Trả Lại Đúng Bài Văn Tế Khóc Vợ Của Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) Cho Ông – Nguyễn Văn Sâm

Trả Lại Đúng Bài Văn Tế Khóc Vợ  Của Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) Cho Ông – Nguyễn Văn Sâm

Tiểu sử của Bùi Hữu Nghĩa, nhà văn Nôm danh tiếng đầu thế kỷ 19, cho thấy ông bị hoạn nạn trong khi làm quan do ‘trên’ ganh thù kết án xử tử không đúng, được vợ là bà Nguyễn Thị Tồn lặn lội từ Định Tường ra tới kinh đô Huế kêu oan cho chồng. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của đại thần Phan Thanh Giản, vụ án được tái xét, ông được giải oan nhưng phải đi thú đoái công chuộc tội. Thế nhưng sau đó không bao lâu thì bà Tồn lìa thế khi còn tương đối trẻ, người con út lúc ấy chỉ mới sáu tuổi. Trong lúc đau thương nầy, Bùi Hữu Nghĩa có làm bài Văn Tế Vợ thiệt thống thiết khóc vợ.

Bài văn than khóc mất người hôn phối đã truyền cảm hứng khiến đời sau không ngại ngùng khi làm thơ khóc vợ (Đông Hồ) hay khóc chồng (Tương Phố) vốn là một chuyện rất riêng tư, rồi cho đăng lên báo. Dân Việt vốn nhiều tình yêu gia đình, thông cảm với sự đau thương của người còn lại nên hai vị nầy cũng nổi tiếng bắt đầu từ sự kiện cá nhân đó.

Bài văn tế khóc vợ của Bùi Hữu Nghĩa vì viết bằng chữ Nôm là thứ chữ tàn lụi vài chục năm sau khi được sáng tác, lại thêm bản văn chỉ được lưu truyền dưới hình thức chép tay nên qua thời gian, sự thất lạc và sai biệt đương nhiên phải có. 

Điều quan trọng là hiện nay, trên sách vỡ, có ít nhứt hai bản văn hoàn toàn khác nhau được nói là bài văn tế của Bùi Hữu Nghĩa khiến học giới thắc mắc. Chúng tôi qua bài nầy xin giới thiệu bài văn tế nguyên văn bằng chữ Nôm được sự phiên âm, đính chính và chú giải với niềm tin rằng đây mới thiệt sự là bản do Bùi Hữu Nghĩa sáng tác, hầu sau nầy người làm văn học biết rõ hơn về tư tưởng và tình cảm của một nhà văn lớn Miền Nam rất được nhiều người ngưỡng mộ, sống vào những năm nước nhà sắp rơi vào sự đô hộ của nước Pháp. 

Trước tiên xin trình bày sự kiện:

  1. Đầu tiên, cuốn Hợp Tuyển Thơ Văn Việt Nam (1858-1920) do Huỳnh Lý chủ biên, NXB Văn Học, Hà Nội, 1980 có bài Văn Tế Vợ bắt đầu bằng  những câu:

Hỡi ơi! 
Xưa nay đặng mấy người trọn vẹn, phận sắc tài hằng phải luỵ cái thân; 
Vợ chồng mà ghe nỗi mặn nồng, cơn sanh tử ỷ khôn ngăn giọt lệ. 
Từ thuở bậu vầy duyên can hệ, may mắn nhờ đủ mẹ đủ cha, thời em nâng niu dâng quỳ xẻ áo, thảo mẹ cha không nửa khắc lãng xao; 
Từ ngày anh mắc chốn gian truân, tơi bời có một vợ một chồng, thời em đặng đột buôn tảo bán tần, niềm chồng vợ ấy cũng đã phu phỉ. 
Rất họ hàng còn cũng biết thương; 
Huống trời đất có đâu chẳng nghĩ.

Và:

May nhờ có ngoại gia nương cậy, sống đặng nhờ thác cũng đặng nhờ; 
Luống trông cho cuộc thế xong xuôi, sớm chẳng thấy mai đều chẳng thấy. 
Phải chi em chưa thoát nơi trần tục, nỗi oán thù sớm đặng sạch chùi; 
Phải chi em chưa lên chốn non tiên, đứa bạn đảng dám đâu lừng lẫy! 
Phước nhà đặng rảnh mình cao sĩ, vượt mấy sông em dắt chút mẹ già; 
Màn loan sao vắng dạng tiên nga, vầy một ngõ anh khóc cùng ba trẻ. 

Trong bài nầy chuyện thương yêu của vợ cặp vợ chồng được cho là Bùi Hữu Nghĩa được kể với vài chi tiết tương tợ ít nhiều với chuyện của ông Nghĩa. Một vài chi tiết trong bản nầy  khiến ta ngờ vực (Phải chi em chưa chết thì bọn nghịch thù dám đâu lừng lẫy, ba con…) Thêm vào đó nhóm Huỳnh Lý đã không đưa ra nguồn tài liệu mình sử dụng, cũng không có bản Nôm, nên tạo một lổ hổng để có thể bị ngờ vực về mức độ chính xác. 

