Thời Gian, Nỗi Ám Ảnh Của Đời Người – Đặng Công Hanh

Thời Gian, Nỗi Ám Ảnh Của Đời Người – Đặng Công Hanh

Thời gian luôn luôn là nỗi ám ảnh khi nghĩ về nó. Thời gian không phải là khái niệm dễ hiểu, như nhà thông thái Thánh Augustin ở thế kỷ IV đã nhận xét: “Nếu không có ai hỏi ta điều đó thì ta biết nó là gì, nhưng nếu có người hỏi ta và ta cố giải thích thì lúc đó ta sẽ không biết nó là gì nữa”.

Trong tác phẩm “Chấm dứt thời gian” nhà thông thái về mặt tâm linh của thế kỷ 20, Krishnamurti, trong khi trao đổi với nhà vật lý lượng tử David Bohm đã phát biểu: “Cái trở thành là cái tệ hại nhất, đó là thời gian, đó là nguồn gốc đích thực của xung đột” và ông đã lên án rằng thời gian tâm lý là xung đột, rằng thời gian là kẻ thù con người.

Tại sao thời gian lại có những khuôn mặt lạ lùng đến khó hiểu như vậy, nó vừa không xa nhưng lại vừa không gần đối với đời sống con người?

Con người thực sự cảm nhận thời gian hiện hữu khắp nơi, khắp chốn nhưng lại không thể tìm thấy ở bất cứ nơi chốn nào. Thời gian có trên mây ngàn, trên biển rộng, có trong khắp sơn cùng thuỷ tận. Thời gian hiển hiện trên đôi mắt mỏi mòn của đợi chờ, của nỗi nhớ nhung. Thời gian có trên mái tóc đang đổi màu của nỗi phong trần, có trên làn da sạm nắng và vầng trán đượm nét ưu tư.

Thời gian tâm lý còn gọi là thời gian chủ quan, tức là thời gian trải nghiệm, con người cảm nhận tự trong sâu thẳm của mình và thời gian đó “trôi” như dòng nước. Ta hình dung như thế này: trên con thuyền đỗ bến trong hiện tại, nhìn dòng sông thời gian với những sóng của quá khứ lùi xa dần và con sóng tương lai ập đến. Con người đã nghĩ rằng thời gian đã chuyển động theo một chiều nên đã tạo nên một định kiến về quá khứ, về hiện tại và tương lai, một quá khứ chất chứa đầy ắp những kỷ niệm nay không còn nữa và cuộc sống hiện tại đã chia sẻ đi một nửa về những hoài niệm xa xưa, còn tương lai chưa đến lại được thêu dệt bằng những dự phòng đầy ước mơ. Thời gian có thể có hoặc có thể là không nhưng chắc chắn nó hiện hữu trong sâu thẳm tâm hồn của mỗi người và có những chiều kích khác nhau tuỳ theo sự trải nghiệm riêng tư. Sự cảm nhận nó là một chất liệu không thể thiếu được trong góc trời thi ca âm nhạc. Người nghệ sĩ nói theo đại thể, nói riêng người làm thơ, làm nhạc phần đông do tài năng bẩm sinh hay gặp môi trường thích hợp cho hoạt động nội tâm và tâm thức thưởng nghiệm của họ dễ rung động theo tần số dao động của ngoại giới hay nói cách khác thế giới ngoại cảnh là nguồn dinh dưỡng nuôi lớn tâm hồn của họ. Tuy nhiên đặc trưng của môi trường tư duy hoạt động khiến cho tâm thức của họ bớt cấu nhiễm vào hệ lụy cuộc đấu tranh sinh tồn đầy thảm cảnh của phồn hoa vật chất. Tâm hồn của họ thường ẩn náu trong không gian tịch mặc để giao hoà rộng mở cùng hơi thở của vũ trụ, để nghe được lời ru của gió, điệu buồn của mưa rơi và sự dịch chuyển của im lặng. Nhu cầu thực phẩm cho tâm hồn là những gì vô hình, điều này chỉ tồn tại trong thế giới tịch nhiên, bất động, vô vi, vô tác. Họ nghe bằng tâm và nói bằng ngòi bút. Nghe như vậy tránh được sự ràng buộc của huyển tướng và bớt đi sự cuồng nộ của dục vọng. Nói như vậy là nói những gì đã nghe bằng tâm và nghĩ bằng tuệ thì dù có diễn tả bằng ngôn ngữ khái niệm hay bằng ngôn ngữ biểu tượng thì vẫn phong phú hơn, gần sự thật của hiện hữu hơn và thời gian tâm lý được mô tả đậm nét riêng tư giàu tưởng tượng hơn.

