Văn Hóa Tính – Lý Đại Nguyên (Phần 2)

Văn Hóa Tính – Lý Đại Nguyên (Phần 2)

(TVVN.ORG) CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

Như vậy là từ ngày 06/04/1917, Hoa Kỳ rời bỏ Chủ Trương Tự Cô Lập, tham gia Đệ Nhất Thế Chiến, nhằm giới thiệu mình là một sức mạnh về kinh tê, quân sự, chính trị, đóng góp cho các nước Đồng Minh Tây u. Nhưng rồi, Chiến Lược của Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến đã ‘Dùng Đồng Minh Diệt Phát Xít’. Sau Đệ Nhị Thế Chiếm lại ‘Dùng Cộng Sản Diệt Thực Dân’. Cuối cùng, ‘Dùng Cộng Sản Diệt Cộng Sản’. Như đã trình bày ở phần chiến tranh “Quỷ khốc, Thần sầu”, “Quỷ bất tri, Thần bất giác” tại Việt Nam. Sau khi Liên Sô sụp đổ, Quốc Tế Cộng Sản tan rã, Chiến Tranh Lạnh chấm dứt, Hoa Kỳ nghiễm nhiên trở thành Siêu Cường kinh tế, quân sự, chính trị duy nhất trên hành tinh này. Thế Giới mở ra Thời Đại Toàn Cầu: Kinh Tế Thị Trường Tự Do Toàn Cầu Hóa, các nước xây dựng các khối kinh tế, các khối đó và các nước đối tác kinh tế chồng chéo lên nhau, tạo ra một môi trường kinh doanh đa diện chằng chịt, và tất cả đều cần gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới – WTO. Hoa Kỳ và các nước giầu có không sử dụng phương pháp viện trợ để tạo vây cánh nữa, mà đóng gióp vào Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế-FMI và Ngân Hàng Thế Giới-WB để cho các nước cần phát triển vay với lãi xuất nhẹ, hoặc trợ giúp cho các chương trình nhân đao. Các nước kỹ nghệ phát triển hàng đầu tổ chức thành Nhóm G7, rồi sau đó tổ chức thêm Nhóm G20. Kinh nghiệm dậy rằng, chỉ các nước có Nền Dân Chủ Tự Do Trọng Pháp mới đủ điều kiện phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, phát triển khoa học, tăng trưởng kinh tế, đem lại lợi ích thiết thực cho toàn dân và đem về lợi nhuận cụ thể cho các nhà đầu tư. Do đó, Hoa Kỳ đang ra sức thúc đẩy phong trào Dân Chủ Hóa Toàn Cầu.

Nhưng một biến cố khủng khiếp bất ngờ đã làm cho nước Mỹ và cả Thế Giới bàng hoàng, rung động. Bọn Khủng Bố đã cướp 4 chiếc phi cơ dân dụng của Mỹ biến thành những quả bom, lao vào làm nổ tung Tòa Tháp Đôi của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ở News York và Ngũ Giác Đài ở Washington DC, làm chết trên 3 ngàn người, vào ngày 11/09/2001. Sự kiện này nằm ngoài dự kiến chiến lược toàn cầu của Mỹ, nên cách ứng phó không có bài bản. Tinh thần yêu nước của dân Mỹ lên cực điểm. Chính phủ Mỹ phát động Cao Trào Chống Khủng Bố Toàn Cầu. Lập tức đổ quân vào Afghanistan để tiêu diệt Taliban, phá hang ổ bọn Khủng Bố al Qaeda, lùng bắt trùn khủng bố Osama bin Laden. Năm 2003 đánh luôn Iraq, lật đổ nhà độc tài Sadam Hussen. Việc làm này được cả Nga lẫn Trung Cộng hưởng ứng. Vì nhân đây Nga ghép những người Hồi Giáo Chechnya là Khủng Bố để tàn sát. Trung Cộng cũng ghép người Hồi Giáo Uighur ở Tân Cương vào tội Khủng Bố để đàn áp.

Nước Nga và Trung Cộng như thế là có thời gian 10 năm dài được Mỹ nhận là Đồng Minh Chiến Lược Chống Khủng Bố. Putin lãnh tụ Nga tha hồ tự tung tự tác. Hết làm tổng thống, xuống làm thủ tướng, rồi lại lên ngôi tổng thống độc tài, triệt để khai thác tình tự Dân Tộc Cực Đoan của người Nga, biến nước Nga từ Dân Chủ sang Độc Tài với tham vọng trở thành Đế Quốc Đại Nga. Xâm Lăng láng giếng. Trung Cộng còn nguy hiểm hơn. Chế độ Cộng Sản Độc Tài Toán Tri được kết hợp với chế độ Phong Kiến Đế Quốc Đại Hán, làm thành Chủ Nghĩa Bành Trướng Cực Đoan. Công khai tỏ dấu muốn trở thành một Cường Quốc Đại Dương, đe dọa chiếm biển Hoa Đông của Nhật Bản và toàn vùng biển Đông của Đông Nam Á, rồi chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ, cuối cùng chiếm luôn nước Mỹ. Khiến cho các nước khắp Á Châu lo ngại.

Đây lại là thời cơ cho Mỹ có chính nghĩa xoay trục chiến lược về Á Châu – Thái Bình Dương, kể từ 2010. Nhằm Quân Bằng Lực Lượng với Trung Công để tránh thế giới khỏi rơi vào chiến tranh. Nước Nhật buộc phải từ bỏ chủ trương tự phòng thủ. Chuyến sang Phòng Thủ Tập Thể, liên minh quân sự với Mỹ, Nhật, Úc, Ấn, nhằm bảo vệ và thúc đẩy các nước Đông Nam Á tự tin, tự chủ, hợp tác với nhau, đối tác vời các cường quốc Dân Chủ cùng mục đích Ngăn Bành Trướng Bắc Kinh. Thực tế cho thấy, sự xâm lăng của Nga, đã đẩy u Châu lại với Hoa Kỳ để thành Khối Mậu Dịch Tự Do u Mỹ. Sự hung hăng bành trướng của Trung Cộng đã dồn toàn thể các nước Á Châu – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đứng về phía Mỹ. Khi các nước láng giềng của Nga và của Trung Cộng, được Mỹ và các cường quốc Dân Chủ Á, u tận lực bảo vệ bằng khả năng quân sự cực kỳ tối tân, đầu tư kinh tế dồi dào và thúc đẩy Dân Chủ Hóa thành tựu, thì nhất định bẻ gẫy nổi tham vọng Đế Quốc của cả Nga lẫn Trung Cộng. Hoa Kỳ và Thế Giới chỉ còn lo về vấn đề Khung Bố Toàn Cầu của các nhóm Thánh Chiến Hồi Giáo Quá Khích. Vấn đề Hồi Gíao không thể chỉ giải quyết bằng chiến tranh, mà còn phải giải quyết bằng biện pháp chính trị, và quan trọng hơn hết là bằng Động Lực Văn Hóa, để mỗi người Hồi Giáo tự thành người chân chính theo Đạo Hồi. Trở về với cội nguồn Chính Giáo của Đạo Hồi là Phụng Sự Con Người. Tôn trọng sự sống. Bình đảng phái tính. Lấy Con Người Làm Cứu Cánh, như tất cả mọi người trên Thế Giới đang hướng tới.

Thế giới chúng ta đang bước vào Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn. Tiến trình Toàn Cầu Hóa không thể đảo ngược, và nhu cầu Dân Chủ Hóa Toàn Cầu là điều tất yếu. Chỉ như thế, các nước mới có môi trường tự do phát huy được truyền thống Văn Hóa cao quý của Dân Tộc mình, góp phần vào gia tài Văn Hóa Thế Giới, thúc đẩy khả năng suy tư sáng tạo, thăng hóa của nhân loại về khắp mặt, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, chính trị luật pháp, kinh tế tài chánh …và các mặt nhân sinh, để chiến thắng không phải với Con Người và Thiên Nhiên, mà là chiến thắng với chính sự gian tham, ích kỷ, sai ác và các tật xâu của mình. Cũng như bệnh tật, nghèo đói, dốt nát, bất công và hành vi hủy hoại môi trường xã hội và tự nhiên. Hiện nay thế giới này đã thành nhỏ bé với kỹ thuật vận chuyển thần tốc, với phương tiện truyền thống nằm gọn trong lòng bàn tay mỗi người. Tất cả đều do khả năng Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo của Con Người làm ra. Nếu còn thiếu, là thiếu nguồn Tâm Linh trong sang thánh thiện, Tấm Lòng yêu thương rộng mở và Ý Chí kiên cường hướng thượng, khiến dễ bị bệnh khủng hoảng tâm lý. Xin tất cả chúng ta hãy dìu dắt nhau an lành, tự do, tự tại, tự chủ, tiến vào Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn, Thị Trường Toàn Cầu Hóa và Dân Chủ Hóa Toàn Cầu.

VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC

Suốt cả năm, chúng ta bị cuốn hút vào những vấn đề thời sự, làm cho tâm tư, đầu óc luôn luôn quay cuồng với những chuyện âu lo, tức tối, buồn cười, đôi khi vui mừng, hy vọng, rồi hụt hẫng, mà không biết tại sao lại là thế? Hoặc tìm những lý giải nửa vời, vòng vo để tạm thời tự đánh lừa mình. Hay chống đỡ những gì đi ngược lại với suy nghĩ và ước vọng của mình. Quả là phiển toái! Nhân dịp xuân về, tết đến, xin để nghị, chúng ta cùng nhau đi thẳng vào vấn đề nguồn gốc của sự vật, sự việc trong Trời Đất, Lịch Sử và Kiếp Người, để cho tâm trí mình có dịp thao tác, tự tìm thấy mình, tìm thấy hướng suy tư cho mình, cũng chính là thấy đưọc những việc mà mình nên làm cho Dân Tộc mình, cho Thế Giới mình và cho Vũ Trụ mình đang có mặt.

TA TRONG VŨ TRỤ MÀ VŨ TRỤ CŨNG Ở TRONG TA

Đạo Lớn của Trời Đất là Hằng Hóa.
Đức Lớn của Muôn Loài là Hiếu Sinh.

Đạo Lớn của Lịch Sử là Văn Hóa.
Đức Lớn của Loài Người là Từ Tâm.

Đạo Lớn của Nhân Chủ là Dung Hóa.
Đức Lớn của Con Người là Thương Yêu.

Vậy Đạo Đức lớn nhất, vĩ đại nhất, chân thật nhất, hiện thực nhất của Vũ Trụ là Đạo Hằng Hóa và Đức Hiếu Sinh.

Đạo Đức chân chính nhất, phổ biến nhất, năng động nhất của Lịch Sử là Đạo Văn Hóa và Đức Từ Tâm.

Vũ Trụ này hình thành phát triển không ngừng đều nhờ vào Nguyên Lý Hằng Hóa Hiếu Sinh.

Lịch Sử Loài Người cũng dựa trên Nguyên Lý đó mà thành hình phát triển, rồi vựơt lên trên các sinh loại hữu tình, tạo thành cuộc sống Văn Hóa Nhân Văn.

Vậy Văn Hóa chính là Đạo Thăng Hóa của Lịch Sử, để mở ra thời đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn cho toàn thể Thế Giới.

Văn Hóa là Văn Hóa của Loài Người, mà Đức Lớn phổ quát của Loài Người là Từ Tâm nơi Con Người. Nhận Thức của Con Người đều dựa trên Nguyên Lý của Đạo Đức để rung cảm, suy tư, hành sử, mà tạo ra các nền Văn Hóa có những sắc thái riêng biệt. Các luồng văn hóa, các công trình văn hóa, các sản phẩm văn hóa, đều nhằm phụng sự Con Người, làm đẹp, sáng, tốt và luôn luôn mới cho cuộc sống Xã Hội của Con Người toàn diện. Bởi thế Lịch Sử Nhân Loại mới là lịch sử đa văn hóa. Nên nội dung của Lịch Sử phải là Văn Hóa, mà nội dung của Văn Hóa phải là Từ Tâm của Nhân Loại, do khả năng Dung Hóa của những Con Người tự do, tự chủ, sáng tạo và dựa trên tình cảm thương yêu của Con Người toàn diện, mà tạo thành các nền Văn Hóa Nhân Chủ.

Chính vì vậy, Văn Hóa và Đạo Đức tuy Hai mà là Một. Do Đức Hiếu sinh của Trời Đất, mà Nguồn Động Lực Siêu Thể Vô Tính Vi Diệu vô sác, vô biên, vô hạn trong Vũ Trụ hằng hóa, hiện hóa, thăng hóa từ những hiện tượng chuyển động vật lý, đã không ngừng nỗ lực tạo ra các hiện tượng sinh lý, để hoàn thành thế giới sinh vật. Rồi các sinh vật tự thân thăng hóa, tạo thành loại chủng tử có năng lực cá biệt -DNA- của mỗi chủng loại, mà tiếp hóa nòi giống không cùng. Loài Người được xem như chủng loại cao nhất trong công trình Tạo Hóa hằng hóa, sáng hóa, thăng hóa của Vũ Trụ, đủ khả năng, điều kiện tạo lập đựơc hiện tượng tâm lý, để vượt lên rung ứng với thế giới tâm linh vĩnh hằng của Vũ Trụ. Rồi có giác tính nhận biết được “Ta trong Vũ Trụ, mà Vũ Trụ cũng ở trong Ta”. Nên những nỗ lực Tự Thăng Hóa Tâm Linh mình, cũng chính là góp phần tích cực nhất trong công trình Thăng Hóa Vũ Trụ vậy.

