Tống Lệ Chân: Giọt Nước Mắt Khô – Phan Nhật Nam

Tống Lệ Chân: Giọt Nước Mắt Khô –  Phan Nhật Nam

Tôi có người yêu chết trận Pleime
Tôi có người yêu ở chiến khu D
Chết trận Đồng Xoài

Chết vội vàng dọc theo biên giới
Tôi có người yêu chết trận Chu-prông
Tôi có người yêu bỏ xác trôi sông
Chết ngoài ruộng đồng, chết rừng mịt mùng
Chết lạnh lùng mình cháy như than

Tháng 1-1973 ký Hiệp định Paris. Tháng 10-1973 thế giới chúc tụng Lê Đức Thọ và Kissinger, khôi nguyên Nobel đã kiến tạo hòa bình, một “hòa bình độc địa” như chữ của Phan Nhật Nam.

Tháng 4-1974 Tống Lệ Chân thất thủ. Trung tá Lê Văn Ngôn và Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng mở đường máu thoát về Tây Ninh. Trận chiến đã diễn ra từ trước đó, từ tháng 4-1972 trước cả Mùa Hè Đỏ Lửa mà Hiệp định Paris chỉ làm tăng thêm tiếng súng. 510 ngày tử thủ trong hầm hố, bốn mặt vây hãm, đồn điền Minot phía Tây Nam, thị trấn Snoul phía Tây Bắc, An Lộc, Đồng Xoài phía Đông, và chiến khu D phía Nam, toàn là những địa danh của những vùng đất chết trong Tình Ca của Người Mất Trí…

Lần đầu tiên bi ký Tù Binh và Hòa Bình dịch sang tiếng Anh, dưới tựa PEACE AND PRISONERS OF WAR, do US Naval Institute xuất bản. Là dịp cho các bậc phụ huynh mua sách cho các con không thạo Việt ngữ. Để thế hệ thứ nhì thật sự hiểu những gì đã xảy ra. Vì sao thất trận? Mà vì sao thất trận sau đình chiến, trong hòa bình?

Cùng với Tù Binh và Hòa Bình, Mùa Hè Đỏ Lửa cũng được dịch sang Pháp văn dưới tựa UN ÉTÉ EMBRASÉ, bản dịch của Liễu Trương, Nxb L’Harmattan, 2019. [Trần Vũ]

Mua sách qua link: Học viện Hải Quân Hoa Kỳ hoặc Amazon

Phan Nhật Nam

Khi người dân trên toàn thế giới rung chuông, mở rượu, tung giấy ngũ sắc để chào mừng Hòa Bình Việt Nam, cùng lúc đó tại một hóc hẻm, trên ngọn đồi cao 50 thước giữa ranh giới hai tỉnh Tây Ninh, Bình Long, một cứ điểm quân sự trông xuống hai con suối bắt đầu nổ súng như tia chớp giữa ngày quang. Trận đánh Tống Lệ Chân bắt đầu nặng độ. Lợi dụng ngưng bắn, Cộng sản ra mặt tấn công ban ngày. Không ai trên thế giới biết đến, tất cả muốn xóa đi, bỏ qua tai nạn cục bộ của một Việt Nam rắm rối. Hòa Bình: thứ rượu nhạt mà thế giới hằng lâu không được uống. Tống Lệ Chân: trận chiến cuối mùa và cô đơn nhất của dòng thời gian binh lửa. Tính đến  nay, căn cứ bị vây đúng 17 tháng hay 510 ngày. Không ai trong chúng ta nghĩ đến con số nhỏ bé ghê gớm này. Chúng ta cũng là những kẻ có tội.

Stalingrad bị Ðức bao vây 76 ngày, Mỹ giữ cứ điểm Bataan 66 ngày, Anh tử thủ Tobruk 241 ngày và ở Việt Nam, “địa đàng” của chiến tranh, nơi binh đao tung hoành không giới hạn, chúng ta cũng đã có những nơi chốn với tên gọi để đời như Ðiện Biên Phủ bị vây 57 ngày. Gần gũi và còn được nhớ là những trận đại chiến khởi đi trong mùa Hè 1972, nhưng Delta, Charlie ở Kontum cũng chỉ kéo trong vài ngày, An Lộc 110 ngày và Quảng Trị thực sự đến ngày 25-7-72 đã được giải tỏa phần lớn. Thế nên, Tống Lệ Chân với 510 ngày bị vây hãm phải được xem là trận đánh dai dẳng nhất lịch sử chiến tranh nhân loại.

