Tôi Làm Tôi Mất Nước

Tôi Làm Tôi Mất Nước

Từ khi bỏ căn nhà mái tôn trong hẻm Trương Minh Giảng quận 3 Saigon, đem vợ con chạy tọt vào phi trường Tân Sơn Nhất phút chót, nhẩy ù lên trực thăng chạy bay ra biển, leo lên tầu, tá túc Tent City đảo Guam rồi định cư ở Mỹ quốc, cho đến bây giờ tôi vẫn cứ mù tịt về tình hình chính trị, quân sự của chính nước mình.

Càng đọc báo bổ, tài liệu, càng nghe bàn luận về Việt-Nam, tôi càng hoang mang lạc lõng, khó hiểu. Một trong những điều khó hiểu ấy là nguyên do đâu mất nước? Trách nhiệm ấy của ai? Của tổng thống hay của tư lệnh vùng? Của đại tướng hay đại úy? Của tỉnh trưởng hay quận trưởng? Hoặc cao xa hơn nữa, trách nhiệm ấy của Nga, của Mỹ hay Tầu?

Ngay cả đến những cuốn sách mang đầy sử liệu cũng lại có các dữ kiên, phân tích khác nhau khiến kẻ đọc cỡ bình dân học vụ như tôi đâm ra ù ù càng cạc, nhìn thế sự như nhìn vào bức vách.

Qua 10 năm lưu lạc giang hồ, làm dăm bẩy thứ nghề lao động chẳng giống ai, tôi càng cám cảnh trớ trêu thiên địa phong trần, không hồng nhan cũng đa truân như kiểu người yêu của chàng Kim Trọng.

Trong cảnh buồn não nuột như thế, tôi đâm ra trầm tư mặc tưởng, suy niệm, ôn cố tri tân, tìm hiểu về số phận đất nước.

Cổ nhân nói:Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, làm tôi áy náy nghi ngờ. Quốc gia thịnh hay suy mà lại là trách nhiệm của người dân bình thường hay sao?

Tôi cứ tưởng rằng cơ đồ bền vững hưng thịnh là do nhà vua anh minh đức độ biết kén chọn hiền tài điều khiển muôn dân. Cơ đồ sụp đổ là do tổng thống tài hèn sức mọn, dùng bè đảng vây cánh tác hại dân lành. Có đâu trách nhiệm đến kẻ thứ dân.

Lại như câu thượng bất chánh, hạ tắc loạn, trên phải ra trên, dưới phải ra dưới mới có trật tự an ninh ngăn nắp. Ép anh dân thường phải lãnh trách nhiệm, e không ổn tí nào.

Bây giờ, sau khi để dăm ba phút suy nghĩ, tôi bỗng tìm ra chân lý của câu nói Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.

Tôi hiểu rằng đất nước là trách nhiệm chung, chả cứ riêng ai cả. Thất phu, sĩ phu, trượng phu, đại phu hay kung-fu cũng phải ghé vai gánh vác sơn hà thì xã tắc mới mong bền vững. Chẳng ai cáng đáng gánh vác, nước đổ ụp xuống là cả đám ướt như chuột lột.
Vậy chính tôi có trách nhiệm mà không thi hành hoặc thi hành chểnh mảng. Cả hai đều có lỗi. Chả cứ tôi mà còn nhiều người khác cũng vậy. Thế nhưng các vị nắm vận mệnh quốc gia, trách nhiệm chỉ huy đơn vị lớn đều cứ chối bai bải về trách nhiệm làm tan tành đất nước.

Theo bản sơ kết tình hình chiến sự, cho đến nay chưa có ai viết sách, viết bài tự nhận mình có lỗi lầm, tự nhận mình có trách nhiệm làm mất nước cả.

Chỉ thấy họ trình bầy cái lỗi của người khác, xong nêu cái thông minh tài trí của mình rằng đã nói mà chả ai nghe, có bảo nhưng chẳng ai làm, hoặc bị ngoại bang chơi ép, hoặc bị phe này cánh nọ phá hoại, hóa nên hư bột hư đường.

Thành ra, chính họ lại là những người am hiểu tình hình, tinh thần trách nhiệm cao, tư cách đạo đức sáng ngời, như một người hùng có công với dân tộc, với tổ quốc.

Nhờ dành thời giờ suy tưởng đến dăm ba phút, tôi vỡ lẽ ra rằng chẳng phải nói ai, chính tôi làm tôi mất nước.

Nhòm vào quá khứ, tôi thấy tôi như hình với bóng đồng lõa, làm đủ mọi thứ chuyện tồi bại có hại cho bổn thân, cho gia đình, cho họ hàng anh em hàng xóm, cho đồng bào khiến nên bao nhiêu thứ suy đồi xấu xa tích lũy lại, dần dần đưa tới hậu quả ngày nay.
Hậu quả ấy đến coi như chậm bởi còn rất nhiều người có trách nhiệm, nhận trách nhiệm và gánh vác nó. Họ là các chiến sĩ anh hùng sả thân ngoài chiến tuyến, là những thương phế binh, cô nhi quả phụ can trường nhẫn nhục hy sinh, là những công bộc chuyên cần và thanh liêm, là những cán bộ nông thôn sống với dân và sát với địch, là những người dân lành chăm chỉ thực thà một nắng hai sương… Không có họ, đất nước mất tự khuya rồi!

Tôi đâm ra ăn năn hối hận, dẫu chả ai dí súng bắt viết, không có CIA dúi tiền bảo làm, không ai dụ khị vạch áo cho người xem lưng, tôi cũng xin làm bản kiểm kê tự thú về những cái tồi tệ hư đốn bại hoại của mình.

Để tâm hồn may ra được đôi chút bình an, để tạ lỗi với gia đình, với bạn bè đã nằm yên trong Nghĩa Trang Quân Đội hoặc vất vưởng chốn lao tù cải tạo, với những người sắp ra đi, với những người còn ở lại đọa đày.


Hồi còn bé, tôi có bộ mặt của một tên học trò hiền lành ngây ngô rất mực, ai cũng tưởng là đứa trẻ có giáo dục đàng hoàng. Câu nói Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon nhiều khi trậc lấc. Tôi là con lợn nom khá béo nhưng lòng dạ thì thật khó thương. Bề ngoài, tôi lù khù mà đầu óc lại quỷ quái ranh ma.

Ở nhà, tôi chuyên môn ăn cắp tiền để đem đi nướng cho mấy tên đánh đáo đánh bi, đi nói dối cha về nhà nói dối bố. Đến trường học thì tôi học dốt như bò, trốn học, phá phách, chọc ghẹo bạn bè. Thời giờ học bài, tôi lêu lổng ra bờ sông leo cây bàng hái quả, bắt chim non làm tội, bơi qua sông đi đánh nhau.

Khi lên trung học, tôi ở Hà-Nội học 4 năm. Bố mẹ làm ăn vất vả lo cho con thì con học tà tà, dành tiền đi ăn thịt bò khô Bờ Hồ, đi bơi thuyền pê rít soa, đi xi-nê phi-la-mô-ních, lượn Hàng Ngang, Hàng Đào, nhẩy xe điện không bao giờ mua vé.

Các thầy học của tôi đều là những bậc thầy dạy giỏi như các thầy Nguyễn Đức Hiếu, Nguyễn Tá, Nguyễn Đức Kim, Hà Như Vinh, Trần Ngọc Huyến, thầy Sửu, thầy Loan, thầy Thịnh Del, thầy Bốn…

Tôi chả thọ giáo được bao nhiêu vì trong lớp tôi hay nói chuyện. Bù lại, mỗi khi có bài thi là tôi cóp như điên. Mấy tên học giỏi đều ngồi trước ngồi sau ngồi cạnh cho nên tôi thi cử không mấy khó khăn, luôn luôn vào hạng khá.

Đôi khi có đứa nào ngồi cạnh mà nghỉ vì bận chuyện nhà, đau ốm thì bữa đó tôi tụt xuống hạng chót lớp. Thầy giáo rất ư là khó hiểu rằng làm sao sự học của tôi nó trồi sụt một cách bất thường. Chỉ có tôi hiểu mà thôi.

Năm 1953, tình hình chiến sự sôi động, chính phủ gọi lính. Bố mẹ tôi gửi gấm tôi vào Ngự Lâm Quân cho quốc trưởng Bảo Đại. Các bạn tôi, đứa đăng lính tại Hà-Nội, đứa xin vào trường Võ Bị Dalat.

Dalat là đất của nhà vua, kêu bằng Hoàng triều cương thổ, vào đó phải có phép tắc phân minh. Tôi lọt được vào đất nhà vua, coi như số hên ngàn năm một thuở. Bố mẹ tôi chắc phải chạy chọt tay trong tay ngoài lắm tôi mới khỏi đi Điện Biên Phủ.

Vào lính, tôi được đeo ngay cấp bậc Hạ Sĩ, tức Cai Phúc Cánh Gà, át si mi lê chứ khỏi cần tốt nghiệp quân trường gì sốt cả. (nhưng tôi phải nộp 3 chứng chỉ về kế toán, đánh máy và tốc ký mới được cấp bậc này!).

Hơn 1 năm đi lính Ngự Lâm Quân, nói là đi lính chứ thực ra là đi du lịch, đi du hí vì công việc tôi thu gọn trong chương trình phát thanh gồm các mục thi ca vũ nhạc kịch, mỗi tuần một lần trên đài Dalat.

Thời kỳ này đúng vào thời kỳ tôi trổ mã, cho nên gặp đúng môi trường hoạt động, tôi tung hoành như chốn không người. Khi thì mời các nữ sinh tập ca, tập kịch, khi thì đón các ca sĩ tài tử lên đài hát hỏng ngâm nga. Lại có bận kéo cả bầy đi Trạm Hành, Phan Rang, Phan Thiết, Nha Trang trình diễn văn nghệ văn gừng.

Các em tài tử giai nhân, em nào cũng thơm như múi sầu riêng, đẹp ngồn ngộn, nom cô nào cũng thiệt dễ thương. Tôi bỏ không đành, ngó ai là muốn tán người đó để làm riêng kỷ vật.

Tôi thường lợi dụng công xa, lái xe Jeep của xếp, xe Dodge-4 của ban quân xa chạy đi chơi la cà quán ăn, đi đàn đúm nhẩy nhót, đi chơi cuối tuần Đèo Ngoạn Mục, Suối Vàng, thác Prenn, Cam Ly, Liên Khương, Aáp Hà Đông, Cây Số 4…

Mỗi khi đi công tác, dẫu được đơn vị sở quan đài thọ ăn ở suốt thời gian, tôi cũng xin cái dấu đỏ đóng sau sự vụ lệnh chứng nhận đương sự ăn ở tự túc để đem về ban kế toán làm lương kiếm tí tiền còm.

Ít nhất một năm tôi tìm cách đi phép hai phùa. Lý do nào cũng khẩn cấp dễ sợ như điện tín đánh từ Saigon lên rằng mẹ đau nặng, bà ngoại sắp mất, bà nội lâm trọng bệnh, ông nội đã từ trần…toàn là những tin tức đứng tim, cần được phép đặc biệt về thăm nhà thiệt lẹ.

Mẹ tôi đâu có ở Saigon, còn các cụ nội ngoại đã qui tiên chầu tổ từ lâu rồi, nhiều cụ tôi đâu có biết mặt.

Nhờ đòn tâm lý ấy, tôi về phép đều đều. Cụ nào cũng được chết ít ra 2 lần do tôi đạo diễn.

Mỗi lần phép dăm ngày, tôi lại ở lì thêm một tuần cho đã. Khi lên đơn vị trình diện, tôi gãi đầu gãi tai kể khổ, nào là cụ ngoại ngoài 80 tuổi gần đất xa trời, tay chân rũ liệt nằm thở hắt ra, nào là cụ cấm khẩu, lạnh tứ chi, các con cháu tề tựu đông đủ đợi chờ.
Cũng may là cụ tuy bệnh tình trầm trọng nhưng e…khó chết cho nên các con cháu lại tan hàng để ai về nhà đó. Các xếp tôi nghe kể lể đều mủi lòng thương cảm vỗ về.

Nam 1955, Ngự Lâm Quân tan rã, các đơn vị phân tán mỏng, gia nhập Quân Đội Quốc Gia nên tôi đổi lên xứ Banmethuot. Miền cao nguyên này đất đai phì nhiêu, tài nguyên phong phú như cao su, cà phê, gỗ, măng, cam, rau trái, thú rừng, hoa lan…đều là những sản phẩm miền xuôi ao ước.

Vậy mà ai lên đó cũng than đất đỏ mưa lầy, buồn hơn chấu cắn. Tên tỉnh được đọc chẹo là Buồn Muôn Thuở. Ôi cái tên như một tiền định an bài, bởi cái tên cà li đó mà làm cho cả miền Nam tiêu tùng cơ nghiệp sau này.

Nói vậy cũng tội nghiệp cho tên tỉnh bởi tự nó đâu có tội tình chi. Tội chăng là kẻ đặt điều thêm bớt, vả chính tôi cũng a dua phổ biến cái tên Buồn Muôn Thuở hóa nên nó đâm buồn, nó vận vào chính mình và vận mệnh quốc gia.

Lỗi đó, tự ngay tôi đồng hóa.

Đời sống ở cao nguyên cũng có nhiều cái thú như đi săn, thú chơi hoa lan, thú đi rừng lội suối, chụp hình. Được ông xếp chịu chơi, tôi tháp tùng ổng lái xe Jeep, ôm các-bin có thêm dăm lính tráng hộ tống đi bắn nai, bắn thỏ, bắn gà rừng. Thầy trò lại lặn lội đi kiếm lan rừng, đem lên xe GMC có sẵn vài giường vải bố để đặt lan vào cho nhẹ nhàng khỏi phạm đến cánh hoa. Mỗi giò lan lại được buộc hờ bằng những cuộn băng trắng tinh của bên Quân Y Viện.

Thế là chúng tôi đã xử dụng công xa, xử dụng vũ khí đạn dược, xăng nhớt, nhân sự của quân đội một cách phí phạm và trái quân luật.

Nhưng chả ai nói gì, không ai đem ra tòa án nhà binh thì đâu gọi là tội. Vả chăng, nhiều cấp lớn cũng dùng lính cả trung đội, đại đội để làm việc riêng ấy chứ, thì cỡ tép riu đâu có đáng gì.

Chính mấy cái lặt vặt lem nhem ấy, tôi làm tôi mất nước…

Trên cao nguyên đất đỏ mưa lầy heo hút buồn thiu, ngoài mấy cái thú đi săn, đi rừng, hái hoa lan, tôi còn tìm được nguồn cảm hứng mới lạ. Aáy là ngày cuối tuần mò mẫm đi coi coi gái Thượng tắm suối.

Người miền núi khác người miền xuôi ở mấy điểm này: Miền xuôi, con gái đeo sú chiêng thì miền núi để hở ngực thỗn thện, đôi gò bồng đảo rung rinh gánh lúa rung rinh rất là tự nhiên khỏe mạnh, không bị bó giò ép chặt.
Miền xuôi, con gái mặc quần thì miền núi quấn sà-rông không sì-líp. Thành ra, so sánh thấy người miền núi sống thoải mái, gần gũi thiên nhiên hơn người ở miền xuôi.

Nhờ sống gần thiên nhiên nên họ thực thà chất phác tự nhiên. Những ngày nắng ấm, con gái miền núi hay rủ nhau ra suối giặt rũ, tắm táp vui vẻ.

Tôi vốn nhát nhưng lại hay tò mò, chơi ngầm nên lẳng lặng đi rình các em sát nút. Họ tắm với y phục của bà E-Và, chẳng mảnh vải che thân, ngâm mình dưới suối, để lộ bộ ngực no tròn nắng rám mùi dâu. Họ đùa nghịch tát nước vào nhau, nước tung trắng xóa; họ cười nói líu lo như chim hót trên cành. Đâu biết rằng sau lùm cây lại có một tên lính nhà binh ma mãnh nhòm như cú nhòm nhà bệnh.

Những mục đi coi con gái miền núi tắm suối như thế tuy đã con mắt nhưng chưa thật đã đời. Xét rằng chả nên khư khư một mình thụ hưởng, tôi mới phổ biến hạn chế ABC cho mấy thằng bạn. Thế là ngày cuối tuần chúng tôi có bán tiểu đội đi tuần tiễu quan sát tại chỗ.

Cũng vì đi tụm năm túm ba như thế, chỉ một vài phùa là bọn tôi bị lộ tẩy. Con gái miền núi thấy động, bèn nhẩy ào ào lên bờ quấn vội sà-rông, ù té chạy về bản Thượng.

Từ khi họ khám phá có kẻ rình mò nhìn trộm bất hợp pháp như thế, con suối tình tứ bỗng vắng bóng con trai miền xuôi, con gái miền núi để trở thành con suối mơ lạnh lẽo ơ hờ…

Nghĩ lại hành động có ý thức của mình, tôi ăn năn coi đó là vô ý thức, khiến con gái cao nguyên mất đi cái vẻ hồn hậu tự nhiên mà lại hóa ra bắt chước con gái thị thành đâm ra rụt rè, e thẹn ngượng ngùng.

Tôi đã làm mất đi một phần nào thuần phong mỹ tục địa phương mà cứ tưởng chuyện vui chơi nào co ùhại gì.

Tình đoàn kết Kinh Thượng một nhà biết đâu chả vì thế mà ngại ngùng xa cách? Tôi là kẻ có tội!

Người cao nguyên Ban-Mê-Thuột đa số thuộc sắc dân Rhadé. Lên tới em Pleiku má đỏ môi hồng, ở đây phần lớn là dân Jarai. Đến Kontum, Dakto là dân Sédang làm chuẩn.

Người miền núi có hàng trăm tiếng nói khác nhau. Nói chung thì tính tình họ hiền lành, hiếu khách, chuyên nghề làm rẫy, bắt thú rừng. Nhiều bộ lạc còn sống đời nay đây mai đó, không định cư chỗ nào lâu dài cả.

Càng xa phốù thị, đời sống của họ càng xa cách văn minh. Dân miền Daksut, Dakpek, nhiều người chỉ biết đếm từ một đến năm. Mua chục quả trứng gà, mỗi cái một tì mà đưa mười tiền lấy chục trứng là họ không chịu, coi như không đúng. Lấy năm cái, trả năm tiền, đếm một hai ba bốn năm là chịu. Rồi lại trả tiếp năm cái sau như thế.

Tôi đã lợi dụng lòng tốt, nhẹ dạ, thuần hậu của họ mà buôn bán kiếm chác khá bộn. Như mua măng khô,mua mật ong, mua sừng hươu nai, mua quế. Khi thuận tiện, tôi còn hái trộm trái cây hoặc lấy quế vô tội vạ…

Tôi la cà các bản Thượng, lân la thân cận với các chủ làng ví như xếp sòng đơn vị để mưu lợi. Lúc thì tôi bán xăng chạy bật lửa kèm theo đá lửa. Lúc bán muối hột, khi bán át-pia-rin, bán bánh kẹo Chợ Lớn. Một vốn bốn lời cắt cổ anh em, lại còn cai thầu lâm sản bán cho mối chợ.

Ông chủ làng thấy tôi có cái máy gì mà cứ ghé mắt nhòm ngang bấm kêu lách cách, hỏi ra là máy chụp hình, có hình người như hệt thì lấy làm khoái lắm. Tôi bảo chụp một tấm có hình ông chỉ tốn 25 tiền ta. Ông chủ làng ngần ngừ, bảo muốn có cả bà vợ và hai đứa con nữa tính bao nhiêu. Tôi tính 35 tiền rẻ chán. Ông ta lại suy nghĩ vẩn vơ rồi cười xin tôi chụp cho cả con chó, cạnh cái nhà làng và làm sao có tí trời mây nữa được không? Tôi bèn làm bộ khó khăn cân nhắc, rồi đồng ý chụp hầm bà làng đủ thứ, chỉ lấy có 40 tì. Vợ chồng con cái, con chó đứng chung, tôi bấm máy đánh tách một cái là xong xuôi, hứa hẹn có hình đen trắng đẹp.
Lần sau về làng, tôi bán tấm hình, xong mua đồ, ăn nhậu với chủ làng, đôi bên vui vẻ. Tôi đã lợi dụng tâm hồn chất phác mà mần xìn ông chủ làng. Bây giờ tôi đâm ra hối hận.

Ông chủ làng nếu biết, chắc ông ấy sẽ chê luôn tất cả người miền xuôi đều cá mè một lứa. Tôi làm xấu lây tập thể và gây chia rẽ đồng bào mà đâu có ngờ.

Ngày nay ngẫm lại mới vỡ lẽ mình mất nước nào phải đổ vạ đổ thừa cho ai. Chính tôi làm tôi mất nước ở những cái nho nhỏ con con ấy.

Cổ nhân bảo: Lỗ nhỏ đắm thuyền hẳn chẳng sai.

Ở cao nguyên được hơn một năm, tôi giải ngũ về Saigon kiếm việc. Nhờ người lớn giới thiệu, tôi làm công cho một hãng xuất nhập cảng ở đường Tự Do, tên là hãng Việt-Hà. Ông chủ thấy tôi nai vàng ngơ ngác như ở rừng mới về, rất lấy làm ưng ý. Bởi huấn luyện một thằng nhỏ hiền lành có bề dễ hơn là mướn mấy tên tinh ma quỷ quái.

Ông chủ khuyên tôi cố gắng học nghề, ông sẽ truyền nghề cho sau này chả mấy chốc thành triệu phú như ổng.

Tôi cũng tin tưởng như thế, nên từ đó không mua xổ số quốc gia lô độc đắc nữa mà chuyên chú học việc hành nghề.

Tôi cố gắng dành dụm tiền để sắm chiếc xe đạp cũ nên không dám ăn trưa. Buổi trưa, tôi moi trên kệ, trong hộc tủ xem có món gì sực được thì ăn đỡ. Tôi đớp bánh trứng nhện, kẹo vừng, bánh mì khô. Thậm chí đến cả quế chi tôi cũng nhai tuốt luốt. Chỉ sau có một ngày, vì đớp quế quá kỹ, tôi chẩy máu cam ồng ộc, không dám mó đến món này nữa.

Qua vài tháng, nhận rõ ra rằng cái chân của tôi là đánh máy, tùy phái, lau nhà, tôi bèn xin rút lui có trật tự, bỏ mộng làm triệu phú.

Một bữa, la cà đến nhà người quen, ông này rủ tôi đi Cao Miên làm Tòa Đại Diện Việt Nam Cộng Hòa. Tôi coi như cơ hội ngàn năm một thuở, cơ hội bằng vàng, xin gật đầu đi ngay tút suỵt.

Chỉ vài ngày sau, tôi đã trực chỉ hướng Gò Dầu Hạ, đi qua biên giới Việt Miên đến Pnom Penh như đi du lịch.

Hồi ấy, vị đại diện Việt-Nam – chưa có đại sứ vì liên lạc ngoại giao chưa thuận lợi – là ông Ngô Trọng Hiếu, cựu Tổng Giám Đốc Ngân Khố – từng dịch sách với nhà văn Nguyễn Hiến Lê – văn nghệ ngoại giao số dzách.

Vị đại diện tướng mạo bệ vệ, nom rất dễ nể. Bộ tham mưu có bác sĩ Trần văn Thọ, bác sĩ Thái doãn Thạc, luật sư Đinh trịnh Chính, ông tham vụ Trần đồng Tử. Phía báo chí chửi cộng sản có Dương Vy Long, Song Hồ, Văn thế Bảo. Nhân viên tòa đại diện vài chục người, làm việc rất vui vẻ.

Tôi đặc trách mục làm sổ thông hành cho người Việt, người Miên. Công việc không có chi khó khăn mà lại có tiền, có tình, có kẻ chầu người trực.

Lợi dụng chức vụ phát thông hành, tôi bắt thân chủ lì xì dăm ba bò, một xín để lấy giấy tờ mau lẹ. Người ta cần đi gấp, đâu có sá chi mấy trăm bạc nhẹ tênh.

Nhờ thế, tôi rủng rỉnh tiền bạc, cứ tháng tháng hai lần về chơi Saigon, lúc buôn lạp xường, lúc buôn vải vóc, lúc buôn vàng đem bán cho mối chợ.

Tại Pnom Penh thuở ấy có dăm ba cái tiệm nhẩy đầm.Cái bình dân như Bar Cầu Saigon – vì nằm trên con đường đi Saigon, cạnh cây cầu lớn – tha hồ nhẩy múa Lâm Thôn, tậïp sì-lô, pa-sô-đốp. Mấy cái khác như Tricotin, Cambodge phần nhiều khách sộp lại chơi.

Còn một tiệm nhẩy đầm Olympia có rất đông vũ nữ Việt Nam hành nghề, tôi thường tới lui nhẩy nhót cho oai.,chứ tôi chỉ biết có mỗi một điệu sì-lô tắt đèn mà thôi. Các điệu khác tôi đều chê là tốn sức lao động.

Nhờ làm cái chân pát-po, các em có vẻ chiều chuộng đến điều để lỡ khi ở lại quá hạn còn có người che chở.

Từ vũ trường, tôi la cà đến nơi các em tá túc, bắt bồ nay em nọ mai em kia như một kẻ đa tình thương người đồng điệu. Các em có làm tôi hư hay không tôi không biết, chứ chính tôi vẽ đường cho hươu nai chạy, tạo cho các nàng cái cách chạy thầy chạy thuốc lem nhem, như một lối mòn độc đạo để sau này các em ngựa quen đường cũ, hễ ai thay tôi cũng thế thi hành.

Tôi cứ tưởng ba cái lặt vặt cỏn con ấy nào có hại chi đến việc lớn. Ai ngờ té ra chính nó tích lũy lại, nhiều kẻ lem nhem đốn mạt như tôi đã đưa đẩy nước non đếùn hồi mạt rệp.

Làm việc ở tòa đai diện, ngoài lương tháng, phụ cấp, nhà ở tôi lại còn được xử dụng quỹ đặc biệt nữa. Nếu dùng tiền này để làm đúng việc thì đâu có nói làm chi. Đàng này, tôi dùng tiền công để chi cho việc riêng, coi như tiền chùa, tiền mã. Sự phí phạm ấy, nếu ai cũng tự cho phép và được phép xử dụng thì công quỹ chả mấy nỗi mà lép kẹp, nhẹ tênh.

Giờ đây, ngồi ngẫm lại chuyện cũ tích xưa, tôi mới thấy chả phải đổ vạ đổ thừa cho ai làm chi tội nghiệp.

Chính tôi làm tôi mất nước!

Làm Tòa Đại Diện Việt-Nam tại Cao-Miên đâu chừng một năm,tôi đã muốn rút dù. Vốn tính hay đổi thay, chóng chán nên dẫu gần gũi với biển hồ Tonlésap, tôi vẫn nhớ bến Thủ Thiêm, dẫu sát cạnh Chùa Vàng Chùa Bạc tôi vẫn nhớ Lăng Ông, Thiên Mụ , dẫu thân mật với các em ca-ve thơm ngon như xoài cát tôi vẫn nhớ các nàng đồn trú tại quán bia ôm, quán cóc Saigon.

