơn 4 giờ gần sáng, tôi mặc gấp chiếc poncho lính, tay còn lại chụp vội chiếc nón sắt lên đầu rồi băng qua sân banh hướng đến cổng Trường, chạy với tôi lúc nầy là em Đàm Văn Hưng, xạ thủ súng phóng lựu M79 … Nhưng chỉ lao qua cổng Trường chừng 2 bước chân, tôi thấy mình như được nhấc bổng và bị ném vào gầm bàn của Điếm Trưởng trực nhật do một trái B40 của Việt Cộng bắn nổ tung, xé thủng cổng sắt sau lưng tôi khi đang lao vào Trường , vài giây sau tôi nếm được vị mặn của máu từ đầu và tai nhỏ xuống, lồm cồm bò ra khỏi đống bàn ghế gãy nát, lúc nầy tôi mới chắc mình còn sống, mặc dù tai chỉ còn nghe được một bên, tự băng vội vết thương và như “say máu” tôi quay ngược đến lổ châu mai hướng ra đường bắn trả và lập tức một em Thiếu Sinh Quân kế cận liền trao khẩu súng tiểu liên AR-15 cho tôi rồi đột ngột “phóng” đi cũng như nhanh chóng “xẹt” đến vậy. Dù chẳng “ăn” mảnh đạn nào nhưng đầu tôi nhức như búa bổ, hơi loạn choạng và bắt đầu sưng tấy một bên tai. Lúc nầy quá 5h ngày 30/4 /1975, ngoài khẩu AR-15 và khẩu súng M72 chống Tank trên vai tôi thấy mình như “giàu” thêm và tràn đầy nghị lực …!

Lúc nầy Thiếu Sinh Quân Lê Quang Nghĩa có nick name “Đại Hàn” khai hỏa bằng súng đại liên từ lầu Chỉ Huy, lập tức ở lầu Quân Số các khẩu Đại liên 30, Trung liên BAR, Tiểu liên các loại cũng tham gia bắn xối xả cứu nguy cho hai Toán 1 và 2 chúng tôi rút lui an toàn… Bên ngoài Cộng quân gia tăng sức ép cố đánh lấy cứ điểm khó nuốt này. Cuộc tấn công của Cộng quân lần thứ nhất mang tính chất “thăm dò” bắt đầu … Phía lực lượng Thiếu Sinh Quân chúng tôi bố trí khá bài bản, lại thêm có tường dày và rào cao như một phòng tuyến tự nhiên của Trường nên có lợi thế phòng thủ mà Cộng quân lại khó tấn công , phòng tuyến nầy trải dài từ Lầu Chỉ Huy, ban Quân số đến Khu Giải Trí Liên Đoàn và cuối cùng là Kho Súng. Đối diện với chúng tôi, phía bên kia đường Lê Lợi. Cộng quân cũng tập trung khoảng trên 1 Tiểu Đoàn từ KS International đến Quân Y Viện Vũng Tàu. Vì đây là cuộc chạm trán mở màn, có lẽ Cộng quân chưa từng đối đầu với một đơn vị tác chiến nào kỳ quái như vì toàn các tay súng Thiếu Sinh Quân “miệng còn hôi sữa” mà quá can đảm và “lì” như thế !

Lúc nầy trời đã sáng tỏ, kể từ sau loạt đạn Đại liên và tiếng nổ B40 là lúc hai bên giằng co tìm mục tiêu triệt hạ nhau, tôi chạy dọc tuyến phòng bị trong Trường, quan sát và tìm điểm xạ thủ thích hợp để phân công bắn trả, vì chúng tôi đã rút hết vào Trường và nhanh chóng củng cố đội hình, chỉnh sửa vũ khí và công sự, kiểm điểm quân số chờ đợi những đợt tấn công mới. Cỡ 3 phút yên lặng đáng sợ nầy, tôi đủ thời gian phóng tầm mắt nhìn quanh ra khỏi Trường, không có gì đặc biệt ngoài mùi thuốc súng và tia nhìn bổng dừng lại trước cổng Kiểm Soát có 5 hay 7 chiếc nón cối nằm lăn lóc bên lề Quốc Lộ 15 trước cổng Kiểm Soát … Khi trời sắp sáng, tôi tự nghĩ mấy tay Bộ Đội Việt Cộng từ Bắc vào Nam cả ngàn cây số và đánh như “chẻ tre” thế mà giờ đây mới gặp đám Thiếu Sinh Quân chúng tôi mà cái giá phải trả của sự khinh địch là ít nhất 6 xác bộ đội “Sinh Bắc Tử Nam” chết ở giờ thứ 25 !