“Chuyện chúng mình ngày xưa
Anh ghi bằng nhiều thu vắng”

Sự đau khổ, nuối tiếc bóng thời gian quá khứ đã để lại trong lòng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn những vết lăn trầm, cũng là nỗi day dứt với hình bóng nhạt nhoà cây đa, bến nước, con đò năm xưa, ghi dấu một sớm biệt ly trong lòng nhạc sĩ Anh Việt:

“Bến ấy ngày xưa, người đi vấn vương biệt ly
Gió cuốn muôn phương về đây, thấy bóng người về hay chưa?”

Đoàn Chuẩn – Từ Linh trong tâm trạng buồn của một cuộc tình đổ vỡ lại phiền trách cho thời gian và nhạc sĩ Lâm Tuyền lại lo sợ thời gian trôi và chuyên chở những mất đi của hạnh phúc.

“Thời gian, như xoá lời yêu thương
Thời gian, phai dần màu bao lá thư”

Hoặc là:

“Thời gian trôi tan tác, mang theo ngày xuân.
Mưa đêm nay khóc thầm, cuộc đời đầm ấm đang theo thời gian”.

Có khi thời gian đã trôi dần về quá khứ mang theo những ân tình, lại hiện lên như một nỗi day dứt trên những kỷ vật lưu niệm như có lần vua Tự Đức tâm sự khi nhớ nhung hình bóng của người vợ qua cố.

“Đập cổ kính ra tìmlấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hương”

Thế Lữ, trong một giây phút hoài niệm lại thuở xuân thì với hình bóng người tình trẻ đẹp và đã đổ lỗi cho thời gian như một tác nhân gây ra những tàn phai nhan sắc.

“Thời gian
Tóc đã điểm màu sương bạc
Miệng hoa đã dần phai nhạt
Hồ Thu đôi mắt đã mờ”

Đặc điểm của thời gian tâm lý là trôi chảy không đều đặn. Thời gian đợi chờ thường kéo dài và thời gian vui vẻ thì chóng qua nhanh. Thời gian tâm lý luôn luôn tiến về phía trước.

Ý niệm về thời gian tâm lý gắn liền với động thái “trở thành, trở nên”. Phải chăng nguyên nhân đích thực của xung đột, khiến con người hỗn loạn đảo điên chính là đưa thời gian vào như phương tiện để trở thành và mong muốn trở thành tốt hơn, hoàn hảo hơn, càng yêu thương gắn bó hơn v.v… Cũng chính động thái “trở nên, trở thành” đã dựng lên một cái “tôi” bên trong. Cái tôi đã đồng nhất với gia đình, với tài sản, với nghề nghiệp, với các mơ tưởng viển vông… Đó là dục vọng nằm trong thời gian tâm lý.

Con người đang bị giam hãm vào thân kiến hay ngã kiến về thân xác của mình đang đầy ắp dục vọng và luôn luôn ném vào cuộc đời một khát vọng thống thiết muốn kiếm tìm một hạnh phúc, một chân lý vĩnh hằng. Nhưng thật ra, sự tìm cầu đó, tựa như đang đuổi bắt cái bóng hình mờ ảo của một cái Tôi – linh hồn không thật và nó chính là hồn ma ái dục lúc ẩn lúc hiện trong bóng đêm của thời gian mông lung, ảo vọng. Than ôi, chủ thể của dục vọng là cái gì trống rỗng vô thường, đối tượng của dục vọng cũng là trống rỗng, vô thường và thời gian tâm lý hiện hữu như một nhát chém hư ảo.