Lai nữa, xuân qua hạ tới thu tận đông tàn, nay lại một mùa xuân tiếp nối khiến lòng tôi nhớ về chón cũ.
Chốn ấy như quê hương thứ hai của tôi, sau tỉnh Hải-Dương bé nhỏ hiền hòa nằm trên quốc lộ số 5 nối Hà-Nội Hải-Phòng: Aáy là Dalat.

Nhân cái cớ anh tùy phái hục hặc tranh mối pátù-po tính ăn hớt tay trên tiền nhậm xà của tôi, hắn thậm thọt với cấp trên vu cho tôi bê bối, tôi liền xin nghỉ việc.

Mần tòa đại sứ, đại diện, lãnh sự dẫu ở nước nào cũng là điều mơ ước của nhiều mgười muốn xuất ngoại phục vụ, mà lại có tiền, sống đời dư dả, cho nên tôi thôi lắm đứa mừng thầm, vì có chỗ cho anh em bà con điền thế, cùng vây cánh làm ăn.

Thế là chỉ nội 24 giờ tôi đã rút khỏi xứ Chùa Tháp, qua biên giới Miên-Việt trở lại Saigon.

Ở thủ đô vài bữa, tôi khăn gói quả mướp lên chuyến xe Minh Trung tại Ngã Bẩy để lên Dalat, tá túc nhà ông anh họ.

Qua mấy năm trở lại chốn xưa, tôi thấy người cũ vẫn cứ đâu ở đó, chưa mấy đổi dời. Con gái Dalat má đỏ như mận Trại Hầm, mắt trong như mắt nai tơ, môi hồng như trái dâu ấp Hà-Đông, Cây số 4.

Anh con trai nào nhòm thấy cũng mê như điếu đổ. Người đẹp đài các như ái nữ của bác sĩ Dương ở biệt thự, có vườn hoa, đêm đêm qua khung cửa mờ ảo ánh đèn, ngân nga tiếng dương cầm thánh thót.

Khu chợ Hòa-Bình, các cô Ninh, cô Kính chủ tiệm bách hóa Phúc Thái Lai, cổ đeo kiềng vàng, ăn nói dịu dàng, mắt liếc đong đưa.
Đường Phan đình Phùng, quá rạp hát ngọc Hiệp dăm trăm thước có tiệm chè của hai chị em cô Tâm cô Hiền. Hai đóa hoa được rất nhiều vương tôn công tử giả bộ đến ăn che ømà lòng dạ thật là hảo ngọt.

Nói chi đến các sĩ quan, sinh viên võ bị ngày nghỉ cuối tuần chạm trán nhau đôm đốp ở đây.

Phía nữ sinh Yersin, Couvent , phía nữ công chức hoa hậu hoa khôi mơn mởn đào tơ phơi phới. Với các nàng tiên yêu kiều diễm lệ ấy, tôi chỉ là một anh Trương Chi chèo thuyền mà không biết thổi sáo để làm cảm động Mỵ-Nương.

Vả lại, Cai Phúc hồi ấy chưa thoát khỏi cái vỏ cai sữa buồn thân tủi phận hẩm hiu, chả ai cảm thương cảnh cùng một lứa bên trời lận đận cho nên chỉ nuốt nước bọt, ngậm bồ hòn ngắm trộm các nàng cho đỡ ghiền cơn nhớ khó nguôi.

Tôi cũng đoán già doán non rằng các nàng nhìn tôi không khác chi nhìn một cậu bé con ngu ngơ bé bỏng. Đâu biết rằng trong tim tôi nó thổn thức bồi hồi.

Cái mộng yêu hoa biết nói không thể tỏ cùng ai, tôi lang thang như một nghệ sĩ giang hồ, như một nhà thơ khốn khổ ư ử ngâm bài Lỡ bước sang ngang cho ra vẻ tài tử đa cùng phú.

Nhớ đến em xưa dưới dốc Nhà Bò, tôi bò xuống lân la hỏi dò tin tức. Ngờ đâu nàng đã tay bế tay bồng đìu íu sau lưng, nom chả còn chi là sắc nước hương người.

Các cụ bảo gái một con trông mòn con mắt, gái hai con vú quặt sau lưng thật chả sai một ly ông cụ nào. Được cái con chị nó đi, con dì nó lớn nên tôi đành tự hạ một cấp, ra chiều o bế cô em. Cô em là kẻ yêu hoa nên tôi có nhiệm vụ cung cấp hoa để làm duyên văn tự.

Đêm đêm, toi vác dao đi chặt trộm những cành hoa anh đào ở bờ hồ, lối lên dốc chợ. Anh đào là loài hoa quý của Nhật. Nhật Bản có tặng cho thành phố Dalat vài trăm cây làm cảnh, chở máy bay qua, quý như vàng nén.

Khi hoa anh đào nở, cả tỉnh đẹp mà khách phương xa đến du ngoạn cũng đẹp lây. Tôi lựa cành nào đẹp, phạng ngay một phát và chạy ù té về dốc Nhà Bò.

Chưa hết, công viên nơi nào có hoa là có tôi lởn vởn đến hái. Cả đến tư gia tôi cũng không từ. Dọc đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, khu nhà đèn, khu nhà thương, nhiều nhà trồng mẫu đơn, hoa cúc, hoa hồng, hoa thược dược đẹp tươi mơn mởn, cứ tối đến là tôi đi ngắt trộm.

Có lần chủ nhà rình sẵn, tôi mới chợt tới hàng rào là họ đã hô hoán lên vác đòn gậy đuổi đánh. Tôi hảng hồn vắt giò lên cẳng chạy thừa sống thiếu chết mới thoát thân.

Aùi tình nó làm tôi mụ mẫm một phần, nhưng chính như tôi bản tính đã hay táy máy ăn cắp vặt từ nhỏ cho nên lúc nhớn lên các hành động xấu xa chỉ là tập quán. Ngày bé tôi ăn cắp ở nhà, bây giờ phá hoại ăn trộm của người , của công cộng, vi phạm an ninh trật tự, tài sản quốc gia và đồng bào, nào tôi có biết nó tệ hại sao đâu. Chỉ coi như vui chơi cuối trời quên lãng, văn nghệ thôi chứ nhằm nhò, tác hại nỗi gì.

Ấy đó, mấy cái đó tích tiểu thành đại, tôi hư lúc nào không biết. Mà vẫn tưởng mình công dân gương mẫu đàng hoàng.

Nhìn quanh, tôi thấy tôi còn lương thiện hơn chán vạn kẻ khác. Những đứa họp bè kéo đảng chặt cây cưa gỗ đem từ Định Quán về Biên Hòa phát mại chia nhau bỏ túi. Những tên bắt lính đem GMC chở thông từ Dalat mang về Saigon bán dịp Giáng Sinh. Những kẻ thông đồng với nhân viên lâm sản, với trại kiểm soát để chở gỗ lậu hàng lậu mới là bê bối. Nhờ bê bối đó, cộng sản mới lợi dụng chở súng đạn, thuốc nổ vào thị thành để đặt mìn giết dân lành, đàn bà con nít, nên chiến tranh mới đằng đẵng bao năm.

So sánh với những hạng đó, tôi không là…phật thì cũng là…á thánh.

Cũng bởi tự so sánh với những quân khốn lịn như thế, tôi cá mè một lứa như chúng nó chứ có hơn gì. Chỉ khác nhau mức độ mà thôi.

Mức độ nào cũng là hành động đưa đến mất nước.

Mùa xuân trên cao nguyên xứ anh đào, ai may mắn có đào cặp kè thủ thỉ thì thật ô mê ly tuyệt cú mèo số dzách. Nhìn những cặp nam thanh nữ tú áo quần đẹp tươi nắm tay nhau ngả nghiêng trên đồi thông, ngồi bên ven hồ, ghềnh đá hoặc sát vai trong rạp xi-la-ma, nơi tiệm cà phê, tiệm mì, tiệm phở, lòng tôi lại thêm nỗi cô đơn chan chứa can tràng.

Tôi bơ vơ như tiếng hát Chế Linh tang thương rách nát, lủi thủi lang thang lạc lõng giữa đường.. Trời xuân đẹp, nắng xuân trong, tình xuân nồng, gái xuân rực rỡ. Những tà áo mầu áo thêu áo len e ấp vườn Bích Câu, hồ Xuân Hương, suối Cam Ly, đường Minh Mạng, dốc Duy Tân, chợ Hòa bình… Những sinh viên sĩ quan võ bị quân phục thẳng nếp, huy hiệu phù hiệu cấp hiệu sáng ngời, giầy đen bóng loáng đi đứùng hiên ngang.

Xe hơi, xe Vespa, Lambretta, Honda, xe ngựa lên dốc xuống đèo vui như ngày hội.

Đầy trời xuân cỏ hoa rộn nở tưng bừng. Hoa hồng, hoa cucù, thược dược, mẫu đơn, cẩm chướng, bất tử, hoa lan hoa dại lưng đồi. Dalat giống như một cảnh thần tiên của thiên đường hạ giới.

Dẫu cảnh đẹp mê ly là thế mà lòng tôi lạnh ngắt vắng tanh. Cho nên người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, qua mấy ngày xuân con én đưa thoi, tôi lại đáp chuyến xe đò qua Liên Khương, Bảo Lộc, Định Quán, Long Khánh, Biên Hòa để về Saigon tìm kế sinh nhai.
Việc đầu tiên là xin tá túc chỗ quen khu Tân Định, xong trích ngân khoản dự trữ sắm chiếc xe đạp thay cho chiếc xe lô-ca-chân, rồi nạp đơn dăm bẩy nơi xin mần việc chính phủ.

Nhờ có tí cụu quân nhân, tôi được tuyển dụng làm thư ký công nhật tại Tổng Nha Kiến Thiết. Tổng Nha này là hậu thân của Bộ Kiến Thiết thời kiến trúc sư Hoàng Hùng làm bộ trưởng, ở đường Phan đình Phùng gần đài phát thanh Saigon.

Tôi chăm chỉ làm việc như một công chức gương mẫu, được vài ba tháng thì bắt đầu dở chứng. Tôi bắt chước những dân bê bối chuyên môn đi trễ về sớm, lấy giấy pô luya, dụng cụ văn phòng đem về nhà. Lắm lúc lại lợi dụng giờ chánh phủ chuồn đi phố lo chuyện riêng, ăn nhậu, làm áp phe với thân chủ. Ai muốn nhờ vẽ họa đồ nhà cửa, muốn có giấy phép sớm, mua vật liệu rẻ, xây cất lố với họa đồ, tôi đều trung gian điều chỉnh.

Nhờ vậy, lương tháng ba cọc ba đồng mà tôi vẫn rủng rỉnh tièn bạc.

Lâu lâu tôi lại o bế cấp trên, biếu xén quà cáp chút chút để xếp che chở, phe lờ cho mấy vụ lem nhem.

Hồi ấy có phong trào học đêm, anh em công chức quân nhân tối tối mò đi học tại Hội Khuyến Học Bổ Túc đóng đô ở trường tiểu học xế cửa Tổng Nha Kiến Thiết. Đủ mọi thành phần quân cán chính đủ lức tuổi tác già trẻ. Lại có cả các tên tuôi quen thuộc hiện diện dưới đèn. Như nhạc sĩ Hùng Lân Khỏe vì nước đêm đêm om sách , kèm theo cái đèn điện, dòng giây thòng lòng dưới bàn, cắm điện sáng choang bổi ông mắt cận thị hơi nặng nên cần nhiều ánh nến. Có ông vợ con cả bầy lớn bé cũng cắp cặp, đạp xe đạp đi học như Cao Bá Vũ sau này là một giáo sư triết khá nổi tiếng.

Anh nào đi học cũng mong kiếm cái mảnh bằng Tú Tài I, Tú Tài II để làm bước tiến thân. Tôi cũng lóp ngóp giữa số đó. Được cái là tôi nhã nhặn, hay nhường nhịn cho nên anh em đậu xong Tú Tài, lên Văn Khoa, Luật Khoa, tôi vẫn lẹt đẹt tú đơn chờ tú đụp.
Học hành chưa nên cơm cháo gì, đánh đoàng một cái, Bộ Quốc Phòng ra lệnh rằng hễ ai có Tú Tài I trở lên phải mau mau ca bài Ta đi tòng quân cứu nước.

Tôi từng một thuở yêu đàn, đàn đúm trong ban văn nghệ Ngự Lâm Quân rổi Đệ Tứ Quân Khu Banmethuot nên coi như cựu quân nhân không hề théc méc.

Thế mà một bữa đang mần việc nhà nước, nhận tờ giấy gọi nhập ngũ, lòng tôi ngẩn ngơ tái tê, hãi ơi là hãi.

Lệnh trên hành quân không cần xét cựu quân nhân hay tân quân nhân, cứ tú đơn là a-lê hấp đi lính, khiếu nại gì hạ hồi phân giải.
Cầm lệnh nhập ngũ, tôi lo lắng, sợ hãi, cứ y như hễ đi lính là mình cầm chắc cái chết trong tay. Chả bù với những tối ngồi trên gác trọ cùng nhạc sĩ Tuấn Khanh, người viết nhạc kẻ đặt lời các bài hát ca tụng chiến công hiển hách của Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi đã như một người lính can trường cùng đồng ngũ vào sinh ra tử, hiên ngang tay súng bảo vệ sơn hà.

Bây giờ vào việc mới rõ cái bộ mặt chuột hèn nhát, khiếp nhược của mình. Thì ra, nói một chuyện còn làm lại là một chuyện khác.
Tôi linh cảm cả hiện tại lẫn tương lai xụp đổ cái rầm. Mà con đường phải tiến tới lại là độc đạo. Ấy la đường vào quân tường là đường về quê hương .

Chẳng đặng đừng, tôi thu xếp hành trang một gói, theo chuyến xe buýt ghé Quân Vụ Thị Trấn Saigon trình diện. Chờ đến chiều tà có đông đảo, anh em cùng nhau leo lên chiếc xe GMC qua ngả Lê Văn Duyệt, Ngã Tư Bẩy Hiền trực chỉ hướng Quang Trung đến Trại Nhập Ngũ Số 3 làm thủ tục vào trường.

Cuộc đời tôi tưởng chuyến này là đi đoong mút mùa lệ thủy, ai có ngờ đâu chính lại là đường mây rong ruổi thênh thang nhẹ gánh tang bồng!!!

Âu cũng là định mệnh đã an bài, đục nhờ trong chịu…

Trại Nhập Ngũ số 3, như phần đông các thanh niên ở tuổi quân dịch đều có nghe loáng thoáng, nằm trong khu vực quân sự mạn Quang Trung, Hóc Môn.

Khi tôi nhẩy từ GMC xuống đất đã thấy doanh trại đầy người, nhưng toàn là xi-vin , chưa ai mặc quân phục, ngoại trừ một số quân nhân chính cống lo canh gác, làm văn phòng.

Chỉ sau một hai bữa nằm chờ khám sức khỏe, tôi đã biết cách tháo bù-loong của giưởng gỗ ra làm búa để đập bẹp đồng tiền nhôm tạo thành cái nhẫn chơi. Chiều chiều, tôi rủ bạn chui rào ra ngoài ăn nhậu xong tối lại mò vào.

Khi đi khám tại Tổng Y Viện Cộng Hòa về tai mũi họng, chụp phổi đo tim, thế nào tôi cũng leo tường thành, nhẩy ra đường cái đáp xe lam chuồn về Saigon du hí. Hôm sau, chuyến xe GMC chở thanh niên đến cửa Tổng y Viện Cộng Hòa, tôi lại chờ sẵn nhẩy lên xe, coi như không có chuyện gì xảy ra cả.

Như mọi lần, thanh niên làm thủ tục nhập ngũ chỉ nằm ở trại dăm bẩy ngày là xong.

Đủ sức khỏe thì đi mà thiếu sức khỏe là về. Đến phiên tôi đi lính – năm đó là năm 1963 – tình hình lộn xộn, có ông đại sứ Hoa Kỳ Ca-bốt Lốt qua Việt-Nam. Chính phủ hình như không muốn thêm nhiều rắc rối cho nên dù quân trường Thủ Đức đã khai giảng một tháng, dám thanh niên già thanh niên trẻ vẫn phải nấn ná chờ ở trại nhâïp ngũ và phút chót được lệnh leo lên xe trực chỉ Thủ Đức.
Quân trường đành phải lập thêm một đại đội nữa tức đại đội 5 và chúng tôi phải tập ngày đêm, không đi phép cuối tuần để theo kịp các đại đội khác.

Đối với người thanh niên bình thường, khi Bộ Quốc Phòng gọi đi lính thì anh ta coi đó là chuyện chấp nhận dĩ nhiên. Trai thời loạn mà!Đằng này, tôi tưởng như trời xập, cực chẳng đã đành chịu nhưng nhưng tìm cách chui rúc an thân.

Sau thời gian 1 tháng học quân sự, đeo súng ôm ba-lô đi bãi, tôi o bế ông trung đội trưởng, nại cớ chân yếu tay mềm xin được ở lại trại lo công tác báo chí, thu dọn văn phòng ,vệ sinh hoặc làm bất cứ chuyện gì riêng tư của ông trung đội trưởng. Như lau xe Vespa, đánh giầy, đóng đồ gỗ…thay vì cùng anh em leo lên đồi 29 đồi 30 học chiến thuật, bắn súng lớn, ném lựu đạn, đốt giây mìn.

Lâu lâu tôi lại kiếm được cái phép đặc biệt về Saigon một hai ngày công tác đặc biệt .

Những ngày không đi bãi, sinh viên sĩ quan học ở lớp hoặc tập thể dục quân sự, hoạc bò chiến thuật, leo giây trong sân trường thì tôi tham gia rất xuất sắc.

Qua ba tháng quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu – tôi nào đã đổ tí mồ hôi nào đâu – sinh viên được chọn ngành đẻ đi binh chủng, binh sở. Binh chủng lớn như Không Quân, Hải Quân. Anh nào ở lại học đến cuối đoạn đường chiến binh là đi bộ binh nữ hoàng của chiến trường . Ngoài binh chủng là binh sở, các sinh viên có thể được đưa về các ngành chuyên môn tùy thuộc khả năng trắc nghiệm.

Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, chả hiểu thi trắc nghiệm làm sao mà tôi đi lính thợ may trong khi bạn tôi Lê Bảo hùng cũng ABC khoanh y chang như tôi thì hắn lại về lính tài xế.

Trong nhà binh có nhiều cái vui nhộn con con làm cho đời lính cũng có chút đậm đà. Anh cu nào về ngành tiếp vận Quân Nhu thì gọi là lính thợ may vì ngành này nổi tiếng có cái xưởng cắt may- Trung Tâm Sản Xuất Quân Trang – sát nách Hải Quân gần nhà thương Đồn Đất. Cậu nào về ngành Quân Vận gọi là lính tài xế. Cậu nào đi Quân Cụ thì gọi là lính già mặc dù ai cũng hiểu ngầm Cụ là dụng cụ máy móc cơ khí súng ống đạn mìn.ø

Thế là thoắt cái, tôi về trường Quân Nhu nằm trong khuôn trại Lê Văn Duyệt tức Biệt Khu Thủ Đô, học chuyên môn mấy tháng.
Cả khóa 9 Quân Nhu thuộc khóa 16 Thủ Đức có lối ba chục tên , cộng với sinh viên Địa Phương Quân hai chục mạng, học trối chết các môn từ gạo đường trà mắm muối, quân trang quân dụng đến sửa chữa dùø, tiếp tế thả dù, mai táng, quân khuyển, xăng nhớt tồn trữ tiếp liệu…

Khóa 9 nút Quân Nhu, hầu hết sinh viên sĩ quan là sinh viên đại học hoặc tốt nghiệp đại học. Chỉ có mình tôi lẹt đẹt tú đơn chả giống ai. Cả cuộc đời đi học tôi đều lêu lổng, chỉ nhờ cóp bài mà lẽo đẽo với bạn bè lên lớp.

Nay biết không thể nhờ cậy vào ai, lại biết thân phận mình yếu thế nên tôi dốc hết tim gan tì phế học hành. Vừa học tôi vừa van vái Phật Trời, A-La cho tôi đậu cao để được lựa chỗ tốt gần Saigon. Hồi đi lính Thủ Đức tôi đã có vợ con rồi, nếu phải đi xa ắt gia đình đìu íu nhiêu khê lắm.

Nhờ dốc lòng cầu nguyện, lại học hành gạo cụ, khi ra trường tôi lãnh cái thủ khoa làm ngơ ngẩn từ thầy đến bạn, xuống cả đến quán cà phê của cô Hồng cô Thúy.

Thế là ô tô ma tích tôi lựa Saigon, mần việc ngay tại Nha Quân Nhu (sau này đổi thành Cục Quân Nhu trong trại Lê-văn-Duyệt).
Với cái lon nửa hạ sĩ quan nửa sĩ quan là lon Chuẩn Úy, tôi làm ở Sở Tiếp Vận, đặc trách nhượng vải và làm việc trong văn phòng Chánh Sở.

Chỉ một thời gian ngắn, tôi lại biết những cú làm tiền ngon lành dễ ợt. Món thứ nhất là nhượng vải cho sĩ quan, loại kaki vàng 15 đồng một thước, mỗi sĩ quan có thể xin nhượng 8 thước để tự thực hiện quân phục.

Tôi ngồi chỗ đó lâu lâu lại lục hồ sơ cũ lấy ra một đơn xin nhượng vải tập thể của đơn vị X,Y,Z nào đó mà tôi đa đề nghị từ chối, tẩy xóa dấu vết cũõ, làm phiếu trình xin chấp rhuận, trình ký rồi đem xuống xưởng may mua vải.

Với số vải của vài chục sĩ quan đem bán ra ngoài thị trường Phú Nhuận, rẻ ra là 80 đồng một thước, vị chi mỗi thước tôi lời 65 đồng. Đem nhân với vài trăm thước kaki, tôi có trên chục ngàn bạc ngon lành, coi như tiền thưởng về sáng kiến độc đáo của mình!
Tôi cứ tưởng như thế là vô tội vạ, vì nhiều ông lớn thông đồng một cách rất khoa học với nhà thầu vải, cơm xáy khô, trà, quân dụng tới cỡ cả vài trăm vài chục triệu đồng thì cái thứ gà quà ăn quẩn cói xay như tôi có bõ bèn gì.

Sau này tôi mới biết, nói riêng về quân nhu thôi nhiều khi người lính bỏ đơn vị không phải vì sợ địch quân- trái lại tinh thần chiến đấu của họ rất vững rất cao – nhưng phải trốn về nhà vì đơn vị đóng ở miền Cà Mâu ruộng đồng bao la, Năm Căn heo hút muỗi sa từng bầy, không có cái mùng để ngủ. Thiếu cái mùng cá nhân chùm đầu, muỗi đốt đau quá chịu không thấu. Hoặc người lính miền cao nguyên, vào những ngày tháng lạnh lẽo thấu xương mà thiếu cái mền thì làm sao chịu nổi?

Những nguyên do thực dản dị nhỏ bé ấy, nếu cấp chỉ huy ý thức được thì cấp nhỏ không bán vải kaki kiếm lời, cấp lớn không làm hao hụt công quỹ, người lính được tiếp tế tạm đầy đủ thì sự chiến đấu còn hăng say tích cực hơn nữa.

Trong hoàn cảnh dù thiếu thốn như thế, lạ thay chỉ có một số rất nhỏ chiến sĩ xuống tinh thần, còn hầu hết đều quyết tâm chế ngự, hy sinh chống kẻ thù cộng sản.

Đất nước nhờ vậy mới có những chiến sĩ can trường dũng cảm anh hùng bảo vệ miền Nam qua những cơn bão tố cuồng phong, khiến cho chính kẻ thù phải khiếp phục và thế giới còn chút lương tâm phải xúc động bàng hoàng.

Ngoài chuyện bán vải, tôi còn đi xin xăng để phát mại nữa. Kho tồn trữ xăng nào cũng dư xăng vì được phép hao hụt bốc hơi của bồn xăng theo một tỉ lệ quy định.

Thực tế, xăng không bốc hơi nhiều như thế nên dơn vị tồn trữ xăng có thể ngoại giao qua lại với anh em, với cád đơn vị bạn để đổi chác loanh quanh.

Tôi thì khác, có xăng là đem đi bán liền tù tì, để lâu nó… bốc hơi cũng phí đi! Mà đơn vị cho chỗ khác, đằng nào rồi xăng cũng đổ vào bình xe hơi, Honda, Vespa xe đò, tầu thủy.

Tôi tự cho thế là tôi vô tội, bởi vì còn bao nhiêu kẻ khác làm chuyện tầy trời như bán thuốc men, bán gạo, bán vũ khí, bán tài liệu cho cộng sản thì chúng mới đắc tội chứ! Nói khơi khơi chẳng ai tin đâu, chỉ khi nào cháy nhà mới ra mặt chuột, lúc ấy mới rõ mật nào là mặt mo, mặt nào mặt thớt hoặc mặt sứa gan lim đã góp sức xô đẩy cả mộït giang sơn gấm vóc vào tay quỷ đỏ.

Nhờ mần việc ngay tại Saigon lại cấm trại liên miên một trăm phần trăm, tôi tiếp tục sách đèn đi thi tú đụp.Số tôi có duyên nợ với trường thi, năm nào cũng ghi tên những mong bảng hổ đề danh mà lận đận mấy keo mới dính. Tôi dính bởi được cóp bài của thí sinh ngồi chung quanh và nhờ tài quay phom số dzách. Có lần giám thị bắt quả tang tôi đang lục tài liệu gầm bàn nhưng ông lắc đầu tảng lờ bỏ qua.Tôi đoán là ông thấy tôi mặc quân phục cũng ngán, e tôi thù hận cho nhát dao cái búa thì khốn. Cũng có thể ông ấy thấy tôi già đầu còn mài đũng quần chốn trường thi thì cũng thương hại. Hoặc ông thấy cái bộ mặt hiền lành chất phác thật thà nên cũng tha cho làm phúc.

Aáy chính mấy cái đứa thật thà lại là cha quỷ quái. Như tôi đây chẳng hạn.

Qua dăm phùa vác bút đi thi, tôi như cá vượt vũ môn, lò dò vào ngưỡng cửa đại học luật khoa, học đại cho có cái tít sinh viên lả lướt với đời.


Mặc dù lên quan, tôi vẫn ở căn nhà ngoại ô khu vực Đồng Ông Cộ bên Gia Định. Khu này nửa tỉnh nửa quê, vừa có điện có ti-vi vừa có vườn rau xanh ngắt một mầu, , có tre xanh ao cá. Với số lương nhà binh ít ỏi mà giá sinh hoạt gia tăng, tôi tiết kiệm ngân quỹ gia đình bằng cách xử dụng điện bất hợp pháp. Dùng cái sào dài, tôi gắn một đầu vào điện còn một đầøu giây xuống ao khiến cá bị điện giật nằm phơi bụng tênh hênh, vớt đem về nấu canh chua cá kho tộ.