Căn cứ nhỏ bé đó từ ngày 10-5-72 đã bị mờ khuất sau làn khói dậy lên từ An Lộc, Quảng Trị, Kontum – và đến nay – sáu tháng sau ngày hòa bình độc hại, tiền đồn này lại càng bị xóa mờ để che giấu và vô hiệu hóa tội ác của Cộng sản. Chúng ta phải nhỏ xuống giọt nước mắt để cầu nguyện cho một nhóm người trong 510 ngày đã chiến đấu để chứng tỏ cùng thế giới: Tội ác đã đồng nghĩa với Cộng sản. Tống Lệ Chân, giọt nước mắt tinh tuyền từ sức đối kháng vô bờ của người Việt miền Nam.

Căn cứ thiết lập trên ngọn đồi cao 50 thước, trông xuống hai con suối Takon và Neron, những nhánh nguồn đầu tiên của sông Sài Gòn, dầy đặc khắp miền Tây Ninh, Bình Long, nằm trên đường ranh của hai tỉnh này, cách An Lộc 15 cây số về phía đông-bắc và ở phía nam biên giới Việt-Miên khoảng 13 cây số. Ðiểm nhọn của mũi Mỏ Vẹt, đại bản doanh của Cục R, Trung Ương Cục Miền Nam chĩa thẳng vào căn cứ.

Tống Lệ Chân trước kia là một trong những trại Dân sự Chiến đấu thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt mà người Mỹ đã thành lập từ năm 1967. Trong lãnh thổ Quân Khu III dọc theo biên giới Việt-Miên từ Tây Ninh qua Phước Long có những trại Bến Sỏi, Thiện Ngôn, Kàtum, Tống Lệ Chân, Lộc Ninh, Quản Lợi, Bù Gia Mập, chỉ riêng trại Bến Sỏi nằm trong nội địa Tây Ninh, các trại còn lại làm thành một hàng rào song song với biên giới hệ thống tiền đồn ngăn chặn, báo động lần xâm nhập, điều động của bộ đội Cộng sản từ trên đất Miên, nơi có những địa danh đã một lần vang dội như Lưỡi Câu. Hệ thống trại còn là nơi phát xuất những cuộc hành quân tuần tiễu phát hiện và tiêu diệt các đơn vị địch trong vùng.

Vùng hoạt động của trại cũng là chiến khu của giặc: Chiến khu C, và cũng như hệ thống đường liên tỉnh mà chính quyền Tổng Thống Diệm đã thành lập từ những năm 60, 61, những trại Lực Lượng Ðặc Biệt, sản phẩm đắc ý của Kennedy, người được yêu chuộng nhất của 37 đời tổng thống Mỹ. Nhưng đến bây giờ, năm 73 tại miền Nam, lúc người Mỹ đã quay phi cơ về Clark Field, Guam, bỏ lại xứ sở Ðông Dương mịt mù tiếng đạn trong âm vọng hòa bình, các trại kia chỉ còn lại là những chiến trường địa phương bị cô lập với thế giới bên ngoài đành đoạn.

Không phải là chiến tranh nữa, chỉ còn là những cơn sốt vỡ da cho “Hòa Bình” hung hiểm. Tống Lệ Chân, cơn sốt cuối cùng và dai dẳng. Dưới chân đồi căn cứ về phía bắc còn có đường 246 nối Tây Ninh và Bình Long, xuyên qua lớp rừng xanh lá, đây là con lộ huyết mạch để Mặt Trận Giải Phóng nối liền hai vùng sinh tử, chiến khu C và D. Tống Lệ Chân cũng là yết hầu chặn ngang đường dây Bắc-Nam nối bản doanh cục R và vùng Dầu Tiếng, để từ đây xâm nhập xuống Bình Dương – Gia Ðịnh. Với vị trí quan trọng như thế, Tống Lệ Chân không còn là mục tiêu quân sự thông thường, căn cứ nhỏ bé này có một tầm quan trọng khẩn thiết. Kiểm soát được bốn hướng Tây-Ðông, Bắc-Nam của toàn hệ thống giao thông quan trọng trong lòng căn cứ địa đối phương. Nên từ ngày thành lập, Tống Lệ Chân chưa hề có một ngày thanh bình.