Từ Đức Hiếu Sinh của Muôn Loài, thể hiện ra thế giới Loài Người là Đức Từ Bi, Nhân Từ, hay Đức Bác Ái, đấy là những danh từ để chỉ cho những ý niệm về sự thương yêu, bao dung, tha thứ và quý trọng sự sống, biết trân quý cuộc sống riêng của mình, tôn trọng cuộc sống chung của người, có trách nhiệm với cuộc sống xã hội và muôn loài. Chính vì vậy mà các nền Văn Hóa, các Tôn Giáo chân chính, các Học Thuyết giá trị đều lập căn trên Đức Hiếu Sinh, nhằm hướng dẫn Con Người biết sống và phát triển theo với Đức Hiếu Sinh.

Chỉ riêng có Học Thuyết Duy Vật Vô Thần Cộng Sản mới nghịch lại với Đạo Đức của Trời Đất, ngược lại với Lẽ Sống của Con Người, hủy diệt Văn Hóa của Nhân Loại, đề cao luật Mâu Thuẫn, Hận Thù, và Hủy Diệt, vốn chỉ là một mặt tối của Nguyên Lý Hằng Hóa, là phản diện của Văn Hóa. Vì Nguyên Lý Hằng Hóa của Vạn Hữu là luật Bổ Sung – Phân Hóa – Điều Hợp, mà Duy Vật chỉ đề cao khả năng Phân Hóa. Phân Hóa mà không được Điều Hợp thì đi đến tiêu diệt. Điều Hợp mà không đựơc Bổ Sung thì không thể Thăng Hóa, đã không thăng hóa, mà bị phân hóa thì sẽ bị triệt tiêu. Nhờ có Luật Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp để Thăng Hóa, nên Vũ Trụ mới Hằng Hóa, muôn loài mới tiến triển, nhân loại mới có cuộc sống Văn Hóa hiện nay.

Điều nguy hại của chủ nghĩa Duy Vật không dừng lại ở mặt lý thuyết, mà nó đã làm cho nhiều thế hệ loài người tin theo, kể cả người đối kháng cũng bị rơi vào lối nhận thức chủ quan một chiều máy móc khép kín. Vì nó được dùng làm nguyên tắc chỉ đạo cho cuộc đấu tranh xã hội, phân chia giai cấp, tổ chức lực lượng đấu tranh cách mạng giành quyền lực, để áp dụng chủ nghĩa một chiều độc tôn, nhằm tước đoạt sự tự do của Con Người, biến Con Người thành “con vật sản xuất”, đặt ách độc tài, độc đảng thống trị xã hội. Chính vì chủ trương giai cấp đấu tranh, nên cộng sản đã tận lực khai thác và phát huy Cảm Tính Hận Thù, quyết liệt Tiêu Diệt những giai cấp khác, cũng như tiêu diệt tinh thần tự do, tư hữu và niềm tin tôn giáo của Con Người. Mà hận thù là phản nghĩa với từ bi, nhân từ, bác ái, yêu thương. Tiêu diệt là phản nghĩa với xây dựng và phát triển. Như thế chủ nghĩa Duy Vật Cộng Sản đúng là hướng ngược chiều với Văn Hóa Nhân Loại. Nên học thuyết Duy Vật và chủ nghĩa Cộng Sản mới là Phi Văn Hóa.

Văn Hóa nơi Con Người, của các Dân Tộc, của các nền Văn Minh và của toàn Nhân Loại, tuy có những nét cá biệt, đặc thù, nhưng đều cùng có chung một bản chất, tính năng là: Đẹp, Tốt, Sáng, Mới, đó mới thật là thể hiện của Văn Hóa Tính phổ quát và đạt giá trị trường cửu. Đẹp, Tốt, Sáng từ nội dung lẫn hình thức ở Con Người, trong Xã Hội và các công trình, sản phẩm được tạo ra, sáng hóa bởi Con Người. Thế rồi người sau tiếp người trước bảo lưu, dung hóa, phát huy, làm mới thêm mãi cho phong thái sống, cách sống, lối sống, phương tiện sống và chế độ sống, với khuynh hướng sống vươn lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.

Để giải thích chân lý, gần được chân lý, đạt được chân lý, vốn là một thách đố với suy tư của Con Người và toàn thể Loài Người, ở ngay từ buổi bình minh của Ý Thức Người vừa xuất hiện. Xem ra trong quá khứ Ý Thức Người đã bất lực trước thách đố đó. Vì rằng những công trình suy tư bằng ý thức người, đã chỉ tạo ra được những luồng tư tưởng, những triết phái cực đoan khép kín, các chủ nghĩa một chiều “Duy” thế này, thế nọ, thế kia, do đó đã xé nát nhân loại ra làm nhiều mảnh, dựng lên những hàng rào tinh thần hào nhoáng, rồi được ngụy trang dưới danh nghĩa Văn Hóa, Đạo Đức để lùa dân chúng vào guồng cuồng tín, thế hận thù nhau vì lý tưởng một cách cay độc, làm cho chân lý Hằng Hóa Hiếu Sinh mỗi lúc mỗi xa rời Con Người thêm. Thực ra Chân Lý tuy có thể Giác Chứng, mà chẳng thể Lý Luận bằng bất cứ thứ “duy” nào được. Bởi vì Chân Lý mang tính cách vừa toàn diện, vừa bao trùm, lại vừa nội tại nơi Vũ Trụ, Vạn Hữu và Con Người, gồm: Những hiện tượng Hợp Lý Tương Đối, nếu xét về mặt hiện tượng thực tiễn của sự vật, sự việc. Những hiện tượng Siêu Lý Tuyệt Đối, nếu xét về những hiện tượng siêu nhiên linh nghiệm trong vũ trụ trùng trùng bao la. Những hiện tượng Phi Lý Tự Đối, ngẫu nhiên xuất hiện bất quy tắc trong tự nhiên, và do tâm tư chủ quan của mỗi người, khám phá ra trong cuộc hành trình đi tìm sự hiện hữu của mình, rồi gặp cái chết của mình ở cuối đường hiện hữu, làm cho tất cả công sức trong cuộc sống trở thành phi lý và vô nghĩa đối với thân phân mình.

Tuy nhiên, những tư tưởng, những chủ thuyết “duy” đó, dù có một chiều khép kín, nhưng nếu không đi ngược với hướng vươn lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ của Con Người, thì đều cùng hướng với Văn Hóa, đều đựơc thừa nhận có Văn Hóa Tính. Vì ít nhiều đã góp phần trong việc giúp Con Người khai mở một phía nào đó, trong nguồn tâm tư toàn diện sẵn có nơi mỗi người. Chính nguồn Tâm Tư Toàn Diện sẵn có trong mỗi người là nền tảng của Văn Hóa, dung chứa tất cả các ý niệm, những tư tưởng trái nghịch nhau, để Con Người tự do, chủ động dung hóa, đãi lọc lấy tinh túy của những tư tưởng đó, làm thành các nền Đạo Học, đem ra ứng dụng vào cuộc sống, tạo ra các phương tiện sinh sống, mỗi ngày mỗi hoàn hảo hơn, nhằm phục vụ Con Người và Xã Hội.

Ngày nay, sau khi Nhân Loại đã tỉnh mộng về những lối Ý Thức Chủ Quan Duy Ý Chí, đã nếm trải và bị trả giá quá đắt do những tư tưởng đó gây ra, thì đều thấy rằng: Thế Giới cần phải được xây dựng và phát triển dưới nhãn quan toàn diện, cho hợp với Đức Lý của Trời Đất, đúng với Văn Hóa Tính của Nhân Loại cùng hướng tới cảnh Thái Hòa, Phát Triển, Thịnh Vượng lâu bền. Điều hiển nhiên là Nhân Loại đang tiến vào hướng chính đạo của nền Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Triển, trong đó lấy Con Người Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo làm Cứu Cánh. Lấy Văn Hóa làm Chủ Đạo cho khắp mặt tổ chức và sinh họat Xã Hội, Kinh Tế, Dịch Vụ, Chính Trị, Cai Trị, Luật Pháp, Văn Học, Nghệ Thuật, Khoa Học, Kỹ Thuật, cũng như việc giao tiếp giữa Người với Người; giữa Tập Thể với Tập Thể trong Xã Hội; giữa Quốc Gia với Quốc Gia trên trường Quốc Tế.

THĂNG HÓA TÂM LINH MÌNH LÀ LÀM MỚI CHO TẤT CẢ

Con Người thực sự có Tự Do, hoàn toàn Tự Chủ trong suy tư, hành động ứng xử, thì mới phát triển được khả năng Sáng Tạo. Chính khả năng Sáng Tạo đã làm cho Văn Hóa mỗi lúc mỗi Tốt Đẹp Sáng Mới thêm. Để Văn Hóa thể hiện đúng hướng Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ, thì không thể làm khác là phải vận dụng tới năng lực Trí Tuệ của Con Người. Mỗi người đều sẵn có Trí Tuệ, nhưng để khai mở được khả năng Trí Tuệ ở trình độ nào đó, thì còn tùy ở sự học tập, thâu thái, và quan trọng nhất là ở sự Tu Dưỡng của mỗi người.

Có thể có nhiều phương pháp tu dưỡng để phát huy Trí Tuệ, nhưng để có nghiệm chứng cụ thể, thì phương pháp Thiền của các bậc đã Giác Ngộ là dễ kiểm chứng nhất. Các vị đó đã hướng dẫn thế cách Quán Định, làm bình ổn Tâm Tư, xả bỏ tạp niệm, vui vẻ buôn bỏ tất cả, giúp người tu tập đạt đựơc An Nhiên Tự Tại, Thanh Tịnh Rốt Ráo, tạo điều kiện cho Trí Tuệ khai mở. Trí Tuệ tuy đựơc khai mở, nhưng không có nghĩa là đã có đủ công năng nhận biết ngay được chân tướng chân thật của Thực Tại, mà còn phải kiên trì Phá Chấp, tháo bỏ những xích xiềng tư tưởng một chiều cực đoan, rũ bỏ những mặc cảm tự ti, tự tôn; xả bỏ những ý niệm, những thành kiến cả xấu lẫn tốt. Có nghĩa là vui vẻ buông xả, buông xả và buông xả toàn diện rốt ráo, ngay cả chính niệm, đừng nói chi là tà niệm; buông xả ngay cả những cảnh giới an lạc chân thật đã đạt đựơc trong hành trình tu tập, nhằm đoạn trừ những cảm thụ của Ta, thuộc về Ta và chỉ có Ta.

Chính trong hành trình phá chấp và buông xả đó, năng lực Trí Tuệ sáng mãi lên, tựa như ánh nắng ban mai làm bung nở hạt giống Từ Bi nơi Con Người, khi Lực Trí Tuệ, Đức Từ Bi đã nở trọn vẹn viên mãn nơi Con Người, thì Con Người chẳng còn chấp giữ “Cái Ngã” nhỏ bé tủn mủn, sẽ không còn phải dùng phương tiện suy tư, lý luận để tìm kiếm, biện minh cho Chân Lý của Vũ Trụ, Đức Lý của Vạn Hữu nữa, mà thực tại là Lực Trí Tuệ, Đức Từ Bi nơi Con Người đã là biểu hiện của Chân Lý, Đức Lý của Trời Đất một cách chân thật trọn vẹn đầy đủ rồi. Cho nên không có gì lạ, không còn nghi ngờ gì nữa, những lời nói ra từ các bậc Toàn Giác, đều là những lời của Chân Lý.

Khi Trí Tuệ Từ Bi đã hiển hiện viên mãn trong Con Người, là Con Người đã hội nhập đựơc với Đạo Lớn Hằng Hóa, Đức Lớn Hiếu Sinh của Trời Đất, thì việc thể hiện Trí Tuệ Từ Bi của Con Người trong kiếp nhân sinh là lẽ tự nhiên, như ánh sáng phải chiếu sáng. Đó là những đóng góp đương nhiên vào với gia tài Văn Hóa Nhân Loại, có giá trị đưa Văn Hóa vươn mãi lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ. Mà Văn Hóa luôn luôn sắm vai trò chủ đạo, chỉ đạo cho toàn thể Nhân Loại cùng nhau nỗ lực khai triển cuộc sống Nhân Chủ Nhân Văn, để Con Người đựơc Tự Do Tự Chủ Sáng Tạo, thực hiện nguyện ước chân chính của mình trong thực tại thế giới, đồng thời thăng hóa Tâm Linh mình, nhằm đạt tới tánh cảnh Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.

Đến đây có thể hiểu được, tại sao trong Xã Hội do Cộng Sản thống trị lại sa đọa tăm tối như lịch sử đã chứng minh trong thế kỷ 20 vừa qua. Vì đích ra các danh từ Văn Hóa, Đạo Đức, mà Cộng Sản thường dùng, thì chính ngay những kẻ sử dụng nó, lại cũng chẳng hiểu nổi là họ đã lạm dụng. Cho nên Thế Giới Cộng Sản và Cộng Đảng Việt Nam đứng trước sự đổ dốc, tan vỡ, suy đồi của xã hội, đảng viên trụy lạc, dân chúng mất niềm tin, đều thấy rằng cần phải phục hồi giá trị Văn Hóa, Đạo Đức mới cứu vãn nổi chế độ ung thối ruỗng nát. Nhưng điều đáng buồn cho họ là những giá trị văn hóa, đạo đức chân chính đích thật của Trời Đất, của Loài Người, của Dân Tộc đã không hiện hữu trong đầu họ. Tất cả những giá trị đó đã bị chính thứ chủ thuyết Duy Vật, chủ nghĩa Mác Lê và Tư Tưởng Hồ, là thứ chủ thuyết ấu trĩ, chủ nghĩa chuyên chính và thứ tư tưởng hoàn toàn nô lệ ngoại nhân của họ Hồ, mà cộng đảng cho là siêu việt, là chân lý tuyệt đối đã tiêu diệt hết, tiêu diệt ngay trong suy tư của chính họ, và trong xã hội mà họ đã, đang thống trị.