Đứa trẻ hàng xóm thấy tôi làm ngon lành cũng bắt chước, chẳng may mó vào điện cao thế bị giật chết tươi.

Chưa bắt được cá nó đã nằm ngay đơ tại chỗ. Tôi cảm thấy áy náy lương tâm mất mấy tiếng đồng hồ, cho rằng vì mình đầu têu mà thằng bé bắt chước nên thiệt mạng.Sau tôi tự an ủi rằng nó làm nó chịu, mình đâu có súi dục nó đâu nào.
Lương tâm tôi lại êm ru bà rù như không có gì phiền muộn.

Trong nhà, tôi mua được cái máy lạnh cũ nửa ngựa còn tốt nguyên. Tiền điện cho cái máy này sơ sơ cũng phải hơn chục ngàn mỗi tháng, sức voi mới chịu nổi. Thế là tôi biến chế, lấy điện đường câu thẳng vào máy, không qua đồng hồ điện. Chạy điện chùa thả dàn, chả mất xu nào xất cả.

Tối nằm máy lạnh, coi ti-vi đài tàng hình số 9, ngó cậu Hùng Cường mí lị mợ Mai Lệ Huyền lắc lư con tầu đi, song ca kích động; ngắm mợ Thanh Lan nũng nịu dễ thương giọng hát ngọt ngào rồi theo dõi Tùng Lâm – Xuân Phát chọc cười bể bụng; nhìn cậu Nhật Trường áo tây vắt vai lừng khừng trong tiéng ca bay bướm; thích thú coi ban AVT khăn đóng áo dài trình diễn độc đáo tài tình; ru hồn vào cõi mộng theo tiếng hát Thái Thanh mê ly tuyệt vời bay bổng…

Tôi đã chảng thấy chút nào lầm lỗi băn khoăn mà còn tự coi như cuộc đời vừa qua mấy nỗi gian truân, nay là lúc được quyền hưởng thụ đôi chút thanh bình hạnh phúc.

Cho dù đêm đêm bừng giấc, vẫn nghe vọng về tiếng súng xa xa…

Đôi lúc, từ căn nhà ngoại ô Đồng Ông Cộ nhìn về phía Thủ Đức Biên Hòa có những đóm mắt hỏa châu chập chờn soi sáng, tôi lại bâng khuâng nhớ đến số phận hẩm hiu của đất nước mình.

Đất nước nằm bên bờ đại dương hình cong chữ S mà sao nom trên bản đồ tôi cứ thấy hiện lên chữ SOS. Chữ S đầu tiên là ranh giới giữa ta với Lào và Cao Miên. Chữ O là hình thể đảo Hải Nam nằm ngang với Thanh Hóa, Vinh, Hà Tĩnh. Chữ S sau cùng nằm ven Nam Hải sóng nước bao la.

Đất nước tôi vì thế nên lúc nào cũng ở trong tình trạng báo động giới nghiêm, thiết quân luật, lúc nào cũng khẩn trương nguy cấp.

Mà nhìn kỹ có thấy gì là gây hấn, chiến chinh?

Cảnh là cảnh đẹp như vịnh Hạ Long, hồ Hoàn Kiếm, Hương Giang, Ngự Bình, Ngũ Hành Sơn, Cam Ranh, Nha Trang, Dalat, Vũng Tầu, Cửu Long, Tiền Giang, Hậu Giang, Hà Tiên, Phú Quốc.

Địa danh nào cũng mang những tên hiền hòa phúc hậu nhu mì như :Hòa Bình, Hưng Yên, Kiến An, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Trị, , Phước Long, An Lộc, Phú Cường, Biên Hòa, Vĩnh Long, Bình Long, Bình Tuy, Bình Giả.

Còn nói về con người thì người nào cũng có cái tên nhẹ nhàng ý nghĩa từ Hán tự, kinh điển, danh nhân như: Xuân, Hạ, Thu, Đông, Mai, Lan, Cúc, Trúc, Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh, Giáng hương, Hằng Nga, Bích ngọc, Vân Kiều, Nguyệt Nga, Thủy Tiên, Mai Hoa, Quý Phi, Hồ điệp v.v…

Cảnh là cảnh đẹp, tên là tên xinh, đất là đất lành chim đậu. Ấy thế mà mấy ngàn năm dựng nước, lịch sử đã ghi biết bao nhiêu tang thương ngẫu lục rối bời.

Theo cái đà ấy, đến lượt tôi cũng tiếp tục trôi theo vận nước điêu linh thống khổ, gần hết cuộc đời lớn lên và sống trong chiến tranh.

Xưa kia thì ngoại bang cai trị đàn áp, ngày nay thì chủ nghĩa vô thần ác quỷ hiện hình người, reo rắc đau thương làm cả nước bị đọa đầy.

Nên giữa những cánh đồng bao la thơm mùi lúa chín lại có thêm những vòng giây kẽm gai quanh đồn phòng ngự. Nên bên cạnh những bà mẹ già tóc bạc phơ lại có những người vợ trẻ đầu quấn khăn tang bồng con thơ dại. Nên những nấm mồ phủ cờ vàng ba sọc đỏ lại nối tiếp nhau trong nghĩa trang bốn vùng chiến thuật.

Ngành Quân Nhu của chúng tôi chẳng những lo nhu cầu ăn mặc, xăng nhớt cho quân nhân mà lại còn phụ trách cả vấn đề chung sự.
Khi người lính giã từ vũ khí mà không về nhà thì rủ nhau vào nằm nghĩa trang yên tĩnh nghỉ ngơi. Ở đó có đủ cấp bậc từ tướng đến tá, đến úy, đến hạ sĩ quan, đến lính. Ở đó có đủ tôn giáo họp mặt như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo. Ở đó có đủ huy chương, từ Bảo quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh đến Quân Phong, Quân Vụ. Ở đó, tôi có nhiều bạn bè nằm xuống hồn nhiên, lặng lẽ, thanh thản.

Khi những ngọn nến hắt hiu rồi tàn lụi, những nén nhang nghi ngút xong tắt ngúm, những tiếng khóc nức nở thê thảm gào thét chìm dần trôi theo đất cát xuống nắp quan tài… thì còn lại chỉ người nằm xuống bạn bè cùng mưa gió, với trăng sao, với tiếng nỉ non côn trùng rên rỉ…

Tôi thường có công tác ở những chốn vui buồn. Vui nhiều như đám hỏi đám cưới, vui vừa như đám tiệc đám ăn, vui ít như đám giỗ đám chạp. Còn chỗ buồn ít như nhà thương, buồn nhiều như …nhà xác.

Trong các chốn buồn vui như thế, tôi thỉnh thoảng được đến thăm chỗ buồn nhiều. Nơi nghĩa trang có đủ những nét đậm đen đau xót đó.

Chỉ ở nơi ấy tôi mới được dịp gần gũi với chính tôi, kiểm điểm xem mình đã làm được gì để đỡ mang tội với chiến hữu.

Những lúc nghe tiếng khóc ngất của gia đình tử sĩ, tiếng trẻ thơ khóc vòi ngủ vòi ăn, tiếng kèn vĩnh biệt ngân xa thăm thẳm, tôi cũng thấy ngậm ngùi không ngăn nổi dòng nước mắt. Nước mắt tôi xót thương kẻ ở người đi một mạch đã đành mà cũng là nước mắt một kẻ ăn năn hối hận về những tội của mình.

Khi nghĩa trang Gò Vấp đã đầy đủ quân số, chúng tôi có thêm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nằm bên xa lộ, trên ngọn đồi cao thênh thang mây trời bát ngát. Nơi đây dẫu là nơi nghỉ bình yên của những chiến sĩ quả cảm can trường vẫn có những cặp tình nhân sinh viên, những đôi lứa trẻ măng dìu nhau thủ thỉ qua lối mòn uốn quanh vòng ốc trên đồi.

Có những ngôi mộ cỏ mọc xanh rì, mộ bia cũ kỹ. Có những nấm mồ trồng hoa trải đá bao quanh, với mộ bia khắc ghi họ tên, ngày tháng năm sinh, năm tử trận.

Dân tộc tôi là một dân tộc thi sĩ, mỗi người là một thi sĩ thật không ngoa. Ngay cả đến lúc đau khổ tột cùng, ta vẫn có thơ văn để bầy tỏ khúc đoạn trường.

Trên một bia mộ đá, tôi đọc thấy hai câu thơ này:

Chàng vui tiên cảnh đà an phận
Thiếp với năm con luống ngậm ngùi…
Qua một bia mộ khác, tôi thấy:

Sống làm chiến sĩ anh hùng
Chết coi nhẹ tựa lông hồng phù du…

Ôi cha! Một dân tộc thi sĩ, hồn thơ bay bướm lả lướt như thế mà chịu cảnh địa ngục trần gian, phải làm thơ phúng điếu thay lời!
Tôi có mấy người bạn học cũ từ thời tiểu học, khi nhớn lên chúng nó ca bài Ta đi tòng quân: Nguyễn-trọng-Quyền tức Quyền thịt quay vì nhà nó có tiệm thịt quay, đi lính đóng tới quan ba, quanh năm lùng giặc mạn Kiến Hòa, mặt mày đen như củ súng. Hơn chục năm không gặp nhau, đùng một cái lúc gặp thì nó chả thèm nói câu nào.Tôi đứng canh xác nó tại Nghĩa Trang Quân đội, phủ lá cờ tổ quốc ghi ơn và đưa nó vào lòng đất mẹ.

Thằng cháu tôi đi lính tầu bay đeo lon trung úy, trong một chuyến bay bão bùng, thân tầu va vào núi tan tành. Xác nó tả tơi đâu đó, quân đội chỉ còn dăm ba kỷ vật gói ghém bỏ vào quan tài để thân nhân chôn cất. Tôi biết linh hồn nó quanh quất với gia đình. Nấm mộ trên nghĩa trang đã được ba nó, thầy học cũ và tôi chở gạch cát xi măng xây cho đẹp đẽ, trồng hoa giấy, dọn dẹp tinh tươm.

Nó mới ngoài hai mươi, chỉ một lần yêu thì người con gái lại đa tình bay sang cành khác. Nên ba năm tình lận đận, lúc chết vẫn cứ yên chí rằng người yêu vẫn đợi vẫn chờ: Nguyễn-Ngọc-Sơn! Thế cũng là định mệnh.

Lại có thằng bạn chọc trời khuấy nước đi võ bị Dalat năm 1953 mà cấp bậc khi thăng lúc giáng lúc huề, chỉ vì ba gai lả lướt với đào. Nhưng mà đánh trận thì nó chì lắm. Nhưnõg ngày cuối cùng của tháng Tư đen, nghe nói nó tử thủ Long Khánh, đánh cộng sản rất tới , giữ chiến tuyến vững như bàn thạch. Chả hiểu mô tê làm sao, bom đạn bị hạn chế, máy bay bị hạn chế để cho quân cộng sản tràn vào phòng tuyến. Trung Tá Lê-Quang-Đình tiểu khu phó Long Khánh ở lại với anh em chiến đáu tới cùng. Và nó đã đền xong nợ nước tại chiến trường Xuân Lộc. Tôi không tin rằng xác nó được đưa về nghĩa trang vào giây phút dầu sôi lửa bỏng đó nhưng chắc chắn linh hồn nó đã cùng đồng ngũ rủ nhau về tề tựu nghĩa trang như một điểm hẹn hò.

Chú em tôi Trần Kính Trực, sĩ quan pháo binh Long An đi trận đạp phải mìn, đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa thì tắt thở. Nó từng rót vào đầu cộng sản những cú trọng pháo nẩy tung người. Ngày nó từ bỏ anh em đơn vị một mình thơ thẩn nghĩa trang, đôi dịp đi công tác tôi cũng ghé thăm chốc lát, thắp cho nó một nén nhang, thì thầm với nó dăm câu tâm sự. Rồi lại âm dương cách biệt, hai ngả phong trần.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn -văn-Bình đi lính với tôi từ hồi ở Banmethuot Đệ Tứ Quân Khu, làm Phòng 5 văn nghệ báo chí điện ảnh.
Sau Nguyễn-Văn-Bình về Saigon làm chuyên viên quay phim, cấp bậc Chuẩn Úy già. Ngày chiến cuộc Bình Long tử thủ, cả thế giới theo dõi chiến công của Quân Lực Việt nam Cộng Hòa anh hùng quả cảm, ít ai dám mò vào vùng đạn bay mìn nổ thì Nguyễn-văn-Bình leo lên trực thăng xông pha nơi trận địa mịt mù thuốc súng với hy vọng quay được những hình ảnh sống động lẫy lừng.
Hắn từng bay đến nhiều chiến trường để làm nhiệm vụ nhưng lần này là lần chót. Nó gẫy cánh trên đường vào An Lộc, chết trong sự tình cờ tuy chẳng dám chờ mong mà như vẫn theo vẫn đợi.

Nơi nghĩa trang nó được phủ quốc kỳ, được truy tặng huân chương, được anh em thương xót tiễn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Từ đó nó miễn phải đeo máy quay hình, ôm ba lô phim ảnh, miễn công tác tạp dịch. Miền thảnh thơi thoát tục ấy, nó gặp lại bằng hữu cũ đã một thời xả thân gìn giữ từng tấc đất quê hương, từng cây cầu, từng con sông, từng mái nhà, từng thửa ruộng…
Nó sẽ có dịp cùng bạn bè ôn lại biết bao nhiêu chiến tích hào hùng của cổ thành Quảng Trị, Khe Sanh, Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Kontum, An Lộc, Hạ Lào…

Trong mấy mươi năm chiến đấu, những ai còn ai khuất, ai được đặc cách thăng thưởng tại mặt trận, ai được huy chương truy thăng trước linh vị u hoài! Lúc sống nó không cô đơn, đến khi giã biệt nó vẫn có nơi bù khú.

Chỗ họp mặt ấy là Nghĩa Trang Quân Đội.

Ngày tôi ở lính, nhiều ông lớn có tài sản riêng nghe mà phát hãi. Trên Dalat, vùng Chi Lăng mọc lên những ngôi biệt thự xây cất kiên cố, đắt tiền. Nhưng nhờ thợ nhà binh, dụng cụ nhà binh nên cũng đỡ tốn kém.

Nhìn các biệt thự ấy, phần lớn tôi thấy ánh sao lấp lánh rạng ngời, mai bạc lung linh.

Khu vực bao quanh hồ Xuân Hương chỉnh trang theo họa đồ thiết kế, không ai được xây cất làm nhà làm cửa gì cả, chỉ sau thời tổng thống Ngô-Đình-Diệm đã mọc lên lác đác dinh cơ mái đỏ ven đồi, cũng lập lòe sao sáng.

Từ đó suy ra thì các nơi như Huế, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Nẵng, Vũng Tầu, Saigon , Cần Thơ…đều phác họa phương thức như nhau hết cả.

Trong đám bạn, có đứa rủ mua đất mạn Lái Thiêu để làm nhà, đào ao thả cá, trồng cây cảnh, ngâm thơ đọc sách. Tôi không nghĩ xa xôi, một mực lắc đầu để có thời giờ ăn chơi cho đã.

Trên Dalat, ông anh làm tòa thị chính lâu năm, xin được đất trung tâm thị xã, rủ chú em làm dăm căn cho thuê, một căn dành nghỉ mát, tôi vái dài vì muốn dành chút tiền kiếm chác áp phe buôn bán mau ăn hơn.

Mà thật tình tôi chẳng ham gì nhà cửa dinh thự tít mãi cao nguyên, cũng chẳng ưa cảnh nhàn du trầm tư mặc tưởng. Tôi cũng không phải lo gì về đất cát mai sau.

Vì tôi biết một ngày nào đó hai tay buông xuôi, chuyện đất đai của tôi sẽ có nơi lo liệu, là nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội được gần gũi với anh em bạn bè, với những chiến sĩ vô danh, với cây cỏ trời mây, với gió mát trăng thanh hiền hòa êm ả!

Đó là mảnh đất tôi yêu nhất, như một vinh dự cuối cùng của người lính tiếp vận có gần mười năm quân vụ, tuy rời tập thể mà hình ảnh quân kỳ, tình chiến hữu mãi còn đậm đà, tha thiết, yêu thương. Mảnh đất nhỏ bé ấy, tôi vẫn xót xa một đời hoài vọng…

Đôi lúc, từ căn nhà ngoại ô Đồng Ông Cộ nhìn về phía Thủ Đức Biên Hòa có những đóm mắt hỏa châu chập chờn soi sáng, tôi lại bâng khuâng nhớ đến số phận hẩm hiu của đất nước mình.

Đất nước nằm bên bờ đại dương hình cong chữ S mà sao nom trên bản đồ tôi cứ thấy hiện lên chữ SOS. Chữ S đầu tiên là ranh giới giữa ta với Lào và Cao Miên. Chữ O là hình thể đảo Hải Nam nằm ngang với Thanh Hóa, Vinh, Hà Tĩnh. Chữ S sau cùng nằm ven Nam Hải sóng nước bao la.

Đất nước tôi vì thế nên lúc nào cũng ở trong tình trạng báo động giới nghiêm, thiết quân luật, lúc nào cũng khẩn trương nguy cấp.

Mà nhìn kỹ có thấy gì là gây hấn, chiến chinh?

Cảnh là cảnh đẹp như vịnh Hạ Long, hồ Hoàn Kiếm, Hương Giang, Ngự Bình, Ngũ Hành Sơn, Cam Ranh, Nha Trang, Dalat, Vũng Tầu, Cửu Long, Tiền Giang, Hậu Giang, Hà Tiên, Phú Quốc.

Địa danh nào cũng mang những tên hiền hòa phúc hậu nhu mì như :Hòa Bình, Hưng Yên, Kiến An, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Trị, , Phước Long, An Lộc, Phú Cường, Biên Hòa, Vĩnh Long, Bình Long, Bình Tuy, Bình Giả.

Còn nói về con người thì người nào cũng có cái tên nhẹ nhàng ý nghĩa từ Hán tự, kinh điển, danh nhân như: Xuân, Hạ, Thu, Đông, Mai, Lan, Cúc, Trúc, Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh, Giáng hương, Hằng Nga, Bích ngọc, Vân Kiều, Nguyệt Nga, Thủy Tiên, Mai Hoa, Quý Phi, Hồ điệp v.v…

Cảnh là cảnh đẹp, tên là tên xinh, đất là đất lành chim đậu. Ấy thế mà mấy ngàn năm dựng nước, lịch sử đã ghi biết bao nhiêu tang thương ngẫu lục rối bời.

Theo cái đà ấy, đến lượt tôi cũng tiếp tục trôi theo vận nước điêu linh thống khổ, gần hết cuộc đời lớn lên và sống trong chiến tranh.

Xưa kia thì ngoại bang cai trị đàn áp, ngày nay thì chủ nghĩa vô thần ác quỷ hiện hình người, reo rắc đau thương làm cả nước bị đọa đầy.

Nên giữa những cánh đồng bao la thơm mùi lúa chín lại có thêm những vòng giây kẽm gai quanh đồn phòng ngự. Nên bên cạnh những bà mẹ già tóc bạc phơ lại có những người vợ trẻ đầu quấn khăn tang bồng con thơ dại. Nên những nấm mồ phủ cờ vàng ba sọc đỏ lại nối tiếp nhau trong nghĩa trang bốn vùng chiến thuật.

Ngành Quân Nhu của chúng tôi chẳng những lo nhu cầu ăn mặc, xăng nhớt cho quân nhân mà lại còn phụ trách cả vấn đề chung sự.
Khi người lính giã từ vũ khí mà không về nhà thì rủ nhau vào nằm nghĩa trang yên tĩnh nghỉ ngơi. Ở đó có đủ cấp bậc từ tướng đến tá, đến úy, đến hạ sĩ quan, đến lính. Ở đó có đủ tôn giáo họp mặt như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo. Ở đó có đủ huy chương, từ Bảo quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh đến Quân Phong, Quân Vụ. Ở đó, tôi có nhiều bạn bè nằm xuống hồn nhiên, lặng lẽ, thanh thản.

Khi những ngọn nến hắt hiu rồi tàn lụi, những nén nhang nghi ngút xong tắt ngúm, những tiếng khóc nức nở thê thảm gào thét chìm dần trôi theo đất cát xuống nắp quan tài… thì còn lại chỉ người nằm xuống bạn bè cùng mưa gió, với trăng sao, với tiếng nỉ non côn trùng rên rỉ…

Tôi thường có công tác ở những chốn vui buồn. Vui nhiều như đám hỏi đám cưới, vui vừa như đám tiệc đám ăn, vui ít như đám giỗ đám chạp. Còn chỗ buồn ít như nhà thương, buồn nhiều như …nhà xác.

Trong các chốn buồn vui như thế, tôi thỉnh thoảng được đến thăm chỗ buồn nhiều. Nơi nghĩa trang có đủ những nét đậm đen đau xót đó.

Chỉ ở nơi ấy tôi mới được dịp gần gũi với chính tôi, kiểm điểm xem mình đã làm được gì để đỡ mang tội với chiến hữu.

Những lúc nghe tiếng khóc ngất của gia đình tử sĩ, tiếng trẻ thơ khóc vòi ngủ vòi ăn, tiếng kèn vĩnh biệt ngân xa thăm thẳm, tôi cũng thấy ngậm ngùi không ngăn nổi dòng nước mắt. Nước mắt tôi xót thương kẻ ở người đi một mạch đã đành mà cũng là nước mắt một kẻ ăn năn hối hận về những tội của mình.

Khi nghĩa trang Gò Vấp đã đầy đủ quân số, chúng tôi có thêm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nằm bên xa lộ, trên ngọn đồi cao thênh thang mây trời bát ngát. Nơi đây dẫu là nơi nghỉ bình yên của những chiến sĩ quả cảm can trường vẫn có những cặp tình nhân sinh viên, những đôi lứa trẻ măng dìu nhau thủ thỉ qua lối mòn uốn quanh vòng ốc trên đồi.

Có những ngôi mộ cỏ mọc xanh rì, mộ bia cũ kỹ. Có những nấm mồ trồng hoa trải đá bao quanh, với mộ bia khắc ghi họ tên, ngày tháng năm sinh, năm tử trận.

Dân tộc tôi là một dân tộc thi sĩ, mỗi người là một thi sĩ thật không ngoa. Ngay cả đến lúc đau khổ tột cùng, ta vẫn có thơ văn để bầy tỏ khúc đoạn trường.

Trên một bia mộ đá, tôi đọc thấy hai câu thơ này:

Chàng vui tiên cảnh đà an phận
Thiếp với năm con luống ngậm ngùi…
Qua một bia mộ khác, tôi thấy:

Sống làm chiến sĩ anh hùng
Chết coi nhẹ tựa lông hồng phù du…

Ôi cha! Một dân tộc thi sĩ, hồn thơ bay bướm lả lướt như thế mà chịu cảnh địa ngục trần gian, phải làm thơ phúng điếu thay lời!
Tôi có mấy người bạn học cũ từ thời tiểu học, khi nhớn lên chúng nó ca bài Ta đi tòng quân: Nguyễn-trọng-Quyền tức Quyền thịt quay vì nhà nó có tiệm thịt quay, đi lính đóng tới quan ba, quanh năm lùng giặc mạn Kiến Hòa, mặt mày đen như củ súng. Hơn chục năm không gặp nhau, đùng một cái lúc gặp thì nó chả thèm nói câu nào.Tôi đứng canh xác nó tại Nghĩa Trang Quân đội, phủ lá cờ tổ quốc ghi ơn và đưa nó vào lòng đất mẹ.

Thằng cháu tôi đi lính tầu bay đeo lon trung úy, trong một chuyến bay bão bùng, thân tầu va vào núi tan tành. Xác nó tả tơi đâu đó, quân đội chỉ còn dăm ba kỷ vật gói ghém bỏ vào quan tài để thân nhân chôn cất. Tôi biết linh hồn nó quanh quất với gia đình. Nấm mộ trên nghĩa trang đã được ba nó, thầy học cũ và tôi chở gạch cát xi măng xây cho đẹp đẽ, trồng hoa giấy, dọn dẹp tinh tươm.

Nó mới ngoài hai mươi, chỉ một lần yêu thì người con gái lại đa tình bay sang cành khác. Nên ba năm tình lận đận, lúc chết vẫn cứ yên chí rằng người yêu vẫn đợi vẫn chờ: Nguyễn-Ngọc-Sơn! Thế cũng là định mệnh.

Lại có thằng bạn chọc trời khuấy nước đi võ bị Dalat năm 1953 mà cấp bậc khi thăng lúc giáng lúc huề, chỉ vì ba gai lả lướt với đào. Nhưng mà đánh trận thì nó chì lắm. Nhưnõg ngày cuối cùng của tháng Tư đen, nghe nói nó tử thủ Long Khánh, đánh cộng sản rất tới , giữ chiến tuyến vững như bàn thạch. Chả hiểu mô tê làm sao, bom đạn bị hạn chế, máy bay bị hạn chế để cho quân cộng sản tràn vào phòng tuyến. Trung Tá Lê-Quang-Đình tiểu khu phó Long Khánh ở lại với anh em chiến đáu tới cùng. Và nó đã đền xong nợ nước tại chiến trường Xuân Lộc. Tôi không tin rằng xác nó được đưa về nghĩa trang vào giây phút dầu sôi lửa bỏng đó nhưng chắc chắn linh hồn nó đã cùng đồng ngũ rủ nhau về tề tựu nghĩa trang như một điểm hẹn hò.

Chú em tôi Trần Kính Trực, sĩ quan pháo binh Long An đi trận đạp phải mìn, đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa thì tắt thở. Nó từng rót vào đầu cộng sản những cú trọng pháo nẩy tung người. Ngày nó từ bỏ anh em đơn vị một mình thơ thẩn nghĩa trang, đôi dịp đi công tác tôi cũng ghé thăm chốc lát, thắp cho nó một nén nhang, thì thầm với nó dăm câu tâm sự. Rồi lại âm dương cách biệt, hai ngả phong trần.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn -văn-Bình đi lính với tôi từ hồi ở Banmethuot Đệ Tứ Quân Khu, làm Phòng 5 văn nghệ báo chí điện ảnh.
Sau Nguyễn-Văn-Bình về Saigon làm chuyên viên quay phim, cấp bậc Chuẩn Úy già. Ngày chiến cuộc Bình Long tử thủ, cả thế giới theo dõi chiến công của Quân Lực Việt nam Cộng Hòa anh hùng quả cảm, ít ai dám mò vào vùng đạn bay mìn nổ thì Nguyễn-văn-Bình leo lên trực thăng xông pha nơi trận địa mịt mù thuốc súng với hy vọng quay được những hình ảnh sống động lẫy lừng.
Hắn từng bay đến nhiều chiến trường để làm nhiệm vụ nhưng lần này là lần chót. Nó gẫy cánh trên đường vào An Lộc, chết trong sự tình cờ tuy chẳng dám chờ mong mà như vẫn theo vẫn đợi.