Tên địa phương là Tonlé Chombé, vị chỉ huy trưởng đầu tiên, Thiếu tá Ðặng Hưng Long, đọc trại thành Tống Lê Chân, binh sĩ nói Tống Lệ… Những người ngoài binh chủng Lực Lượng Ðặc Biệt phần đông gọi theo danh từ hàm súc này. Tống Lệ Chân – tên tiền định cho số kiếp nghiệt ngã. Năm 70, trong chương trình cải tuyển binh chủng, binh sĩ trại phần đông là dân sự chiến đấu thuộc sắc dân Stiêng tình nguyện ở lại cùng căn cứ để biến cải thành Tiểu đoàn 92 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Tháng 4-72 song song với các cuộc cường tập vào Lộc Ninh, An Lộc, Cộng quân đã có ý định “ủi láng” hết dãy căn cứ biên phòng để rộng đường điều quân, chuyển vận quân nhu, quân cụ. Tình hình cấp bách của thời gian ấy đã khiến bộ chỉ huy Biệt Ðộng Quân Quân Khu III quyết định rút hết lực lượng thuộc bốn căn cứ: Thiện Ngôn, Kàtum, Tống Lệ Chân và Bù Gia Mập. Nhưng người chỉ huy của Tống Lệ Chân đã có câu trả lời sau khi nhận được lệnh:

– Xin ở lại để chiến đấu bảo vệ căn cứ. Di tản tiếc quá, Biệt Ðộng Quân mà di tản yếu quá…

– Tình hình có giữ nổi không?

– Tất cả binh sĩ đều xin ở lại bằng mọi giá để bảo vệ uy tín binh chủng!

Ðịnh mệnh đã điểm giờ phút đó, lực lượng nhỏ bé của Tiểu đoàn 92 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng trở nên những anh hùng lặng lẽ của trận đánh cuối cùng làm sáng tỏ sức chiến đấu bền bỉ của người lính chờ Hòa bình. Hòa Bình Việt Nam, giấc mơ tội nghiệp của một dân tộc được tưới thêm máu nóng của những người lính vô danh Tiểu đoàn 92 trong một hốc núi rừng miền đông Nam bộ. Thế giới giữ được cân bằng trên hòa bình vất vả này. Toàn thể nhân loại có biết thế không?

Giữ một vị thế trọng yếu trong hệ thống giao liên giữa căn cứ địa của địch, bảo vệ cạnh sườn phía tây cho An Lộc, Tống Lệ Chân trên bản đồ hành quân của Ban Tham Mưu Cục R đã được xác định là một mục tiêu cần phải “dứt điểm”. Ngày 10-5-72 Cộng quân dồn lực lượng đánh biển người vào căn cứ có chiến xa yểm trợ sau khi đặc công đã xâm nhập vào vòng đai phòng thủ. Nhưng căn cứ vẫn đứng vững được như lời nguyền, người chỉ huy của trại mang tên Lê Văn Ngôn với số tuổi khiêm nhượng, 32 tuổi, đã giữ được lời thề. Ngôn thuộc khóa 21 Ðà Lạt ra trường năm 1966, bây giờ tháng 9-1973, Ngôn mang cấp bậc Trung tá. Một thời gian kỷ lục nhưng không ai tỵ hiềm. Không thể tỵ hiềm được vì hình như quân sử thế giới không có một đơn vị nào bị vây trong thời gian 510 ngày vẫn còn đơn độc chiến đấu. Ngôn và Tiểu đoàn 92 của anh là một biệt lệ, thực hiện ý niệm cao cả về trách nhiệm. Những người lính khắp nơi của thế giới đã nhiều lần chứng tỏ tầm vóc vĩ đại của mình trên đảo Saipan, trong buồng lái của những chiếc máy bay Zéro. Ở Việt Nam, trận Mậu Thân 68, Hạ Lào 71 và suốt năm 72, nhiều đơn vị, nhiều người lính đã chứng tỏ phẩm chất vĩ đại cao cả của mình. Trên tất cả, Tống Lệ Chân rực rỡ với ánh sáng của riêng mình.