Trong suy nghĩ của những người gọi là cộng sản chân chính và không chân chính hiện nay, thì đều cùng có sẳn một đường rầy biện chứng: “Tất cả đều là phương tiện”, Văn Hóa Đạo Đức, cả Con Người lẫn Dân Tộc chỉ là phương tiện cho họ sử dụng; trước kia là phương tiện để phục vụ cho lý tưởng Duy Vật, Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa, nay lý tưởng đó đã tiêu ma, thì lại thành phương tiện để củng cố quyền hành, nhằm mục đích hết sức thực tế là “duy vật chất” “duy tiền”. Chính vì toàn cộng đảng từ trên xuống dưới chỉ có mục đích “duy tiền”, nên mạnh kẻ nào, kẻ đó kiếm tiền một cách bất cố liêm sỉ, bất kể luật pháp, bất chấp đạo đức, trong khi đó người dân là nạn nhân bị đè nén, bóc lột và bị cấm nghe, cấm nói, chỉ để đảng độc quyền nói, mà chỉ toàn nói ngang, nói ngược, nói bậy thôi.

Đời thuở nào mà đem nước trộn với lửa, rồi bắt mọi người phải tin là thành công, thì tin sao nổi. Thế mà cộng sản cứ nhơn nhơn hô hoán: “Kinh tế Thị Trường Tự Do trong định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”. Lấy Kinh Tế Thị Trường Tự Do vốn là “nước”, mà trộn chung với “lửa” Xã Hội Chủ Nghĩa, thì sớm muộn gì lửa xã hội chủ nghĩa cũng phải tắt. Lấy “nước” Văn Hóa Đạo Đức đem trộn với “lửa” chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng nô lệ của Hồ, thì “lửa” phải tàn là cái chắc. Thực ra những kẻ đề xướng những chủ trương trên, họ đều là kẻ đáng thương, vì chế độ cộng sản đã đào tạo ra những bộ óc “bùn” đặc quánh của những chú vẹt lẻo mép, họ không bao giờ hiểu được rằng: Thứ chủ nghĩa Duy Vật mà họ tôn thờ chẳng những không có Văn Hóa Tính, mà ngay giá trị Đạo Đức cũng không có luôn. Thế nhưng họ lại đã được học và bắt buộc phải hiểu rằng: Học thuyết Duy Vật và những sách vở viết về học thuyết này là những tác phẩm Học Thuật của Văn Hóa.

Chính vì hiểu sai như thế, nên họ chỉ có khả năng phá hủy, mà không có năng lực xây dựng, vì tất cả các công trình xây dựng, muốn được thành tựu lâu dài với lịch sử, thì phải khởi đi từ Văn Hóa. Nhất là phải phân biệt được rằng: Những thứ tuy bề ngoài có bóng dáng của các công trình Văn Hóa, mà nội dung đi ngược với Văn Hóa Tính, đi ngược với hướng vươn tới của Văn Hóa toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ, chống lại với Đạo Hằng Hóa, Đức Hiếu Sinh của Trời Đất, bằng chủ trương Hủy Diệt, đề cao Hận Thù thì đó không thể được nhìn nhận là công trình Văn Hóa, mà chỉ còn là sản phẩm “Sai Ác”.

Những người cộng sản, nếu thực sự muốn quay trở về với truyền thống tốt đẹp của Văn Hóa và Đạo Đức của Dân Tộc và Loài Người, thì phải thực tâm chân thành loại trừ chủ thuyết Duy Vật, chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng nô lệ của Hồ ra khỏi tư tưởng của mình, dẹp ngay những cơ chế, cơ cấu, luật lệ độc đảng, độc tài, độc tôn, toàn trị, khủng bố, bóc lột của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, để cho chính mình và toàn dân đựơc tự do sống, tự do lựa chọn, tự do tin tưởng, tự do phát biểu, tự do xây dựng tòa nhà Dân Chủ Trọng Pháp trong sáng bền vững cho Đất Nước, thì những giá trị truyền thống Văn Hóa Đạo Đức cao đẹp của Dân Tộc, chắc chắn sẽ được toàn dân đem ra ứng dụng và phát huy ngay trong cuộc sống của mình và của xã hội.

Chủ nghĩa Cộng Sản tuy không có Văn Hóa Tính, nhưng đối với lịch sử Dân Tộc Việt và Nhân Loại thì nó đã tự khẳng định và xác lập được chỗ đứng riêng biệt. Chỗ đứng trong kinh nghiệm đau thương khủng khiếp của các nạn nhân, đó là thứ “Hỏa Ngục Trần Gian”. Chỗ đứng trong Văn Học là những lời răn đe sẽ nhắc nhở cho Nhân Loại chớ để cho nó xuất hiện thêm bất cứ lần nào nữa, dù dưới hình thái nào cũng vậy. Chỗ đứng trong Nghệ Thuật thì hấp dẫn hơn. Vì Cộng Sản đã sắm đúng vai trò phản diện độc ác gian trá, một cách trung thực, xuất sắc nhất trong các tác phẩm nghệ thuật, mà các nhân vật hung ác, các chế độ tàn bạo ở trong quá khứ chưa hề lột tả đựơc hết tính cách cay độc hung hãn như thế. Còn trên màn ảnh và sân khấu thì đây đúng là tên kép độc làm cho khán giả vừa sợ vừa ghét, chỉ mong cho hắn chóng chết, tuy biết rằng hắn mà chết thì màn phải hạ, vở tuồng phải kết thúc. Nếu các văn tài trong thiên hạ muốn cực tả chân thật, hiện thực về “cái ác toàn diện” trong lịch sử Loài Người, thì phải nghiên cứu về chế độ cộng sản, nhất là về Cộng Sản Việt Nam thì sẽ nắm vững đựơc những tính chất đặc thù của nó là vừa độc ác, vừa tàn nhẫn, vừa ngoan cố, vừa gian manh, vừa hài hước, vừa đần độn một cách đáng ghét của anh kép độc Việt Cộng.

Tóm lại Văn Hóa và Đạo Đức là nôi dung của Tâm Linh Con Người, nội dung của Lịch Sử Dân Tộc và Nhân Loại. Mà Đạo Đức lại là nội dung của Văn Hóa, nên Văn Hóa luôn luôn phải sắm vai trò Chủ Đạo nhằm chỉ đạo cho mọi sinh hoạt của Con Người và Xã Hội, Kinh Tế, Dịch Vụ, Chính Trị, Cai Trị, Luật Pháp, Văn Học, Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật thì Thế Giới mới đi đúng hướng, tránh khỏi loạn lạc, bất công.

VĂN HÓA GIÁO DỤC

Toàn thể nhân loại đang nỗ lực hướng dẫn, dìu dắt nhau tiến lên, bước sang Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu. Do đó thế giới đòi hỏi tất cả các Quốc Gia phải có một Nền Giáo Dục Toàn Triển,Toàn Diện, Toàn Cầu, rộng mở, đáp ứng với nhu cầu thời đại đang ra sức loại bỏ ý niệm hận thù, tham vọng khống chế, hành vi bạo ác, bạo lực, bạo động, thay thế vào đó bằng những sinh hoạt có Văn Hóa Tính hòa ái, hiểu biết, bao dung và giúp nhau cùng thăng hóa khắp mặt cuộc sống của nhân sinh và vạn hữu. Văn Hóa Tính luôn luôn có nhiệm vụ Bảo Lưu tất cả những công trình tim óc, và các sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo và tạo tác ra, để đóng góp trong kho tàng văn hóa các dân tộc và nhân loại, tạo ra một Cuộc Sống Người Văn Minh. Rồi từ đó các thế hệ sau hướng dẫn nhau, học hỏi nhau, thâu thái, dung hóa, triển hóa, nhằm thăng hóa Nền Văn Hóa Chung, làm cho cuộc sống con người từ tình cảm, suy tư tới hành xử, và các sản phẩm con người sáng tạo và tạo tác ra, tất cả dần dần chứng đạt được đúng hướng Chân Thiện Mỹ, luôn luôn Thăng Hóa. Đó là tiêu chuẩn từ ngàn xưa, tới ngàn sau của Văn Hóa Nhân Loại. Đây chính là Nội Dung của Nền Giáo Dục Nhân Chủ Nhân Văn, Toàn Triển, Toàn Diện, Toàn Cầu vậy.

Có lập căn đúng như thế, các bậc thầy ở Học Đường mới hội đủ căn bản, điều kiện để hướng dẫn – chứ không áp đặt, nhồi sọ – nhằm giúp cho giới trẻ tự triển khai Thân Tâm, Tài Đức, Tri Thức và Khả Năng Chuyên Môn của mỗi người, để trở thành những Con Người tự tìm hiểu về mình, hiểu biết về giá trị tự do là phải có tinh thần tự chủ và trách nhiệm, hiểu biết mọi mối tương quan giữa Người với Người trong thực tại xã hội của từng quốc gia, cả về quá khứ lịch sử, lẫn thực tại cuộc sống toàn diện từ Gia Đình, Quốc Gia, Quốc Tế, các Tôn Giáo, các nền Đạo Học, các ngành Khoa Học, để có đủ tự tin, tự làm chủ mình, để hoàn thiện khả năng và giá trị Nhân Chủ – Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo – thấy rõ được trách nhiệm và sứ mạng của mình là phải cùng đóng góp tâm tình, tài trí, tạo tác, công sức của mình với tha nhân vào việc thăng hóa xã hội, thăng hóa lịch sử, thăng hóa vạn hữu.

Như thế, mới thể hiện được giá trị của nền Giáo Dục Toàn Triển Toàn Diện là Học, Hỏi, Hiểu, Hành khắp mặt Tâm Dục, Thể Dục, Đức Dục, Tri Dục, và Chuyên Môn đúng với hướng vươn lên không cùng của Văn Hóa Tính. Chính vì mục đích của hệ thống Giáo Dục là thể hiện nền Văn Hóa Nhân Chủ Toàn Triển Toàn Diện Toàn Cầu, nên việc nuôi dậy giới trẻ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Học Đường, Gia Đình, Cộng Đồng, Quốc Gia, và Quốc Tế. Mỗi đơn vị đó đều phải hoàn tất sứ mệnh và trách nhiệm của mình, trong sự nghiệp giáo dục các thế hệ nối tiếp, làm cho Con Người, Cuộc Sống, Thế Giới ngày một tốt, đẹp, sáng, mới thêm mãi trong Dòng Sinh Mệnh Văn Hoá, trong Cuộc Sống Xã Hội và trong Lịch Sử Thăng Hóa của các Dân Tộc, giữa ngôi nhà chung của Nhân Loại.

GIÁO DỤC TÂM LINH

Sự trực nhận của các bậc chân sư đại giác khi công bố rằng: “Ta là tất cả, tất cả là Ta” thì thật là một điều không mấy dễ hiểu đối với nhận thức của con người bình thường. Nhưng đây lại là những điều ngày càng đúng với những khám phá của nền khoa học hiện đại. Đi tới tận cùng của sự khám phá các hiện tượng Vật Chất thì chúng chẳng vô hồn, ù lỳ, bất biến, duy vật chút nào cả. Chúng vốn là những hiện tượng tập hợp xoắn kết của Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Sắc, Vô Biên, Vô Hạn, vĩnh chuyển, hằng hóa, thăng hoá. Sự xoắn kết của nguồn năng lực vô hình, động lực dũng mãnh, linh năng vi diệu này đã hình thành ra các hiện tượng Khối Vật Thể Hữu Sắc, Hữu Hình, Hữu Biên, Hữu Hạn. Vật thể cực vi là Nguyên Tử, bao gồm các dòng năng lực: Âm điện tử – electron. Dương điện tử – proton. Trung hoà tử – neutron. Chuyển động xoắn tít vào trung tâm nội tại, tạo ra nhóm vi diệu Neutrino, Antineutrino và Hyperon.

Mỗi nguyên tử chia ra làm 2 phần, các đơn vị Electron xoay chuyển chung quanh Nhân Nguyên Tử với tốc độ khủng khiếp lên tới 297,000 cây số trên dưới 1 giây, gần bằng tốc độ của ánh sáng 300,000 cây số 1 giây. Nhân Nguyên Tử gồm các năng lực Proton, Neutron, Neutrino, Antineutrino, Hyperon chuyển động dũng mãnh cực nhanh liên tục theo luật tự nhiên là Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp với nhau, để vừa hoàn chỉnh tự thân, vừa tự phân hóa ra làm nhiều nguyên tử mới, tạo thành khối lượng Vật Chất. Vậy, Vật Chất Hữu Hình, Hữu Tính, Hữu Dụng cũng chỉ là Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Sắc vĩnh chuyển, hằng hóa, thăng hóa mà thành, trụ, hoại, không. Trụ là Vật Thể Hữu Hình. Hoại trở về Siêu Thể Vô Hình, đễ vĩnh viễn tồn tại, trợ duyên, cũng như trực tiếp đóng góp trở lại cho các hiện tượng Vạn Hữu, ngày một Thăng Hóa không cùng. Nhưng nếu nguồn năng lực ngưng chuyển động thì đơn vị Vật Chất lập tức biến mất thành Không. Đúng với vũ trụ quan Nhà Phật: “Sắc, Sắc, Không, Không”. “Chân Không Diệu Hữu”.