Nơi nghĩa trang nó được phủ quốc kỳ, được truy tặng huân chương, được anh em thương xót tiễn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Từ đó nó miễn phải đeo máy quay hình, ôm ba lô phim ảnh, miễn công tác tạp dịch. Miền thảnh thơi thoát tục ấy, nó gặp lại bằng hữu cũ đã một thời xả thân gìn giữ từng tấc đất quê hương, từng cây cầu, từng con sông, từng mái nhà, từng thửa ruộng…
Nó sẽ có dịp cùng bạn bè ôn lại biết bao nhiêu chiến tích hào hùng của cổ thành Quảng Trị, Khe Sanh, Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Kontum, An Lộc, Hạ Lào…

Trong mấy mươi năm chiến đấu, những ai còn ai khuất, ai được đặc cách thăng thưởng tại mặt trận, ai được huy chương truy thăng trước linh vị u hoài! Lúc sống nó không cô đơn, đến khi giã biệt nó vẫn có nơi bù khú.

Chỗ họp mặt ấy là Nghĩa Trang Quân Đội.

Ngày tôi ở lính, nhiều ông lớn có tài sản riêng nghe mà phát hãi. Trên Dalat, vùng Chi Lăng mọc lên những ngôi biệt thự xây cất kiên cố, đắt tiền. Nhưng nhờ thợ nhà binh, dụng cụ nhà binh nên cũng đỡ tốn kém.

Nhìn các biệt thự ấy, phần lớn tôi thấy ánh sao lấp lánh rạng ngời, mai bạc lung linh.

Khu vực bao quanh hồ Xuân Hương chỉnh trang theo họa đồ thiết kế, không ai được xây cất làm nhà làm cửa gì cả, chỉ sau thời tổng thống Ngô-Đình-Diệm đã mọc lên lác đác dinh cơ mái đỏ ven đồi, cũng lập lòe sao sáng.

Từ đó suy ra thì các nơi như Huế, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Nẵng, Vũng Tầu, Saigon , Cần Thơ…đều phác họa phương thức như nhau hết cả.

Trong đám bạn, có đứa rủ mua đất mạn Lái Thiêu để làm nhà, đào ao thả cá, trồng cây cảnh, ngâm thơ đọc sách. Tôi không nghĩ xa xôi, một mực lắc đầu để có thời giờ ăn chơi cho đã.

Trên Dalat, ông anh làm tòa thị chính lâu năm, xin được đất trung tâm thị xã, rủ chú em làm dăm căn cho thuê, một căn dành nghỉ mát, tôi vái dài vì muốn dành chút tiền kiếm chác áp phe buôn bán mau ăn hơn.

Mà thật tình tôi chẳng ham gì nhà cửa dinh thự tít mãi cao nguyên, cũng chẳng ưa cảnh nhàn du trầm tư mặc tưởng. Tôi cũng không phải lo gì về đất cát mai sau.

Vì tôi biết một ngày nào đó hai tay buông xuôi, chuyện đất đai của tôi sẽ có nơi lo liệu, là nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội được gần gũi với anh em bạn bè, với những chiến sĩ vô danh, với cây cỏ trời mây, với gió mát trăng thanh hiền hòa êm ả!

Đó là mảnh đất tôi yêu nhất, như một vinh dự cuối cùng của người lính tiếp vận có gần mười năm quân vụ, tuy rời tập thể mà hình ảnh quân kỳ, tình chiến hữu mãi còn đậm đà, tha thiết, yêu thương. Mảnh đất nhỏ bé ấy, tôi vẫn xót xa một đời hoài vọng…

Giống như phần đông mọi người, tôi tin rằng mỗi người có một định mệnh. Định mệnh ấy có thể so sánh tựa cái sự vụ lệnh hoặc nghị định, trong đó đánh máy sẵn tên tuổi, số quân, nơi tùng sự, nơi đáo nhận nhiệm sở mới. Một khi giấy tờ đã ký rồi thì ta cứ thế mà thi hành. Cụ thể như thế.

Nhưng thực tế, cuộc đời ta đôi khi hoặc lắm lúc đổi thay do chính ta lèo lái với ý hướng tốt đi lên, thì lời bàn về định mệnh lại có lối thoát để bảo rằng Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều để chứng minh cho cái thiện tâm cũng cảm được ý trời.

Cái sự vụ lệnh hoặc nghị định của định mệnh đời ta có điều hơi khác là nó không nằm trong hồ sơ Tổng Nha Công Vụ, không có sẵn trong sở làm hoặc trao tận tay ta khi mới ra đời.

Giấy tờ ấy nằm ở đâu, ta không biết nữa. Chỉ khi nào ứng nghiệm mới thấy đó là số phần dành cho riêng ta, không làm sao khác hơn được. Và như vậy là ta phải chấp nhận , coi như định mệnh đã an bài.

***

Hồi mới sinh ra đời, tôi đã được ông nội lấy cho lá số tử vi, tuổi tuất, dương nam, thủy nhị cục, tuần triệt đóng ở cung tài. Các cung khác như mệnh, thân, bào, phối, tử, ách, di, nô, quan, điền, phúc chả có cung nào đẹp. Các sao chạy loạn cào cào, thiếu hụt lung tung. Tôi chỉ còn nhớ được hai câu thơ kết luận:

Số này kể cũng thông minh
Để cho bia đá lấp hình dị nhân

Thuở ấu thơ, tôi có cái thông minh để ăn gian nói dối, trốn học, trốn nhà, dối thầy, lừa bạn. Lớn lên học hành tôi cũng có cái thông minh để cóp bài, nịnh nọt mấy thằng ngồi bên cạnh để nó cho chép toán lý hóa. Khi vào lính, tôi áp dụng cái thông minh để trốn tập họp, điểm danh, chào cờ, canh gác, tuần tiễu hầu kiếm chác loanh quanh.

Lúc về dân sự, tôi mang cái thông minh chạy chọt cấp trên, luồn lụy để được thường xuyên ở Saigon, làm ăn rỉ rả.

Quả nhiên là tôi thông minh, nếu không làm sao sống phây phây giữa chợ đời. Còn như cái câu Để cho bia đá lấp hình dị nhân thì tôi đành chịu, không hiểu nổi cái gì là bia đá, thế nào là dị nhân nên cứ canh cánh bên lòng niềm riêng khôn tả.

Kịp đến khi làm Phủ Thủ Tướng, sớm tối hầu cận đại nhân, đôi lúc tôi cũng cảm thấy như chính mình là một ông lớn của trào đình. Chả thế mà đi tới đâu cũng tiền hô hậu ủng, tiệc tùng đãi đằng long trọng, các cấp địa phương răm rắp nghe theo.

Mãi sau, tình cờ đọc truyện anh đánh xe ngựa cho quan tể tướng, mới vỡ lẽ thiên hạ ngả nón nghiêng mình khi xe anh đi qua là họ chào ngài tể tướng chứ có ai thèm đếm xỉa gì đến anh phu xe vênh vang tự đắc, tôi mới vỡ mộng thiên đường quyền quý công danh.

Nhưng mà lòng riêng vẫn cứ chập chờn vinh hoa ảo ảnh.

Vào thời tôi, chiến tranh bom đạn tùm lum, quê hương tả tơi rách nát và lòng người cũng ly tán hãi hùng.

Thiên hạ chả biết tin vào ai, mới bèn đi hỏi thăm tương lai, định mạng mình qua các nhà bói toán, tử vi, tướng học. Nên các nhà chuyên môn coi chỉ tay,bài tây, bói dịch, địa lý… được tôn sùng như những bậc thầy, như những người nắm vận mệnh quốc gia.
Tôi là kẻ suốt đời cái gì cũng bán tín bán nghi, không bao giờ có lòng tin vững chắc, thấy người ta đi dò hỏi tương lai, tôi cũng tập tành bắt chước xem số kiếp mình như thế nào.

Nếu các thầy đoán trúng phóc quá khứ hiện tại, ắt hẳn đoán tương lai là đúng. Nghĩ như thế, tôi bắt đầu bước vào thế giới huyền bí của trăng sao, của tướng pháp chỉ tay, của địa lý nhân văn, của cơ man là mênh mông kỳ ảo.


Nhớ hồi trước khi đi Thủ Đức, tôi lại chợ Phú Nhuận leo lên gác lửng Cô Ba nhờ coi một quẻ bài tây xem chuyến này có phải ca bài Ta đi tòng quân không. Bà thầy coi bài quả quyết rằng tôi có số làm quan, phen này đi lính là:

Cá to đâu chịu ở ngòi
Người khôn đâu chịu ở nơi hang cùng…

Tôi đã rầu rĩ muốn chết, lại nghe thơ văn như thế, lấy làm buồn thảm lắm. Cũng đành trôi theo định mạng.

Quả nhiên tôi đi lính, lên quan, tương lai lấp ló cuối nẻo đường hầm. Bi giờ thử vài keo nữa xem tương lai nó đi về đâu.

May mắn, tôi quen với ông bạn già có hơn 30 năm kinh nghiệm tử vi, coi tôi như em út nên dọc kỹ lá số, coi lại giờ sinh, ngày sinh cho thiệt đúng với hình dạng rồi phán ngay rằng cái số tôi là đang lên đấy chứ chẳng phải vừa đâu.

Để tái phối kiểm và lượng giá các tài đoán số, ông bạn già này lôi tôi đi tới một số thầy khác nhờ coi dùm xem chú em nó lên tới đâu.

Thoạt tiên, chúng tôi mon men lại tư gia của cụ Diễn ở đường Hiền Vương, khu Đa Kao. Muốn gặp cụ hơi khó, có khi chờ cả tháng, có khi được hẹn ngong ngóng mấy tiếng đồng hồ chầu trực cụ mới tiếp. Khách khứa củc cụ từ hàng bình dân tới hạng cực kỳ cao sang quyền quý.

Lần tôi được diện kiến, cụ nhìn dung nhan mùa hạ vài phút rồi phán rằng số tôi mọi sự bình thường. Chỉ có vậy thôi. Tôi đâm ra thất vọng. Tôi cứ tưởng rằng cụ sẽ nói như nước chẩy hoa trôi, ban cho tôi dăm bẩy điều vàng ngọc để làm hành trang mở hội rồng mây. Ai ngờ cụ lững lờ mấy câu rồi tiếp khách khác đang chờ sẵn xe hơi ngoài ngõ thỉnh cụ đi Vũng Tàu.

Chúng tôi có ghé thầy bói Kim ở khu Chi Lăng, Phú Nhuận, thầy Minh Lộc, thầy Ích ở hẻm Calmette, vị nào cũng nói những điểm khác nhau về tương lai đời tôi, tựu trung là khấm khớ, trên trung bình.

Đến thầy coi mạch Thái Tố đường Cao Thắng, ông này có vẻ độc đáo. Thầy bắt mạch, còn tay kia cầm bút vẽ ngoằn ngoèo trên một trang giấy, tương tự như ghi tốc ký, xong thầy ngắm nghía tướng mạo, ngó tờ tốc ký một lát, nhỏ nhẹ bảo tôi coi chừng có cái đại tang!

Hồi đó là cuối năm ta, tôi nghe mà đâm ra ân hận. Làm quái gì phải coi bói toán lôi thôi để vừa mất tiền, vừa bị nghe rủa. Tôi ra về, đâm hận ông thầy thái tố.

Qua năm cũ không có chi xẩy ra, tôi lấy làm mừng và định bụng từ nay cạch bói toán. Đùng một phát, đầu năm ta, tin từ Bắc đánh vào báo tin má tôi qua đời vào cuối năm cũ.

Tôi đuơc tin, rất mừng cho má tôi đã thoát cảnh địa ngục trần gian cộng sản. Cụ đi như thế là hơi trễ, nhưng cũng còn may hơn nhiều cụ khác. Phần riêng, nhớ lại ông thầy mạch thái tố phán quyết năm ngoái đâm ra hãi tài ông ấy quá. Không tin cũng phải tin.
Thế là tôi tiếp tục theo ông bạn già lên mạn Thủ Đức, Biên Hòa tới cái đình làng cạnh xa lộ coi bói.

Nghe danh ông thầy này nổi như sóng cồn, từng coi cho nhièu cấp lớn trong chính quyền, mỗi khi thay đổi chính phủ thì nườm nượp ông to bà lớn đi xe Huê Kỳ đến nhờ thầy coi dùm hậu vận. Thầy bảo sao cứ y boong như vậy mà làm là trúng phóc.

Đến lượt tôi, thầy cũng thắp nhang khấn vái cùng với tiền đặt quẻ, xong gieo quẻ, sờ soạng mươi giây, ngẩng đầu lên trần lâm râm vài câu rồi hỏi rằng:

Ông đây không cao lắm, mặt tròn da trắng mày thưa, có phải vậy không?

Tôi đáp ngay:

  • Dạ phải.

Thầy tiếp:

  • Ông này có cái lạ là không đi thi đi cử gì mà lại có nhiều bằng cấp…

Tôi đáp:

  • Dạ không, tôi không có bằng cấp gì cả.

Thầy quả quyết:

  • Nhất định có. Thánh dậy thế chứ tôi đâu có nói sàm. Ông nghĩ lại coi xem có thi cái gì trong đời không?
  • À, tôi nhớ ra rồi! Cái hồi đi lính, tôi có nhờ thằng bạn bên ban Quân Xa làm cho cái bằng lái xe giả, ba con dấu, tức là được lái từ xe Jeep, xe cam nhông đến xe chở hành khách. Rồi sau đó tôi chạy được cái bằng thực có hai con dấu.

Đến khi giải ngũ, tôi đổi bằng nhà binh lấy bằng dân sự, mấy con dấu lận. Thế là tôi có dăm bẩy cái bằng ấy chứ! Tôi chịu thầy, bèn đáp:

  • Dạ có ạ! Nhưng toàn bằng lái xe không hà!

Thầy cười:

  • Thì bằng nào mà chả là bằng.

Thầy đoán tương lai tôi có chiều thay đổi, đi nhiệm sở khác, làm lớn hơn chỗ cũ, sáng sủa lắm…

Quả nhiên, tôi gãi đầu gãi tai tả oán với ông Đổng Lý, được ngài ưng thận. Chờ có hai ông đốc sự mới ra lò về Phủ Thủ Tướng là tôi nhẩy qua Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Trung Ương, đặc trách báo chí và giao tế, thân cận với ông Tổng Giám Đốc Nguyễn Đăng Hải.

Còn ông bạn già tử vi của tôi, chính là cụ Chánh Văn Phòng Nguyễn Trọng Liêm. Tôi còn được phong làm Phụ Tá CVP, tạm thay quyền mỗi khi cụ chánh bận công tác ngoài nhiệm sở.

Với bằng ấy chức tước, lại là đệ tử của xếp lớn, tôi cảm thấy mình cũng lớn vậy.

Cụ CVP lại dẫn tôi vào Chợ Lớn, tới con đường có nhiều máy dệt tay, rẽ vào hẻm, leo độ 20 bậc thang lên một một dẫy nhà, dừng chân trước cửa then sắt của thầy tướng số lừng danh: Đó là cụ Fây – Ninh.

Giang sơn của cụ trước kia ở ngoài Bắc gần 100 nhà khi cụ làm thầu khoán, tiền bạc như nước. Bây giờ loạn lạc vào Nam, cơ đồ còn lại một gian gác chia đôi, nửa ngoài làm phòng khách, ngăn trong làm phòng ăn, phòng ngủ. Cụ ông, cụ bà ở đây còn các con cháu ở riêng.

Cụ Fây (xin được gọi tắt cho gọn) có tướng lớn như voi, giọng nói ầm ầm như sấm, lúc nào cũng tươi tỉnh đùa vui.

Tôi ngồi trên chiếc ghế mây có tựa, quay mặt vào phía trong. Khi tiếp khách, cụ luôn luôn để khách ngồi nghỉ một lát cho sắc diện được bình thường rồi mới nhập đề:

Mời tiên sinh ngồi sang ghế kia, nhìn ra phía ngoài cho ánh sáng rõ ràng để tôi dễ coi diện mạo.

Tôi vâng lời, chuyển ghế. Cụ Fây ngắm nghía tôi, sờ đầu, nắn sọ, bóp vai, xong bảo tôi:

Tiên sinh đứng dậy, đi vài bước cho tôi xem.

Tôi ngượng ngùng bước đi vài bước, xong trở về vị trí cũ an tọa.

Cụ pha trà tầu, mời mỗi người một ly trà trong sương sớm cho ấm bụng rồi phán:

Tôi nói thật, tiên sinh có quý tướng. Đầu tròn như đầu cọp, đôi mắt nhân từ, miệng tươi, tiếng nói thanh tao, thân hình vững chắc, dáng đi vững vàng, thần khí điều hòa, cái tâm lúc nào cũng bình an, tư tưởng cầu tiến, tính tình nhu hòa điềm đạm…Bằng ấy thứ nó hiện trong tướng mệnh thì thử hỏi làm sao tiên sinh không làm lớn được! Thế tiên sinh có gia đình chưa nào để tôi làm mối cho, hà hà!

Tôi lí nhí thưa:

Bẩm cụ, con có gia đình rồi. Còn như cái điều cụ đoán cho con, con nghĩ rằng không được như thế.Vóc dáng con lùn tì, nhát như thỏ đế, hay sợ hãi chốn cao sang, làm sao con khá được?

Cu ïngắt lời, cười khà khà mà rằng:

Theo tướng số, con người ta có hạng ngũ tràng, ngũ lộ, ngũ tiểu, ngũ đoản. Tiên sinh thuộc loại ngũ đoản: Đầu ngắn, mặt ngắn, thân ngắn, tay chân đều ngắn. Vậy là tôt lắm chứ!

Rồi cụ nói tiếp:

Còn như nhút nhát hoặc anh hùng cũng tùy tâm, tùy thời.Có kẻ làm vẻ hèn mọn, nhút nhát như Hàn Tín khi chưa gặp thời, phải luồn trôn thằng bán thịt ngoài chợ…Trương Minh Giảng thì sao? Mà về sau lừng lẫy chọc trời khuấy nước!
Lại có kẻ nom ra vẻ anh hùng mà khi vào việc trốn như trạch, nhát như cáy thì đó là anh hùng rơm, ta cho mối lửa mất cơn anh hùng.

Tiên sinh như cọp rừng thiêng, lúc này dấu nanh vuốt chờ thời. Chứ lúc thời cơ đến, tiên sinh đâu thua gì…Hàn Tín!

Nói xong cụ lại cười vang, rung rinh cả chén trà trong sương sớm.

Tôi đâm ra bẽn lẽn ngại ngùng, bán tín bán nghi. Chẳng lẽ tứ thập nhi bất hoặc mà mình vẫn chưa hiểu mình sao? Trong bụng đang phân vân thì cụ Fây phán tiếp:

Số tiên sinh là số làm thủ tướng đấy nhé! Để lúc nào tôi giới thiệu tiên sinh với bà Tổng Thống…

Tới đây thì tôi thực tình hãi, vì bởi tam tứ đại nhà tôi chưa ai đi lính mà lên tới đội, mà học hành thì chả ai đậu nổi cái bằng sơ học yếu lược, mấy đời làm thợ làm công. Đến đời tôi được như thế này là mả táng hàm rồng rồi, đâu dám mơ ước cao xa đến thế!
Giá mà cụ bảo tôi có thể làm giám đốc, chánh sở họa may còn dám tin, chứ cụ bảo tôi có số làm thủ tướng thì là chuyện đội đá vá trời, không tưởng.

Ra về, tôi nghĩ ngợi miên man về cái số tử vi của ông nội để lại, biết đâu bia đá lại chẳng bay đi chỗ khác để cho hình dị nhân lộ ra ăn chơi vung vít với đời! Khi lên tay kiếm tay cờ, cờ đến tay ai người ấy phất.

Tôi mà phất hẳn đẹp mắt hơn nhiều anh khác. Về nhà, không nói cho ai biết, tôi ra sân bước qua bước lại, bước tới bước lui xem có phải quả nhiên mình có dáng đi lên quý phái hay không?

Mụ vợ tôi thấy giữa trưa nắng chang chang lại có một tên khùng mặc quần đùi áo may ô phơi nắng ngoài sân thì tức cười lắm, bèn chỉ thị rằng:

Này, tên khờ, vào ru con ngủ đi cho người ta rửa bát. Hay muốn rửa bát thì xuống bếp làm đi, gần hết ngày rồi. Ai hành hạ gì mà đứng nắng như thằng điên vậy?

Mụ ấy đâu biết rằng tôi đang trên đường mây thênh thang mở hội, nay mai thủ tướng mấy hồi.

Sau tôi có dẫn bạn lại nhà cụ Fây coi dùm tướng số, mấy đứa bạn tôi đều được cụ khen tướng tốt, và vài đứa cũng có số làm thủ tướng như tôi!

Từ đó suy đi, tôi nghĩ ít ra là nước ta có dăm ngàn hiền tài chuẩn bị làm thủ tướng, dăm chục vị ái quốc chờ đợi lãnh đạo quốc gia!
Phong trào coi tử vi bói toán tại nước tôi đã một thời hoạt động mạnh mẽ. Hình như khi người ta không biết tin tưởng vào đâu thì nơi các nhà tiên đoán vận mệnh là chỗ tốt nhất để nhờ cố vấn lãnh đạo.

Có kẻ đi buôn coi ngày tháng mở hàng lấy may, làm ăn nhất bản vạn lợi. Có người đi xa coi ngày tháng xuất hành. Có thờ có thiêng có kiêng có lành. Những điều đó không nguy hại gì.

Nhưng mà lại có những vị tướng tá, các cấp chỉ huy lớn, các người cầm vận mệnh mấy chục triệu dân mà cũng coi bói, coi tử vi để lựa ngày hành quân, việc cửa việc nhà, chuyện đại sự cũng nhờ thầy chỉ đường mách lối thì thực là mạt vận.

Đất nước có tiêu tùng còn trách được ai!

Hay là lại đổ thừa như tôi rằng:

Định mệnh đã an bài!

rong thời gian làm việc tại Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp, tôi được cụ Chánh Văn Phòng dẫn đi giang hồ hơi nhiều. Cụ là cây tử vi tướng số hạng tài tử muốn dùng tôi như dùng người mẫu hoặc một vật thí nghiệm, đưa tới quý vị tướng số chuyên nghiệp cũng như vô danh, ẩn dật xem quý vị ấy tiên đoán thời tiết, tương lai bổn mạng của tôi ra làm sao, có trùng hợp với tài tiên tri của cụ không, để dễ bề học hỏi và nghiên cứu.

Cụ kể chuyện Hui Bon Hoa mả táng hàm rồng, giầu nứt đố đổ vách, tặng đô thành nguyên một cái nhà thương gần chộ Bến Thành, tài sản khắp nơi.

Xong cụ lái xe từ Saigon lên Thủ Đức chỉ cho tôi coi con đường ngoằn ngoèo giống như đuôi, như thân con rồng. Theo lộ trình Thủ Đức – Biên Hòa, đi con đường cũ là đường trong, qua Thủ Đức một ít cây số ngàn, phía trái có khu mộ nhà Hui Bon Hoa. Cụ bảo có mấy cái mộ xây y như nhau nằm hàng ngang, nhưng chỉ có một cái là mộ chính, còn mấy cái khác đều giả để không cho kẻ gian biết đâu là thật đâu là giả mà đào phá.

Cụ giảng rằng mộ đặt ngay boong vào cái họng con rồng. Phía trước mộ thoai thoải xuống sông Biên Hòa là cái lưỡi rồng. Nhiều ngôi mộ đặt tại khu lưỡi rồng, chẳng kết phát gì sốt cả là vậy.

Tôi chả biết rồng rắn ra làm sao nhưng nghe giảng địa lý nhân văn ra chiều hợp lý thì dạ dạ vâng vâng rất chiếu lệ. Thâm tâm tôi đã nhắm mục tiêu trực chỉ quán thú rừng Tân Vạn hoặc tiệm đầu cá hấp Biên Hòa, bởi nó vừa thực tế, vừa thực thể, vừa cụ thể lại vừa tiện thể.

Cụ bảo ở Saigon có cái phủ đầu rồng là chỗ vị nguyên thủ quốc gia cai trị việc nước, nhưng mà thiếu cái đuôi rồng. Đầu mà thiếu đuôi thì còn ra cái thống chế gì nữa. Cho nên thầy địa lý nào đó mới chỉ chỗ đặt đuôi rồng.

Nó chính là cái bùng binh tức hồ Duy Tân, nơi đặt đài kỷ niệm tri ân các quốc gia giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa, có cái hồ phun nước róc rách, sen mọc lai rai. Giữa hồ là kiến trúc uốn cong như đuôi rồng. Người ta bảo như thế là đủ bộ, là đẹp. Hồ này cạnh nhà đèn và trường đại học luật khoa cây dài bóng mát.

Chiều chiều mùa hè, các cô cậu vẫn rủ nhau ra ngồi quanh ven hồ soi bóng nước gương.

Tối tối khi thành phố lên đèn, nhiều gia đình chở xe gắn máy, xe Vespa, xe Lambretta, xe hơi lại đây cho trẻ con chạy nhẩy chơi đùa. Khu đài kỷ niệm giữa hồ, sau này giăng kẽm gai không cho ai leo lên đuôi rồng, e phá hoại thì động đến phủ đầu rồng.
Những trẻ bán cà rem và các xe mía hấp tập trung nơi này, làm ăn coi mòi ăn khách.

Có khi thầy trò tôi lại cụ Fây nghe tình hình chính sự và chiến sự cùng tử vi địa lý. Cụ Fây vẫn cứ khen tôi là có vóc dáng cọp, bảo tôi đưa cụ một tấm hình cát xít để cụ niệm thần chú cho công danh sự nghiệp. Gì chứ mục đó thì tôi chịu liền cái rụp. Cụ Fây kể chuyện chánh phủ, chuyện tướng lãnh, chuyện các quý phu nhơn rồi bảo rằng trên vùng Lâm Đồng có một chỗ đất đẹp lắm. Mả nào táng vào đó là phát lớn lắm à! Cụ đã lên tận Blao, đáp trực thăng cùng quan đầu tỉnh, bay vòng vo tam quốc mấy vùng đồi núi chập chùng, quan sát địa lý.

Cụ khám phá ra dưới thung lũng có vũng hố sâu, đó chính là đắc địa.

Quan đầu tỉnh còn cả phụ mẫu, vẫn dành chỗ ấy cho mai hậu.

Cụ Fây tiếc cho tôi, giá mà làm được thì lẫy lừng lắm. Tôi chả sao làm được vì bà mẹ mất tận ngoài Bắc, phải cải táng đem hài cốt vào Nam, lên Lâm Đồng tái táng thì nhiêu khê diệu vợi và hầu như không thể thực hiện được. Còn ông bố tôi mới ngoài bẩy mươi tuổi, chân tay vẫn khỏe mạnh, cũng ở Bắc. Làm sao mời cụ đi sớm để đem táng tận Lâm Đồng?