Dãy căn cứ bạn đã di tản, Tống Lệ Chân còn lại mỗi mình, Công Trường 9 Việt Cộng dùng lực lượng cơ hữu thay phiên nhau nhồi Tống Lệ Chân trong suốt một năm dài. Ngày 27-1-73 Hiệp Ðịnh Ba Lê được ký kết để tái lập Hòa Bình tại Việt Nam. Ngày 25-1-1973 cũng là ngày N của cuộc tấn công cường tập vào Tống Lệ Chân, Cộng quân muốn “ủi láng” căn cứ để hoàn toàn kiểm soát vòng đai biên giới từ Tây Ninh qua Lộc Ninh, cuộc tấn công không thành và bây giờ – tháng 9-73 – tám tháng sau ngày “ngưng bắn”, theo thống kê chính xác của người lính ngồi dưới hầm trốn pháo, theo bài tính cộng của sĩ quan hành quân tiểu đoàn: Căn cứ bị pháo kích 233 lần, 20 lần bị tấn công biển người, 7 lần đánh đặc công và chiếc đồn trơ trọi trên đỉnh cao 50 thước đó đã nhận 14,500 trái đạn đủ loại nổ liên tục trong tám tháng hay 220 ngày được gọi là “Hòa Bình” trên đất nước Việt Nam!!