Con Người là kết tinh vi diệu của Nguồn Tâm Linh Siêu Thể Vô Hạn phát triển trong Một Thân Thể Hữu Sinh Hữu Hạn, nên vốn có sức mạnh Tư Tưởng với khả năng vươn tới vô hạn, nội tại trong Mỗi Người. Do dó vấn đề Giáo Dục Tâm Linh để khai triển Trí Tuệ làm cho Tư Tưởng rộng mở vô biên, mới phải đặt ra. Lẽ cố nhiên với những trẻ thơ tâm linh trinh trắng, việc đặt nét chấm phá về tâm linh quan trọng nhất là ở đầu đời, công việc đó thuộc về Mẹ Cha. Nhưng cha mẹ thường đặt niềm tin vào Tôn Giáo mình theo, hay một nền Đạo Học nào mà mình tin tưởng, hoặc do quán tính Văn Hóa truyền thống của Dân Tộc mình, để khai mở tâm linh cho con cái ở bước đầu. Bởi vậy chính các Giáo Lý Tôn Giáo, các Tu Sĩ Tôn Giáo; các Luận Thuyết Đạo Học, các Trí Giả Đạo Học; các Truyền Thuyết Dân Tộc, các Trí Thức Dân Tộc là những người mặc nhiên nắm giữ phần Giáo Dục Tâm Linh của Con Người, thông qua mẹ cha của con trẻ, và trở thành linh hướng cho mỗi tín đồ trọn đời.

Nhưng suốt thời đại Mặc Thức Nhân Nhiên, qua thời kỳ Ý Thức Nhân Loại, thường thường các Tôn Giáo đều tuyệt đối tin tưởng vào sự an bài của các đấng Thần Linh; các nền Đạo Học vẫn còn tuyệt đối tin vào thuyết Định Mệnh; các Dân Tộc còn trong chế độ Phong Kiến, tin nhận Nhà Vua là Con Trời quyết định tất cả. Chính vì vậy mà Tư Tưởng Con Người bị đóng khung trong chiếc vỏ cứng, không tự tin vào mình, chưa tự làm chủ được tư tưởng mình, chưa tin vào phương pháp tự khai mở tâm linh của mình, dù trên Hai Ngàn Năm nay, từng có các học thuyết hướng tâm, cũng như Đạo Phật đã đề nghị phương pháp tự tu, tự chứng, để mỗi người tự khai mở tâm linh trí tuệ từ tâm của mình, nhằm quán đạt được Nguồn Gốc Tâm Linh mình, nhưng chưa được phổ cập rộng khắp . Vì thế, tất cả các tu sĩ tôn giáo, các nhà tư tưởng thời đó, chưa làm tròn sứ mệnh hướng dẫn tâm linh, nên chỉ còn là những nhà rao truyền Đạo Đức Luân Lý Xã Hội mà thôi.

Thế rồi, cũng đến lúc, nhân loại đã phát hiện ra mình có nhu cầu tự do tư tưởng, tự do lên tiếng, tự do sinh hoạt, cũng đã nhận chân được ‘muốn có tự do thì phải được tự chủ’, nhất là việc lựa chọn và kiểm soát chế độ và luật lệ mà mình tạo ra, để mình được sống tự do có luật pháp bảo vệ. Do đó Ý Thức Dân Chủ Trọng Pháp xuất hiện, tạo thành các cuộc Cách Mạng Dân Chủ Tự Do. Kinh nghiệm dậy rằng: “Các nước dù lớn, hay nhỏ, mà thực thi chế độ Dân Chủ Trọng Pháp, đều trở thành giầu mạnh và được nể trọng”. Nên người dân ở tất cả các nước trên thế giới ngày nay, đều mong muốn thực hiện công cuộc Dân Chủ Hoá Toàn Cầu. Từ đấy, nhân loại mới bước hẳn vào Thời Đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Triển Toàn Cầu, mà Nền Giáo Dục Toàn Triển Toàn Diện sẽ tạo ra cho các thế hệ nối tiếp những bước đi vững vàng ở Thời Đại Mới.

GIÁO DỤC THỂ LỰC

Khi đã nhận chân được chính Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Sắc đã xoắn kết tạo thành các Nguồn Năng Lực Điện Tử trong đơn vị gốc của Vật Chất là Nguyên Tử. Rồi các Nguyên Tử theo nguyên lý tự nhiên vĩnh chuyển, hằng hóa, thăng hóa để Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp với nhau, tăng trưởng không ngừng, tạo thành Vạn Hữu, nhỏ vi ti là các Nguyên Tử, lớn vĩ đại là các Thiên Hà, với Vạn Hữu muôn hình, vạn trạng, muôn màu, muôn vẻ, mà tất cả đều có chung một Nguồn Nội Lực là Năng Lực Siêu Thể hiện hoá, diễn hóa, thăng hoá liên tục, khiến cho Vật Thể sinh ra các thể loại với tính chất và năng lực khác nhau. Ở dạng Vật Chất chỉ là Nguồn Điện Tử, ở dạng Sinh Vật là Nguồn Sinh Năng, ở dạng Nhân Loại là Nguồn Tâm Năng, nhưng không thể thiếu các Nguồn Điện Tử vật chất, các Nguồn Sinh Năng sinh vật, và các Nguồn Năng Lực vi diệu khác hiện có trong Vũ Trụ, làm thành cơ thể sống động hoàn chỉnh nơi Con Người.

Tâm Năng là nguồn tinh lực chi phối chỉ huy toàn bộ cơ thể, lẫn sự rung cảm, suy tư, hành xử của Con Người. Bởi thế khi tình cảm vui vẻ, suy tư trong sáng, hành xử chân chính, con người sảng khoái tươi vui, cởi mở, với ý chí hướng thượng, sẵn sàng giúp đỡ tha nhân và phục vụ đại nghiã, thì cuộc sống chắc chắn thoải mái, nhất định sẽ ảnh hưởng lớn lao tới nguồn sinh lực trong cơ thể sống động khỏe mạnh nơi mỗi người. Chính vì vậy, mà Thân Thể Con Người đúng là Nguồn Nhiên Liệu để thắp sáng Ngọn Đèn Trí Tuệ trong Tâm mỗi người, và Tâm Linh lại là nguồn sống mạnh khỏe của Thân Thể. “Tinh Thần Minh Mẫn trong một Thân Thể Cường Tráng” là thế. Do đó vấn đề Giáo Dục Thể Lực không thể thiếu trong Nền Giáo Dục Toàn Triển Toàn Diện được.

Từ trước tới giờ khi nói về Thể Dục, người ta thường chỉ luyện tập các môn thể thao về gân bắp và sức dẻo dai. Đến nay các Đại Học Hoakỳ và một số đại học trên thế giới, đã có chương trình dậy Yoga – Thể Thiền. Như thế là bước đầu dẫn tới lãnh vực Tâm Thiền – Zen, sẽ được đưa vào chương trình giảng dậy, tu tập tại Học Đường chắc không còn xa. Nhằm làm giảm chứng trầm cảm và loạn tâm thần của giới trẻ say mê điện toán, để tự phong bế tình tự, tâm tư, ý thức, nhận thức của mình lại. Đó cũng là phương pháp làm giảm bớt căng thẳng nơi giới chuyên môn. Đồng thời giúp Con Người vượt thắng được những khắc nghiệt, phức tạp, trở lực trong cuộc sống. Tất nhiên những môn Thể Thiền, nhất là Tâm Thiền chưa thể áp dụng cho những trẻ nhỏ, mà chính là nhằm hướng dẫn cho Mẹ Cha và Thầy Cô, để họ có cuộc sống nội tâm an nhiên, tự tại, phong phú và niềm tin vào những khái niệm về các môn học quan trọng này. Từ đó chính Mẹ Cha và Thầy Cô sẽ dùng Thân Giáo để làm gương cho các em, qua việc cha mẹ và những người thân sống dưới một mái nhà cư xử với nhau, cũng như việc tập thở, tập uống, tập ăn, tập ngủ, tập nghỉ, tập chơi… hướng tới các môn thể thiền và tâm thiền, khiến cho con trẻ có được nếp sống điều độ, hồn nhiên, lành mạnh, khỏe khoắn.

Rõ ràng là Nguồn Tâm Năng không những quyết định các sinh hoạt Tinh Thần của Con Người cả về các mặt Rung Cảm – Suy Tư – Hành Xử, mà quan trọng hơn hết là chi phối nguồn sinh lực và tất cả các bộ phận trong Cơ Thể Con Người. Vì lãnh vực Tâm Năng nơi Con Người là kết tinh cao độ của cuộc thăng hoá kỳ vĩ nơi Nguồn Năng Lực Siêu Thể trong Vũ Trụ, đã trường kỳ thể hiện trong sự diễn hóa, thăng hoá ở các hiện tượng Vạn Hữu. Chính vì thế, mà Nguồn Năng Lực Siêu Thể nơi Con Người đã trở thành Nguồn Tâm Năng có Linh Năng, Tính Năng, Cảm Năng, Thức Năng, Tưởng Năng, Giác Năng. Có thể gọi đó là Nguồn Siêu Thức làm nền cho Tâm Thức mỗi người. Khi tổ tiên loài người ở mặt đất này đã đủ điều kiện, cảm biết được công việc thay thế Luật Tự Nhiên, người Nam + Nữ giao phối với nhau, tạo ra Nòi Giống Người thì lập tức hình thành “bản đồ DNA – Chủng Tử” để ghi dấu ấn Nguồn Di Thức của dòng dõi huyết hệ vào Tâm Thức của Con Cháu đời đời. Siêu Thức Vũ Trụ và Di Thức Huyết Thống trở thành nhất thể của Tâm Thức Mỗi Người, để thường xuyên rung ứng tiếp thu thêm các Nguồn Năng Lực Linh Diệu của Vũ Trụ. Đến lúc ra khỏi bụng mẹ là lúc Con Người từ từ tiếp thu Nguồn Thế Thức, qua việc học tập, bồi dưỡng kiến thức, và trải nghiệm trong cuộc sống xã hội, và thiên nhiên.

Chính vì vậy, mà việc Giáo Dục Thể Lực cả về mặt tinh thần lẫn vật chất, phải áp dụng chương trình Thai Giáo, ngay khi vợ chồng quyết định sinh con, nhằm tạo điều kiện và môi trường cho Thai Nhi tiếp thu những nguồn năng lực anh hoa của Vũ Trụ và tinh nhuệ của Dòng Giống. Nội Tâm mỗi người đều kết tinh của 3 nguồn: Siêu Thức, Di Thức, Thế Thức trở thành Tâm Thức bao gồm các công năng là Mặc Thức, Ý Thức, Nhận Thức, để có được khả năng Suy Tư, Tư Tưởng và Giác Ngộ. Như trên đã đề cập, chính Cơ Thể của Con Người là Ngưồn Nhiên Liệu để thắp sáng Ngọn Đèn Trí Tuệ. Thế nên việc Giáo Dục Tâm Linh, và Giáo Dục Thể Lực, tuy hai mà là một, nhằm giúp Con Người dùng phương pháp Thể Thiền để làm cho Thân Thể phát triển, điều hòa, sung mãn, đủ sức thực hiện phương pháp Tâm Thiền: “Tập trung ý chí và tư tưởng, vận hành hơi thở và nội lực của thân – tâm, theo quy trình ‘quán – định’, để vui vẻ buông bỏ tất cả”. khiến Lực Trí Tuệ khai mở làm bừng nở Đức Từ Bi, trở thành bậc Nhân Chủ chính giác, phục vụ Tha Nhân, làm trong sáng, tốt lành, vui đẹp và luôn luôn tươi mới cho cuộc sống văn hóa và thực tại của nhân loại.

GIÁO DỤC ĐỨC TÍNH

Việc Giáo Dục Đức Tính, khởi đi từ tình yêu thương và cuộc sống của Mẹ Cha, ngay lúc Thai Nhi vừa hình thành. Khi đó, chính là lúc Tinh Lực Siêu Thức hợp nhất với Huyết Thống Di Thức, thành Nội Lực Tâm Thức của Thai Nhi, nên sự giao hòa Tâm Tính, Linh Thức, Tình Cảm, và sự yêu thương trân quý giữa Cha Mẹ với sự yêu Con, cũng như việc dưỡng mẫu, dưỡng thai, trở thành môi trường thiêng liêng tuyệt hảo, tiếp giúp cho Tâm Hồn con mình, trở thành một Con Người có căn cơ đức hạnh, thông minh, giầu tình người. Lúc con trẻ ra đời là lúc tiếp nhận Nguồn Thế Thức ở người chung quanh. Từ cảm tình, lời nói, thái độ, cử chỉ, cách sống…của những người sống trong Gia Đình và các người lân cận, đúng là bài học ban đầu của trẻ sơ sinh, sống và tiếp thu bằng Bản Năng Mặc Thức. Vì vậy, mà mọi người phải triệt để áp dụng Phương Pháp Thân Giáo, dùng bản thân mỗi người làm bài học đầu đời cho con trẻ.