Dẫu có ham phú quý vinh hoa, công danh bổng lộc đến mấy, tôi cũng không dám có cái dã tâm như cộng sản là làm bất cứ cách gì để đạt mục đích dù rằng phải cho đi ô tô bương các đấng sinh thành!

Cụ Fây có lần đến nhà tôi nhân chuyến thăm thân chủ, cụ đảo quanh nhà sau sân trước một lượt rồi phán rằng:

Cửa chính nhà cậu mà lại xoay ngang, nhìn ra tường nhà bên cạnh tức là đi vào ủa hông. Người quân tử phải đi cửa chính. Chỉ có kẻ tiểu nhân mới đi cưả hông, cửa sau, cửa hậu. Thành ra cậu không đón được người quân tử vào nhà. Muốn sửa lại, cậu phải bít cái cửa hông ấy đi, phá tường làm cửa, mặt trông ra ngoài cổng trước, có vậy mới khá.

Được nhà địa lý khen mình là người quân tử thì tôi đã sướng quá đi rồi, nay lại được cụ chỉ cho cách chỉnh trang kiến thiết nhà cửa cho đẹp đẽ văn minh hơn, rồi lại được chơi với toàn cỡ quân tử thời tôi chịu lắm lắm.

Ngay tút suỵt, tôi nhờ thợ mộc thợ hồ ra công làm liền tù tì. Chỉ trong vòng một tuần lễ, cửa ngõ nhà tôi đã nom rõ là chính diện, phong cách. Mỗi lần ra vào cửa chính, tôi đều cảm thấy mình là người quân tử.

Dẫu là quân tử đa cùng và độc diễn như thế, tôi vẫn mang cái mặc cảm lẹt đẹt thua anh kém em về đủ phương diện quốc gia. Như sự học hành của tôi là một. Hỏi cụ Fây xem cái số khoa cử học hành thế nào thì cụ tỉnh bơ mà rằng:

Cậu thì học hành cái con mẹ gì. Cậu chả cần học cũng đỗ.

Tôi đẩy thêm một câu:

Mà thưa cụ, con đỗ được tới đâu cơ ạ?

Cụ vẫn bơ đi mà rằng:

Cậu muốn đỗ tới…tiến sĩ cũng dư sức qua cầu. Mà đỗ thì phải mang hai chai ruợu tây cho tôi đấy nhá!

Nói xong, cụ cười khà khà…

Tôi đã được gọi là người quân tử, nay lại sắp võng lọng nghênh ngang nữa thì mê chết đi được. Bèn lẽo đẽo chạy cái Lambretta phun khói mờ mịt, đến trường Luật nhờ vả cậy cục bài vở thi cử để mong chiếm tí bảng gỗ che lưới cho mát mặt với đời.

Tôi có người bạn học cũ ở Khuyến Học là anh Toàn, mỹ danh Toàn ngắn bởi chiều cao có khi còn thấp hơn khẩu Ga răng. Hắn lo dùm ghi danh, lấy thẻ, mua bài , tin tức thi cử.

Thế là quý hóa và ưu tiên quá xá rồi. Dần dà tôi làm quen được với cụ Tổng Thư Ký Nguyễn Thượng Kiên. Cụ có vóc dáng mình hạc, nom người không mấy mạnh mà nói năng rất khỏe.

Chức vụ của cụ là một chức vụ nặng nề nơi trường Luật. Ngôi trường nom có cái mã còn phòng ốc bàn ghế trong lớp lộn tùng phèo, sinh viên phải đi sớm đem theo ghế giữ chỗ chờ thầy đến giảng bài, ngồi nêm như cối, chen chúc như cái chợ vỡ vậy.
Cụ Kiên lo hầm bà làng hành chánh, quản trị, chương trình thi cử các lớp. Lúc nào cụ cũng bận tối tăm mặt mũi và ít thời giờ trò chuyện với sinh viên. Aáy thế mà tôi lại được đài gương soi đến dấu bèo, cụ dành biệt nhỡn mỗi khi tôi nhờ vả.

Tôi học hành tối mò như đêm ba mươi tháng chạp nhưng bù lại trời cho cái thiên tài cóp bài, đút lót,, chạy cửa hậu rất kền.
Gia đình vợ con đìu íu, công việc chánh phủ chồng chất mà tôi còn đến trường lấy tài liệu bài vở được thì đã là giỏi lắm rồi ấy chứ! Còn bài vở đem về nhà có đọc, có học hay không thì chỉ có tôi với cái giường biết mà thôi.

Gần ngày thi, tôi lật dăm trang sách ra coi cho có lệ, đỡ thắc mắc. Rồi dành thời giờ vào phút chót, tôi quay thành các bộ phim tài liệu.

Học trò ngày xưa đi thi, dấu tài liệu dưới gầm bàn, trong tay áo, dưới giầy…đều là cấc phương pháp cổ điển. Tôi đi thi, tài liệu lúc nào cũng chình ình ngay trên mặt bàn, trên tay, ngay trước mặt giám khảo, giám thị mà vẫn bình tĩnh hiên ngang như chốn không người.

Phương pháp đi thi của tôi có thể in thành sách, ít ra là dầy bằng cuốn học thi vào quốc tịch Hoa Kỳ. Nhưng ở đây tôi chỉ ghi vắn tắt để tránh bị nghi kỵ là cạnh tranh hoặc khoe khoang lớn lối.

Cách thứ nhất là ghi các công thức, các tên, các năm, các điều quan trọng cần nhớ vào…bàn học. Ghi bằng bút chì vót nhọn. Bàn học bên ta cũ mèm, đen kịt, viết chì lên nom thấy gì đâu. Aáy thế mà nghiêng nghiêng con mắt nhòm xéo vào, tôi thấy nguyên con, tha hồ mà chép. Cái khéo là làm sao ra vẻ như mình suy nghĩ mung lung, ngả nghiêng thẫn thờ tìm ý để ngó và chép cho suya là được. Có cái sườn rồi thì cứ viết lia lịa cho đầy trang, kéo dài ra là thầy tưởng như học trò này có ăn có học nên chữ nghĩa đầy mình.

Cách thứ hai là ghi mật mã, mật hiệu, mật lệnh vào bốn mặt của chiếc thước kẻ. Ghi bằng đầu mũi kim, chỉ cần các nét như khắc vào gỗ. Có thể làm vài cái thước kẻ, mỗi lần thi dùng một cái làm tin. Cũng ngả nghiêng cánh chim mà đọc thước kẻ để ghi ý chính hoặc số liệu cần thiết.

Cách thứ ba là dùng mũi kim ghi vào sáu mặt của chiếc bút chì, cũng vẫn phương thức đọc như trên.

Cách thứ tư là thông tin tình báo, tức như làm quen trước với các sĩ tử đông tây nam bắc quanh mình. Hễ gặp biến cố thì nhờ đồng minh cứu nguy, yểm trợ tại chỗ. Nếu phúc đức lại gặp kẻ ngồi cạnh là sinh viên thuần túy, chịu khó đến trường nghe giảng và học thuộc bài như cháo mà cho ta tóm lược, tức là cho chép bài nhưng đừng chép nguyên văn khổ cả đám, thì thực là tuyệt…vọng!

Cách thứ năm là hỏi han xem thầy chú trọng những đoạn nào trong sách thì nhắm vào đó để làm phim, đặt thành trọng tâm công tác tình báo chiến thuật.

Sau khi thi cử rồi, coi như bài vở viết được dăm bẩy tám chín trang đầy chữ, thì theo rõi tình hình chấm bài. Môn nào mình yếu quá tất cần chạy thầy chạy thuốc cho mau.
Trên đại học luật khoa, bài nào dưới 3 điểm là rớt dù các bài khác điểm thật cao.

Chạy thuốc có thể bằng nhiều cách thần sầu, nhưng cũng có giáo sư đuya, đụng vào như đụng đá vỡ đầu bể mặt. Thiên hạ chạy thuốc có khi bằng quyền bằng thế, bằng tiền, bằng tình.

Còn tôi thì chỉ nhờ trời cho cái bộ mặt ngây thơ nom rất dễ thương…hai mà hóa ra lại ăn tiền. Nên cụ Tổng Kiên nom thấy là ra tay cứu vớt đôi phen.

Rồi bạn bè cũ công danh cả đống, tôi kể khổ, thời xưa đi học, đá banh, ăn ổi có nhau, nay nhờ tình đồng môn giúp nhau qua cơn hoạn nạn. Lũ bạn cũ lại vác chân lên cẳng chạy tiếp sức kéo tôi từ vực sâu lên núi cao có trăng thanh gió mát.

Rồi mấy ông thầy cũ, mấy ông làm lớn trong chính phủ mà tôi có dịp phục tòng, thấy đệ tử đi thi thì cũng nới tay nâng đỡ.
Nhờ tất cả những cánh quân tả phù hữu bật, tiền đạo, hậu vệ, trung phong nức lòng bao bọc mà tôi như phi thuyền đang từ mũi Kennedy bay tuốt luốt tới tận cung trăng cùng Hằng Nga, Hậu Nghệ.

Mỗi năm ngon trớn như thế tôi lại vác một chai ruợu tây lên nhà cụ Fây làm lễ tạ ơn và xin chịu một chai vào năm tới.

Qua bốn phùa thi chơi ăn thiệt, tôi bỗng dưng trở thành một ông cử, tuy khó tin nhưng có thật.

Việc đầu tiên là tôi in một lô danh thiếp với tên tuổi, bằng cấp, gặp ai cũng làm ra vẻ thân mật hỏi nhà cửa rồi trao một tấm danh thiếp để tiện liên lạc sau này.

Họ hàng, phường xóm là chỗ quen biết thì tôi gợi chuyện học hành bận rộn, thi cử vất vả nên ít ghé thăm, đễ sau cùng đành lòng phải tiết lộ mình vừa đậu xong bằng đại học.

Với bạn bè cũ, những đứa trước kia cùng đạp xe đi làm, leo xe buýt đi phố ăn kem mút, uống nước dừa, ăn thịt bò khô, bây giờ tôi thấy chúng nó với tôi như xa cách muôn trùng. Tôi đã là tôi có danh thiếp in bằng cấp sắp thăng hoa, còn chúng nó vẫn dậm chân tại chỗ, kém cỏi tầm thường.

Việt Nam ta một thời có phong trào diễn thuyết Tại sao tôi trở thành bác sĩ?, Tại sao tôi trở thành dược sĩ? v.v…Ai đến dự cũng đều khâm phục và khen ngợi.

Tôi cũng định lập một chương trình đi các tỉnh, các đại học, các đoàn thể, các cơ quan với đề tài Tại sao…nhưng ngồi nghĩ lại thấy mình toàn nhờ cóp bài, láu cá, ranh vặt, chạy chọt, lạy lục mà có cái mảnh bằng thì vinh dự, danh giá chi để đem khoe thiên hạ. Có khi còn bị khán thính giả ném cà chua, trứng thối, vạch mặt chỉ tên là đồ vô tư cách, vô liêm sỉ thì khốn.

Cho nên tôi bỏ mộng diễn thuyết Tại sao….

Lắm lúc ngẫm lại, nhìn quanh quẩn gần xa, tôi lại cảm thấy được đôi chút vỗ về an ủi. Những thằng mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ để xin một chân đi ngoại giao; những tên đeo mặt nạ theo hầu bà lớn để làm áp phe kinh tế; những đứa đổi vợ đổi con để lấy một tí danh giá; những đứa buôn bán chợ đen chức tước, bán tống bán tháo quân trang quân dụng của quân đội cho kẻ thù; những đứa đem sinh mạng của hàng triệu đồng bào đổi chác lấy một đời sống thừa nhục nhã lang thang.

Tôi so sánh rồi tự nhủ là mình chưa can phạm, tòng phạm hay thủ phạm thì chưa làm gì có tội với với quốc dân đồng bào đâu, việc chi mà áy náy!


Nhớ lại tướng số tử vi của mình, tôi thấy cụ Fây đoán cũng có nhiều cái đúng. Như cụ bảo tôi chẳng học mà thi vẫn đậu thì quả nhiên cụ đoán như thần. Như cụ phán cho tôi sửa nhà thì từ đó tôi mời mọc cũng có ông lớn, bà lớn tới chơi. Như cụ bảo số tôi hiển đạt, làm to thì tương lai tôi đang sáng choang có khi còn hơn đèn 50 ngàn nến.

Duy có điểm cụ nói tướng tôi là tướng cọp, ví tôi như Hàn Tín thì tôi còn hoang mang, mung lung suy nghĩ.

Có đâu mồ mả nhà tôi lại có ai lén lút đem táng họng rồng, thay thế họ Hui Bon Hoa hoặc có Mission impossible nào đem hài cốt má tôi bỏ xuống thung lũng hồng miền Bảo Lộc?

Những chuyện ấy chẳng bao giờ có được. Thế thì tại sao tôi trở thành tướng cọp nhỉ?

Niềm vui kỳ ảo ấy cứ canh cánh bên lòng.

Một bữa cuối tuần đi lang thang quanh chợ Bến Thành, lúc qua gian hàng bán đồ chơi trẻ con, tôi thấy trong đám tầu thủy, máy bay, tầu ngầm, búp bê, mặt nạ, có cả thú vật như gà, heo, khỉ., cho, mèo và…cọp làm bằng giấy.

Tôi đứng lại ngắm nghía một hồi lâu, xong tạt sang xe ngộ mị phá lấu làm một đĩa, nhâm nhi với chai la-de trái dứa.

Trong lúc tâm hồn bay bổng với chút men say, tôi chợt trông thấy tôi chập chờn qua hình ảnh con cọp.

Tôi khám phá được một điều cay đắng.

Thôi đúng rồi, ông cụ tử vi địa lý tướng số này vậy mà thâm trầm xa xôi bóng gió quá đi thôi. Chẳng qua là cụ không muốn làm phật lòng tôi nên nói tránh né. Chứ với kinh nghiệm già đời, với con mắt tinh đời , cụ nhìn đường đi nước bước, nghe lời ăn tiếng nói, phong cách của tôi nó lộ rõ mồn một rôi thì cụ cứ thế mà đọc ra, nào cần chi phải đoán.

Cụ bảo tôi có tướng cọp mà tôi cứ nghĩ mình là cọp rừng thiêng oai linh dũng mãnh ta say mồi đứng uống ánh trăng tan hoặc thất thế thì cũng như con cọp nằm mèo trong sở thú ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ để chờ một mai tháo cũi sổ lồng lại tung hoành giữa chốn rừng thiêng không tên không tuổi.

Đằng này, ý cụ chê tôi là tướng hèn, tiểu nhân, cả đời đi cóp pi quỵ lụy đê tiện, không nhân cách, không cả sức mạnh thể xác lẫn tinh thần, nào có khác chi một con cọp…giấy!

Tôi đâm ra thương cho chính cái thân tôi. Giá được làm con cọp…chết cho đỡ khổ thì tôi cũng còn mãn nguyện vì các cụ nói Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.

Chứ như tôi làm thân cọp giấy, khác chi làm ông tiến sĩ giấy cho trẻ con nó chơi thì đầu đường góc chợ nào có thiếu gì…

Tôi vốn khoái lái xe hơi cho nên xe nhà binh nào tôi cũng cầm vô lăng rất chắc. Từ xe Jeep đến Đốt cát, Đốt sít, GMC tôi đều lái vèo vèo.

Ngày về dân sự làm việc ở Ngân Hàng, tôi lại có xe La Dalat và tài xế đưa đón hàng ngày nên đã tận dụng công xa để công tác thì ít mà việc riêng la cà, ăn chơi du hí thì nhiều, nhấn hết ga cho thỏa chí.

Nhớ xưa kia, hồi nghèo mạt rệp ở trọ trên gác lửng mái tôn nóng hơn lò bánh mì, đi làm bằng xe buýt xanh, xe buýt vàng, nhẩy xuống ngang đường như máy vì ví lép kẹp, quần áo vá víu cũ kỹ, chân đi săng đan nylon, mặt mày hốc hác , lòng không dạ bờ đê mà nay đi giầy tây, cổ đeo cà vạt, ngồi xe hơi như ông lớn thì thử hỏi sướng biết chừng nào.

Cho nên được thể tôi lại nhẩy rào tìm thú đam mê.

Con người ta có nhiều cái thú đam mê dễ sợ lắm. Đam mê đọc sách, nghiên cứu có thể trở thành bác học, học giả như Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đăng Thục…Đam mê viết văn có thể trở thành Khái Hưng, Nhất Linh, Hồ Biểu Chánh, Mai Thảo, Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nhật Tiến… Đam mê viết nhạc có thể giống như Văn Cao, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Văn Phụng, Lam Phương…Đam mê làm thơ có thể theo gót Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Phạm Thiên Thư, Nguyên Sa, Mai Trung Tĩnh…Đam mê nhiếp ảnh có thể nổi tiếng như Trần Cao Lĩnh, Nguyễn Mạnh Đan, Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Ngọc Hạnh…Đam mê ca hát có thể nổi danh như Ban Thăng Long, Sĩ Phú, Anh Ngọc, Hùng Cường, Elvis Phương… Đam mê ngâm thơ có thể nổi danh như Quách Đàm, Hồ Điệp, Hoàng Oanh, Thanh Hùng… Đam mê vẽ có thể trở thành Tú Duyên, Tạ Tỵ, Thuận Hồ, Ngô Văn Hoa… Đam mê làm báo có thể nổi danh như Nguyễn Thanh Hoàng, Đỗ Ngọc Yến, Giang Hữu Tuyên, Bùi Bảo Sơn, Ngô Vương Toại…( Đoạn đam mê xin lược bỏ đôi chút cho gọn).

Đó là một vài cái thú đam mê trong rừng đam mê cao đẹp.

Tôi là kẻ bất hạnh, vô phước không có được mảy may một ly ông cụ nào trong những cái thú đam mê tuyệt diệu ấy. Những cái đam mê nho nhỏ , tôi cũng không có nốt như mê uống ruợu, mê thuốc lá, mê cà phê, mê đánh bài, mê nhẩy đầm, mê câu cá, mê chơi cờ…

Cuộc đời tôi sẽ là một chuỗi ngày dài lê thê vô vị, nếu như tôi không vớt vát được một cái thú đam mê như tỉnh như say.

Cái thú này có cái lạ là hễ ai mê nó, ít khi chịu tiết lộ, cứ dấu im ỉm như mèo… Aáy là mê gái!

Ngày tôi hai mươi tuổi bước chân vào đời lính, cũng là ngày dò dẫm lang thang trong lâu đài tình ái, một năm cả gan mê tới…3 em!
Em Bích Huyền quê hương miền thùy dương bóng dừa ngàn thông, giọng nói nghe êm sao chi lạ, cứ như rót mật vào lòng. Cô Mi-Mi thích món canh chua cá kho tộ, ngọt ngào như trái sầu riêng, ca vọng cổ thiệt mùi. Bé Thúy Hiền chính gốc cố đô ngàn năm văn hiến Hồ Gươm Hà-Nội di cư, yểu điệu thanh tân mỏng mày hay hạt.

Bởi húc bừa bãi vô trật tự, thiếu kế hoạch, thiếu ngân khoản đài thọ cho nên hậu quả khốc liệt là các em đã tung cánh chim tìm về tổ ấm, để lại cho tôi biết bao nhiêu là đớn đau, tiếc nuối ngậm ngùi.

Không biết ông bố tôi hồi xưa có mê gái như một thứ gia truyền không thì tôi không rõ, chứ cứ như đời tôi, mê gì chẳng mê lại vương vào cái vòng oan nghiệt oan gia này mới thực là tai họa.

Tôi cứ đinh ninh cái đó gia truyền, như kiểu ta cũng nòi tình đi thương người đồng điệu.

Sau những năm tháng nghèo đói lang thang, bỗng được lên xe xuống ngựa…sắt, tôi lại bổn cũ soạn lại, ngơ ngẩn với tình.

Người tình của tôi là một mệnh phụ phu nhân, gặp nhau trong trại heo ở Bình Dương. Tôi thì mần việc Ngân Hàng chuyên cho vay ngắn hạn, trung hạn, cho vay chăn nuôi phát triển tăng gia sản xuất. Nàng có cái trại nuôi heo, cần vay tiền của Ngân Hàng. Nhân dịp đi theo phái đoàn quan sát địa điểm chăn nuôi, tôi bắt gặp ngay đôi mắt của nàng chớp pha cốt mấy phát khiến tôi bấn loạn tâm thần.

Rồi lại ngồi ăn trưa, xếp đặt làm sao mà tôi lại ngồi ngay cạnh nàng. Mùi thơm của nước hoa, hương thơm của da thịt đàn bà hòa cùng hương thơm đặc biệt của trại heo làm tôi ngây ngất.

Nàng tiép thức ăn cho tôi mà tôi cứ ngỡ như nàng đang cho heo ăn vậy.

Bởi chính trong tôi cũng có một con lợn lòng đang muốn phá chuồng sổ cũi.

Từ bữa đó, tôi hay lấy cớ đi công tác báo chí thông tin, lái xe La Dalat một mình tới Bình Dương gặp nàng tỉ tê bù khú. Tuy gọi là nàng cho có vẻ văn học nghệ thuật đấy thôi, chứ nàng đã gần bốn mươi cái xuân xanh, con cái lớn cả rồi. Sở dĩ nàng nhón tôi tiêu khiển là để vui chơi chốc lát. Ông chồng nàng là sĩ quan cấp tá, vớ vẩn thế nào mà lại tù ti với chị người làm, theo quan niệm Trong nhà gì đẹp bằng sen nên bà vợ bỏ liền, cho chồng đi luôn.

Tuy nàng băm mí rồi mà nom vẫn còn ngọt nước, mầu mỡ lắm. Đôi mắt thật là tình tứ đong đưa, nét môi son hồng mời mọc, đồi núi vẫn chập chùng, dáng đi lả lướt quý phái. Nhất là nàng lại trang phục đồ đầm, áo lụa hồng mỏng dính, chiếc juýp đẹp để lộ cặp giò trắng nõn, nàng như một đóa hoa rừng. Trách chi nàng chả có tên Mộng Lan là phải!

Tôi thường trốn nhà, trốn sở đi vào xi nê ma ngồi coi phim thì ít mà rờ rẫm thì nhiều. Có khi hai đứa ghé vườn lan trên xa lộ Biên Hòa, vào ngắm lan muôn mầu ngàn sắc. Em hỏi tôi lan nào đẹp nhất, xin trả lời chỉ có Mộng Lan thôi!

Có lúc chúng tôi đi Vũng Tầu, Long Hải tắm mát rong chơi như đôi tình nhân hợp pháp.

Những mục du dương lả lướt như thế, trước sau rồi cũng có người bắt gặp, rỉ tai, thông tin quốc nội. Chuyện đến tai xếp tôi, tôi vẫn tỉnh bơ chối biến. Còn như chuyện đến bếp mụ xã tôi thì mụ ấy không những chẳng thèm để lọt vào tai mà lại cười ầm lên, bảo rằng khen ai khéo bỏ bom kể chuyện khôi hài.

Mụ xã tôi lấy tôi từ thuở xưa, biết tỏng cái tính tôi sợ vợ nhất trên đời, trong túi lại chả bao giờ có nhiều tiền, vợ con cả đống rồi, còn có ma nào thèm đến thứ tôi nữa mà cũng có người bầy đặt chuyện. Dù mụ ấy thông minh, lý luận cách mấy nữa cũng không biết rằng ma ăn cỗ và cái tổ con chuồn chuồn nó ở chỗ nào. Lại nữa, dẫu tôi là kẻ nhát hèn, sợ vợ thật đấy nhưng khi cái máu đam mê nó nổi lên thì có trời can cũng không nổi. Cho nên, nhờ cái vỏ ngoài ngớ ngẩn đáng tin cậy ấy mà tôi vớt vát được một thời gian dan díu với tình.

Đến khi Mộng Lan vỡ mộng với Cai tôi, ôm đồ sang thuyền khác thì tôi lại trở về mái nhà xưa làm anh chồng chung thủy bình thường, đứng đắn như ngoại lệ.

Chưa được bao lâu thì tôi lại ngựa quen đường cũ, tán tỉnh ngay được một em gái một con trông mòn con mắt. Em có anh chồng cờ bịch, hút sách cho nên bỏ vợ con lang thang. Tôi là kẻ hào hoa phong nhụy, làm ra vẻ thương người, lúc đem vài thùng sữa Guigoz cho cháu bé, lúc tặng nàng vải may áo, lúc biếu mỹ phẩm, quà bánh liên miên.

Cảm cái ơn ấy, tôi dụ dỗ được nàng đi chơi, bỏ chồng bỏ con, đi vào con đường tục lụy. Tôi như một kẻ chiến thắng dẫu chẳng lấy chi làm vinh dự nhưng cũng thỏa lòng khao khát đắm say.

Bạn bè có ai đi ngoại quốc, tôi cậy cục nhờ mua phim, mua lịch khỏa thân để bán kiếm lời. Ai muốn xuất ngoại cần chạy Bộ nọ Phủ kia, tôi chạy rất lẹ. Nói chi đến các Nha, Sở thì tôi coi như đồ bỏ, chuyện chi cũng mát mái xuôi chèo. Miễn rằng tiền bạc đình huỳnh, sòng phẳng theo đúng luật giang hồ.

Từ khi trong ví có tiền, tôi thường la cà vào các chốn nhẩy đầm vuốt ve các em ca ve kiếm chác. Các trà đình tửu quán đều biết mặt tôi khách xộp, chịu chơi. Đến quán bia ôm là các em quây lại đấu hót như máy, mỗi em một ly nước ngọt, cộng lại xòe ra dăm xín thanh toán như chơi. Vào những nơi tắm hơi đấm bóp, tôi là khách quen cơm bữa.

Tôi còn rủ rê thêm bạn bè, hướng dẫn chúng nó đốt giai đoạn để làm quen với các em út, ăn chơi thỏa chí với đời.

Thằng Quỳnh Râu, Giám Đốc Ngoại Thương Bộ Kinh Tế, xưa kia chân chỉ hạt bột mà giờ áp phe tiền triệu vụ đường xăng đại huynh, nhà lắp máy lạnh, đi xe hơi Cortina láng coóng, đào điếc cả bầy.

Thằng Minh Vều, trung tá tiếp vận, thỉnh thoảng phải vào sòng bạc của bà tướng trong Chợ Lớn nướng bớt cho đỡ nặng túi.
Thằng Uùt Khang, con út của bác tôi, hiền khô như đất, trông thấy đàn bà là đỏ mặt tía tai, chỉ cặp kè với tôi dăm bẩy phùa đã ôm đào nhẩy sì-lô, tango rất mùi rất lẳng.

Đại Uùy Lộc, sĩ quan tùy viên của tướng tư lệnh sư đoàn, nghe theo lời tôi đường mật, xách các táp tùy viên đi bù khú với đào, bao nhiêu tài liệu kín mật bỏ ngỏ cho các em khai thác.