“Trong khoé mắt em ngậm ngùi ngày đó
Lúc dung nhan về đối diện trăng tà”
(Bùi Giáng)

Thời gian vật lý là thời gian của các loại đồng hồ, con người đã ước định thời gian bằng sự chuyển động đều: dao động của một nguyên tử hay sự chuyển động của trái đất chung quanh nó. Cũng vì vậy, các nhà khoa học cho rằng thời gian và không gian có điểm bắt đầu cùng lúc vũ trụ được hình thành tức là sau vụ nổ lớn (Big- Bang).

Được đẩy từ vụ nổ này, vũ trụ được sinh ra nổ ra, bản chất động này được mô tả trong hệ các phương trình của lý thuyết tương đối của Einstein. Tất cả các cấu trúc của vũ trụ: hành tinh thiên hà, sao, đều chuyển động không ngừng và tham gia cùng nhau trong một vũ trụ khổng lồ.

Từ thế kỷ IX, nhà khoa học Galilei đã đưa thời gian vào vật lý, xem thời gian như một yếu tố sắp xếp về mặt toán học trong các phép đo chuyển động của các vật thể.

Vào thế kỷ XVII, Newton đã xây dựng các định luật cơ học và vai trò thời gian có chỗ đứng vững vàng. Ông đã xác định chuyển động các vật trong không gian bằng các yếu tố: vị trí, vận tốc ở các thời điểm khác nhau nối tiếp. Thời gian đối với Newton là duy nhất, tuyệt đối và phổ quát.

Đối với nhà vật lý, thời gian không còn được đánh dấu bằng chuổi các biến cố và do đó không còn sự phân biệt quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian là như nhau đối với mọi quan sát, chẳng hạn khi ném một hòn bi và khoảng không, tôi chỉ cần biết về vị trí ban đầu, vận tốc khi ném là có thể biết quỹ đạo của nó. Quỹ đạo không thay đổi nếu ta ném vào buổi sáng, hay buổi chiều, lúc đó quá khứ, hiện tại và tương lai không có ảnh hưởng. Thời gian không còn trôi, nó bất động như một đường thẳng kéo dài vô hạn về hai phía. Mọi sự phân biệt đối với quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là ảo giác. Với nguyên lý tương đương của mình, Einstein đã xây dựng nên lý thuyết tương đối rộng, mô tả hành trạng của vật thể trong trường hấp dẫn và thời gian cũng bị trường hấp dẫn làm chậm lại vì thời gian và không gian hợp nhất mới thực sự tồn tại.

Thời gian khi trở nên co giản được tùy theo chuyển động đã xóa tan các khái niệm như tình đồng đều, quá khứ, hiện tại và tương lai phổ quát, ý nghĩa là nó không còn như nhau đối với tất cả mọi người. Einstein đã nói rằng: quá khứ của một người có thể là hiện tại của một người khác hoặc có thể là tương lai của một người khác nữa. Quá khứ và tương lai cũng thực như hiện tại.