Trận chiến mở màn nầy đã làm một phần thành phố Vũng Tàu, Bến Đình giật mình tỉnh thức ! Đây là Trận Chiến Ðấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4 1975 mà về sau này khi đã vượt thoát ra khỏi nước… Chúng tôi đã xem một số các bài viết của các Anh – Em Thiếu Sinh Quân và những cây bút vốn là chứng nhân viết diễn tả lại của cuộc chống trả của các THIẾU SINH QUÂN ở Vũng Tàu trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, khi cộng quân xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu trong Thị Xã.Vũng Tàu coi như bỏ ngỏ và rơi vào tay cộng quân. Ngoại trừ một cứ điểm duy nhất còn chống cự do những thiếu niên tuổi 12, 13… đến 17 tự lập phòng tuyến quyết tâm tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và những chiến sỹ gan dạ anh hùng đó là những thiếu sinh măng trẻ của trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Cộng Sản Bắc Việt đã tung hai Tiểu Đoàn Xung Kích bao vây cứ điểm cuối cùng này nhưng chúng đã gặp phải một lực lượng vũ trang đáng kể hiên ngang đương đầu với chúng. Bọn Cộng quân đã coi thường những chú lính sữa chưa bao giờ biết mùi trận mạc. Chúng bắt loa kêu gọi các em đầu hàng và buông lời hăm doạ… Tiếng loa vừa dứt thì Cộng quân liền nhận ngay một tràng đạn đại liên thay cho câu trả lời, gọn gàng và cương quyết của gần 700 tay súng tí hon. Tiếp theo là hàng trăm mũi súng nhắm thẳng vào bọn Việt Cộng bên ngoài… Vài tên Bộ Đội bị đốn ngã ngay trong loạt đạn đầu tiên. Bọn Việt Cộng phải đứng khựng lại trước tinh thần quyết tử của gần 700 hậu duệ anh hùng Trần Quốc Toản. Chúng không giám tấn công ngay vì các em quá nhỏ và vì có sự hiện diện rất đông của đồng bào phẩn nộ lên tiếng bênh vực các em.

Chúng lui ra xa tránh đạn, bắc loa ra lệnh các em phải đầu hàng đúng 9:30 sáng hôm sau, ngày 30 tháng Tư.

Mặc cho Cộng quân bắc loa kêu gọi và đe doạ, Thiếu Sinh Quân vẫn kiên trì tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm lũy phòng ngự, tổ chức giao liên, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương và cứu hoả… Anh lớn chỉ huy các em nhỏ, áp dụng tuyệt vời những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến đã được giảng dậy ở quân trường.

Đúng 9:30 sáng ngày 30-4. Cộng quân ra lệnh gọi đầu hàng lần chót nhưng các chiến sỹ Thiếu Sinh Quân tí hon vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn bắn tung tóe dữ dội hơn…. Cộng quân nổi cơn khát máu, chúng khai hoả, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức bị dội ngược lại với loạt đạn nổ chát chúa, không ngờ sức chống cự của các em Thiếu Sinh Quân quá ư mãnh liệt và hoả lực từ bên trong bắn ra vô cùng chính xác vào đám bộ đội Bắc Việt như những cái bia người. Trước đây các em chỉ tập bắn ở thao trường, chứ chưa bao giờ được cầm súng chiến đấu như chiến sĩ thiện chiến, tinh nhuệ như thế hệ Cha – Anh trong các đơn vị chủ lực tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hôm nay ở tại mặt trận cuối cùng này các em chiến đấu bắn và đã bắn với tất cả căm thù, mong dành lại những gì thân yêu, quí mến sắp bị giặc thù từ miền Bắc vào Nam cướp mất.

Thiếu Sinh Quân có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra còn có lợi điểm là các công sự trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp, trong khi bộ đội Cộng Sản Bắc Việt lớ ngớ như bầy chuột chù ra ngoài ánh sáng. Lại có những thanh thiếu niên và Quân Nhân vỡ ngũ bên ngoài hào hứng và kích động, tìm cách lẻn vào tiếp ứng, tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các Thiếu Sinh Quân chiến đấu ngay trong sân trường, đột kích, đánh bọc hậu khiến cho bọn Cộng quân nao núng và hốt hoảng…!