Bác sĩ quân y Cửu Chân, quanh năm tiền tuyến, bầu bạn với rừng Dakto, Daksut, Konpo, Konđú mà lúc thuyên chuyển về gần Saigon cũng đã theo chân tôi vào chốn giang hồ, lúc bán thuốc, khi chạy áp phe quân dịch tái khám, miễn dịch mà khấm khớ.
Hùng tức Hùng Hục, thanh tra quan thuế, đồn trú phi cảng Tân Sơn Nhất chuyên áp phe với các bà tướng buôn lậu đồ từ ngoại quốc về, qua mặt quan thuế cáo vèo để bán thuốc phiện, cần sa, toàn những đồ quốc cấm.

Nhờ tôi mà những đứa ấy mở mặt với đời, từ cuối nẻo đường hầm chui ra ngoài ánh sáng văn minh.

Sở dĩ chúng tôi yên ổn ăn chơi vi vút như thế vì biết chắc chắn rằng trên khắp bốn vùng chiến thuật, các chiến sĩ Hải, Lục, Không quân, các binh chủng Nhẩy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, các đơn vị Thiết Giáp, Pháo Binh, các lực lượng Địa Phương Quân, Nhân Dân Tự Vệ vẫn ngày đêm giữ vững tiền đồn, giữ yên làng xóm để cho hậu phương được an toàn.

Kẻ hậu phương cũng không quên ơn chiến sĩ, bằng chứng là năm nào cũng có cây mùa xuân tổ chức dịp tết nguyên đán để mừng anh chiến sĩ Cộng hòa. Các cơ quan hành chánh, tự trị cũng đảm nhận công tác thăm viếng anh em chiến sĩ tiền đòn, đi theo phái đoàn văn nghệ hát cho lính trận nghe, tặng quà xà bông, kem đánh răng, khăn mặt, bánh kẹo, thư an ủi…

Ngân Hàng tôi kết nghĩa với Sư Đoàn 7 Bộ Binh của tướng Nguyẽn Khoa Nam.

Ngày cuối năm, phái đoàn NHPTNN đáp trực thăng từ Biệt Khu Thủ Đô đi Kiến Tường thăm tiền đồn và thương binh. Trực thăng bay vòng vo lúc cao lúc thấp mới tới Kiến Tường. Hỏi ra thì phi công cho biết bay như vậy để tránh hỏa tiễn tầm nhiệt của cộng sản từ dưới bắn lên. Vùng nào nguy hiểm thì trực thăng phải bay hướng khác cho an toàn hơn.

Tiền đồn, tuy lúc phái đoàn tới thăm không có khói súng mịt mù, đạn bay tơi tả nhưng bệnh xá dã chiến có mùi thuốc, mùi ê te, có tiếng rên rỉ của kẻ gẫy tay, người cụt chân, băng bó trắng rợn người, máu mê bê bết.

Cái không khí yên lặng tạm thời của tiền đồn là thứ yên lặng chờ đợi, chuẩn bị cho những hận thù nẩy lửa lại sắp diễn ra bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Người quân nhân chỉ biết sẵn sàng ứng chiến.

Phái đoàn lại đáp trực thăng về căn cứ Đồng Tâm ở Mỹ Tho, bộ tư lệnh của sư đoàn. Tại đây đã có phái đoàn đi đường bộ mang hàng trăm gói quà, trong đó có thuốc men, quà bánh, tiền bạc để tặng các anh em thương bệnh binh đang điều trị tại bệnh viện.
Những người chiến sĩ dầm mưa giãi nắng, đem cả cuộc đời để bảo vệ mảnh vườn tấc ruộng, quên cả gia đình hạnh phúc để gìn giữ ngọn cờ. Bây giờ các anh mất đi một phần thân thể, nằm đó mà linh hồn như vẫn theo chiến hữu xông pha lửa đạn ngoài trận địa.
Tinh thần yêu nước ấy âm thầm và bền bỉ, kiêu hãnh và can trường. Đó là truyền thống của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà thành tích chiến đâu tuyệt vời đã vang động khắp năm châu, đã ghi vào quân sử.

Phái đoàn ăn cơm đoàn kết tại câu lạc bộ với ban tham mưu của tướng Nguyễn Khoa Nam. Vị tư lệnh độc thân, nói năng từ tốn và chắc nịch, nhiều lúc như trầm tư mặc tưởng, như cả cuộc đời gắn liền với nếp áo quân nhân, với đồng ngũ, với đơn vị.

Tôi chỉ được nghe danh tướng Nguyẽn Khoa Nam là một vị tướng trong sạch nên lòng rất khâm phục.

Chả bù với các tướng tham nhũng, bất tài, vô hạnh.

Giữa một rừng sao quả tạ như thế, rất may còn một số vì sao lấp lánh rạng ngời như ánh hải đăng để quân đội còn vững niềm tin, còn tinh thần chiến đấu diệt cộng.

Tôi cũng tin tưởng thế, nên chuyện tiền đồn, bệnh xá lại như mây bay gió thoảng, chuyện ăn chơi đàn đúm làm tiền vẫn là thỏi đá nam châm đầy ma lực và quyến rũ.


Một đêm đang ngủ say, bỗng có tiếng nói rất quen thuộc mà cũng rất nghiêm nghị, đánh thức tôi dậy, hỏi rằng:

Có phải thầy là Cai Phúc ngày xưa đó chăng?

Kẻ này đáp:

Dạ phải!

Cuộc đàm thoại tiếp tục:

Nhà thầy có nhớ hồi tản cư nhà nghèo phải đi hốt phân trâu phân bò về bón rau, những đêm hè tát nước gầu đôi gầu ba, những ngày đông rét mướt đi chăn vịt ở Gia Lộc, Thanh Miện?

Dạ nhớ!

Nhà thầy chắc chưa quên thời học trò Nguyễn Trãi, học công dân giáo dục thầy Nguyễn Đức Hiếu về đạo tu thân, tề gia, trị quốc chứ?

Dạ quên làm sao được!

Thế nhà thầy còn nhớ lời giảng: Bần tiện bất năng di, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất không?

Dạ, còn nhớ!

Khi nghèo đói tả tơi mà lòng dạ chẳng đổi, giấy rách vẫn giữ lấy lề, nhà thầy theo tới không?

Dạ, chưa làm gì ác ôn để cha mẹ bị chửi ạ!

Nếu quả vậy thì ta có lời khen. Thế gặp hoàn cảnh bị võ lực áp bức, hành hạ đe dọa mà vẫn không sợ hãi, không chịu phục tùng, nhà thầy can đảm đến mức nào?

Dạ, trong đời từng dăm lần biểu dương thái độ nhất quyết không, ít ra là bốn không.

Nếu việc làm y như lời nói, ta có lời khen nữa. Thế còn như câu phú quý bất năng dâm, chữ dâm đây có nghĩa rộng là tham lam, ham muốn quá độ, say mê sắc dục, lạc lối lầm đường. Như dâm bằng là bạn bè xấu, dâm bội là tà dâm trái đạo, dâm hành là hành động tà dâm, dâm học là cái học không chính đáng, dâm huệ là ân huệ không phân minh, dâm lệ là nước mắt đầm đìa không dứt, dâm ngôn là lời nói thô tục, dâm thị là cái nhìn bất chính, dâm từ là lời nói không đứng đắn, dâm uy là oai quyền bất chính, dâm vũ là mưa dầm dề đường trơn ướt lê thê…Nhà thầy theo tới đâu rồi?

Câu trả lời quả thực là khó, bởi từ ngày le lói tí đom đóm với đời, nhiều phen đổi bạn, đôi lúc muốn bỏ vợ, tôi như con diều gặp gió sắp lên cao, đâu có nhớ gì xa xưa dĩ vãng.

Nay có kẻ biết tỏng mình, bầy đặt hỏi móc họng, kê tủ đứng vào mồm, liệt những cái tồi tệ đốn mạt của mình ra khiến tôi vừa bực mình vừa hổ thẹn, phân vân chưa biết trả lời sao thì lại nghe có tiếng thở dài:

Có thân mà không chịu tu sửa, có gia đình mà không biết giữ gìn, có tổ quốc mà không lo bảo vệ. Những kẻ như bay đã làm băng hoại cả một cơ đồ. Trách chi đất nước này chẳng tới hồi mạt vận…

Tôi vội chắp tay kính cẩn:

Thưa, người là ai? Thần linh hay thánh nhân? Có điều chi dậy bảo, xin…

Tiếng nói át đi:

Tao nào có phải thần thánh quỷ quái gì đâu! Tao chinh là cái lương tâm của mày đó!

Nói xong im luôn.

Tôi toát mồ hôi, mở cửa bước ra sân. Chung quanh không một bóng người.

Từ khu Đồng Ông Cộ nhìn lên bầu trời đen thẳm, lập lòe vài đóm mắt hỏa châu.

Và tiếng súng trận dồn dập đau thương nghe như mỗi lúc một gần…

Mặc dù tình hình chiến sự trên bốn vùng chiến thuật sôi động, nhiều trận đánh ác liệt kinh hồn nhưng hầu hết các trục lộ do quân ta kiểm soát vẫn an ninh, các đồn phòng ngự vẫn tung bay ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, các thị trấn vẫn sinh hoạt bình thường. Và tại thủ đô miền Nam – hòn ngọc viễn đông – vẫn như thuở thanh bình thịnh trị. Nếu không có người lính Dù ôm M-16, mặc áo giáp đứng trên lô cốt cạnh cầu Phan Thanh Giản, nếu không có đồn bót quanh vòng đai an ninh Saigon chất đầy bao cát và những vòng giây kẽm gai hiểm hóc, nếu không có những quân nhân mặc đồ trận mang nón sắt, mang vũ khí di chuyển trongđám thường dân, nếu không có những quân xa sơn mầu lá rừng, những xe thiết giáp trang bị súng lớn chạy ầm ầm đây đó, nếu không có những chiếc máy bay C-130, A-37, trực thăng bay lượn trên vòm trời xanh mây trắng… thì ít ai có thể ngờ rằng đất nước tôi ròng rã buồn vui, suốt mấy chục năm vẫn khói lửa tơi bời. Khói lửa ở xóm thôn, ở ven đô, có khi ở trong đô thị. Khói lửa ở các địa danh cao nguyên,đồng bằng, sông rạch, đường xá, vị trí đóng quân, phục kích, hành quân… Nơi mỗi người dân là một mối u sầu lởn vởn.

Tình hình quân sự xem ra phía địch được tiếp tế viện trợ tối đa, còn phe ta bị hạn chế Cắt ngân khoản, cắt đủ mọi thứ. Người bạn đồng minh đã trở cờ, chuẩn bị rút lui. Chỉ còn lại một quân đội can trường kiêu dũng, đánh giặc với các điều kiện hoàn toàn bất lợi.Tình hình chính trị càng ngày càng thê thảm hơn. Nhóm ngụy hòa, thân cộng ồn ào chống đối chính quyền. Người quốc gia ngao ngán trước tình cảnh nguy vong đổ vỡ. Trong bối cảnh thất điên báo đảo ấy, tôi vẫn vác sách đi học đêm tại viện đại học Vạn Hạnh, nghe các giáo sư diễn giảng về chính trị ngoại giao. Các thầy đều là hành chánh gia, chính trị gia, luật gia, nói như nước chẩy hoa trôi thao thao bất tuyệt khiến sinh viên cứ ngồi vểnh tai lên mà nghe rất sướng. Sướng nhất là nghe thầy bàn về tình hình chiến sự và chính trị. Với những luận cứ chắc hơn bắp, thầy bảo rằng tình thế tuy nó là thế nhưng chưa chắc đã là thế đâu. Nghĩa là dẫu ta có mất vài tỉnh, rút quân từng phần nhưng đôi bên sẽ phải ngưng ở một nơi có chuyến đò vĩ tuyến. Vĩ tuyến ấy ở chỗ nào thì thầy đưa ra vài cái rồi quả quyết rằng ta cứ yên chí, chớ có ồn ào, rối trí, mất bình tĩnh mà hỏng việc. Có thầy lại viết báo Chính Luận bầy tỏ lập trường, dự đoán tình hình đất nước và lạc quan nhận định dẫu có bề gì mình vẫn còn giữ được một phần lớn miền Nam. Giới trí thức chính trị mà đã quan sát, phê bình như thế tất nhiên đám sinh viên cao học chúng tôi phải coi là khuôn vàng thước ngọc rồi, nên rất an tâm. Có một điều là ngoài phố, thiên hạ bàn ra tán vào rất khác lập trường của các thầy đại học. Giới chị em ta có liên lạc mật thiết với quân nhân Mỹ coi mòi hoạt động mãnh liệt hơn cả. Mặc dù tình thế rối tơ vò, chả ai biết đường đi nước bước ra sao, nhưng các chị em ta có lập trường rõ rệt. Aáy là đưa người vào phi cảng, vào DAO để đi Mỹ.

Tôi cũng có giao dịch với chị em ta, tuy không mặn mà như G.I. Mỹ nhưng cũng thu thập được khá đủ tin tức tình báo chiến thuật để quyết định một phùa chót chuyến này. Nhận thấy rằng nghe theo các thầy có vẻ hay đấy nhưng không có lợi. Đằng này, phía
chị em ta được đồng minh rỉ tai nên có chương trình ra đi chớp nhoáng mà lại mần xìn khá gọn. Tôi gia nhập hàng ngũ của họ, chuyên mối lái các gia đình nào giầu có muốn đi. Thế là tôi thu xếp cho người ta vào DAO, mỗi người chỉ phải nạp ít vàng hoặc dô la xanh là OK xong việc. Những chuyến đi như thế, tôi có thể kiếm dăm bẩy ngàn đô la như bỡn hoặc dăm mười lượng vàng nhanh như cắt.

Gần cuối tháng tư năm 1975, tình hình coi mòi bết bát, lần lượt các tỉnh lỹ bị cộng sản tràn ngập. Chiến sự đã gần kề đo thành. Chính phủ thay đổi, tôi cũng tìm đường dọt cho mau vào phút chót. Ngày 28 tháng tư, gia đình tôi đã nằm trong DAO Tân Sơn Nhất. Đêm đó cộng sản pháo kích phi trường, đạn réo như xé lụa, rít lên thật là rùng rợn, kinh hoàng.

Trưa ngày 29 tháng tư, mấy ngàn người cả Việt lẫn Mỹ kẹt trong DAO thì tôi thấy xe Mỹ đi nhổ cột điện, chướng ngại vật khu sân rộng. Lính Mỹ nói rằng sẽ có máy bay đến đón chúng tôi đưa ra biển. Khu DAO ồn ào hẳn lên, nhốn nháo bàn tán chờ đợi. Lối 3 giờ chiều, ba chiếc trực thăng từ ngoài Vũng Tầu bay tới hạ cánh, khoảng 100 lính Thủy Quân Lục Chiến súng ống đầy mình nhẩy xuống giữ an ninh khu DAO. Trên trời, mấy chiếc phản lực thay nhau vần vũ. Đám người Việt người Mỹ được chia từng khu, từng toán, có lệnh mới a la xô lên máy bay. Cứ 3 trực thăng đi thì chút xíu lại có 3 cái khác đáp xuống. Chuyến bay tôi rời DAO lúc 5 giờ chiều. Chiếc trực thăng bán phản lực chở 60 người, cất cánh, bụi tung mù mịt, động cơ ầm ầm, hở phía đuôi, có thể nhìn xuống dễ dàng.

Không ai bảo ai, những người lớn đều ôm mặt. Có người nghẹn ngào nức nở, có người khóc thành tiếng bi thương. Tôi không khóc, không ôm mặt mà lại mở thật to đôi mắt để nhìn quê hương lần cuối.

Dưới đó là Tân Sơn Nhất, là Gia Định, Gò Vấp, Thủ Đức, Long Thành, Vũng Tầu… Dưới đó là những mái nhà tôn nhà lá nhà gạch, những con đường nhựa đường làng, những thửa vườn luống rau, những đồn bót đơn vị, những kỷ niệm chồng chất dập vùi…

Khi sống trên quê hương, tôi chả bao giờ thiết tha đến những thứ đó, trái lại nhiều lúc còn dửng dưng coi rất tầm thường. Mà sao khi mất nó rồi mới thấy nhớ nhung, xót sa, quý báu. Giá trước khi chạy ra máy bay, tôi vốc được một nắm đất bỏ vào túi làm kỷ vật có
phải là đẹp biết mấy không cơ chứ! Chiếc trực thăng bay gần 50 phút ra tới hải phận quốc tế, đáp trên chiến hạm. Chưa đầy một tiếng đồng hồ tôi đã là người tị nạn lênh đênh như con thuyền không bến. Đoàn người được tiếp tế ăn uống và chờ đợi di chuyển qua tầu khác. Tôi vẫn ôm khư khư cái túi đựng đô la và vàng Kim Thành, không lúc nào chểnh mảng.

Với số tiền dăm chục ngàn đô la và vàng lá, qua Mỹ tôi sẽ tậu một cái nhà, sắm moat cái xe hơi Huê Kỳ mới toanh và mua một cơ sở tự lập, khỏi phải nhờ đến ai cho phiền phức. Đến đêm, mấy tầu Mỹ bật đèn như sao sa, sáng choang một vùng biển, nom tựa một thành phố nổi vậy. Nhờ trời mây quang tạnh, các xà lan chở người qua tầu khác không mấy khó khăn. Chỉ có một chút khó khăn là sóng biển chập chùng, lắc lư cái xà lan và khi từ xà lan lên tầu lớn thì phải trèo thang giây, có người đỡ. Tôi đã cẩn thận luồn cái túi tiền qua cổ qua vai, thế là yên chí lớn. Đến lượt tôi bắt đầu trèo thang giây, bỗng dưng trời nổi gió. Sóng nước lao đao, còn con người cũng lảo đảo. Những người già trẻ lớn bé đang trèo thang giây sợ hãi, la hét om sòm. Tôi lúc đó cũng hoảng hồn chỉ sợ té. Trong khoảnh khắc, tôi cảm thấy người nhẹ hẳn đi, thì ôi thôi, chiếc túi tiền với vàng đã rơi tòm xuống biển.

Tôi chết điếng cả người, không dám hé răng vì còn phải cố gắng mò thang giây leo lên tầu buôn lớn. Cái tầu buôn này chuyên môn chở hàng, thủy thủ đoàn lối hơn chục người nhưng khi được Hoa Kỳ thuê chở dân tị nạn đã chứa tới 5 ngàn mạng. Đó là con tầu Pioneer Commander. Khi cả nhà lên tầu, kiểm điểm thấy vợ chồng con cái đầy đủ, kiếm được một góc tạm cư, lúc bấy giờ tôi mới nhớ lại cái túi tiền và vàng rớt xuống biển mà lòng đau như cắt. Mụ vợ tôi thấy tôi thở dài sườn sượt cứ ngỡ rằng tôi buồn nhớ cố hương, mặc dù mụ ấy cũng đang khốn khổ khốn nạn, mới an ủi rằng: Thôi thì vận nước như thế, mình phải chịu. Còn biết bao nhiêu người kẹt lại không đi được thì sao? Mình phải chấp nhận hoàn cảnh. Trời sinh voi, trời sinh cỏ, có người có ta…
Nghe mụ vợ nói lải nhải, tôi đâm cáu:

  • Có cái con khỉ! Mất bố nó cái túi tiền rồi!

Mụ vợ tôi nghe chưa dứt câu đã khóc rống lên như bị ai chọc tiết, làm bàn dân thiên hạ chung quanh quay lại, tưởng bọn tôi nhớ nước thương nòi nên vỗ về an ủi. Tôi ngồi thừ người ra, còn mụ vợ tôi không khóc thống thiết bi ai nữa mà khóc như cha chết!
Thế là của thiên trả địa, vơ vét một vố tưởng ngon ơ, ai ngờ tay trắng lại hoàn trắng tay, nay ngồi trơ mắt ếch!

                                                           ***

Con tầu trực chỉ hướng Guam, sau mấy ngày ăn cầm hơi, uống cầm chừng, đoàn người tị nạn nối nhau thành hàng dài đặt chân trên đảo.

Nơi đây đã chuẩn bị sẵn sàng các lều nhà binh rộng lớn, các tiện nghi tối thiểu vệ sinh để tiếp đón mọi người.

Chúng tôi tạm trú ở Guam 3 tuần rồi lại lên máy bay Bô-Inh 707 ghé Ha-Oai, Washington state, xuyên ngang nước Mỹ, hạ cánh tại Florida, ở trại tạm cư vài ngày rồi về nhà người bảo trợ. Người này không xa lạ gì với tôi vì ổng chính là cố vấn Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp mấy năm trước. Tên ông là Eugene C. Schroepfer. Cái tên Đức hơi khó đọc nên tôi tạm phiên âm là Xốp – Fơ cho tiện. Ông về hưu , ở Spring Hill, cách Tampa vài chục dặm. Khu này đa phần là người già, xa đô thị nên quanh quẩn chỉ có vài trăm gia đình.

Chúng tôi ăn rầm ở rề nhà ông bảo trợ 3 tuần lễ. Ngày nào ông cũng đưa tôi đi xin việc. Ông dẫn tôi lên Tampa xin việc văn phòng luật sư thì luật sư chỉ cần thư ký biết nói tiếng Tầu, tiếng Tây Ban Nha. Hai ngoại ngữ đó, tôi mù tịt.

Đến siêu thị xin chân xếp đồ trong kho, bấm máy tính tiền thì họ không thiếu người. Lại ngân hàng địa phương xin chân kế toán thì tôi chưa đủ khả năng chuyên môn, cần đi học một thời gian họa may họ có cần mới mướn. Ghé cơ quan bảo hiểm xin tập sự thì chủ nhân lắc đầu bảo rằng tiếng Aêng Lê của tôi mịt mùng quá, đấu sao nổi với thân chủ Mỹ! Tạt vào xưởng mổ bò thì mới vô đã choáng váng mặt mày vì thấy máu chẩy lênh láng, mùi hôi lợm giọng, đồ tể nào cũng to con trông thật dữ tợn như muốn mần thịt mình luôn. Tôi chùn chân thật gấp trở lui. Chỉ có cái nghề leo thang lên cây hái cam là được trọng dụng. Lương trả 3 tiền, làm ngày 8 tiếng, không có quyền lợi gì khác cả. Phần lớn các công nhân ngành này là dân Mễ nghèo rớt mùng tơi mới lãnh việc. Làm ngoài trời mùa hè đã nóng, mà cái nạn muỗi đốt kiến cắn, bọ chui vào đầu vào tai vào mình mẩy, vừa ngứa ngáy bẩn thỉu lại vừa mồ hôi mồ kê nhễ nhại, gai góc đâm bừa bãi, sơ ý là té bổ nhào, què chân gẫy tay mình lãnh đủ. Tự lượng sức mình không sao cáng đáng nổi, tôi đâm ra thất vọng não nề, coi như đường hầm trước mặt.

Ông bảo trợ nhanh trí mới tô lô phôn lên thủ đô Hoa Thịnh Đốn nhờ cơ quan nào đó cho tên tôi vào máy điện toán kiếm việc làm. Cách một tuần sau có cú điện thoại từ Lakeland – cách nhà ổng vài chục dặm – một chủ trạm xăng cần người phụ tá, được Hoa Thịnh Đốn thông báo là mới có một hiền tài nhập cảng từ Việt Nam. Hắn liên lạc với ông bảo trợ hẹn họp thượng đỉnh tại Lakeland.

Ông Xốp Fơ dẫn tôi đến nơi, lại trạm xăng gặp ngay anh chủ tên là Bill Gruter, gốc Hòa Lan, cao lớn đẹp trai, cũng di cư 12 năm trước, khởi nghiệp với hai bàn tay trắng mà nay làm chủ 3 trạm xăng, có dăm bẩy cái nhà cho thuê, nhà cửa như dinh thự, nào hồ bơi nước nóng, nào sân nuôi ngựa, nào xe hơi hai ba cái sang trọng láng coóng. Hắn đưa chúng tôi thăm cơ sở, thăm nhà cửa một vòng ròi mời ăn trưa tại một tiệm Tây khá lịch sự. Tôi có xách cái cặp, mở ra trình bằng cấp giấy tờ, kinh nghiệm thì Bill nói rằng:
Tôi chỉ cần một người khỏe mạnh, bằng lòng làm trạm xăng, thế thôi. Các món giấy tờ của anh, tôi không cần ngó làm gì cả.

Sau khi hỏi điều kiện làm việc, lương bổng, tôi tính nhẩm có thể nuôi tạm gia dình lúc này, đỡ phiền lụy đến ông bảo trợ, mới gật đầu xin hẹn ba bữa nữa đem cả gia đình xuống Lakeland dịnh cư.

Thế là cái số tôi trước sau gì rồi cũng dính tí xăng nhớt mới khá. Ở Việt Nam mần việc ngành Quân Nhu thì tôi cũng học về xăng nhớt và bán xăng rất lẹ. Sang đến đất Mỹ lại chui đầu vào trạm xăng, kể như định mệnh đã an bài, tránh không khỏi số. Từ đó tôi quản trị 12 vòi xăng, một máy rửa xe, chuyên thay dầu nhớt xe hơi, đặc trách vá lốp các cỡ, thanh tra vệ sinh và bảo trì dụng cụ. Ngoài các nhiệm vụ chánh, tôi còn túc trực đi câu xe, chạy cờ cho mấy tên thợ sai bảo đi mua cà phê, mua săng uých, mua la de hoặc đi mua đồ sửa xe dưới phố.

Làm việc được đâu chừng một năm, tôi khá thông suốt đường lối hoạt động, chủ trương, chính sách của chủ nhân và chẳng bao lâu nghiễm nhiên là một phụ tá tin cẩn đắc lực. Từ khi chiếm được lòng tin của chủ rồi, tôi mới dở trò xưa tích cũ ra thi thố tài năng.

Cái tỉnh tôi ở là tỉnh nhỏ, lèo tèo dăm bẩy gia đình Việt Nam tị nạn, phần lớn có việc tốt như làm hãng máy bay, hãng hóa chất, làm chỗ bán hàng. Chỉ có tôi bơm xăng làm chuẩn, cho nên ai nhìn tôi cũng thấy là tôi thấp hèn kém cỏi. Cái giá trị ở xứ Mỹ này được tính bằng tiền lương giờ, lương tháng. Thiên hạ làm gấp hai gấp ba lương tôi thì giá trị tôi nào co ùhơn gì cỏ mọn hoa hèn. Để trả thù đời, cho thiên hạ biết mặt, hễ gặp ai tôi cũng gợi chuyện Saigon, hỏi han xem họ làm gì rồi nhân đó mà đem cái tôi ra để hù thiên hạ. Trong lúc bơm xăng, tôi đánh bóng cái tôi một thời vàng son, cộng thêm vài chi tiết vơ quàng, làm như ta đây chẳng kém ai. Chỉ bởi mất nước mới ra nông nỗi.