Phương Pháp Thân Giáo còn cần áp dụng triệt để với bậc Thầy Cô ở các lớp Mầm Non và Mẫu Giáo. Nhưng cha mẹ cũng không được quyền khoán trắng cho Nhà Trường, mà Gia Đình với Nhà Trường phải phối hợp khắng khít với nhau để nuôi dậy con trẻ. Thầy Cô ở các lớp mầm non, mẫu giáo, nhà trường thường sử dụng các Cô để có tâm tính, tình cảm của Người Mẹ dễ gần và thương yêu các trò nhỏ của mình, bằng tình yêu người mẹ hiền đối các con cái mình. Họ có đủ kiên nhẫn, chăm sóc, chỉ dậy từ: cách thở, ăn, nói, ngủ, nghỉ, đi, đứng, nằm, ngồi, học tập, vui đùa, giao tiếp với bạn học, nhất là không để cho khuynh hướng bạo lực và hành vi bạo động, có cơ hội xuất hiện trong cuộc sống vừa chơi, vừa học với bạn bè, có sự chăm sóc của Thầy Cô. Biết kính mến Thầy Cô, quý trọng Gia Đình, tôn trọng Người Lớn, trắc ẩn với những Người Thiếu May Mắn, thương yêu bạn học, có tinh thần bao dung tha thứ lỗi lầm người khác, thành thật nhận lỗi và biết vui vẻ xin lỗi của mình. Ở tuổi này, cha mẹ chớ bắt ép con cái mình làm những việc mình muốn, mà chúng không thích. Nhưng nếu đó là điều ích lợi và cần thiết cho chúng, thì nên hội ý với Cô Giáo của chúng, để họ tế nhị, kiên nhẫn thuyết phục chúng, chắc sẽ thành công. Nên nhớ, Cô Giáo ở các lớp Mầm Non và Mẫu Giáo chính là vị “Nữ Thần” của chúng đấy.

GIÁO DỤC TRI THỨC

Hệ thống giáo dục ở các nước tiên tiến hiện nay rất phong phú, đa dạng; Ngay ở Hoakỳ, chính phủ Liên Bang không trực tiếp chi phối Hệ Thống Giáo Dục của Quốc Gia, mà do các chính phủ Tiểu Bang hoàn toàn quản lý: Có trách nhiệm phân phối, ấn định Ngân Sách, Chương Trình, và mọi Sinh Hoạt của hệ thống Học Đường. Bởi vậy, chương trình giáo dục hoàn toàn phụ thuộc vào đặc tính của mỗi Tiểu Bang về văn hóa địa phương, nhu cầu đào tạo, nhu cầu công việc, kể cả tính cách Đa Văn Hóa, Đa Tôn Giáo và những yếu tố liên quan tới địa hình, thời tiết của mỗi Bang. Mặc dù vậy vẫn có một số điểm chung về cách tổ chức và quy định lớp lang, trình độ học vấn. Đây đúng là nền Giáo Dục của Chế Độ Tự Do Dân Chủ, không để cho Nhà Nước trở thành Độc Tài Toàn Trị.

Ở mỗi địa phương, mỗi trường có quyền phân cấp từ Tiểu Học lên Trung Học đệ I cấp, tới Trung Học đệ II cấp, dài, ngắn khác nhau. Nhưng chỉ hạn định trong vòng 12 năm. Sau đó học sinh tiếp theo học Đại Học Chính Quy 4 năm. Ngoài ra còn có Cao Đẳng Cộng Đồng 2 năm. Học hết 2 năm, đủ điểm, có thể ghi danh vào Đại Học Chính Quy 4 năm. Còn không tiếp tục nữa, thì có thể vào trường Cao Đẳng Huấn Nghiệp 2 năm để học nghề. Sau 4 năm tối nghiệp Đại Học Chính Quy, nếu sinh viên theo các ngành như Y, Dược, Luật, Thần Học… thì học tiếp ra Bác Sĩ, Dược Sĩ, Luật Gia… Còn những sinh viên đủ điểm quy định, được vào chương trình Cao Học Khoa Học 2 năm, nếu luận án tốt nghiệp đủ điểm quy định sẽ tiếp tục chương trình Tiến Sĩ và phải trình luận án có tính sáng tạo. Với các Sinh Viên không đủ điểm thì sẽ theo chương trình Cao Học Ứng Dụng.

Tới tuổi vào Tiểu Học, chương trình Giáo Dục Tri Thức, chữ nghĩa, kiến thức, tuy là chính, nhưng thầy cô, cha mẹ vẫn phải quan tâm giúp các em hướng vào Tâm Linh, rèn luyện Đức Tính, siêng tập Thể Lực, chơi các môn thể thao thích hợp với mỗi em. Tùy vào năng khiếu văn nghệ mỗi em, Thầy Cô và Cha Mẹ khuyến khích các em luyện tập các môn nghệ thuật, mà họ có sở trường. Ở bậc Tiểu Học và Trung Học, nhà nước và địa phương đã có một chính sách chung về chương trình và ngân sách. Dân chúng mỗi địa phương, bầu ra Hội Đồng Học Khu để đôn đốc, giám sát các sinh hoạt của Học Đường. Tức là 4 bên: Nhà Trường, Gia Đình, Nhà Nước và Cộng Đồng Địa Phương đều phải tận tâm góp sức vào việc bảo vệ, dậy dỗ, xây dựng nên những Con Người Toàn Triển Toàn Diện cho tương lai đất nước.

Ở bậc Trung Học có tính cách Phổ Thông, nên một lớp phải có nhiều Giáo Sư, Thầy Trò không còn gắn bó nhiều như ở các lớp Mầm Non, Mẫu Giáo, Tiểu Học nữa. Tuy các Giáo Sư vẫn không thể quên phương pháp Thân Giáo, cộng với Ngôn Giáo và Tâm Giáo cần phải có, thể hiện qua cung cách, tài năng, đức độ của mình để thuyết phục, chinh phục, khuyến khích, thúc đẩy, gợi ý cho học sinh ham vui học – hỏi, hỏi, hiểu, hành – để bắt tay vào việc Thí Nghiệm, Thực Nghiệm, Kiểm Nghiệm. Tạo điều kiện, cơ hội cho Học Sinh nêu ra tất cả những khó khăn, vướng mắc trong bài học, trở ngại trong việc thâu thái. Cũng như phát biểu ý kiến trước Thầy, Bạn, và các chương trình Dã Ngoại, quan sát thực tế xã hội, cơ xưởng, thiên nhiên, tham gia sinh hoạt xã hội cộng đồng… Chương trình Trung Học đa dạng, nhưng chỉ là khái quát, để học sinh mở rộng kiến thức, giúp cho họ tự tìm ra môn học chính cho mình, khi chọn lựa các ngành trên Đại Học, không một ai, – kể cả cha mẹ – không một thế lực nào, được quyền ép buộc học sinh phải lựa chọn những môn học, mà họ không thích hợp. Các Đại Học danh tiếng ở đất nước phát triển, hầu hết đều có quy chế Tự Trị Đại Học, với chương trình Rộng Mở, sẵn sàng khai phá và mở thêm các phân khoa mới, đáp ứng với nhu cầu và sự phát triển của thực tế. Nhà Nước có chương trình trợ giúp cho sinh viên nghèo và cho tất cả sinh viên được vay tiền học. Nhà Nước, các Sáng Hội, các Công Ty và Tư Nhân còn có những chương trình cấp học bổng cho các sinh viên ưu tú.

Chương trình Giáo Dục ở các nước Dân Chủ ngày nay, đều đã có chung một hướng là, xây dựng thành những Con Người tự do, tự chủ, sáng tạo, có đủ sức khỏe, tinh thần, thể chất, nhận thức sáng suốt, tài đức cao rộng, khả năng sáng tạo, trước khi là chuyên gia, bác học để phù hợp và đóng góp với cuộc sống thực tế, hoà ái, phát trỉển, trong xã hội nhân văn, tự do, công bằng, trọng pháp. Bởi thế ngoài các môn như toán và khoa học, các bài vở khai mở tri thức và chuyên khoa, thì nền Giáo Dục Nhân Chủ Nhân Văn, Toàn Triển, Toàn Diện, Toàn Cầu, cần phải chuyên chở các nội dung có văn hóa tính của Dân Tộc, Nhân Loại, với giá trị tự chủ, trách nhiệm tự do, đức tính công bằng và tinh thần trọng pháp, để Người Người sống yên vui, Nhà Nhà hạnh phúc giữa thế giới văn minh của Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Triển Toàn Diện Toàn Cầu này.

VĂN HÓA NHÂN CHỦ

Chính từ diễn tiến và các cuộc thăng hóa tư tưởng nơi các nguồn suy tư và thực chứng của Con Người trong Tự Nhiên và Thế Giới đã kết thành cách nghĩ, lối sống, cuộc sống, rồi dung hóa và thể hiện ra trong các cuộc sinh hoạt xã hội, đã tạo thành nền Văn Hóa chung của nhân lọai. Đi từ Mặc Thức Nhân Nhiên, tức là Con Người Tự Nhiên sống với thiên nhiên, sống chết nhờ thiên nhiên, chưa có ý niệm tích lũy, thần hóa thiên nhiên để tin tưởng và thờ kính. Đến Ý Thức Nhân Loại, Con Người nhận biết nhau, quần tụ với nhau, tạo ra Ý Thức về Xã Hội Người, từ Ý Thức Gia Tộc, tới Bộ Tộc, Dân Tộc, nhằm tranh sống với Thiên Nhiên, đến tranh giành với Đồng Lọai, kéo dài trên sự khổ đau về Thiên Tai, Nhân Họa suốt Năm, Bảy ngàn năm qua. Rồi đang dẫn vào thời đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn của Thế Giới hôm nay. Vậy, Nhân Chủ, hay là Nhận Thức Nhân Chủ là kết tinh của tiến trình Văn Hóa chung của thế giới loài người, đi theo với trình độ, quan niệm và nhận thức về chính mình nơi mỗi người, với người chung quanh và môi trường sống tự nhiên cũng như tập thể xã hội loài người.

Sự xuất hiện của Giống Người trên Địa Cầu này, là kết tinh của cuộc Đại Thăng Hoá Vũ Trụ, về khắp mặt Siêu Lý, Vật Lý, Sinh Lý, để Bổ Sung, Phân Hóa và Điều Hợp trọn vẹn với nhau, tạo ra hai loại người Nam, Nữ, thuộc Giống Người, cùng có nguồn Tâm Linh, Tinh Anh, Vi Diệu cao nhất của Vũ Trụ, làm nền cho Tâm Lý với khuynh hướng sống dũng mãnh tiềm tàng nơi Thể Tạng tuy mong manh, mà bền bỉ dẻo dai, đứng thẳng, tự do vận động, đi, đứng, nằm, ngồi, chạy, nhảy, múa, hát, bơi, lội, tự tìm lấy nguồn sống nuôi thân cho chính mình, bằng hai bàn tay khéo léo. Các Ông, Bà Tổ của chúng ta luôn luôn thích ứng với mọi môi trường sinh sống, vui chơi, dù rất nghiệt ngã của Thiên Nhiên đầy hung hiểm để sống còn. Do sự thôi thúc của nguồn Sinh Lý đến hồi sung mãn, các đôi Nam Nữ đã tìm đến nhau, ân ái, giao phối sinh ra Con Cái, tạo thành dòng Di Thức Huyết Thống – DNA của Nòi Giống Người, kéo dài mạng mạch di truyền cuộc sống và nguồn sống bất diệt cho tới chúng ta hôm nay, và đương nhiên chúng ta sẽ Tự Do, Chủ Động tiếp nối cuộc Sáng Tạo linh thiêng này là truyền giống sống đó cho Con Cháu đời đời ngang tầm Vũ Trụ, về cả các mặt Siêu Lý, Vật Lý, Sinh Lý và Tâm Lý -Tâm Linh đến muôn thuở.

TIẾN TRÌNH NHÂN CHỦ

Con Người xuất hiện trên mặt đất, theo ước tính có đến nhiều triệu năm nay. Với tính toán của các nhà khoa học, thì Loài Người hoàn toàn vượt ra khỏi “Động Vật Trạng Thái” để sống cuộc sống Mặc Thức Nhân Nhiên chỉ mới chừng 500,000 ngàn năm nay mà thôi. Tuy sống trong trạng thái động vật, nhưng trong nội tại tâm não đơn thuần vẫn tiềm ẩn nguồn Siêu Lý Vũ Trụ, tức là nguồn Siêu Thức Linh Diệu, và nền Di Thức Truyền Thống – DNA của nòi giống, chỉ vì nguồn Thế Thức Xã Hội còn quá đơn điệu, nên chưa triển khai được đầy đủ đặc tính Nhân Loại. Nhưng các Gia Tộc Mẫu Hệ cũng theo quán tính tự nhiên đã kết thành bày đoàn theo nhau đi kiếm sống tràn khắp Địa Cầu. Đến nay còn sót lại chỉ tồn tại hai dòng chính là Đa Âm và Đơn Âm, Dòng Đơn Âm chiếm phía Đông bán cầu, còn Dòng Đa Âm ở phía Tây bán cầu. Các nhà khoa học đang đi gần tới kết luận về Tổ Tiên dòng Đa Âm. Còn Tổ Tiên dòng Đơn Âm thì vẫn mù tịt. Đích ra Tổ Tiên Loài Người chỉ có thể xuất hiện ở vùng gần đường Xích Đạo, nơi có nhiệt độ trung bình đều đặn lúc đó ở trên dưới 37 độ C. Độ ấm của bụng người mẹ.

Như vậy, khi lục địa Á Châu chưa bị tách ra, trôi dạt thành các đảo quốc vùng Đông Nam Á, cũng như nước Úc và Tân Tây Lan, thì rất hợp lý, Việtnam có thể là linh địa của dòng Đơn m xuất hiện, rồi từ Việtnam tràn ra khắp vùng. Đó là các bầu đoàn thê tử đầu tiên tràn lan khắp Đông Nam Á và Á Châu. Đợt thứ hai tiến vào Hoa Lục cách đây trên dưới 20 ngàn năm, vẫn từ đất Việt. Theo tiến sĩ Madeleine Colani, người Pháp đã khán phá ra nền Văn Minh Hoà Bình ở vùng Thanh Hóa phía Nam sông Hồng Hà, đã có khoảng 20 ngàn năm trước. Nhưng sau đó, khoảng năm 1.000 trước Tây Lịch, Dân Tộc Việt từ Động Đình Hồ, tôn thờ Thần Tổ Lạc Long Quân và mẹ u Cơ, mới trở về định cư tại lưu vực Sông Hồng. Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước Văn Lang thì nền Văn Minh Trống Đồng Hoà Bình Mới lại được phục hoạt. Thế là Dân Tộc Việt đã một lần hồi hương.