Cộng quân đã bắn sập một khoảng tường nhưng không thể nào vượt qua được lưới đạn của các chiến sĩ Thiếu Sinh Quân nhỏ tuổi nhưng can trường. Các em đã chiến đấu thật gan dạ, nhanh nhẹn, khôn ngoan, phối hợp nhịp nhàng và kỷ luật như những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến nhà nghề.

Đây là trận đánh thực sự đầu tiên và cũng là trận đánh cuối cùng của các em còn đang dang dở khoá học. Trận đánh Quyết Tử của các em Thiếu Sinh Quân vốn là hậu duệ của Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đi vào lịch sử.

Các Thiếu Sinh Quân đã chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngã gục… ! Những đứa con bé bỏng của quê hương đã chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc còn xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đã khóc thống thiết. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn họng súng bọn bộ đội Cộng Sản Bắc Việt để che chở cho những thiếu niên là con em ở bên trong trường… ! Tiếng nổ, tiếng hò hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của Bắc Quân đã tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy… ! Các em Thiếu Sinh Quân chiến đấu với tất cả bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ hăng say, xem cái chết tựa như bông phượng đỏ rơi ở sân trường và thật hào hứng như đang tham dự một trò chơi lớn giờ học tập thao diễn quân sự.

Cuộc chống cự kéo dài đến 3:00 chiều. Cho đến khi kho đạn dược đã cạn và kho lương thực bị bốc cháy, các Thiếu Sinh Quân mới bằng lòng cho Cộng quân cử đại diện thương thảo. Lực lượng Cộng quân chấp nhận đòi hỏi 1 giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng, làm lễ chào Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa lần cuối và hạ kỳ, rồi sẽ mở cổng trường, tan hàng của Thiếu Sinh Quân… Và các em đã dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những vị tiểu anh hùng đã gục ngã, và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ. Các em Thiếu Sinh Quân quyết KHÔNG ĐỂ CHO BỌN CỘNG SẢN BẮC VIỆT SĨ NHỤC QUỐC KỲ VIỆT NAM CỘNG HÒA – Cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ LÀ BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NƯỚC VIỆT NAM ấp ủ hồn Dân Tộc mà họ đã thề nguyền trân quí và bảo vệ uy nghiêm. Thiếu Sinh Quân tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và thành kính nhìn lên lá Quốc Kỳ còn nguyên vẹn màu tươi thắm bay phất phới trên nền trời xanh. Hai Thiếu Sinh Quân lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào và từ từ nắm từng nấc giây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm và từ tốn như cố kéo dài giây phút thiêng liêng cảm động này, nước mắt đầm đìa… Tất cả Thiếu Sinh Quân gan dạ phòng bị vẫn giữ yên vị trí chiến đấu từ trong các tầng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, bờ tường, sau những mái nhà…. không ai bảo ai, gần 700 em Thiếu Sinh Quân đồng loạt đứng bật dậy, dõng dạc cất tiếng hát bài Quốc Ca hùng tráng vang vang khắp sân trường. Bọn bộ đội Cộng Sản Bắc Việt nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch vang đến tận bến Dâu, bến Đình… Mọi người dân Vũng Tàu đã đều nghe và rung động trong tận cùng bi thương, kiêu hùng âm vang, bung rộng ra biển khơi, bay vút lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cùng có lẽ cũng nỗi cảm hoài u buồn theo tiếng hát.

Các Thiếu Sinh Quân đã làm lễ mai táng đất nước, đã TRANG NGHIÊM RỬA SẠCH tấm bia DANH DỰ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã vuốt mắt cho Mẹ Việt Nam yên nghỉ qua Lễ Chào Hạ Kỳ lần cuối chỉ một không hai này. Họ hát bằng tiếng nấc thê lương và phẫn uất từ sâu thẳm trái tim, với những nghẹn ngào cùng dàn dụa của nước mắt. Đồng bào cùng thổn thức thương tủi và thổn thức hát theo.

Thời gian như ngưng đọng lại trong giờ khắc thiêng liêng và bi thảm, xúc động cùng lẫm liệt sau cùng.

Share this post