  1. Kế đó, trong cuốn sách Văn Học Vùng Đất Mới, tác giả Nguyễn Q. Thắng có đưa ra bản quốc ngữ bài Văn Tế Vợ của Bùi Hữu Nghĩa, khác hoàn toàn với bài do nhóm Huỳnh Lý nói trên. Ông Nguyễn Q. Thắng không nói mình lấy tài liệu ở đâu, theo bản Nôm nào, tôi nghĩ là ông chép bản nầy từ quyển Kim Thạch Kỳ Duyên do Nam Cư biên tập và chú thích.

Vậy thì cho tới ngày nay chúng ta có hai bản văn cùng một đề tài và cùng được cho là của Bùi Hữu Nghĩa nhưng chưa ai lên tiếng về vụ một hình hai bóng nầy. 

  1. Gần đây chúng tôi được đọc quyển sách Nôm Ký số HVAU 387 do Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp, Sài Gòn mới sưu tập được ở đồng bằng Cửu Long, trong đó bài văn tế ‘Chồng Tế Vợ Văn’ (có ghi nơi đầu trang chữ Thủ Khoa Nghĩa 首科義). 

Cũng trong quyển nầy còn có nhiều bài Văn Tế Vợ khác nhưng đều không thấy tên tác giả. Sự kiện nầy có nghĩa là người chép (1926) tin tưởng theo truyền thuyết rằng bài mà ông đề tên Thủ Khoa Nghĩa được tương truyền và tin tưởng chính thiệt là của Bùi Hữu Nghĩa. Từ chuyện có/không đề tên tác giả trên những bài văn tế vợ chúng tôi đặt giả thuyết là nhóm Huỳnh Lý thấy một bản Văn Tế Vợ nào đó có vài chi tiết hơi giống giống với tiểu sử của Bùi Hữu Nghĩa bèn cho là bài nầy là của ông.

Quyển sách Nôm HVAU 387 nói trên, ngoài bài của Bùi Hữu Nghĩa có tên tác giả, những bài khác của toàn tập như: 

Tế Thầy Cai Tổng Vĩnh Liêm VănCon Thầy Thuốc Tế Mẹ Văn, Tế Chồng Văn, Suôi Gia Tế Văn, Làng Tế Làng Văn, Cháu Tế Chú Văn, Em Vợ Tế Anh Rể Văn, Chồng Tế Vợ Văn, Con tế Mẹ văn, Tử Tế Mẫu Văn, Tử Tế Mẩu Tiểu Tường Văn, Chồng Tế Vợ Văn, Con Tế Cha Văn, Chồng Tế Vợ Văn… 

đều không có tên tác giả. Điều nầy củng cố hơn cho sự xác quyết về bài văn tế vợ của Bùi Hữu Nghĩa chính là:

 1. Bản Nôm chúng tôi công bố hôm nay mà dị bản của nó là

 2. Bản quốc ngữ mà Nguyễn Q. Thắng đưa ra dựa trên bản quốc ngữ của Nam Cư. 

Hai bản nầy trên đại thể giống nhau, sự khác biệt đôi chút do thời gian với sự thêm thắt sửa chửa của người sao chép. 

Xin phiên âm và chú giải những nhóm chữ khó đối với người đọc trung bình như vẫn làm xưa nay. 

(t1) Hỡi ơi! 
Gió Nữ phất phơ, Mưa Ngâu lác đác. 

Duyên bình thủy xum vầy bỗng đà tan rã, ngạt ngào bọt nước sóng xao; Đuốc loan phòng tỏ rạng phút treo lu, sảng sốt ngọn đèn gió tạt. 
Nhớ linh xưa: 

Tánh đúc son vàng; Tình không đen bạc. 
Chen dưới nguyệt vóc tròn hơn nguyệt, phòng huê đà rực rỡ gương trinh; Ở trong trần mà chẳng nhuốm trần, vườn dâu khỏi lấm nhơ bụi cát. 
Thìn một lòng dịu dàng đâu trại:

Trong sạch màu bùn chẳng đục, nhưng dựa sang giàu, của trăm xe đưa rước cũng không màng; 
Nghèo mang khố chuối mà thanh, phải duyên đằm thắm, đẹp đẽ xóm giềng cùng cô bác.

Ưa mùi đạo khuyên chồng nấu sử, nam tử may nợ nước đền bồi; 
Thảo thờ thân giữ phận dâng lê, nữ công đã trọn niềm nhà gánh vác. 
Vợ chồng thảm đều không cha mẹ, em riêng than phận lẻ loi. 

Ở với mẹ đã trọn niềm hiếu hạnh, chìu lòng theo lân lý với anh em; 
Lúc theo chồng vui biết chữ xướng tùy (t2) ***** cữu cô; Hòa một cửa anh em, tình vui vẻ lời không chếch mác. 
Trường khoa mục anh  mong chí cả, ít nhiều đà mở mặt với hương thôn; Anh hàn vi bậu dốc tay nâng, may mắn cất đầu cùng bạn tác. 
Phận liễu bồ yếu đuối, em lang thang, anh không nhờ của cũng nhờ công. 