Cuộc bao vây đã diễn ra trong 510 ngày dài, binh sĩ bị thương và chết lên đến gần con số 100, phần lớn bị thương không di tản được. Bất chấp luật lệ quốc tế, bất chấp cả lòng nhân đạo giữa những sinh vật gọi là người, và rất trái ngược với “tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc” mà từ tên lính gác ở bờ bắc sông Thạch Hãn đến gã Thượng tá tóc bạc ngồi ở bàn hội nghị luôn mồm nói ra với vẻ trang nghiêm cẩn mật. Máy bay trực thăng tải thương là mục tiêu thực tập cho các đơn vị phòng không Cộng sản dựng dầy đặc quanh căn cứ. Ngày 10-8-73 phi vụ tản thương chót không thực hiện được, chiếc UH-1 của Phi đoàn 233 bị đốn ngã, phi hành đoàn phải ở lại căn cứ và chỉ có thể trở ra khi những phi công khác đã thực hiện được một chuyến bay không giống bất cứ một phi vụ trực thăng nào suốt cuộc chiến mười năm. Phi vụ bắt đầu lúc 12 giờ đêm từ phi trường Biên Hòa và mục tiêu là Tống Lệ Chân. Phi vụ này còn có nhiệm vụ mang số tiền thưởng của quân dân Vùng III tặng Tiểu đoàn 92 và cặp lon Trung tá cho Ngôn. Phi tuần trưởng của chuyến bay này là Thiếu tá Bảo bạn cùng khóa với Ngôn. Nhưng tình trạng bi tráng này đã nẩy nở ra một khía cạnh khác, trong số bảy mươi lăm lính bị thương, con số xin ở lại lên đến bốn mươi. Ðến một lúc nào đó, trong một hoàn cảnh thích hợp, sự can trường trở nên như một tính chất tổng quát và chung của cộng đồng. Bệnh sốt rét và phù thủng đã khống chế toàn trại nguyên do bởi thiếu dinh dưỡng và cuộc sống chật chội quá lâu dưới hầm đất. Trong tháng 7-73 các cuộc tiếp tế thả dù tưởng chừng như không thể thực hiện được. Chiếc móc nối kiện hàng và bộ phận phối hợp trên máy bay không còn nữa. Cuộc họp của các giới chức cao cấp nhất về tiếp vận và không trợ đã diễn ra dồn dập để giải quyết vấn đề “cái móc”, mà một bộ phận chính là đoạn dây cable dài chừng một tấc. Ðoạn dây cable này có nhiệm vụ giữ palette (tấm sắt làm đế của kiện hàng thả dù); khi máy bay đến địa điểm, bộ phận cắt sẽ được bấm nút để chặt đoạn dây này, palette mang kiện hàng sẽ lăn ra cửa máy bay trên hệ thống bánh xe. Từ trước đến nay, chẳng ai để ý đến đoạn dây ngắn ngủi này vì quá thừa thãi. Khi Tống Lệ Chân bị vây, đồ tiếp liệu, tiếp tế phải thả dù liên tục, nên đến một lúc người ta khám phá đoạn dây cần thiết ấy bị thiếu!! Muốn gởi mua ở Mỹ phải gởi đúng nơi sản xuất nó qua một hệ thống đặt hàng phức tạp, trước một thời gian dài, đoạn dây cũng phải được gọi bằng ám số lê thê, hãng chế tạo mới cung cấp đúng. Cái khó không bó cái khôn, dây lớn đúng cỡ không có thì chế bằng hai sợi dây nhỏ kết vào nhau… Và kết quả, dù thả mười cái hết sáu cái rơi ra ngoài căn cứ!! Khoảng trống giữa hai sợi dây nhỏ kết lại đã làm thời gian cắt đoạn dây dài hơn vài giây. Vài giây của tốc độ hơn hai trăm dặm giờ đã làm chiếc dù bay ra khỏi chiếc đồn nhỏ bé. Bi thảm hơn, có những ngày bị Cộng quân pháo kích và tấn công liên tục, toàn căn cứ phải nhịn đói hoặc bắt gián để nướng ăn thay cơm!! Nhưng dù thiếu thức ăn và sống dưới hầm lâu, cùng một lúc sức chiến đấu lại tăng trưởng theo chiều cao, theo cường độ tấn công và pháo kích của giặc. Tống Lệ Chân bắt chúng ta suy nghĩ khi biết Gilles, viên tướng nhảy dù lừng danh của Quân đoàn Viễn chinh Pháp đã nói cùng Cogny và Navarre: “Hãy móc tôi ra khỏi đây (Ðiện Biên Phủ), tôi vừa sống sáu tháng trong “ổ chuột” Nà Sản… Tôi quá sợ những điểm bưng bít như thế này.” – sáu tháng ở cứ điểm Nà Sản trong vị thế của một tướng hai sao cùng với phương tiện vật chất thừa thãi cũng đủ làm cho Gilles gốc người Corse phải kinh khiếp – thế nhưng trên ngọn đồi 50 thước, dưới hầm sâu lạnh tanh, viên trung tá trẻ nhất Quân Lực Miền Nam, Lê Văn Ngôn đã sống đến ngày thứ 510 cùng tiểu đoàn Biệt động với quân số thiếu hụt và thực phẩm phải dè sẻn từng túi cơm sấy. Ðau đớn hơn tất cả, Ngôn chiến đấu trong hòa bình giả tạo và gian dối mà đối phương cùng thế giới đang nhân danh mỗi giờ, mỗi phút. Những giờ phút Tiểu đoàn 92 ẩn mình đợi cơn pháo qua, giờ phút của 510 ngày thiếu ánh mặt trời.

Vấn đề đặt ra cùng sự kiện như đã trình bày: Chúng ta phải làm gì cho số người nhỏ bé cao cả này? Ngăn chặn, phát hiện địch, giữ căn cứ để làm bàn đạp tung quân tuần tiễu, tấn công và truy kích địch, những mục tiêu đầu tiên mà ý niệm hành quân đã đặt để không còn nữa. Chúng ta chỉ còn lại một biểu tượng bi tráng, một chiến trường phi lý cho những người anh hùng âm thầm ngã xuống trong lặng lẽ, làm sáng tỏ sự tàn ác, khiếp nhược của một hòa bình độc hại. Chúng ta sẽ là gì nếu bỏ qua hay thụ động buông thả để duy trì tình trạng phi lý độc địa này.

Phiên họp đặc biệt cấp Trưởng đoàn ngày 17-3-73 do VNCH yêu cầu và Hoa Kỳ chủ vị, chính thức đặt Tống Lệ Chân lên bàn hội nghị. Trưởng đoàn VNCH, tướng Dư Quốc Ðống đề nghị ba biện pháp cấp bách:

– Cử ngay một Tổ Liên Hiệp Quan Sát 4 Bên đi Tống Lệ Chân để điều tra vi phạm, sau khi có thỏa thuận tại hội nghị.