Từ khi biết việc, được chủ nhân tín nhiệm, tôi làm ca đêm từ 6 giờ chiều đến 2 giờ sáng, một mình một chợ tung hoành. Dù cho đủ lương để sống, cho nhà ở xe đi, xăng đổ líp ba ga, ăn uống tự do, tôi vẫn tính cách mần xìn.

Đối với vụ bán xăng thì bán bao nhiêu máy chạy ra số bấy nhiêu, thành tiền bắt buộc. Nhưng còn các mục khác, tôi tìm được cách làm tiền riêng. Như vá một cái vỏ xe không ruột, chỉ cần đủ dụng cụ nhà nghề và thời gian không quá 60 giây, tôi sửa xong cái vỏ xe thủng mà không cần trục xe tháo lốp. Tôi lấy 4 tiền bỏ túi dễ dàng, chả ai biết, chả tốn kém là bao.

Xe nào lốp cũ bị bể, chủ nhân xe không đủ tiền mua lốp mới, tôi đề nghị bán lốp cũ, thay niềng, làm ba lăng chỉ tính 15 tiền chẵn không thuế. Xe nào càn thay dầu mỡ, lọc gió thì tôi vừa làm vừa coi sóc việc đổ xăng, cỡ 20 phút là xong xuôi, lại còn cho chủ xe rửa chùa một cú. Tiền phụ tùng, tiền công cỡ 20 đô la, thỉnh toảng tôi bỏ túi một vụ là có tí tiền còm. Những mục linh tinh đại khái như thế, chủ trạm xăng không thể nào bắt được. Nó không có sổ sách gì ráo trọi và chủ nhân giao khoán cho tôi. Có khác gì giao trứng cho ác! Đem mỡ để ngay vào miệng con mèo. Hắn cứ tưởng rằng tôi là một người đứng đắn, đáng tin cậy nên giao tay hòm chìa khóa cho tôi.

Tôi thừa hiểu rằng mở một trạm xăng là tiền nhà, tiền đất, tiền thuế, tiền nhân công, tiền điện nước, tiền dụng cụ, tiền ăn uống…trăm thứ đổ vào đầu chủ, mà trạm xăng không kiếm ra tiền, không thu vén thì chả bao lâu mà vỡ nợ.
Tôi vẫn cứ bơ đi, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi. Tiền đây là tiền ăn cắp của chủ chứ nào phải tiền của mình.
Có nhẽ cái máu ăn cắp nó đã nhập tới xương tủy của tôi rồi, không sao gột rửa sạch
nữa.

Thì cũng đành coi như định mệnh đã an bài chứ biết làm chi?

Một thoáng hối hận, ăn năn rồi lại như nước chẩy qua cầu. Biết thế mà làm lại không như thế. Khó thật!

Bốn năm lưu lạc , tôi chưa làm được gì cho ra hồn, ngoại trừ miếng cơm manh áo. Với đại gia đình bên kia đại dương đang sống đọa đầy trong hờn tủi xót sa, tôi cũng không có lấy một cánh thư xuông an ủi.

Mà thực ra, tôi biết nói gì?

Nói về gia đình mình ư? Thì phải mô tả nhà có 2,3 phòng, có điện thoại, có nước nóng, có máy lạnh, có TV mầu, có vườn trước sân sau cỏ mọc xanh rờn. Nha ở cạnh hồ lớn có bè rau muống, có thuyền đi câu, có gió mát trăng thanh, hương hoa bưởi hoa cam thơm lừng một vùng trời an lạc.

Kể về tiện nghi ư? Thì nào là xe hơi Huê Kỳ chạy êm như ru, chợ búa gần gũi, thịt thà, rau đậu, sữa, trái cây ê hề, mùa nào thức đó. Quần áo giầy dép thì đủ kiểu đủ mầu cho hợp thời trang. Phấn son mỹ phẩm tha hồ chọn lựa. Chuyện học hành của con cái ư? Thì có nhà nước lo xe đưa đón hàng ngày, lớp học mát mẻ sáng sủa, lâu lâu lại có nghỉ lễ, nghỉ chơi, nghỉ hè, cứ tuần tự là lên lớp. Còn cái mục học trò Việt Nam chăm chỉ, lễ độ, thông minh, giỏi toán, giỏi cả Anh văn, cuối năm thường đứng đầu lớp thì đó là chuyện thường tình.

Hay là kèm theo thư, gửi về nhà một vài tấm hình lưu niệm ư? Thì hình là hình mầu, người là người từ tiên giới đầy đủ ấm no… Người ở bên nhà đang chật vật, đói rách với hộ khẩu, với kinh tế mới, đang thất điên bát đảo với hội họp, kiểm thảo, tự khai và bắt bớ rình rập, nay nhận thư nhận ảnh ngoại quốc, bỗng so sánh như địa ngục với thiên đường, ắt kẻ ở lại đau khổ dập vùi thêm, thất vọng hơn chứ nào có xoa dịu được chút nào đâu?

Thành thử, chỉ có những gói quà lớn nhỏ, tùy khả năng tùy hoàn cảnh mà an ủi gia đình là xem ra cụ thể và có giá trị hơn cả.
Cũng có người ở nhà bảo rằng chỉ mong thư từ hình ảnh của kẻ ở miền xa mà thôi, chứ đâu có cần quà cáp mà không thấy hồi âm.
Nhưng sự thực đắng cay là cho dù những người có tư cách nhất, đạo đức nhất, tự ái nhất, một khi đã sống dưới chế độ cộng sản do nhà nước quản trị giám sát cái dạ dầy, kiểm soát thanh tra luôn tư tưởng thì con người đã mất đi tất cả tự do và bị lệ thuộc nhiều vào miếng cơm miếng khoai, củ sắn.

Nên dẫu quân tử Tầu cách mấy, vẫn mơ ước những giúp đỡ, tiếp tế dù to dù nhỏ từ ngoại quốc gửi về.

Như kẻ sắp chết đuối vớ được tấm gỗ, thanh củi hay đám bèo, cái gì cũng quý. Bởi đó là sự sống, đó là hy vọng.

Tôi chưa làm được chuyện gì ngoạn mục với gia đình, lâu lắm mới có tí quà về biếu ông bố già cô độc. Với đàn em , đàn cháu, tôi xa cách chúng nó mấy chục năm lưu lạc giang hồ, cái tình ruột thịt đâm ra cách xa, hầu như đến độ vô tình và tự cảm như vô trách nhiệm.

Lũ em tôi dẫu sống từ tấm bé dưới chế độ cộng sản, được nhồi sọ khá đủ các giáo điều, vẫn ôm mộng một ngày nào đó vượt biển tìm tự do.

Tôi chả dám khuyên chúng nó nên ở hay nên đi, chỉ biết qui vào số mạng. Đứa nào thoát được ngục tù thì đứa ấy may mắn. Qua đến đảo là tôi có bổn phận bảo lãnh, lúc đó tôi trách nhiệm đã đành.

Chuyện vượt biển đã là chuyện có thực xẩy ra hàng ngày tại Việt Nam. Trước năm 1975, chả thấy ai hành trang lên tầu lớn tầu nhỏ ra khơi qua Thái, qua Mã Lai, qua Úc, qua Phi, qua Nhật…

Mà chỉ từ khi cộng sản chiếm miền Nam mới thấy ào ào thuyền nhân liều lĩnh đi tìm tự do.

Những con thuyền gỗ mỏng manh chứa mấy chục người già trẻ lớn bé. Người lái tầu chưa từng đọc địa bàn, không hề biết sửa máy móc. Aáy thế mà họ vẫn ra đi, một liều ba bẩy cũng liều. Con thuyền trong đại dương còn nhỏ bé hơn chiếc lá tre trên sông lạch, lại sóng nước bao la dập vùi xô đẩy, lại bão tố ngập trời. Vực sâu, miệng cá vẫn đợi chờ rình rập. Họ vẫn ra đi.

Trên đại dương, ngoài sóng to gió lớn biển sâu cá dữ, còn có một thứ dữ hơn cả thiên tai, ấy là bọn hải tặc. Bọn chúng đã cướp bóc, hãm hiếp, bắt cóc, thủ tiêu không biết bao nhiêu thuyền nhân.

Trước thảm trạng đó, lương tâm nhân loại hầu như vẫn ngủ im lìm.

Tôi thường nghe chuyện thương tâm, đau đớn về thuyền nhân nhưng trong lòng chẳng mảy may xót thương, lo lắng. Bởi những người chịu thảm trạng đó chẳng ai là ruột thịt của mình. Nên bình chân như vại.

Cả đến những công cuộc lạc quyên giúp đỡ trại tị nạn, tiếp tế cho thuyền nhân, cứu vớt người vượt biển , các công tác xã hội, y tế để an ủi đồng bào kém may mắn, tôi cũng đều không tham gia, không đóng góp đồng nào. Tôi nghĩ rằng nhu cầu thì nhiều, mình có giúp cũng như muối bỏ biển. Hai nữa, nếu tôi giúp thì tiền ấy liệu có đến tận tay nạn nhân hay lại trôi dạt phương nào? Ngoài ra, quanh tôi còn biết bao nhiêu kẻ tiền rừng bạc biển đã thấy nhúc nhích đóng góp gì đâu?

Với các tôn giáo như Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, tôi ít khi lai vãng tới chốn tôn nghiêm. Thôi thì bên cha cũng kính, bên mẹ cũng vái, mình bận rộn quanh năm, đâu có thời giờ đi lễ.

Chưa lần nào tôi đóng góp cho chùa để cầu phước cầu an. Còn những hoạt động xã hội, tôi lại càng không mấy quan tâm ủng hộ.
Những ngày quốc hận, cộng đồng tổ chức kỷ niệm ngày bỏ nước ra đi, bầy tỏ niềm nhớ quê hương, xót sa thân phận những người ở lại, những người bị đày ải giam cầm hành hạ nơi các trại cải tạo tập trung, dành một đêm không ngủ, với chương trình văn nghệ đấu tranh để nung nấu ý chí hờn căm phục hận, mong một ngày về thì tôi cũng nhớ đấùy nhưng nghĩ có tham gia thì chưa chắc đã chết thằng cộng sản nào cho nên nằm nhà nghỉ khỏe để còn giữ sức đi cầy.

Những đám mít tinh, biểu tình lên án chế độ cộng sản đã được nhiều giới tham dự, dù trời gió trời mưa, dù phải lái xe hàng mấy chục dặm đường mới đến nơi, dù phải nghỉ việc một buổi làm, dù có người già vẫn chống gậy lẽo đẽo theo con cháu, dù có kẻ con thơ bế ẵm trên tay cũng cầm thêm được lá cờ quốc gia để bầy tỏ lập trường. Các đài truyền hình địa phương đã quay những cảnh hội họp và chiếu trên ti-vi, tôi vẫn theo dõi đầy đủ cả đấy chứ!

Lớp người trẻ sang đây rất dễ hội nhập với cuộc sống Aâu Mỹ mà có cái lạ là làm sao họ vẫn thiết tha với Việt Nam. Bằng cớ là chính lớp trẻ thường đứng ra tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, kỷ niệm các bậc anh hùng hào kiệt, đảm trách chợ tết, lo văn nghệ liên trường, mở các lớp dậy Việt ngữ cho thanh thiếu nhi, làm báo, sinh hoạt tập thể.

Họ làm việc rất hăng say dù ít được người lớn làm cố vấn, yểm trợ. Họ làm việc với tinh thần tuổi trẻ, với trách nhiệm tự đề ra, với lòng nhiệt thành và tình yêu mến quê hương đã tiềm tàng trong dòng máu.

Những khi đi dự lễ, đi coi chương trình văn nghệ do sinh viên tổ chức, nhiều lúc tôi cũng xúc động đến tràn nước mắt vì được nhìn lại hình bóng cố hương qua các màn ca nhạc kịch vui tươi, được nghe những âm điệu qua tiếng hát câu hò quen thuộc, được
gặp gỡ đồng hương, được sống lại một mảnh đất quê hương trên đất nước người.

Những giây phút ấy, thực tình là tôi quyến luyến Việt Nam, vui cùng tập thể.

Rồi khi chia tay, cuộc sống thực tế lại kéo tôi về với bổn phận. Rồi mọi chuyện lại chìm sâu vào quên lãng.

Đôi lúc nghĩ quẩn nghĩ quanh, tôi không biết mình là Việt Nam hay là Mỹ nữa.


Đời sống bên những vòi xăng, lốp xe, kìm búa, dầu nhớt tuy không quá nặng nề nhưng tuổi đời chồng chât mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi, nó làm cho tóc ngả muối tiêu, mắt mờ chân chậm, còn hai cánh tay lực sĩ kiến càng ngày nào nay chỉ là hai que củi tong teo, bê cái lốp xe thấy như bê cái cối đá, dù cái lốp vẫn nặng có bay nhiêu thôi!

Thế là tôi biết tôi đi xuống, tinh thần thể xác yếu nhiều. Nếu không mau tìm đường thoát hiểm thì chắc chắn có ngày xụm bà chè, tôi sẽ quỵ luôn ở cái tỉnh nhỏ đêm buồn này lúc nào không biết.

Nhân một chuyến ngao du dịp hè qua tiểu bang Tếch Xịt, tá túc nhà bạn Nguyễn Hữu Hoán ở Houston (có mỹ danh là Hoán Tầu vì nom vóc dáng và phong cách, ai cũng tưởng hắn ta là người Việt gốc Chợ Lớn), hắn nghe tôi tả oán cuộc sống lam lũ vất vưởng nên động tâm bồ đề ra tay cứu vớt. Lại được bà vợ hắn rất dễ chịu dễ thương đồng ý sẵn lòng cưu mang bao bọc cho nên tôi quyết định bỏ nghề bơm xăng ở Florida để đi Texas làm nghề quét chợ!

Quyết định mau lẹ đến nỗi lúc đi chào bạn bè, ai cũng cười tình cho là tôi rỡn chơi. Tôi phải làm ra bộ nghiêm nghị, thề thốt lúc đó họ mới tin là có thực.

Về Houston, sau mấy tuần lễ ở nhà Hoán Tầu, hắn giới thiệu tôi với xếp lớn UTOTEM là mông sừ Lê Phú thịnh. Dăm bữa sau, xếp Thịnh thu xếp cho gia đình tôi quản trị một một tiệm Utotem nho nhỏ.

Thế là tôi lại có chân đứng khá vững vàng, có nghề ngỗng kiếm ăn. Bỏ nghề bơm xăng qua nghề chạp phô, tưởng giã từ xăng nhớt, ai ngờ nó vẫn cứ lẽo đẽo theo đuôi. Tiệm chạp phô này bán hầm bà làng đồ ăn thức uống, vật dụng linh tinh, có bán cả xăng nữa. Tôi lại phải kiêm nhiệm luôn vụ đo xăng, bấm máy, báo cáo xăng hàng ngày. Chỉ có điều là không phải giãi nắng dầm mưa, đứng tựa cây xăng nhìn trời mây non nước, còn thì trách nhiệm vẫn cứ như thường.

Ba năm ròng rã làm mỗi ngày 18 tiếng liên miên, gia đình từng năm bẩy lần bị Mỹ trắng, Mỹ đen, Mễ cầm súng ngắn súng dài vào tiệm giơ súng bắt nạp tiền, có đứa lúc rút lui còn bắng pàng pàng lên trần nhà thị uy, giống như kiểu cao bồi miền Tây vậy.
Vợ con xanh máu mặt, khóc ròng vì những cú Hít cốc lạnh người. Nhân lúc nhận định tình hình chạp phô người khôn của khó, lắm chuyện phiền hà, gia đình tôi lại thêm một phen giã từ vòi xăng, máy tính chạp phô để xoay nghề khác. Bỏ thì thương
mà vương thì…hãi!

Dãu gì cũng xin cám ơn thành phố có chạp phô đã nuôi mình no đủ.

Làm nghề chạp phô cốt sao nhận hàng cho đủ, bán hàng đúng giá, bầy hàng cho đầy cho đep, giữ gìn cửa tiệm ngăn nắp sạch sẽ, tiếp khách niềm nở ân cần, thi hành chu đáo các chỉ thị của hãng, kiểm hàng không thiếu hụt quá mức ấn định, thế là tà tà kéo dài ngày giờ lao động dễ thương.

Điều quan trọng nhất là giữ sao trong ấm ngoài êm, chớ có nổi nóng gây lộn, súng đạn đì đùng gây án mạng thương tích. Mọi chuyện cứ là thân trọng thiên kim chịu đựng, bình tĩnh để tránh nguy hiểm khi bị cướp đến viếng tiệm.

Lúc nào rảnh tay buồn chân thì ta vận động thể dục thẩm mỹ bằng cách cầm cái chổi chà, cái hốt rác ra sân trước chợ, quét dăm ba cái rác rưởi, chai lọ, giấy gói sao cho tươm tất.

Cho nên gọi nghề chạp phô là nghề quét chợ là vậy.

Bỗng dưng bỏ tiệm, không mau tay là thất nghiệp như chơi. Tôi xoay đi làm công cho một tiệm bách hóa Mỹ. Lại cũng phải nhờ đến tay ông bạn cũ là Hoán Tầu một keo nữa, bởi hắn có mấy năm thâm niên mần việc tại nơi này.

Cuộc đời tị nạn 7 năm, nghĩ cũng cám cảnh thiên địa phong trần, thấm thía cái buồn hải ngoại thương ca, tôi lại nổi hứng mần một bài thơ tức cảnh sinh tình, tự vịnh như sau:

Chẳng phải là ông, chẳng phải thằng
Khôn khôn dại dại, múa lăng nhăng
Ba mùa hạ héo đi lau chợ
Bốn độ thu tàn đứng đổ xăng
Chữ nghĩa phất phơ sinh loạc choạc
Học hành lẩm cẩm hóa lai căng
Kèm nhèm mắt mũi đầu thêm bạc
Lẩn thẩn ra vào hết tháng năm…


Lâu lắm không có tin tức gia đình, một bữa tôi nhận được thư của chú em nói bóng nói gió rằng vợ chồng nó cùng thằng em thể nào cũng sang thăm các cháu bên này. Nghĩa là chúng nó tính đường vượt biển tìm tự do. Qua được đảo, có ông anh bảo trợ vào Mỹ thì yên chí rồi.

Chú em tôi tốt nghiệp kỹ sư, vợ nó giáo sư, lấy nhau mới được 1,2 năm chưa có con cái gì. Cậu em kế độc thân, có bằng dược sĩ. Dẫu là sĩ hay sư thì dưới chế độ cộng sản, bằng cấp cũng như tờ giấy lộn. Đời sống luôn luôn bị đe dọa cả vật chất lẫn tinh thần, nói chi đến tương lai mù mịt. Chúng nó quyết tâm đi tìm tự do và biết rằng chuyện ra khơi nào cũng nayhiểm nguy, bất trắc.
Từ khi nghe tin nhà, tôi đâm ra lo lắng không biết chúng nó đi đứng ra làm sao. Đồng thời tôi cũng phải chuẩn bị chỗ ăn chỗ ở cho chúng nó sang nữa chứ!

Thế là mấy cha con tôi nhân cơ hội sắp tiếp đón cô chú tị nạn, bèn ra tay sửa sang lại cái ga-ra cho sạch sẽ, nối ống dẫn hơi lạnh, đổ thêm bông cách nhiệt trên trần nhà, gắn thêm đèn , kê thêm giường, bàn ghế cứ y như các cô chú ấy đã đến đảo, chỉ vài ngày nữa là qua Mỹ vậy.

Tôi theo dõi tin tức Việt Nam, theo dõi tình hình đi biển, tình trạng thuyền nhân bên đảo Mã, đảo Thái, bám sát các hoạt động cứu trợ quốc tế.

Rồi tôi nhận được một điện tín từ Việt Nam, nói ý rằng hai em trai và em dâu đã lên thuyền. Tôi bồn chồn xúc động, nửa mừng nửa lo, tối nào cũng thắp nhang chắp tay niệm Phật.

Qua ba tuần lễ tôi không thấy tin tức gì. Đợi đến hơn một tháng, vẫn tuyệt vô âm tín. Một bữa đi làm về buổi chiều, tôi nhận được lá thư từ đảo gửi sang, hồi hộp như muốn vỡ tim. Đúng là thư của chú em tôi rồi mà sao bì thư lại đề tên người khác. Tôi xé vội thư, đọc vài hàng xong choáng váng mặt mày té xỉu. Vợ con giựt tóc, đổ thuốc, khóc lóc, gọi ầm ĩ làng xóm mãi mới tỉnh.

Người viết thư là một thuyền nhân cùng đi chuyến vượt biển với chú em tôi, sống sót trên đảo, nhờ có địa chỉ em tôi dặn dò trước nên báo cho hay rằng cả ba đứa đều chết trên đảo san hô như báo chí có lần đăng tải. Chiếc thuyền trôi dạt vào đảo, không thức ăn không nước uống, rồi phải ăn thịt người để sống. Các em tôi là những nạn nhân cuối cùng, trước khi có tầu lớn phát giác tiếp cứu mấy người sống sót.

Coi xong thư, tôi như kẻ mất hồn, như điên dại. Bỗng chốc mất đi ba kẻ thân yêu. Các em tôi dư biết về hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, chém giết, vậy mà chúng vẫn chấp nhận để mong vượt thoát. Nhưng các em tôi không bao giờ lại có thể ngờ rằng sẽ bị phơi xương trên đảo san hô cả. Và không có đứa nào thoát nạn để ít ra còn được một nguời đến bến tự do.

Từ khi chịu cái tang đau đớn đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về nhân quả, nghiệp chướng, luân hồi, sắc sắc không không. Tôi thấy mình có trách nhiệm về cái chết của các em.

Nếu tôi không làm tôi mất nước, thì đâu đến nỗi các em tôi phải vượt biển để chết thảm thương trên đảo san hô định mệnh.
Cũng từ đó, tôi cảm thông được với những đớn đau của tử biệt sinh ly, biết thế nào là đùm bọc thương yêu, hiểu thế nào là tình đồng bào một nước.

Và ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật nghe kinh, tôi cảm thấy tâm hồn như được vỗ về an ủi, vơi đi nhiều khổ não u sầu của tục lụy trần gian…

Dẫu được nghe kinh và chiêm bái hình ảnh từ bi bác ái của đức Phật tỏa ánh đạo vàng như thế, nhưng qua làn khói hương nghi ngút chốn tôn nghiêm, tôi vẫn thấy ẩn hiện những đôi mắt nhìn mình không chớp. Những đôi mắt mòn mỏi đợi chờ của mẹ của cha, những đôi mắt căm hờn của bạn bè trong trại cải tạo, những đôi mắt ngơ ngác của bầy em thơ dại, những đôi mắt khiếp đảm của thuyền nhân, những đôi mắt tuyệt vọng của nạn nhân bị bắt cóc, hãm hiếp, những đôi mắt cầu cứu của người ở đảo… Những đôi mắt ấy nhìn tôi hình như trách móc, khinh rẻ, oán hờn, kết tội, như có ý bảo rằng nếu không có những kẻ tồi tệ, ươn hèn, đốn mạt như tôi thì đâu có đến nỗi nước mất nhà tan, sẻ đàn tan gánh, đâu đến nỗi đau thương uất hận ngút trời. Những đôi mắt ấy theo tôi cả trong lúc ăn lúc ngủ, rong lúc tôi khiêu vũ, đánh bài. Những đôi mắt ấy ám ảnh tôi ray rứt, triền miên như các chứng nhân theo sát một tội đồ.

Rồi đến một hôm, nhân đọc cuốn sách Cõi Tự Do của Giao Chỉ, tôi mới biết đích thực trăm phần trăm không còn chút gì ngờ vực nữa:

Rằng chính tôi là một trong những thủ phạm làm mất nước!

Giao Chỉ với tôi khác nhau một trời một vực. Lẽ tất nhiên, tôi là kẻ ở dưới vực. Cứ xét hồ sơ quân ngũ thì rõ: Ông này đi lính xuất thân từ quân trường Dalat nên tự nhận là lính trận và có bút hiệu là Lính chiến. Còn tôi, sinh viên sĩ quan Thủ Đức hùng anh – như lời bản nhạc của quân trường – nhưng về binh sở nên gọi là Lính văn phòng. Giá trị của lính chiến nghe vẫn oai hơn lính văn phòng rồi nhá!

Ông này ở nhà binh, đóng tới lon đại tá là làm lớn lắm, ba bông mai bạc chớ bộ! Còn tôi lèo tèo hai bông mai vàng bé xíu xìu xiu.

Tôi có mỗi cái tên cúng cơm đem ra làm chuẩn một mục đề, còn như ông này nào Hồng Hà, Lính Chiến xong lại lấy bút hiệu Giao Chỉ – đại diện cho dân An Nam ta thời xưa – thế là bao quát vấn đề lắm. Cứ xét hồ sơ quân bạ như rứa, hai bên khó lòng ngồi chung với nhau. Hơn nữa, ông này lại viết báo viết văn lừng lững một cây xanh rờn, tôi rất hãi và khép nép tránh xa.

Đùng một cái, trên bàn giấy của tôi có cuốn Cõi Tự Do do tác giả gửi tặng. Lòng ưu ái ấy kèm theo cái chỉ thị là hãy nghiên cứu tình hình địa phương để tẩu tán dùm ít sách. Tôi chưa phúc trình thượng cấp vụ bán sách, vì mải mê đọc cuốn sách mới ra lò xem nó ra sao.

Cuốn sách được giới thiệu là tác phẩm tiêu biểu cho 8 năm sinh hoạt cộng đồng, khi người lính giá súng để chiến đấu bằng cây bút có lửa, thiên hùng ca tặng QLVNCH và còn nhiều nhiều nữa. Tác giả viết về cuộc sống phiêu bạt giang hồ của một nhóm gia đình đi từ miền Đông qua miền Tây để tìm chút nắng ấm quê hương qua mái tóc đen, qua mớ rau muống, cọng giá sống, lá rau dấp cá, để đứng bên này đại dương vời trông cố hương xa cách muôn trùng, để tìm về kỷ niệm.

Giao Chỉ phê bình một cuốn sách của tác giả Nguyễn Cao Kỳ, và theo thứ tự thời gian kể những chuyện về quê hương, chiến tranh, đời sống tị nạn với khá nhiều vấn đề phức tạp. Báo chí đã có những bài điểm sách, ca ngợi nhiệt tình. Lại có các nhà văn nhà thơ nhà giáo phát biểu cảm tưởng.

Tất cả những bài trong cuốn sách tôi đều yêu. Yêu vì sự chân thực, nhiệt tình và phong cách. Nhưng điều mà tôi yêu nhất, khoái nhất là bài Ngôi trường cũ. Tác giả nhớ về Khóa Cương Quyết Dalat 1954, những ngày thụ huấn gian lao, những kỷ niệm vui buồn quân ngũ, những kẻ còn người khuất, những kẻ lạc loài… Ngày họp mặt Hội Aùi Hữu Cựu SVSQ Dalat với các đàn em tại xư ùngười, niên trưởng Giao Chỉ cùng anh em ôn lại chuyện cũ tích xưa, có nói: Chả hiểu đàn anh ra trường làm ăn ấm ớ thế nào mà nước non cùng quân lực tan tành trong khoảnh khắc.