Khởi đầu cho 500,000 năm, nhân loại thoát khỏi cách sinh hoạt hoàn toàn lệ thuộc thiên nhiên, tiến lên sống cuộc sống Mặc Thức Nhân Nhiên. Tức là các Tộc Thuộc tự thích ứng với cuộc sống xã hội và tự nhiên, tổ chức thành những Bộ Lạc có các người cầm đầu. Trong mỗi Bộ Lạc thường thấy có hai thành phần cầm đầu. Một là Vị Tù Trưởng điều khiển dân về mặt kiếm sống. Hai là vị Pháp Sư chăm sóc dân về mặt tinh thần, với tín ngưỡng Đa Thần, giữ việc thờ cúng Thần Linh và trị bệnh cho dân. Bộ Lạc đi từ Du Mục, Du Canh, Du Cư, đến khi quá lớn phải Định Canh, Định Cư, Lập Quốc để trồng tỉa và tích lũy. Nhằm tổ chức thành cơ cấu Quốc Gia Dân Tộc. Nhân Loại bước hẵn vào thời đại Ý Thức Nhân Loại, chỉ mới vào khoảng trên 5 đến 6 ngàn năm nay. Chế độ cai trị theo hệ thống “Cha Truyền, Con Nối” của truyền thống Phong Kiến Quân Chủ. Vào thời đó, các Quốc Gia Dân Tộc đều chọn một vị Thần Tổ Linh Thiêng đứng đầu Chư Thần, tượng trưng cho việc Quốc Gia Thống Nhất và bảo đảm cho một vị Vua duy nhất cầm đầu Quốc Dân. Riêng tại Việt Tộc không tôn thần linh làm Thần Tổ, mà tôn Cha Mẹ Dân Tộc là Đức Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ lên Làm Thần Tổ. Khởi đầu cho ý niệm Nhân Chủ Đạo, Bình Đẳng giữa Nam Nữ.

Các Quốc Gia thành lập, Nhân Loại sống trong Ý Thức Nhân Loại là thời kỳ Con Người Suy Tư bùng nổ, các học thuyết thi nhau xuất hiện, sau khi có học thuyết, Tư Tưởng Hoài Nghi về sự hiện hữu của Một Đấng Chúa Tể Vũ Trụ và Nắm Vận Mạng Con Người, thì các học thuyết Duy Thần, Duy Tâm, Duy Vật và hàng trăm thứ triết lý Duy khác, cùng xuất hiện để tranh thắng, và cho lý thuyết của họ là chân lý. Khởi đầu từ phái Upanishads của 4 ngàn năm trước ở Ấn Độ, đã hệ thống Kinh Veda thay thế những tin tưởng mặc nhiên về Đấng Brahma Tối Cao thành lý luận về uyên nguyên sáng tạo vũ trụ. Nhưng rồi Upanishad đặt câu hỏi: “Đấng Brahma cao cả ngự trên trời cao xanh điều khiển cuộc Diễn Hóa – Maya, có biết được bao việc mình làm không, hay chính Ngài cũng không biết nốt?”.”Ai là người đã trả lời được?” Từ đó nền triết học nhân loại được mở ra từ bên Trời Đông cũng như Trời Tây. Nhưng khi nguồn Tư Tưởng Duy Vật Vô Thần Cộng Sản xuất hiện tạo ra cuộc đấu tranh Ý Thức Hệ toàn cầu và cuộc chiến tranh Ý Thức Hệ nóng tại Việtnam, thì nhân loại mới bừng tỉnh, từ bỏ gánh nặng tranh chấp Ý Thức Hệ để trở về sống thực với chính mình, nhằm dựa vào các Chính Giáo để tìm lối thoát cho Tâm Linh cho Con Người, trong cuộc vận động không kém phần cam go theo Tiến Trình Toàn Cầu Hoá và Dân Chủ Hoá Toàn Cầu.

MÔI TRƯỜNG NHÂN CHỦ

Dù hai mươi lăm thế kỷ trước Đức Phật Thích Ca đã đề ra Biện Chứng về Nhân Chủ Đạo rằng: “Con Người phải tự thắp đuốc lên mà đi”. Có nghĩa, Mỗi người phải Tự Tu, Tự Giác, Tự Chứng lấy Chân Lý chứ không nhờ cậy vào bất cứ ai khác. Năm trăm năm sau, Chúa Jésu thì ẩn dụ rằng “Ta là Con và là Ngôi Hai Thượng Đế và Loài Người là anh em ta”. Phải chăng Ngài muốn nâng Loài Người lên ngang tầm với Ngài. Cả Hai vị Giáo Chủ này đều quy về Nhân Chủ Đạo. Còn hai trăm năm trước Dương Lịch, Thầy Mạnh Tử thì đi thẳng vào chính trị rằng: “Dân vi Quý, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh”. Theo đó Dân là Tôn Quý nhất. Thứ hai đến Sơn Hà và Luật Pháp. Thứ ba mới đến nhà Vua. Nhưng thời của các Ngài đều chỉ mới ở giai đoạn Ý Thức Nhân Loại, tư tưởng con người còn đặc quánh Thần Quyền và Phong Kiến. Nhân Chủ Đạo và chế độ Dân Chủ phải đến Cuộc Cách Mạng Tôn Giáo ở u Châu của các Giáo Phái Tin Lành, Lurther 1517 và Calvin 1533 mới dẫn tới các cuộc Cách Mạng Dân Chủ.

Cũng chính những người Tin Lành tỵ nạn đàn áp tôn giáo này, đã di cư sang Tân Thế Giới, lập ra nước Hoa Kỳ tạo lên nền Dân Chủ Trọng Pháp Bền Vững đến hôm nay. Mặc dù, ban đầu Đế Quốc Anh theo sang cai trị họ. Nhưng họ không cần biết tới luật lệ của Đế Quốc ở trên cao. Mà tự lập ra các Làng Xã, Thị Trấn, tự bầu ra người quản trị, và người giữ an ninh. Đến khi Hoa Kỳ giành được Độc Lập 1776 thành lập Hợp Chúng Quốc, họ đã có sẵn cái gốc Dân Chủ Trực Tiếp Tự Lực nơi Làng Xã, Thị Trấn từ thời bị cai trị bởi Đế Quốc Anh, để các tiểu Bang họp thành một Liên Bang Cộng Hoà Dân Chủ Trọng Pháp bền vững. Trở nên một siêu cường, sau khi tham dự 2 Cuộc Thế Chiến và một Cuộc Chiến Tranh Lạnh, đang phải đương đầu với cuộc Khủng Bố Toàn Cầu. Đang dẫn đầu tiến trình Kinh Tế Toàn Cầu Hoá và công cuộc Dân Chủ Hoá Toàn Cầu.

Thật đáng buồn các cuộc gọi là cách mạng Dân Chủ từ xưa tới nay, kể cả cuộc đại cách mạng Pháp 1789, cũng đã bị tha hóa, đưa đến việc nhân danh cách mạng để tàn sát lẫn nhau; cuối cùng lại quay về Đế Chế. Rồi đến cuộc cách mạng Tư Sản Dân Quyền Âu Châu 1848 cũng bị quái hoá thành chế độ Thực Dân đi xâm lăng các thuộc địa. Cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Hoa, vì vẫn giữ hệ thống cai trị phong kiến, thượng hạ cấp, nên dẫn tớí nạn xứ quân cát cứ, để sau thua về tay cộng sản. Tồi tệ nhất là cuộc cách mạng Cộng Sản tại Nga, nó đã nhân danh cách mạng để tàn sát những thành phần trí thức đối kháng và những người bị quy chụp thuộc thành phần trí thức Tiểu Tư Sản. Sau đó lan tràn sang các nước chư hầu Cộng Sản đã giết hại nhân loại tổng cộng lên trên Một Trăm Triệu Người. Ngày nay Việtnam không may, vẫn còn bị Đảng Cộng Sản thống trị, bảo sao bọn họ không lỳ lợm duy trì bản Hiến Pháp Phản Dân Chủ, Phản Quốc Dân, Phản Thời Đại cho được. Nhưng một khi nó không hợp Lòng Dân, hợp Thế Nước, hợp Thời Đại thì nó phải tiêu vong.

Rút kinh nghiệm từ các cuộc cách mạng nêu trên, chúng ta phải suy nghĩ cách nào để tránh cho công cuộc Dân Chủ Hóa của chúng ta hôm nay, không vấp vào những sai lầm xưa. Ai cũng biết muốn thay đổi vận mệnh một quốc gia thì không thể bỏ qua 2 yếu tố Lòng Dân và Thế Nước. Muốn hiểu lòng dân thì phải có Tự Do Truyền Thông. Nhưng truyền thông thì chỉ mới ảnh hưởng tới thành phần trí thức và dân chúng đô thị còn ở thôn quê thì không mấy phổ biến, nhất là về vấn đề Dân Chủ. Chính vì vậy, muốn cuộc Dân Chủ Hóa chế độ được hoàn thiện và bền vững, thì ngoài phải có bản Hiến Pháp Đa Nguyên, Tam Quyền Phân Lập, có Tự Do Tôn Giáo,Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Lập Đảng, Tự Do Nghiệp Đoàn…Đồng thời với các cuộc bầu cử tự do ở trung ương, phải lập tức tiến hành ngay các cuộc bầu cử tại các đơn vị hành chánh gốc là Làng Xã ở Nông Thôn và Thị Xã ở Thị Tứ. Để thoát khỏi hệ thống hành chánh phong kiến “Thượng đội, Hạ đạp” Cấp trên hạ lệnh cho cấp dưới. Mà mỗi cấp chỉ làm đúng luật pháp đã được quy định theo chế độ Dân Chủ Pháp Trị. Chứ không phải là Ý Chí Thượng Cấp. Muốn vậy việc bầu cử Làng Xã, Thị Xã lần đầu tiên không do cấp trên tổ chức, mà do tổ chức chí nguyện Sinh Viên được các Giáo Sư Đại Học hướng dẫn.

Họ được huấn luyện một thời gian vừa đủ, để làm công tác vận động Dân Chúng ứng cử và Bầu Cử. Nhất là hướng dẫn dân chúng biết về Dân Quyền của mình, và vị Xã Trưởng và Hội Đồng Xã được bầu là vị tổng thống và chính phủ trực tiếp của họ. Dân có quyền bầu lên, và nếu không làm đúng ý dân thì lần sau không bầu cho nữa, nếu quá đáng thì có thể vận động một số cử tri theo luật định, để yêu cầu Quốc Hội cho phép bầu lại Xã Trưởng, hay một ủy viên trong Hội Đồng. Tóm lại để cho dân thấy được mình là chủ nhân ông đích thật của quê hương, đất nước mình. Từ đó người dân mới ý thức được chân giá trị về lá phiếu của mình khi bầu cho Tổng Thống, Quốc Hội, hay bất cứ chức vụ được bầu cử nào. Cuộc bầu cử Dân Chủ Trực Tiếp sẽ tạo ra một Nền Cộng Hoà Đáy Tầng làm nền tảng vững chắc cho chế độ Dân Chủ Trọng Pháp bền vững, như nền Dân Chủ Siêu Cường Hoakỳ ngày nay. Và cũng hợp với Truyền Thống Dân Tộc Việtnam đã có ngay từ thời đại của Thần Tổ Lạc Long Quân mở nước, Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước. Là trao quyền tự trị địa phương cho các Tộc Trưởng, đưa đến truyền thống “phép Vua thua lệ Làng”. Chính nhờ đó mà ngàn năm bị Bắc thuộc, Việtnam vẫn duy trì được bản sắc Văn Hoá Dân Tộc nơi làng xã, để đoạt lấy thời cơ xây mùa tự chủ thời Ngô Quyền năm 939. Truyền thống vi diệu đó đã bị Hồ Chí Minh và Đảng Cộngsản Việtnam theo lệnh Tầu, tiêu diệt mất qua cuộc Cải Cách Ruộng Đất, nên nay mới làm cả nước đang bị rơi vào hoàn cảnh mất nước từng phần về tay Tầu. Con cháu Hồ chí Minh mau thức tỉnh đi còn kịp, nếu không chắc chắn sẽ bị trả giá nặng nề, vì bản chất Dân Tộc Việt vốn có sức bật phi thường. Chính vì bản chất Nhân Chủ Việt và Biện Chứng Nhân Chủ thời đại đang tới, Việt Nam sẽ sớm Dân Chủ Hoá được chế độ.

THỰC HÀNH NHÂN CHỦ

Khi chế độ đã được Dân Chủ Hóa, đất nước Hòa Bình, Phát Triển, dân chúng Tự Do, nhà nhà An Vui, người người thanh thản, yên tâm đóng góp công sức vào cuộc thăng hóa xã hội và lịch sử nòi giống và nhân loại, vấn đề lúc đó chỉ còn lại là Tâm Linh Hướng Thượng. Thực ra, khi một người đã xuất hiệt, sinh hoạt ở cõi đời này, thì không mất đi đâu hết, hình ảnh đã truyền vào không gian vô tận. Tính tình, tri thức đã để lại trong Di Thức Huyết Thống của nòi giống, trong dòng DNA của mình, cũng tới vô cùng, bất tận. Những công trình tinh thần, cũng như thực tế, góp sức thăng hóa cho nhân quần xã hội đều hội nhập vào dòng Văn Hóa tiếp tục diễn hóa, thăng hóa đến muôn đời, muôn kiếp. Chỉ có tấm thân giả tạm này trở về với cát bụi vật chất, để cùng tiếp tục diễn hóa. Còn Tâm Thức Tâm Linh thì tùy ý niệm sống của mỗi người, lúc sống tin tưởng tuyệt đối vào hướng vươn tới của mình tự chủ động lựa chọn là gì, lúc chết sẽ theo về hướng đó.