Trái với thời gian tâm lý học, thời gian vật lý không trôi đi, không chảy qua. Nó tồn tại thành một khối nghĩa là nó hiện hữu và bất động chỉ có thế thôi. Các định luật khoa học không phân biệt quá khứ, với tương lai. Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày tồn tại một sự khác biệt giữa trước và sau của thời gian. Chẳng hạn tưởng tượng một cái cốc trên bàn rơi xuống nền nhà vỡ toang. Nếu ta đặt máy quay phim, quay cảnh tượng đó thì dễ dàng, quay tới, quay lui được. Giả sử khi thước phim được quay lui ta sẽ thấy cảnh tượng các mảnh vỡ kết tập lại với nhau rồi nhảy lên bàn thành cái cốc nguyên vẹn lúc trước. Điều này, thường ngày không thể xảy ra được, tuy nhiên có thể giải thích điều “không thể” đó bằng định luật thứ 2 của nhiệt động học: “Trong một hệ thống kín thì độ “vô trật tự” của hệ thống được đặt trưng bởi đại lượng Entropi luôn luôn gia tăng”. Trạng thái vô trật tự của các cốc trên sàn nhà có độ vô trật tự cao hơn hay Entropi tăng lên so với cái cốc trên bàn nguyên vẹn (trong quá khứ) và cái cốc vỡ dưới bàn (trong tương lai) tuy nhiên ta không thể đảo ngược lại được.

Tương tự ví dụ cho hệ thống: một tách cà phê đen và một viên đường thả vào, sau một lúc đường tan ra trong cà phê ta được một dung dịch cà phê có đường: có thể mô tả quá khứ hệ thống có Entropi thấp, tương lai Entropi tăng lên nghĩa là dung dịch cà phê có đường đã tăng độ vô trật tự. Điều này cho phép ta diễn đạt rằng luôn luôn có nhiều trạng thái vô trật tự hơn là trật tự và hướng tăng vô trật tự với thời gian được gọi là mũi tên nhiệt động học của thời gian, một khái niệm phân biệt quá khứ với hiện tại với tương lai, một khái niệm xác định hướng của thời gian.

Như vậy, sự cảm nhận chủ quan của con người về hướng đi của thời gian được xác định trong bộ não bởi mũi tên nhiệt động học của thời gian.

Thế nên, các định luật khoa học không phân biệt hướng tới, hướng lui của thời gian thì ít nhất ta cũng xác định ba mũi tên của thời gian.

  • Mũi tên thời gian tâm lý chỉ hướng theo đó con người chỉ biết nhớ đến quá khứ và không biết tương lai.
  • Mũi tên nhiệt động học thời gian chỉ hướng tăng entropi
  • Mũi tên thời gian vũ trụ học chỉ hướng theo đó vũ trụ giãn nở theo thời gian.

Thế nhưng tại sao lại có sự khác biệt giữa thời gian tâm lý và thời gian vật lý. Để giải đáp được vấn nạn này, ta nghe ý kiến các nhà sinh vật học thần kinh và họ nói những gì?

Nhà nghiên cứu Francis Crick đã khẳng định rằng chức năng tự nhiên của nơ-ron thần kinh là cơ sở duy nhất của nhận thức và thậm chí cả tâm hồn con người.

Theo nhà sinh vật thần kinh Fransico Varela các dữ liệu về thế giới bên ngoài được giác quan truyền đến não, não tập hợp chúng lại thành yếu tố tinh thần – hoạt động này được tham gia của nhiều khu vực của não đồng thời chính sự phức tạp của nhiệm vụ liên kết và tích hợp các bộ phận khác nhau trong các khu vực não đã cho chúng ta cảm giác về thời gian.

Với hàng trăm tỷ nơron trong não bộ, và sự hợp tác đồng bộ của các bộ phận không giao tiếp nhau hành động chỉ kéo dài với tỷ lệ vài phần trăm tỷ giây – cho chúng ta cảm nhận về bây giờ. Theo Varela thì sự đồng bộ hóa của các nơron không ổn định và không kéo dài khiến cho các bộ phận nơron đồng bộ khác hoạt động nối tiếp cho ta cảm giác thời gian trôi. Như vậy phải chăng cái cảm giác nói trên chỉ là một kiến trúc thuần túy tinh thần, một ảo giác được tạo ra từ bộ não con người chứ không can dự gì đến hiện thực cả.

Theo nhận thức Phật học qua lăng kính pháp trùng trùng duyên khởi, mỗi hữu thể đối đãi hiện ra các hữu thể khác và cái hữu thể khác đối đãi hiện ra một hữu thể. Về mặt tướng mỗi hữu thể giữ được đặc trưng riêng làm đối tượng nhận thức vế nó, về mặt tánh của hữu thể là “không” – không có tự tánh.