C:\Users\Admin\Desktop\N_BuiHNghia_Van te\BHN_VT 1.jpg

Nhà nguy biến nghiêng nghèo bậu giúp đỡ, tuy không nên vai cũng đà nên vát.

Nâng giềng sửa mối, rỡ ràng đóa nghiệp với tiên nhơn. …….

buổi trước vì rực rỡ nên gương cùng hậu giác.

Bậu chẳng phải vợ Mãi Thần ngày trước, thời chưa nên vì gió chảy xuôi; khó hèn cam đâu dám trách trời,
Em chẳng phải vợ Tô Tần ngày nọ, vận bất  đạt mà đem lòng khi bạc; gian nan chịu cũng không oán đất.
Tính kịp thời, toan kịp bạn, mới khỏi tuần sấm đất toan bay. 

Ăn theo thuở ở theo thời, đặng chờ lúc ‘Vận Đằng gặp các’ mới mừng hết lúc gian nan, chưa gặp hanh thời vận đạt. 

(t3) Bỗng đâu phút gió day mưa tạt, non hoa hạc lạc trầm trầm; Nào hay nỗi vật đổi sao dời, cửa sổ ngựa qua thoát thoát. 
Ôi! 
Sông Lệ vàng chìm; Non Côn ngọc nát. 
Cảnh giai lão cảm lòng trời đất, giàu có nhau khó cũng có nhau; Quỉ Vô Thường làm cuộc biển dâu, vật tráo chác người sao tráo chác. 

C:\Users\Admin\Desktop\N_BuiHNghia_Van te\BHN_VT 4.jpg

Con sáu tuổi thơ ngây một bóng, bậu bao đành xấp mặt tìm tiên; Chồng trăm năm lơ láo một mình, em bao nỡ xây lưng cưỡi hạc. 
Ai mượn lão Diêm phù rước khách, mẹ lìa con vì gã ức oan; Ai cầu ngươi Quỷ bá đưa người, chồng xa vợ bởi ngươi bạc ác. 
Nghĩ tới chữ “đại đức chi nhân tất đắc kỳ thọ” đọc tới thêm buồn; Tưởng đến câu

“tích thiện chi gia tất hữu dư khương” nghe càng thêm lạt. 
Qua để bậu chẳng bằng tiền bạc, phận chia gương chẳng kịp nửa giờ; Trời giết người chi sá gươm đao, chứng nghèo ngặt không đầy một lát. 
(t4) Đêm khuya hỡi nâng niu một trẻ, nghĩ càng thêm ruột tợ kim châm; Ngày ra vào vắng vẻ không em, ngậm ngùi nhớ ruột dường muối xát. 
Cuộc long hổ an rồi ba tấc đất, ôi thôi rồi má phấn hồng nhan; Bạn phụng loan phân rẽ một phang trời, nghĩ đáo để duơn đơn phận bạc. 
Đã biết:

Kiếp thác là kiếp mất, tấm lòng thành hơn bảy ngày chay; 

Cho hay:

Nghĩa cựu là nghĩa xưa, dụng ít món  đôi mâm đạm bạc. 
Hỡi ôi, tiếc thay! Hỡi ôi, tiếc thay!

(Hết bài văn tế)

Kết: 

Văn học Việt Nam có những điều cần bàn  luận mãi mãi, tôi gọi là những lổ trống cần có những ý kiến để giải quyết dầu là ít khi được đồng thuận (vấn đề dịch giả Chinh Phụ ngâm, vấn đề bài thơ khóc Thị Bằng, vấn đề thời đại và tác giả của những truyện thơ vô danh…) chuyện bài văn tế vợ nầy thiệt ra là chuyện nhỏ. May mà tôi gặp được cơ duyên đọc thấy bản Nôm nên đưa ra thôi.

Trước khi dứt bài nhức đầu nầy xin mạn phép chép ra đây một bài trong quyển Tân Tiếu Lâm của ông Trần Phong Sắc, chuyện vui vui nhưng có thể gọi là liên quan đến việc một hình hai bóng đương nói để người viết và người đọc cùng cười hạ hỏa. (Chép y theo sách.)

‘Anh chủ nhà kia dốt-nát, rước thầy về dạy con, mà thẫy cũng ít chữ quá! nhờ một tập đồ-nòi mà thôi! Đến khi bà mẹ vợ anh chủ nhà mãn phần, chũ nhà cậy thẫy đặt giùm văn tế. Thẫy dỡ tập đồ-nòi ra, chép lộn nhằm văn tế cha vợ! Đến khi ông chũ đem lễ qua tế, học trò lễ đọc văn tế, nghe ra tế cha vợ! Ông gia ảnh nỗi giận mắng rằng: ‘Thằng mù lại rước thầy đui! Mẹ vợ chết mà đặt văn tế sống cha vợ! đi về cho rãnh, ở đó mà trù ai?’ Anh nọ mất-cỡ, tức mình về mắng thầy sao có chép lộn! Thẫy giận đỏ mặt, xách tập đồ-nòi, dỡ ra chỉ và nói rằng: ‘Ông coi đó mà coi, tôi chép không sai một chữ! Ấy là tại chết lộn, chứ tôi chép có lộn ở mô!’

Share this post