Nếu sống trong quan niệm tuyệt đối tin tưởng vào có sự thưởng phạt đời sau, thì ngay sau khi chết, Linh Hồn sẽ theo hướng ấy mà đi tới. Nếu sống trong quan niệm tin tưởng tuyệt đối vào kiếp luân hồi, thì sau khi chết Tâm Linh sẽ lững lơ ở cõi Trung Ấm chờ hợp duyên với thai nhi nào đó để hội nhập, trở thành lực lượng Siêu Thức họp với lực luợng Di Thức của Thai Nhi để thành Nội Tại Tâm Linh của một con người, hay một con vật nào đó, tùy theo Tâm Đức mỗi người khi còn sinh tiền. Nếu sống không tuyệt đối tin tưởng vào hướng vươn tới nào đó, lúc chết cũng sẽ bị trả giá cho sự thiện, ác ở đời, nhẹ ra là rơi vào cõi Trung Ấm, để tuỳ duyên mà thể nhập thôi. Đó là quan niệm về đời sau của các chính giáo. Nhưng tất cả đề quy về một mối là Nhân Chủ Tính, tùy quan niệm sống của mỗi người, tuyệt đối không ai có thể làm lệch hướng chủ động lựa chọn của một người. Vì Con Người là Linh Vật có Tự Do Tự Chủ và quyền Sáng Tạo trong cuộc đời này và tiếp diễn tới vô cùng và “đã sinh ra thì chẳng có cái gì mất cả”. Dù bị vần vũ trong cõi Vô Thường Biến Ảo.

Dù nói cách nào, cũng phải công nhận Loài Người là một sinh loại siêu đẳng ở trái đất này. Là kết tinh của cuộc Đại Thăng Hóa của Vũ Trụ, cùng trong nguồn Động Lực Siêu Thể vô biên vô hạn của Vũ Trụ, do tiến trình thăng hóa của Vũ Trụ, mà kết tinh lên Giống Người tinh anh. Vậy Con Người muốn hội nhập với Vũ Trụ một cách chủ động trọn vẹn để cùng góp vào công cuộc Đại Thăng Hóa cho các đợt Vũ Trụ sinh sau, cũng không thể làm khác hơn là trở lại thể không Tự Ngã Hóa chính Tâm Thức mình và Vô Ngã Hóa, nơi quan niệm của mình về Đại Ngã Vũ Trụ, để tất cả cùng trở về với Bản Thể Vũ Trụ: Siêu Thể Vô Biên Vô Hạn. Chỉ có như vậy, Con Người mới đi đúng hướng Nhân Chủ Nhân Văn: Tự Do Tự Chủ Sáng Tạo, vươn lên cùng Vũ Trụ Hằng Hoá và Chuyển Hóa Thăng Hoá không cùng. Nếu, chư vị Tự Chủ Tu Chứng Giải Thoát Sinh Không, một khi chúng sinh thành tâm niệm tới Danh Hiệu mình, thì đều ứng nghiệm.

VĂN HÓA XÃ HỘI

Sự có mặt của loài người trên hành tinh này, so với các sinh loại khác phải kể là rất mới, về sức vóc cũng chẳng to lớn khỏe mạnh hơn ai. Cũng đã chịu chung hoàn cảnh biến đổi địa vực môi trường, và những tai ương thiên nhiên khắc nghiệt, như bao loài khác. Thế mà loài người ngày nay còn đây. Còn với mức độ đông đảo đáng nể. Còn trong tư thế sẵn sàng buộc thiên nhiên phải khuất phục trước ý chí, suy nghĩ và sức khai phá của mình.

Điều gì đã đưa loài người đạt tới vị thế hiện nay. Nhất là trong buổi ban đầu mông muội, sống bằng Bản Năng Cảm Tính của thời Mặc Thức Nhân Nhiên, ý thức chưa khai mở, mà phải sống với thiên nhiên đành hanh ưa nóng giận, câm nín bất thường? Đành rằng, loài người hiện hữu được ở trái đất này, là một Đại Sự Nhân Duyên kết tinh của vũ trụ, là một đợt Thăng Hóa tuyệt vời về cả mặt “Năng Lực Tâm Linh” lẫn “Năng Lực Thể Chất” của vạn hữu. Thế nhưng, những thực tế khắc nghiệt của luật tự nhiên nào có tha ai bao giờ. Thành đấy mà Hủy đấy. Dưỡng đấy mà Diệt đấy. Nhưng khi đã có Sự Sống thì ngay lập tức có Sức Sống. Chính sức sống giữ cho sự sống tồn tại lâu dài. Sự sống, sức sống và nhu cầu tồn tại ấy, đã là một Hướng Sống của mọi sinh loại, để mà sống len lỏi giữa luật: Thành, Bại, Dưỡng, Diệt.

Ở Loài Người Hướng Sống tiềm ẩn ngay bên trong đó khả năng Thăng Hóa tự thân, được thể hiện bén nhậy tinh tế qua: Bản năng, Cảm Tính, Mặc Thức và Ý Hướng Hợp Quần sẳn có trong giống Người, cùng dựa vào nhau để bảo vệ sự sống, khai mở ngôn ngữ, tạo thành cuộc sống Người. Chính cuộc sống Người Hợp Quần đó đã là môi trường thuận lợi cho Cảm Tính thăng hóa thành Tình Cảm, Mặc Thức bừng sáng thành Ý Thức, Ý Hướng kết tinh thành Ý Chí. Nói thì đơn giản là thế, mà Nhân loại truyền tiếp cho nhau, đã phải vất vả lắm lắm để vượt qua chặng đường Mặc Thức Nhân Nhiên mò mẫm tăm tối, kể có hàng triệu năm, mới đạt được mức hình thành Tâm Thức Người đơn giản như vừa nêu.

Dù Tâm Thức Người chỉ đơn giản là Tình Cảm, Ý Thức, Ý Chí, nhưng lại đã mở ra một khung trời bao la rực rỡ vĩ đại, lại vừa đau thương khổ lụy muôn vàn do chính loài người tạo ra, từ khi Loài Người đạt tới cuộc sống Ý Thức Nhân Loại, mà cũng chỉ mới mấy chục ngàn năm nay thôi. Ấy thế mà lịch sử vẫn dè sẻn với chúng ta, chỉ mới lưu dấu lại vỏn vẹn có trên dưới 10 ngàn năm. Chừng ấy thời gian, mà phải tốn công khai quật mới thấy được. Còn những gì đang ảnh hưởng tới cuộc sống chúng ta thì chỉ mới độ trên 5 ngàn năm trở lại đây. Những gì còn lại đó là dấu ấn Văn Hóa của những Dân Tộc có văn hóa, của những khu vực được gọi là những chiếc nôi của Văn Hóa Nhân Loại.

Cái còn của năm ngàn năm là cái còn Văn Hóa.Văn hóa trong dấu ấn lịch sử. Nhưng Văn hóa trong huyết hệ Di Thức truyền thống nơi mỗi người chúng ta, thì đó quả thật lại là một dòng chảy từ thật xa xưa, ngay từ khi tổ tiên ta thành đạt được cuộc sống Người có Tình Cảm Ý Thức và Ý Chí, đó là Nhân của các nền Văn Hóa Dân Tộc, rồi chảy vào từng vùng làm thành Văn Hóa Khu Vực. Hiện nay Văn Hóa các Dân Tộc các Khu Vực văn minh đang Dung Hóa với nhau làm thành nội dung của cuộc sống người trên toàn thế giới.

Như vậy, nói tới Văn Hóa thì ngay lập tức phải đề cập tới Văn Hóa Dân Tộc, không có Văn Hóa Dân Tộc thì Văn Hóa Thế Giới thiếu bề dầy. Thiếu những đặc tính cá biệt cần thiết muôn mầu, muôn vẻ của đất trời khu vực. Văn Hóa của các Dân Tộc còn trường tồn tới nay, rất cần được phục hoạt. Kho Tâm Thức Văn Hóa Dân Tộc nơi mỗi người, cần được khai triển để góp với Nhân Loại tạo dựng cuộc sống Nhận Thức Nhân Văn trong thiên niên kỷ mới.

HỢP QUẦN THỜI MẶC THỨC NHÂN NHIÊN

Do bản năng, cảm tính, mặc thức mà Con Người đã biết phân biệt phái tính để thay tự nhiên sản sinh ra con cái, truyền Di Thức -DNA – lưu tâm thức của đôi lứa. Do bản năng, cảm tính, mặc thức và ý hướng hợp quần, mà Con Người đã quy tụ với nhau thành bầy đoàn, để bảo vệ nhau cùng kiếm sống. Mối tương quan giữa Người với Người đơn thuần theo tự nhiên tính.

Chính vì vậy, mà sự hợp quần của bày đoàn trong thời Mặc Thức Nhân Nhiên này, chưa định hình được một quy củ xã hội. Hoặc có thể gọi ép đây là lối sống Mẫu Hệ. Những trụ cột của bày đoàn là các Người Mẹ. Chồng, Con quây quần chung quanh Người Mẹ, và có thể tách bầy bất cứ lúc nào khi tự cảm nhận đủ sức.

Nhưng một điều nổi bật trong Tình Người, mà còn lưu giữ đậm nét tới bây giờ, trong tuyệt đại đa số chúng ta đó là Sợ. Chính vì sợ, sợ cô đơn, sợ đêm tối, sợ sự thét gào của trời đất, sợ đủ thứ, mà bầy đoàn, nhất là các bà mẹ đã tìm tới nhau để hội tụ, con cái và đàn ông cũng theo đó mà quây quần.

Phải nhận rằng: Con Người đúng là một Linh Vật trong trời đất. Vì cảm tính có rất sớm và trưởng thành rất mau. Thay cho bản năng chỉ biết tìm tới nhau trong lúc cần. Sự cần do bản năng thôi thúc thì vốn dữ dội và quyết liệt, đưa đến chiến đấu giành giật, chắc Con Người cũng không ngoại lệ. Nhưng vốn là linh vật nên nhờ cảm tính, mà con người mau chóng biết giữ lại những gì đã thuộc về cảm tính của mình một cách lâu bền. Đó là sự Tư Hữu của cảm tính.

Cảm tính Tư Hữu đã giữ đôi lứa lại với nhau, giữ con cái lại với Cha Mẹ, thành những Gia Đình Tự Nhiên. Lâu đời dầy kiếp cảm tính gia đình thăng hóa thành Tình Cảm Gia Đình, lúc đó mới là thời Tộc Thuộc lâu dài. Vợ Chồng, Con Cái, Cha Mẹ, Ông Bà, dòng họ sống quần tụ bên nhau, để tạo thành những giống người cá biệt. Các Tộc thuộc này có thể sinh hoạt theo lối Bộ lạc du mục, rồi du canh du cư, hay phát triển mau chóng thành nếp sinh hoạt Dân Tộc định canh định cư sau này.

XÃ HỘI THỜI Ý THỨC NHÂN LOẠI

Khi các Tộc Thuộc sinh hoạt chuyển vào lối sống Bộ Lạc Săn Câu. Rồi biết nuôi thú hiền, theo bầy thú lang thang trong đồng cỏ, sống đời Du Mục. Hoặc biết trồng tỉa theo cách Du Canh, Du Cư trên miền cao. Hay đã biết đưa Dân Tộc xuống vùng châu thổ Định Canh, Định Cư, để vẽ vòng biên ải thành lập Quốc Gia của Dân Tộc. Đó là cuộc sống được hướng dẫn bằng Sự Biết.

Như vậy là loài người đã thực sự bước hẳn vào Cuộc Sống Ý Thức Người, thiết lập mọi quan hệ giữa người với người trong tập thể, tìm ra cách sống, nơi sống thích hợp nhất cho Tộc Thuộc. Tức là đã thăng hóa cuộc sống từ Hợp Quần Tự Nhiên Phi Sản, sang cuộc sống Xã hội Con Người Hữu Sản. Đó là sự định hình, định tính của Văn Hóa và Xã Hội.

Do chính nhu cầu và khả năng Tình Cảm, Suy Nghĩ và Ý Chí của Con Người đã tự nâng Xã Hội Loài Người lên khỏi bầy đoàn của các loài động vật khác. Khi đã sử đụng tới Hiểu Biết để nâng cao cuộc sống của mình, cũng có nghĩa là đã thẩm định được giá trị của vẻ Đẹp sự Đúng việc Lành, đó là nội dung của Văn Hóa, thêm vào với tự tính thường xuyên Thăng Hóa của Tâm Thức Người, mới thực sự biểu hiện trọn vẹn được ý nghĩa Văn Hóa.

Những sản phẩm, những công trình tạo tác Văn Hóa tuy ở thể tĩnh, nhưng tác động của nó trên Tâm Thức Con Người thì được chuyển sang thể động, vừa soi sáng, vừa nâng cao, vừa hướng dẫn cho cuộc sống Con Người, trong những tương quan xã hội, cũng như hình thành các tổ chức xã hội, và định mức thang cho giá trị cuộc đời, thế nên tùy trình độ Tâm Thức của Con Người từng thời đại, mà thành lịch sử. Vì Con Người là Nguyên Nhân Lịch Sử Nhân Loại.