Vậy, mỗi thể đều biểu hiện của lý tương tức, tương nhập. Sự tương nhập theo nguyên lý duyên khởi thì không có sự vật nào hiện hữu độc lập mà nương tựa lẫn nhau, cái này không chướng ngại cho sự hiện hữu và hoạt động của cái kia. Sự tương tức thể hiện “Tất cả là một, một là tất cả”.

Sự hiện hữu và sự tiến hóa của các hữu thể trong vũ trụ, theo các kinh điển Phật học, tất cả chỉ là phóng chiếu của thực tại chân như trong một khung “không – thời gian” do vọng niệm phân biệt tạo tác – nói như Duy thức, vũ trụ do thức biến hiện (nhất thiết duy tâm tạo). Một nhận thức bao giờ cũng được nhận diện khi có được sự tiếp xúc giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức và biểu hiện ra một hệ quả của nhận thức. Đối tượng của nhận thức gồm:

  • Tự thân của thế giới thực tại khách quan, nói theo ngôn từ Phật học là “tánh cảnh” hay bản chất của thế giới thực tế khách quan.
  • Những ảnh tượng được nương tựa và hiện sinh bởi tánh cảnh, nói cách khác đó là hình ảnh về một thực tại nào đó trong tri giác của chúng ta, ngôn từ Phật học gọi là “đối chất cảnh”.
  • Những ảnh tượng chỉ có trong tâm thức chứ không hiện hữu trong thực tại, ngôn từ Phật học gọi là “độc ảnh cảnh”.

Cả ba cảnh nói trên là biểu hiện của Tàng thức hay A lại Da thức, được mô tả là kho chứa tất cả hạt giống ý niệm hay là nguyên nhân phát sinh của thực tại giả lập. Đặc tính Tàng thức bao gồm hai tính chất; một là năng động tức là chủ thể cất giữ hạt giống ý niệm về hiện hữu và là nơi duy trì các chủng tử của chính thân thể và của thế giới thực tại khách quan; hai là tính bị động, tức là nơi xông ướp làm cho nó chín muồi, trở nên sinh động, hiện hành. Sự hiện diện của nó trôi chảy như dòng sông (hằng chuyển như bộc lưu) không thể nói là thường hằng hay đoạn diệt. Hình thái cơ bản của Tàng thức là vô hình, vô tướng (vô sắc) và kể cả các thức khác nói chung là phi vật thể. Nó là một dạng năng lượng (năng lượng tâm lý), mà năng lượng vừa thuộc về sắc lại vừa vô sắc (theo quan điểm của khoa học hiện đại: vật chất là sự cô kết của năng lượng và năng lượng là sự loảng ra của vật chất).

Trong triết học Duy thức, chủng tử (hay hạt giống) là một khái niệm nói về cội nguồn sẵn có của tâm thức. Mọi hiện tượng tâm lý sinh khởi và mất đi đều nương tựa vào hạt giống sẵn có, thuật ngữ Phật học gọi là “chủng tử bản hữu” trong Tàng thức.

Thông thường mọi hiện tượng diễn biến trong thế giới thực tại khách quan cũng như trong tâm thức luôn luôn được sinh khởi từ các hạt giống ý niệm tiềm tàng trong tâm thức. Khi hạt giống đang yên lặng trong Tàng thức thì đóng vai trò là nhân và khi có duyên để hiện khởi thì gọi là quả. Vì vậy, Tàng thức còn có tên là căn bản thức hay hữu phần thức, bảy thức còn lại gồm: mạt na thức và 6 thức cảm quan như: mắt, mũi, tai, lưỡi, thân thể và ý thức được gọi chung là chuyển thức. Về khái niệm căn bản thức tức là thức cơ bản được xem là tự tướng hay là thể của tâm, nó có 3 tác dụng.