– Nếu hai phe Cộng sản không thỏa thuận, Hoa Kỳ trên tư cách chủ vị gửi văn thư yêu cầu Ủy Ban Quốc Tế cử người đi điều tra.

– Yêu cầu phía Mặt Trận Giải Phóng ra lệnh ngay cho các đơn vị của mình chung quanh Tống Lệ Chân phải ở nguyên vị trí không được bắn lên phi cơ của UBQT khi đến điều tra.

Nhưng lọc lừa là tính chất cơ bản, phía Mặt Trận Giải Phóng biết chắc phiên họp đặc biệt này sẽ thảo luận một vấn đề nghiêm trọng mà họ chưa có chỉ thị để giải quyết; dù Trần Văn Trà mang quân hàm trung tướng chăng nữa ông ta cũng không bao giờ quyết định được một vấn đề gì, dù vấn đề đó chỉ thuộc về nguyên tắc, thủ tục nếu chưa có chỉ thị trước, nên Trà đã vắng mặt để cho viên Ðại tá Ðặng Văn Thu đại diện họp thay. Trước ba đề nghị xác đáng của một vấn đề cụ thể, Thu né tránh với tố cáo: VNCH đã vi phạm ngưng bắn tại Ðức Phổ, Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Ðức Cơ (Pleiku)… Và kết luận ung dung: Chính VNCH vi phạm tại các địa điểm trên! Không một lời nói, không một chữ nhắc đến sự kiện, địa danh Tống Lệ Chân.Trưởng phái đoàn Bắc Việt gật gù tán đồng, lặp lại lời phát biểu của MTGP với thứ tự từ ngữ địa danh được nói khác đi một chút. Bài học đã được học từ nhà, các cậu học trò lặp lại không sai một chữ bất chấp nội dung rõ rệt của ba đề nghị. Ý kiến cá nhân là yếu tố không bao giờ có trong đầu của người Cộng sản khi chưa “hội ý”!! Thấy hai phái đoàn Cộng sản không đá động gì đến ba đề nghị vừa trình bày. Phái đoàn VNCH lặp lại đề nghị lần thứ hai: Nếu Ban LHQS Bốn Bên chưa thống nhất ý kiến thì yêu cầu Hoa Kỳ gởi văn thư cho UBQT để Ủy Ban này đi điều tra. MTGP cùng Bắc Việt lại hát lên một nội dung: “Không đồng ý việc gởi văn thư cho UBQT vì tình hình chưa rõ rệt, chưa có an ninh không tiện lợi cho UBQT đến để điều tra…” Phiên họp ngưng ở kết luận này. “Tinh thần nhất trí” của văn bản Hiệp Ðịnh Ba lê, tính chất không bao giờ có ở bàn hội nghị..!

Cho chắc ăn hơn nữa, phía Cộng sản mớm lời cho hai phái đoàn Ba Lan, Hung Gia Lợi, khi tiếp nhận văn thư của Hoa Kỳ yêu cầu đi điều tra Tống Lệ Chân: “UBQT không đồng ý đi điều tra ở một nơi khi nơi đó chưa được an ninh!”  Muốn chắc hơn, hai phái đoàn quốc tế Cộng sản này lại đưa thêm điều kiện: Sẽ chịu đi nếu phái đoàn MTGP cử sĩ quan liên lạc tháp tùng cùng trực thăng. Lẽ tất nhiên điều kiện không được thực hiện, vì MTGP không đồng ý cử sĩ quan liên lạc tháp tùng.

Một tuần trôi qua, kể từ phiên họp 17-3-73, tất cả nỗ lực về Tống Lệ Chân đều bị chắn lối bởi hai ngón đòn “Tình hình Tống Lệ Chân chưa rõ rệt. Phái đoàn MTGP chờ chỉ thị của thượng cấp” và đòn “Vì MTGP không cử sĩ quan liên lạc đi cùng nên Ủy Hội Quốc Tế không thể đến điều tra…” MTGP, Bắc Việt, Ba Lan, Hung Gia Lợi nương vào nhau nhồi quả bóng vô liêm sỉ, né tránh hẳn vấn đề. […]