Rồi đoạn chót, Giao Chỉ nhắc anh em cố giữ lấy chút tình cốt nhục để làm sao mà gắn thành một khối. Giao Chỉ nói tiếp: Và nếu sau này có ai tổ chức Hội Những Người Làm Mất Nước cũng xin vui lòng kết nạp tôi làm hội viên, bởi vì khi ta đã từng học ở ngôi trường cao cả ấy thì chắc chắn hôm nay phải chia sẻ nỗi nhục nhằn dù là với tư cách của kẻ thất phu.

Mấy hàng chữ chót của trang 132 đã khiến tôi nhẩy tưng tưng lên như vừa khám phá ra cái gì mới lạ.

Đây rồi, ông này nói rằng thì là ai lập Hội Những Người Làm Mất Nước thì cho ông ấy vào một chân.

Cái ý tưởng viết về một bài tố khổ, tả oán chính mình làm cho đất nước đi đoong thì tôi đã có trong đầu từ mấy năm nay mà chưa dám nói ra đấy thôi! Nay được lời như cởi tấm lòng, đã có Giao Chỉ nổ pháo lệnh rồi thì mình a-la-xô xung phong làm mau đi chứ, kẻo có người khác lẹ mồm nhận là kẻ làm mất nước thì mình còn cái chi chi để nói nữa bi giờ?

Cho nên như một mớ lửa rơm nổi cháy phừng phừng, tôi viết Tôi làm tôi mất nước. Đó là lý do tại sao có loạt bài này.

Lai nói về đọc Cõi Tự Do, tôi là thứ lửa rơm nên chỉ cháy một chút là tịt ngúm. Cuộc đời trước mặt vẫn chỉ là áo cơm, cơm áo nhọc nhằn nên ngày nghỉ, thay vì tham gia công tác xã hội, cộng đồng thì tôi lại tìm niềm vui bên cạnh cái cần câu, ra ngoài biển thả hồn về Vũng Tàu, Cam Ranh, Phú Quốc, Nha Trang, Đà Nẵng… Và lại mần thơ tựa một nhà thơ hải ngoại thương ca vọng về cố quốc mà ruột rối tơ tằm, não nề tâm sự đầy vơi:

Sương Khuya
Một mình bên ghềnh đá
hững hờ buông giây câu
mênh mang trời biển cả
xôn sao sóng bạc đầu
nhấp nhô thuyền mấy lá
trôi dạt biết về đâu?
trời chiều đùn mây tỏa
chập chờn cánh hải âu
lạc loài trên xứ lạ
nhìn nước cuộn lòng đau
nước dập vùi tàn phá
nước chia cách địa cầu
nước ngăn tình đôi ngả
nước khơi mối thảm sầu
cố hương vời vợi quá
nhớ thương gửi về đâu?
quê nghèo xưa vất vả
nắng mưa phận dãi dầu
đất cầy thơm lúa mạ
nhọc nhằn tấm áo nâu
gái quê hồng đôi má
xinh xinh giấc mộng đầu
giọng hò ru lơi lả
đong đưa mấy hàng cau
bờ tre xanh bóng lá
nong tầm thương cánh dâu
sáo diều nhà ai thả
trẻ đùa bên lũ trâu
chim hót ngoài mái rạ
đàn cò lội trắng phau
khói lam chiều nhẹ tỏa
lối mòn vương ánh sao
đã xa rồi tất cả
thân ga kiếp con tầu
cánh bèo trôi nghiệt ngã
nước vẫn chẩy qua cầu
gió lạnh hồn băng giá
sương khuya tóc ngả mầu
ta nhìn ta khác lạ
người cũ tìm nơi đâu
những mảnh đời tơi tả
bao giờ còn thấy nhau?

Thế là không như tôi tưởng, rằng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc và tôi xa cách nhau muôn trùng cả về cấp bậc lẫn uy danh lại có thể ngồi chung được với nhau, thì hôm nay đây, hai quân trường Dalat-Thủ Đức đã thành liên trường, hai cấp tá-úy đã là huynh đệ chi binh vì mình cùng chung đời lính, thương nhau khác chi nhân tình! Hai kẻ viết lách, một là nhà văn một là chòi văn đã cùng chung lối về xóm nhỏ. Và nhất là cả hai đều có tư tưởng hùng vĩ trùng hợp y chang, tự nhận mình là kẻ đã làm mất nước, dám nói khơi khơi bằng văn tự thì kể như anh em nhà binh chúng tôi từ nay trở thành những kẻ khác hội cùng thuyền.

Từ đó suy ra, chúng tôi cùng chung chiến tuyến. Đại tá Giao chĩ đã tiếp tế cho tôi một chút xăng vào ngòi bút để khi viết họa may có chút lửa. Nếu không có lửa, ít ra cũng bay lên tí khói.

Nhòm vào sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại, từ khi mất nước đến nay, giới văn nghệ sĩ đã đóng góp tuy chưa nhiều nhưng cũng khá bộn. Bộ môn nào cũng hướng chủ đề về quê hương đất nước mến yêu, về hình ảnh ba miền Huế-Saigon-Hà Nội, về người chiến sĩ Cộng Hòa dũng cảm, về những trại cải tạo tù đầy, về những chờ đợi của người ở quê nhà mong ngày giải phóng Việt Nam.

Như Bùi Văn Bảo, Nguyễn Xuân Vinh, Cao Thế Dung, Vũ Thụy Hoàng qua nghị luận, biên khảo sử liệu, sách truyện. Như Hà Huyền Chi, Thanh Nam, Cao Tần, Du Tử Lê, Bắc Phong với những vần thơ chất chứa thành sầu tha thiết với quê hương. Như Việt Dũng, Nguyệt Aùnh, Nguyễn Đức Quang với những nhạc phẩm nung đúc ý chí đấu tranh để có một ngày về. Như một Trần Cao Lĩnh đi khắp bốn phương trời, hành trang chỉ với chiếc máy hình đã ghi lại được biết bao nét đẹp của ba miền đất nước. Đó là tình tự dân tộc, là quê hương ta, hãy nhớ quay về.

Và còn biết bao hoạt động khác của hội đoàn, sinh viên, cựu quân nhân, phụ nữ, lão niên, của giới truyền thông…vẫn ngày đêm ấp ủ tình đoàn kết, cố gắng vun bồi cho gốc nhà Nam được vững vàng, dẫu rằng nay sống trên đất tạm dung.

Nhìn vào các hình ảnh tập thể, sinh hoạt mạnh mẽ và đầy tin tưởng như thế, tôi tự nhận thấy rằng ngay cả lúc bỏ quê hương đi tị nạn, tôi cũng không đóng góp được gì cho đại cuộc. Trái lại, tôi vẫn còn cái đầu óc nhỏ nhen tự ái, khoe khoang, chỉ trích, tiếp tục làm những điều lăng nhăng cà chớn.

Đã một lần mất nước, nay không hối hận ăn năn chuộc tội mà còn kéo cho dài thêm ngày về thì quả là tội tôi lớn lắm.

Khi nhìn rõ chính mình, thời gian đã vùn vụt hơn chín năm quê người lưu lạc. Dẫu muộn còn hơn không, tôi cần phải tham gia một hội như Giao Chỉ đã khơi mào để làm một cái gì chuộc tội.

Hội đó có tên: Hội Những Người Làm Mất Nước!

Mỗi khi lập hội, những người chủ trương thường nhắm vào các mục đích cao ca,û lý tưởng hoặc tương thân tương ái, xã hội hay liên quan đến tôn giáo, nghề nghiệp, họ hàng, đồng hương đồng tỉnh.

Như hội kín là hội bàn đến các chuyện bí mật, hành tung nguy hiểm, nguyên tắc là lúc nào cũng phải kín như bưng. Để cho hội bị hở là mạt lộ. Như hội ái hữu tự nó có nghĩa là liên lạc tương trợ, họp bạn định kỳ. Chẳng hạn như hội ái hữu cựu học sinh, hội ái hữu các khóa quân trường, hội La-Vang, hội Phủ Giầy, hội Thánh Mẫu, hội đồng hương Nam Định, hội tương tế Quảng Đà, hội Lê tộc, hội ái hữu nghệ sĩ cải lương, hội văn nghệ sĩ, hội nhiếp ảnh, hội Chèo Cổ Bắc Phần… Cứ phác họa sơ sơ như thế thì chỗ nào có người sinh sống là chỗ ấy có hội.

Duy có cái hội với tên nghe lạ hoắc là Hội Những Người Làm Mất Nước thì chưa có ai cầu chứng tại tòa, cho nên bây giờ tuy sinh sau đẻ muộn nhưng muộn còn hơn không, hơn để cho nó chìm xuồng.

Hội có tuyên cáo trước quốc dân đồng hồ như vầy:

  • Nhận định chắc chắn rằng: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Nay nước mất, không trách chi ai mà kẻ thất phu phải cúi đầu chịu tội trước mới phải đạo làm dân.
  • Nhận định rõ ràng rằng: Dù mất nước nhưng thực tế và thực thể thì nước vẫn còn đó hình cong chữ S chứ đâu có suy xuyển chút nào.
  • Nhận định thẳng thừng rằng: Tuy không nhìn thấy rõ bàn cờ quốc tế nhưng thân phận nhược tiểu luôn luôn là quân cờ đổi tốt thay xe bất cứ lúc nào đại cường quốc cần quân bình cán cân lực lượng.
  • Nhận định nghiêm chỉnh rằng: Từ ngày bỏ nước ra đi, thân phận lưu vong dù ấm no rủng rỉnh, vẫn cứ mơ về chốn cũ người xưa, nhớ nhung chất ngất.
  • Nhận định đứng đắn rằng: Vận nước qua cơn bĩ cực ắt tới thuở thịnh trị thanh bình và hạnh phúc.
  • Nhận định chủ quan rằng: Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn kiến trung thần, tổ quốc có lâm nguy mới rõ mặt quân tử anh hùng, mới tỏ tường tiểu nhân phản phúc.
  • Nhận định khách quan rằng: Luật tạo hóa cũng như luật nhân quả, có vay có trả, đứa nào gây tội thì phải đền tội, không thể lấp liếm, đổ thừa đổ vạ cho ai.
  • Nhận định lạc quan rằng: Căn cứ vào các nhận định trên, tất nhiên sẽ có một ngày về trên quê hương ta tự do, no ấm.

Nay tuyên cáo:

Thành lập HỘI NHỮNG NGƯỜI LÀM MẤT NƯỚC.

Tuy hội có cái tên lạ hoắc như rứa nhưng cơ cấu tổ chức, điều hành, nội quy, ngoại vụ lại thi hành theo lề lối rất ư là quen thuộc, hoàn toàn mang tính cách tồn cổ, hoài cổ và vọng cổ, đầy dân tộc tính.

Hội không có các chức vụ nghe lớn lao, xôm trò như Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch, Thống đốc, Tổng Thư Ký, Uûy Viên.
Hội không họp mũ cao áo dài cổ cồn cà vạt quanh bàn tiệc sâm banh, khiêu vũ.
Hội không có nhiệm kỳ, không bầu bán chức tước.
Hội không tổ chức thành liên danh, thành khối, thành nhóm.
Hội không tuyên dương thành tích công trạng, không ai là cá nhân xuất sắc.

Hội được tổ chức theo chế độ cổ xưa, kêu bằng Xã thôn tự trị. Chế độ này lấy đơn vị Làng làm chuẩn, tự cai quản hành chánh thuế khóa, có thẩm quyền rộng rãi mà ngay cả đến nhà vua cũng không thể xía vào. Phép vua thua lệ làng là vậy.

Theo qui tắc trên, mỗi địa phương tổ chức một hội độc lập, không bị thống thuộc mà chỉ liên lạc hàng ngang với hội bạn mà thôi.
Những ai tự nhận mình có tội với tiền nhân, với đồng bào, đồng đội, đồng ngũ thì tự mình định tội, tội nặng ngồi vào chiếu trên, tội nhẹ ngồi lui chiếu dưới. Hội còn có một Hội Đồng Cố Vấn gồm đại diện các quốc gia đã gởi quân tham chiến tại Việt Nam, đóng góp kỹ thuật, tài chánh, y tế như Mỹ, Uùc, Phi, Đại Hàn, Thái Lan… Cạnh Hội Đồng Cố Vấn lại có Hội Đồng Tiểu Liên Hiệp Quốc gồm đại diện các cường quốc từng góp công làm cho Việt Nam ba chìm bẩy nổi, vô tình hay hữu ý, trực tiếp hay gián tiếp giúp cộng sản để làm mất miền Nam, như: Nga Sô, Trung Cộng, Hoa Kỳ, Pháp, Aêng Lê, Nhựt Bổn…

Hội không có vấn đề bầu cử, đề cử, độc cử, tái cử. Ai tự nhận thấy mình ở chiếu nào thì xà vào chiếu ấy.

Hiện nay, hội chưa có ai xuất hiện vào cái thuở ban đầu. Duy có sáng lập viên Giao Chỉ và Cai tôi là hai kẻ trình diện sớm nhất. Giao Chỉ vốn làm lớn, tội nhiều chắc sẽ can đảm lên ngồi chiếu cạp điều hoặc chiếu hoa chịu trận. Phần Cai tôi, nhận thấy hội còn khuyết chân Mõ Làng nên xung phong đảm trách. Cái chức này tuy thấp hèn nhưng tiếng lại rất kêu. Mỗi khi có hội họp là Cai tôi đi quanh làng, gõ mõ hô chiềng làng nước lắng tai nghe lời hiệu triệu. Cai tôi theo lệ làng, được một mình một cỗ thảnh thơi đớp hít. Như vậy là công bình và hợp lý.

Đại khái cái sườn của hội là thế, các địa phương cứ tùy nghi như thế thi hành

Thay lời kết

Đã gần mười năm tôi làm tôi mất nước, ngẫm lại mới như vừa bỏ nước hôm qua. Thời gian trôi mau biền biệt, không giống nhau, không ngừng lại. Cuộc sống lưu vong mà Giao Chỉ gọi đó là nơi sống không bị cùm kẹp, bố ráp tinh thần, mang tên Cõi Tự Do.

Cõi đó đúng là cõi tự do 100% của nhân loại văn minh nhưng cõi đó cũng còn mang nhiều cái tên tùy theo từng tâm trạng.

Cõi đó còn là Cõi mơ hồ, cái ta có ta không, ta là ai, ai là ta và chẳng ai giống ta cả. Cõi đó như là Cõi buồn vây kín chung quanh, chỉ đủ cho ta thở ta ăn, ta đi làm kéo cầy trả nợ. Cõi đó là Cõi tiên cõi thiên đàng cho những ai chấp nhận nơi này làm quê hương và quên khuấy đi cái dĩ vãng motä thời sinh mạng mình gắn liền với sinh mạng Việt Nam.

Cõi đó là Cõi ưu phiền của tuổi già quạnh quẽ, lạnh lùng dẫu đây bốn mùa xuân hạ thu đông, mùa nào cũng đẹp như tranh vẽ. Cõi đó là Cõi mộng với những ai ước ao được đặt chân tới miền đất thừa thãi vật chất ấm no. Cõi đó là Cõi nhớ chập chùng về những kỷ niệm xa xôi diễm ảo. Cõi đó là Cõi tương tư ta ở đây mà tâm hồn lúc ở Saigon, khi Cần Thơ, khi Dalat.

Với Cai tôi, ví mình cũng như thân phận Thúy Kiều, mà còn khổ hơn nàng Thúy ở cái điểm là không hồng nhan cũng nhuốm nhiều gian truân. Gian truân từ khi định cư đất lạ đi làm cu-li của đời mưa gió bơm xăng vá lốp lau nhà. Gánh nặng gia đình đè trĩu trên vai, mới biết thế nào là trách nhiệm cụ thể, thế nào là chịu đựng hy sinh cho đàn con khôn lớn. Rồi lại chuyển bến xoay vần cuốn theo chiều gió, một xe trong cõi hồng trần đi làm ăn phương khác vì nghĩ câu đâu cũng là nhà. Qua dăm bẩy tám chín thứ nghề, từ văn phòng bàn giấy, com-lê cà vạt đến chân bấm giá hàng, dọn kho, lau chợ, còng lưng vẫn gánh nặng đôi vai, vẫn khối buồn đeo đẳng, vẫn canh cánh bên lòng cái tội cái nợ làm mất nước.

Đời sống xứ người càng đầy đủ ấm no bao nhiêu, phong cảnh càng xinh đẹp mỹ miều bao nhiêu, Cai tôi lại càng cảm thấy chán ngán, dập vùi lạc lõng bấy nhiêu.

Nên Cõi tự do này tôi gọi nó bằng một cái tên khác, ít ra đúng với tôi. Là Cõi lêu bêu! Nó vừa lênh đênh bất trắc với tôi, vừa làm cho tôi cứ nhớ cứ thương về quê hương bản quán.

Chốn đó là nơi Cai tôi sinh ra, lớn lên, nửa đời được ăn rau muống với cà, được ê a đánh vần hai tiếng Mẹ, Cha, được nghe tiếng đại bác ru đêm chập chờn hỏa châu soi sáng tiền đồn, được nằm lều vải cá nhân ôm súng bên đồi sim tím, được ngắm suối reo thác đổ miền cao nguyên trùng điệp, được về miền Tây sóng nước bao la cuộc sống hiền hòa, được nghe dân ca vọng cổ hát chèo những ngày mở hội, được đọc dòng lịch sử liệt oanh lẫy lừng của dân tộc Việt Nam, được chứng kiến những thăng trầm của vận nước điêu linh tang tóc.

Thất phu hữu trách, nên Cai tôi cũng trách nhiệm như ai. Nay xin làm thân mất nước ráng làm một cái gì trong cõi lêu bêu, cõi tự do này để chuộc tội. Nếu chuộc tội kiếp này chưa xong thì kiếp sau còn dịp tái sinh duyên, xin lại được làm người. Và làm người Việt Nam để vẫn còn tiếp tục chuộc tội với lương tâm, với gia đình, với bạn bè, với tổ quốc.

Được vậy, khi hai tay buông xuôi nghỉ nơi nghĩa trang quân đội, Cai tôi sẽ yên tâm nhắm mắt mà cười khì khì, coi như đã thi hành xong nghĩa vụ quân dịch, trang trải nợ nần, rũ sạch bụi đời, thoát nợ trần gian và khò khò vùi sâu giấc cuối…

(Houston, Texas/1984)

PHỤ LỤC

Sau đây làù cảm tưởng của người đọc trong nhiều giới.Xin trích đăng một phần để độc giả hiểu thêm dư luận nghĩ thế nào về cuốn sách và tác giả:

“Ngay khi đọc xong loạt bài, tôi đã bàn với anh rằng cuốn sách phải ra bằng được để phá cái không khí khó thở, không ai dám nói ra, không ai dám mổ sẻ, không ai dám nhận mình có lỗi. Riêng gia đình tôi, cả nhà tán tụng và khen nức nở thầy Cai”.
(Cao thế Dung, Maryland)

“Là tác phẩm đầu tay , dù sinh hoạt báo chí lặng lẽ 30 năm mới trình làng, Lê-văn-Phúc với giọng văn chân thành tự nhiên, can đảm nhìn vào vấn đề mà ít ai dám nói”.
(Chu vương Miện, California)

“Giọng văn vui nhẹ của Phúc hợp với vụ tự trách. Trách mình luôn thể trách người, đâu phải chỉ để làm vui mà thôi!”
( Mặc Đỗ, Texas)

“Một bản tự thuật chân thành mà hết thẩy những người tị nạn cộng sản biết suy nghĩ, trách người và trách mình đều lấy làm thích thú. Đọc Lê văn Phúc, ai cũng phải công nhận ông có một ngòi bút viết thực dí dỏm đáng yêu”.
(Phạm cao Củng, Florida)

“Chắc thiên hạ mê Tôi làm tôi mất nước lắm”!
(Linh Mục Nguyễn văn Thư, California)

“Đọc xong Tôi làm tôi mất nước, có một điều chắc chắn thấy ngay Lê văn Phúc không phải chỉ muốn chọc cười như người ta tưởng. Phải chăng tác giả muốn mọi người cùng soi chung cái gương quá khứ để tự kiểm”.
(Trọng Kim, Texas)

“Lối viết châm biếm dí dỏm của anh làm người đọc thoải mái, thích thú và dễ có cảm tình”.
(Vũ thụy Hoàng,Virginia)

“Đọc bài, không biết Phúc nhưng nhìn ảnh là nhận ngay ra người bạn Dalat năm xưa. Lối văn của anh đọc dễ thích lắm, nhất là những đoạn về Dalat gợi tôi nhớ đến những ngày Ngự Lâm Quân”!
(Nguyễn đạt Thịnh, Hawaii)

“Tôi đã say mê đọc trước đây tập truyện ký của hiền hữu đăng rải rác trên nhiều tờ báo, vẫn ước mong một ngày nào đó có nguyên một bộ, nay được toại nguyện để vào tủ sách văn học của gia đình”.
(Đào hữu Dương, California)

“Tuy đã đọc trên báo, tôi vẫn hứng khởi đọc lại Tôi làm tôi mất nước và thích thú vô cùng. Cám ơn anh đã tặng sách quý”.
(Túy Hồng, Washington)

“Tôi đang mê ông, xin gửi cho tôi một cuốn với chữ ký để lưu tủ sách gia đình”.
(Họa sĩ Phạm Thăng, Canada)

“Cuốn sách độc đáo mà tối nào nhà tôi cũng đọc mấy chục trang lại cho tôi nằm nghe và nhà tôi cứ khen là chú giỏi và lém quá! Mong rằng cuốn sách này sẽ được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt”.
(Bảo Vân Bùi văn Bảo, Canada)

“Đọc tác phẩm để tìm hiểu một chút nữa về chính mình cũng như về những nguyên nhân khác đưa đến sự mất quê hương”.
(Lê văn Xê, Nhật Bản)

“Sống ở xứ người mà có một cuốn sách hay để đọc, thật quý vô cùng. Xin cám ơn anh thật nhiều”.
( Thái Thanh, California)

“Sách anh tặng, Hoàng Oanh lật vội vài trang đọc thấy buồn cười quá! Văn anh viết rất dí dỏm, dản dị làm ai đọc cũng thấy thoải mái như đang khát nước mà uống được một ly đá chanh đường vậy”.
(Hoàng Oanh,New Jersey)

“Trong sách ông có nhiều chỗ cảm khái, dù ông viết thẳng băng như ruột ngựa. Tôi đọc thì thấy cái tựa đề phải đề là Ông làm tôi mất nước ông Cai Phúc ạ! Tội tôi còn có vẻ nặng hơn ông nữa”!
( Nhất Tuấn, Washington)

“Cuốn sách của anh đã là câu trả lời chính đáng nhất về thân phận mình và hai chữ Tại sao ?. Tuy là tự trào nhưng mỉa mai châm biếm một cách chua chát ngấm ngầm, tưởng rằng người Việt Nam nào đọc xong cũng phải có chút tự vấn”.
(Bác sĩ Nguyễn ngọc Bảy, Utah)

“Đây không phải là một tác phẩm văn chương mà chúng ta thưởng thức trong lúc nhàn rỗi. Đây là một tấm gương rất trong, rất sáng mà chúng ta soi vào để mỗi người nhận thấy một phần của mình. Đã có người đọc xong cuốn này rồi khóc nức nở. Khóc vì hối hận hay khóc vì thương nước nhớ nòi? Điều đó chỉ riêng người ấy biết”!
(Lã huy Quý, Texas)

“Xin thành thật khen bút pháp của ông. Bằng chứng hùng hồn nhất là tôi đặt mua ngay quyển sách này khi ông vừa loan tin trên báo. Ông có lối tếu trào lộng, bình dân mà lại bóng bẩy, khả ái có thể thọt lét rất nhiều giới…”
(Kim Anh, Maryland)

“Sách thật tuyệt vời, đáng gọi là sách hay nên tôi đã đọc đến hai lần tước khi viết lời cảm tạ”.
(Thái Đình, California)

“Lê văn Phúc mà Lan thường hay gặp trong Văn Nghệ Tiền Phong khác hẳn với Lê văn Phúc của Tôi làm tôi mất nước. Khác như thế nào thì Lan không diễn tả nổi. Lan lại ước được làm nhà văn”.
(Ca sĩ Uyên Lan, Texas)

“Anh viết thông minh, ý nhị. Nguyên đề tài anh chọn lựa, cái nhan đề cuốn sách đã là một ý kiến độc đáo, nghịch ngợm rồi. Tôi chắc tác phẩm sẽ được độc giả hoan nghênh”.
(Võ Phiến, California)

“Cuốn sách đã mở lại cho tôi cả một trời hoài niệm, trong đó vui buồn lẫn lộn, vừa tủi hờn vừa hối tiếc, bấy nhiêu thứ đã nhờ ngọn bút tài tình ngào nặn trong khía cạnh trào lộng và tan ra trong nụ cười chẳng đặng đừng. Cám ơn ông đã cho những phút giây khoái cảm đó”.
( Phùng tất Đắc, Anh quốc)

“Được đọc lại liên tục với một hình thức đẹp, thật là khoái tỉ. Viết văn loại này, khó ai theo kịp Cai Phúc”.
(Bội Điệp, Florida)

“Cuốn sách được viết một cách duyên dáng, hấp dẫn khiến người đọc không biết chán. Viết về cái tôi rất khó mà văn hữu lại gây cho người đọc có cảm tình với tác giả, thật là điểm son rất quý”.
(Đông Ngàn ,Texas)

“Với lối viết thoải mái, phóng đạt kèm theo một trí nhớ siêu đẳng, Lê văn Phúc dẫn chúng ta trở về bơi lội thỏa thuê trong những dòng sông hồi tưởng thật rõ nét”.
(Hồ An, Washington)

“Tôi đã đọc rất thú vị, đặc sắc với bài phú Xuân viễn phương đầy đủ tình người, tình quê hương và ngòi bút có lửa trên tuyến chống cộng sản”.
( Đỗ Quốc Anh Thư, California)

“Từ mười năm nay, thiên hạ viết về sự sụp đổ của miền Nam đã nhiều, chưa có ai viết dễ thương như ông Lê văn Phúc.
Sách có thứ hay, thứ dở, thứ cao, thứ thấp v.v…nhưng thứ sách dễ thương mới là hiếm là quý.
Đọc xong sách của Cai Phúc, mỗi độc giả chắc chắn đều giật mình, đỏ mặt, tự đấm ngực thú tội: Mình vừa có cảm tình với một kẻ làm mất nước. Sao mà nhảm thế”

(Ngô Đình Sở, Văn Học Nghệ Thuật, California)

Share this post