  • Làm chủ thể dung chứa (năng Tàng)
  • Làm đối tượng được dung chứa (sở Tàng)
  • Bị ngộ nhận là ngả tính vĩnh hằng (ngả ái chấp)

Một đứa trẻ khi mới sinh ra, dù không ai dạy mà nó vẫn biết khóc bởi vì trong Tàng thức đã chứa sẵn cái nhân (chủng tử) khóc, cho nên mới sinh khởi ra quả (hiện hành) là biết khóc. Một thời gian sau nó lại biết cười, biết nói nhưng có ai dạy bảo nó đâu, chẳng qua trong Tàng thức đã chửa sẵn cái nhân cười và nói cho nên mới khởi ra quả hiện hành được.

Tương tự như vậy đối với các muôn vạn hạt giống trong Tàng thức, không có hạt giống nào độc lập bất biển, tất cả đều là sự trôi lăn tương tục giống như những giọt nước nối tiếp nương tựa với nhau trong dòng nước tuôn chảy. Thực chất mỗi hạt giống đều có hai phần: bản hữu và huân tập. Bản hữu là cái có sẵn từ vô thuỷ, vô chung, huân tập là sự vun trồng, xông ướp làm cho cái có sẵn hiện hành. Vậy nên mối quan hệ giữa hiện hành và chủng từ là sự đối lưu, tương tác để cùng hiện hữu từ vô thỉ.

Tất cả các hiện hữu trong cõi đời này từ các tâm lý thông thường của con người và ngay cả thế giới thực tại khách quan với ngàn vạn dị biệt, đa thù đều là biểu hiện của Tàng thức. Ngay cả con người, dưới cái nhìn của Phật giáo, trước hết là một biểu hiện của Tàng thức, bao gồm các nhân duyên (địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, thức) và xuất hiện như một tổng thể bất khả phân ly và bản chất của con người không gì khác hơn là một tích hợp của nhân duyên cùng với nghiệp thức.

Một điểm rất quan trọng cần ghi nhận chính là tác năng phân biệt và đối tượng bị phân biệt đều là sự biểu hiện từ tự thể của Tàng thức. Và cũng từ đó ngoại giới (sơn hà đại địa, thế giới sum la vạn tượng) được phân biệt, được định danh và sau đó nó hiện hành như mỗi hiện hữu. Cũng do tác năng phân biệt nên có danh, có tướng sai khác đa thù. Chính vì tất cả hoạt động của Tàng thức như vậy nên được xem như là một chủ thể tâm lý thường nghiệm hay là chủ thể nhận thức. Chuyển thức là các chủ thể tâm lý thường nghiệm hoạt động như những đợt sống trên đại dương mà nước chính là Tàng thức, từ đó xuất hiện và định danh ý niệm thời gian sát na: mỗi sát – na là một khoảng thời gian rất nhỏ đủ cho các thức sinh và diệt liên tục.

Sự tồn tại của thế giới (ngoại cảnh) như là chất dinh dưỡng hay là nguồn năng lượng cung cấp cho hoạt động của tâm thức thường nghiệm. Khi có sự giao tiếp của ba yếu tố căn, cảnh, thức sẽ phát kích hoạt động của cảm – thọ và từ cảm thọ sinh khởi sự tiếp nhận của ảnh tượng. Sự tiếp nhận này tạo nên một xung động trong tâm lý và sau cùng chủ thể nhận thức sẽ thể hiện ra một hành động tương thích. Quá trình nhận thức là quá trình của sự chuyển biến của thức tức hoạt động của bảy chuyển thức sinh diệt liên tục trong từng sát – na tạo thành hình ảnh của thời gian lưu chuyển và do đó chiều đi của mũi tên thời gian thực sự là ảo giác.