Ðau đớn hơn hết khi tại Sài Gòn, nơi chỉ cách Tống Lệ Chân trăm cây số đường chim bay, có những người đã không biết hoặc không muốn biết những người lính miền Nam đang ở trong chiếc đồn bị vây vào ngày thứ 510. Và nhiều kẻ lại nhìn vấn đề ngược lại, là VNCH đã xâm lấn đất đã “giải phóng”: như đám Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, thứ chính khách đối lập Hồng Sơn Ðông, Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Hữu Tường, Trương Gia Kỳ Sanh… (Những nghị sĩ, dân biểu được MTGP nhắc tên nhiều lần ở bàn hội nghị khi muốn tố cáo chính quyền VNCH). Những người này là gì khi đồng lõa với tội ác ngập máu này? Tính đến ngày của phiên họp đầu tiên đề cập đến Tống Lệ Chân, hai mươi ngày sau ngày Hòa Bình 28-1-73, căn cứ có thêm bốn chết và hai mươi hai bị thương. Những người này chết cho ai? Phải chăng để bảo vệ miền Nam, trong đó có những người kể trên, những kẻ nhân danh Hòa Bình. […]

Tôi viết lên tiếng kêu bi hùng về Tống Lệ Chân vào tháng 6-73, thời gian Cộng sản đang chuẩn bị trận dứt điểm căn cứ trong mùa mưa sắp tới của năm 1973. Suốt năm 73, chiếc đồn nhỏ bé này đã đứng vững trước hàng chục lần tấn công và bị pháo hơn vạn quả đạn, viên chỉ huy căn cứ, Trung Tá Lê Văn Ngôn, hình như định mệnh đã gắn chặt tên anh cùng chiếc đồn bé nhỏ đó, lời nói quyết chí của ngày tử thủ đầu tiên đã được giữ trọn như tên anh đã định trước: – Ngôn – Một lòng sắt son giữ mãi một lời nói. Trong nguy nan của mỗi giờ sát cùng cái chết, người anh hùng lặng lẽ với số tuổi quá nhỏ so với chiến trường kia quả đã hiện thực hình ảnh linh diệu kết tinh bởi sức chịu đựng vô bờ của dân tộc. Ngòi bút viết ra cũng hổ thẹn trước nỗi can trường này. Những phiên họp của tháng 3, tháng 4-74 tại Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên, phía VNCH lại lớn tiếng báo động Công Trường 9 nhất định rút ưu khuyết điểm của năm qua, tập dượt trên sa bàn cùng Trung đoàn 271 quyết san bằng trại… Trung Doàn 271 sẽ được yểm trợ trực tiếp bởi một trung đoàn pháo, một trung đoàn phòng không và một lữ đoàn chiến xa, không kể thành phần trừ bị và chận viện. Một năm trời thử lửa, một, hai tháng thực tập trên sa bàn và trên địa thế tương tự, Cộng quân dùng địa đạo chiến, công kiên chiến khởi đi từ 5-4-74 đến 1:00 giờ ngày 11-4-74 đoạt được đồn!!

Ngôn làm gì được với quân số vỏn vẹn 259 người với năm mươi bị thương từ trước, hai chục bị thương ở đợt tấn công sau cùng?!! Tiểu đoàn 92 đã chiến đấu hơn tất cả mọi đơn vị bộ chiến trong lịch sử chiến tranh, Ngôn hơn hẳn những anh hùng của chiến trận nhân loại. Hàng trăm ngàn chiến binh thế giới đã dựng nên gương sáng can trường về bổn phận cao cả của người lính, Ngôn và Tiểu đoàn 92 Biệt Ðộng Quân dựng chắc tấm bia lớn nhất, rực rỡ nhất. Cao quý hơn tất cả, Ngôn và 259 Biệt Ðộng Quân của Tống Lệ Chân là những chiến sĩ chiến đấu cho hòa bình: Hòa Bình của quê hương Việt Nam. Chúng ta trong thành phố bình yên có nghĩ gì khi hay tin Tống Lệ chân đã bị đoạt mất, Tiểu đoàn 92 mở đường máu rời căn cứ. Chỉ còn giọt nước mắt. Phải, chỉ còn một dòng nước mắt ngập bi hùng.

Phan Nhật Nam

(tháng 11-1974)

(*) Bản thâu ngắn trích từ bi ký Tù Binh và Hòa Bình, Nxb Hiện Đại, Sàigòn 1974

Share this post