Khi Con Người sống bằng ý thức, Văn Hóa Loài Người, được hình thành và hướng dẫn bằng Ý Thức, Xã Hội Loài Người, được tổ chức và sinh hoạt trong sự chủ đạo của nền Văn Hóa Ý Thức, thì sự phát triển của Nhân Loại nở rộ muôn mầu muôn vẻ, mà từ thực tế đến siêu thực, đều diễn ra giữa sự đối nghịch quyết liệt giữa Đẹp và Xấu, giữa Đúng và Sai, giữa Thiện và Ác. Hầu như từ Con Người, ra Xã Hội, tới Vũ Trụ, cũng đều mang tính cách lưỡng diện, cho tới đa diện, hoặc ảo diện, tùy theo ý niệm của mỗi người chủ quan khẳng định.

Chính những ý niệm chủ quan đó của mỗi người đã chinh phục ngay Tình Cảm của chính mình, rồi dùng ngay Suy Tư của chính mình xây dựng, chứng minh cho đó là Chân Lý, cuối cùng đặt trọn vẹn năng lực của Ý Chí mình vào đó để thành Niềm Tin. Nếu chỉ dừng ở đó thì rất tốt. Vì rằng chính Tâm Thức Con Người thuộc lãnh vực Siêu Thức, vốn là một công trình sáng hóa tối cao của Vũ Trụ theo luật tự nhiên. Vậy Con Người có quyền theo luật của vạn hữu mà sáng tạo, để làm giầu, làm mới thêm cho tự nhiên, nhất là về mặt tinh thần, thức giác, tâm linh của Năng Lực Siêu Thức Vũ Trụ. Nhưng nguy hiểm ở chỗ bắt người khác phải tin vào những điều mình tin. Bắt những người khác phải tuân phục ý chí của mình, rồi nhân danh những mục tiêu cao cả do mình tin, để bắt những người theo phục vụ cho quyền lợi, tham vọng của mình. Đó mới là thảm họa của nhân loại triền miên bị gánh chịu gần 10 ngàn năm nay, suốt dọc cuộc sống Ý Thức Nhân Loại.

Sự mở rộng tầm mức Xã Hội Tộc Thuộc, Bộ Lạc sang tầm mức Quốc Gia là những biến cố trọng đại nhất của Loài Người. May mắn cho Dân Tộc nào từ tình trạng tộc thuộc, chuyển sang Quốc Gia chỉ là sự thay đổi địa vực sinh hoạt du canh, du cư trên vùng cao, tìm xuống đồng bằng phì nhiêu định canh, định cư, lập làng dựng nước để phát triển Dân Tộc, vì nhu cầu Canh Nông là tăng dân mới tăng của. Dân đông thì phải có luật lệ và tổ chức Cai Trị thuận cảnh, hợp lý. Trưởng Tộc xưng Vương, đứng đầu nước, trị dân một cách hòa bình.

Các dòng họ cũng tự phân mỏng ra để lập làng, lập ấp sinh sống, đơn vị sống chung, ăn chung, tài sản chung thuộc về Cha Mẹ, Vợ Chồng, Con Cái là đơn vị gốc của Xã hội Nông nghiệp. Giá trị Đạo Đức lớn nhất của Con Người là sống đúng theo Luân Lý của Gia Đình. Vì gia đình là cội nguồn của sự sống, cái nôi của cuộc sống, nơi chứa đựng yêu thương, nơi đảm bảo yên ổn no ấm, nơi khởi phát trí tuệ, nơi vun bồi kiến thức kinh nghiệm, nơi Con Người trở thành Người.

Không may mắn cho các Tộc Thuộc, Bộ Lạc nào mà lại rơi vào tình cảnh mở rộng tầm vóc xã hội bằng bạo lực, do sự chinh phạt của các bộ tộc hung dữ, thì xã hội đó bị đặt dưới chế độ cai trị độc tôn. Nhà Vua làm chủ đất nước, chủ tài sản, chủ quốc dân. Vua phong ấp cho các lãnh chúa cai trị từng vùng. Dân chỉ còn là Nông Nô trong lãnh địa. Chiến lợi phẩm trong các cuộc chinh phạt. ngoài của cải vàng bạc, còn bắt kẻ thua trận về làm nô lệ cho mình nữa. Xã hội chia thành những đẳng cấp Quý Tộc, Tiện Dân và Nô Lệ.

Các cuộc chiến tranh tràn ra như một căn bệnh thời đại. Hết nước này xung đột với nước kia, đến lượt các Đế Quốc mọc lên. Góc này đế quốc A tàn, phương nọ đế quốc B nổi. Đau thương theo gót đoàn quân viễn chinh mà xuất hiện. Ảnh hưởng văn minh lại cũng theo đoàn quân viễn chinh mà sụp đổ và lan truyền. Do ảnh hưởng của tầm hoạt động của Đế Quốc, đã tạo thành các vùng văn minh khác nhau. Để có những nền văn hóa khác nhau, và hình thái xã hội khác nhau.

Chính chiến tranh đã thôi thúc sự trưởng thành của suy tư, những triết gia, những nhà tư tưởng, các bậc chân sư đạo học xuất hiện, nhằm tuyên dương những lý thuyết, những phương hướng giải quyết các vấn đề nhân sinh. Mà ảnh hưởng lớn nhất vẫn là các Tôn Giáo thờ Trời. Nương Oai Trời để dậy dân, nhờ Đức Trời để cứu dân, mượn Mệnh Trời để trị dân. Đó là tùy ở vị thế mỗi thế lực mà dùng. Ngay đến các nền Đạo Học Đông Phương, tuy không nhân cách hóa Thế Lực Thiêng Liêng thành ông Trời toàn năng, nhưng cũng nhìn nhận đó là Nguồn Năng Lực Siêu Lý tối cao, là Thiên Lý, là Đạo Trời lồng lộng. Đức Trời hiếu sinh, Mệnh Trời khó tránh. Tôn Giáo mặc nhiên thành lực sinh động của văn hóa trong thời Ý Thức Nhân Loại. Chính vì vậy, mà các cuộc cách mạng Tôn Giáo tác động trực tiếp vào những thay đổi Xã Hội, Văn Hoá, Chính Tri và Kinh Tế cũng như mọi tương quan giữa các nước. Vì mặc nhiên hay ý thức Văn Hóa luôn sắm vai trò chủ đạo cho khắp mặt sinh hoạt Chính Trị, Kinh Tế, Xã Hội, Luật Pháp… Giao Tiếp.

Cuộc cách mạng Tôn Giáo của Đức Phật Thích Ca, là cuộc cách mạng Tôn Giáo chân chính và toàn diện đầu tiên trong lịch sử nhân loại, trước sức mạnh Thần Giáo Brahman, đã được vũ trang bằng cả một hệ thống triết lý uyên thâm và đa diện của nền văn minh Vệ Đà Ấn Độ. Cuộc đại cách mạng tư tưởng của Phật nhằm đưa Con Người vào đúng vị thế Nhân Chủ trong vũ trụ và cuộc sống, để Con Người Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo, Tự Giải Thoát khổ đau cho chính mình và góp sức giải thoát cho đồng loại, chúng sinh.

Cuộc cách mạng tôn giáo thứ hai là của Đức Jesus, trước sức mạnh cực đoan của Do Thái Giáo. Ngài đã đưa Thượng Đế của riêng Dân Tộc Do Thái trả về cho Vũ Trụ. Rồi trao lại cho Loài Người, đưa gần lại với loài người bằng tình yêu của Ngôi Hai Thượng Đế. Chính là sự hiện hữu của Con Người Jesus. Đáp ứng đúng với tầm mức tinh thần và nhu cầu thời đại, nên dù bị cấm đoán bức hại, Thiên Chúa Giáo sau 300 năm, đã làm chủ hoàn toàn niềm tin của Người Dân Âu Châu. Buộc Hoàng Đế La Mã, Constantine phải nhìn nhận là Công Giáo cho toàn Đế Quốc.

Từ đó mọi sinh hoạt văn học, nghệ thuật, triết học của uchâu đều phát triển trong tinh thần Thiên Chúa Giáo, kể cả thuận lẫn nghịch, tạo ảnh hưởng quyết liệt tới đời sống Xã Hội, Văn Hóa, Chính Trị và Kinh Tế đến toàn u Châu. Gần như Thiên Chúa Giáo nhiều khi ở vào thế toàn trị. Đây là nguyên nhân đưa tới cuộc cải cách Tôn Giáo của Lurther và Calvin vào thế kỷ 16. Lurther trả chính trị cho chính quyền với khẩu hiệu : “Ý Chúa Trời thể hiện nơi miệng của nhà Vua” Giống với phong kiến Đông Phương “Ý Vua là Ý Trời”. Nhà trí thức Calvin đi xa hơn cho là: “Ý chí Thượng đế đặt nơi Dân chúng” Giống như Mạnh Tử, triết gia Đông Phương cổ đại: “Ý Dân là Ý Trời”.

Chính phong trào cách mạng Tôn Giáo u Châu, đã đưa vua chúa tách khỏi quyền lực của Giáo Hội La Mã. Khoa học, kỹ thuật hết còn bị tin tưởng giáo điều ràng buộc, được thời bùng phát, làm thay đổi lối nhìn, cách nghĩ, đẩy kinh tế lên hàng quyết định sinh hoạt Xã Hội. Cuối cùng dẫn tới tư tưởng “Dân làm Chủ”, tạo thành phong trào Cách Mạng Tư Sản Dân Quyền rộng khắp. Nhưng ngoài cuộc cách mạng Dân Chủ Tự Do của Hoakỳ 1776 thành công và liên tục tiếp hóa để đứng vững đến nay, Còn các cuộc Cách Mạng Dân Chủ ở u Châu đã bị những đầu óc phong kiến và quyền lợi giới giầu có làm đọa lạc đi. Dẫn tới tham vọng chiếm thị trường và thuộc địa ở hải ngoại. Các nước Thực Dân xuất hiện, hăm hở mộ binh lính đi xâm lăng các nước Phong Kiến lạc hậu khắp Thế giới.

Ngoài việc các Dân Tộc thuộc địa bị khai thác bóc lột, những người lao động ở chính quốc cũng không thoát khỏi cảnh ngược đãi. Vì sau các cuộc cách mạng, kỹ thuật càng ngày càng tiến bộ, Nông Dân bỏ ruộng đất chạy ra tỉnh làm ăn mỗi ngày mỗi nhiều. Họ trở thành Nhân Công trong nhà máy. Nhưng đầu óc phong kiến và chủ nô vẫn còn đầy đặc trong giới chủ nhân tư sản thành thị, nên họ đã tổ chức và quản trị nhà máy giống như một lãnh địa, có quân lính riêng để canh phòng, và nguy hiểm hơn nữa là có quyền sinh sát công nhân chẳng khác gì các vị lãnh chúa. Phần đông bọn họ xuất thân từ giới quý tộc phong kiến cũ. có thần thế, hoặc trực tiếp lãnh đạo chính quyền nữa.

Như vậy, xã hội ngoài đẳng cấp cai trị còn có giai cấp kinh tế là Chủ và Thợ nữa. Tình trạng bất công mỗi ngày một gay gắt. Thêm vào đó đời sống dân chủ đã dành cho Giới Trí Thức một số quyền tự do căn bản, nên sách báo có cơ hội ấn hành nhiều hơn, để trình bày về cuộc sống khốn khổ của người lao động. Đây là lý do thúc đẩy các nhà tranh đấu cho công bằng xã hội xuất hiện.

Từ những cuộc tranh đấu công bình xã hội, vì mục đích nhân đạo của giới trí thức, nhắm vào thành trì tư bản tham lam ngoan cố, đã khích động tới nhu cầu đấu tranh của đời sống công nhân. Rồi được hướng dẫn bằng tư tưởng vô sản cực đoan, đấu tranh giai cấp của người Cộng Sản. Đẩy Xã Hội vào một cuộc phân hóa khốc liệt. Giữa chủ và thợ, giữa giầu và nghèo. Tạo cơ hội cho chế độ Cộng Sản xuất hiện trên đấu trường Quốc Tế.

Từ mục đích đấu tranh giai cấp, khi có chính quyền của Quốc Gia trong tay, bọn lãnh đạo Cộng Sản biến chất thành các Hoàng Đế cực quyền, đẩy nước mình lên thành thứ Đế Quốc Mới hung tàn, với hệ thống lý thuyết cực đoan, quyết chí đặt được ách toàn trị khắp thế giới, tạo ra cảnh chiến tranh “Ý Thức Hệ”. Chia từng Gia Đình, từng Quốc Gia và Thế Giới ra thành hai chiến tuyến thù hận, hủy diệt nhau không thương xót.

Để chống lại với Phong Trào Cộng Sản hung hăng tiến công khắp mặt, giới Tư Bản ở các nước kỹ nghệ, đã khôn ngoan đề ra chủ trương nâng đỡ lao động, cho thành lập các nghiệp đoàn, công đoàn. Khuyến khích sự học vấn. Dần dần người có học được đưa vào vị thế điều khiển công ty, tư bản giữ phần quản trị vốn. Nhờ thế mà kiến thức, sáng kiến của nhân tài được tận dụng, kỹ nghệ, kỹ thuật, khoa học tiến rất mau. Đổi hẳn lối nghĩ, lối làm, và cuộc sống Xã Hội. Tính cách đấu tranh giai cấp mờ dần, nhường chỗ cho những nỗ lực học hành tiến thân, làm việc, tích lũy, chuyển vốn vào đầu tư để thành những nhà tư bản mới. Mở ra nền Kinh tế Thị Trường Tự Do. Nhờ vậy mà Cộng Sản đã bị gục ngã trước sức mạnh đi lên của Ý Thức Tự Do.

Share this post