Lời kết. Từ muôn thuở con người sống cùng thời gian (tâm lý). Thời gian là một dề tài bất tận để ta suy tưởng về nó, ngày xưa, cố nhân còn muốn đốt đuốc để đi chơi đêm vì sợ thời gian sống ngắn ngủi. J.L.Borges còn ta thán: Thời gian là một ngọn lửa thiêu đốt ta, nhưng chính ta là ngọn lửa. Còn Krishnamurti, gọi là kẻ thù.

Trong cuộc đời, tất cả chúng ta đều khao khát muốn đạt hạnh phúc và tránh đi những khổ đau, nhưng những hành vi, những ứng xử của chúng ta lại làm gia tăng sự đau khổ và không thực sự đem lại niềm vui hay hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân. Điều này xuất phát từ cơ bản là chúng ta mê lầm, không hiểu biết về cội nguồn hiện hữu của chúng ta mà thuật ngữ Phật học gọi là vô minh. Trong vòng vô minh con người không thấy được mọi hiện hữu do duyên mà sinh khởi. Mọi hiện hữu do vạn duyên mà có, hay khẳng định: rời khỏi vạn duyên thì không có hiện hữu nào cả, vì vậy cái tự ngã của mỗi hiện hữu chỉ là ảo tưởng. Thấy rõ được chân lý này thì ngay cả vấn đề sinh diệt của bản thân không còn vướng bận, mà trái lại sự bận tâm chính là phải liễu ngộ lý duyên sinh. Và do quán chiếu được duyên sinh, con người tự lãng quên cả ý niệm thời gian khi đó cũng đồng nghĩa xả ly dục vọng thể hiện qua lòng tham, sự sân hận, si mê và sợ hãi trong đời sống này. Chính cái tư duy hữu ngã đó đã tạo nên ngã tính và giá trị của sự vật hiện hữu và gây nên sự bám chấp, làm dấy lên lòng ham của dục vọng và dục vọng, niệm tưởng, tìm cầu là thành phần của “ngã” (cái tôi) tức là đã xây cố cái ý niệm thời gian trong tâm.

Con người lại ngộ nhận dục vọng (nằm trong quỹ đạo thời gian) của mình là chính mình và bị nhận chìm trong dục vọng và khổ đau. Với thái độ sống này con người đi vào đời sống hàng ngày thường phải giáp mặt các đối tượng dục vọng, tức là giáp mặt với hai khía cạnh: vị ngọt của chúng làm bốc cháy khát vọng và sự nguy hiểm do vô thường gây ra. Cả hai đều dẫn đến sầu não và khổ đau triền miên.

Đức Phật đã dạy về “dục vọng” cho các phàm phu, bằng các ngôn từ dung dị, ta hãy tâm niệm.

  • Như mưa xâm nhập vào cái nhà lá vụng lợp
    Cũng vậy, dục vọng sẽ xâm nhập Tâm không tu tập-
  • Như mưa không xâm nhập ngôi nhà lá khéo lợp
    Cũng vậy, dục vọng sẽ không xâm nhập Tâm khéo tu tập.

Thời gian – dục vọng và dục vọng – thời gian như một cặp sinh đôi bóng với hình: cái nầy sinh cái kia sinh, cái này diệt cái kia diệt. Đó là lý tắc Duyên khởi, chúng ta cần suy ngẫm bằng tất cả tâm ý.

Đặng Công Hanh

Tài liệu tham khảo:

1.Thắng man giảng luận: Tuệ Sỹ – NXB Phương Đông 2006
2.Lý thuyết nhân tính: Thích Chơn Thiện – NXB Phương Đông 2009
3.Lược sĩ thời gian: S.Hawking – NXB Trẻ 2006
4.Nhân quả đồng thời: Hồng Dương, Nguyễn Văn Hai – NXB Phương Đông 2005.
5.Duy thức học: Thích Thiện Siêu – NXB Tôn Giáo 2006.
6.Chấm dứt thời gian: Krishnamurti – NXB Thời đại 2010.
7.Tác giả: Khoa Toán – Đại Học Bách Khoa và Đại Học Kiến Trúc ĐN.

Share this post