Xuân Diệu Và Dòng Chảy Tình Yêu – Ngọc Thiên Hoa (1/4)

Xuân Diệu Và Dòng Chảy Tình Yêu – Ngọc Thiên Hoa (1/4)

(Qua hơi thở ca dao và các “ngã rẽ” tâm tình tiêu biểu)

I. Mở:

Cuộc đời muôn màu, muôn vẻ mà tình yêu là chất liệu gợi nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của con người. Không phải ai cũng làm thơ tình được nhưng không làm thơ tình được thì chẳng thể nói người đó không biết yêu. Một điều chỉ có thể khẳng định là: Người làm thơ tình yêu cuồng nhiệt quả phải có một trái tim yêu. Xuân Diệu là một điển hình trong những trái tim yêu đó.

Người ta biết đến Xuân Diệu (1916 – 1985) vì những bài thơ tình độc đáo.Thế nhưng Xuân Diệu là một người tài hoa. Suốt thời gian 1939 đến 1983, chàng tóc quăn này lả lướt ngọn bút như những nhạc sĩ chơi mười ngón điêu luyện trên phím đàn. Bên cạnh những tập thơ nổi tiếng như ”Thơ Thơ” (1938), ”Gửi Hương Cho Gió” (1945), những tập truyện ngắn, bút ký, tiểu luận phê bình của Xuân Diệu xuất hiện như: ”Phấn thông vàng” (1939), ”Trường ca” (1945), ”Việt Nam ngàn dặm” (1946), ”Ba thi hào dân tộc” (1959), ”Phê bình giới thiệu thơ” (1960), ”Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, các nhà thơ cổ điển Việt Nam” (1968 -1981), ”Một Khối Hồng” (1964), ”Thanh Ca” (1982), ”Tuyển tập thơ”(1983)… đã lần lượt ra đời trong suốt bốn mươi bốn năm liền. Bên cạnh đó, Xuân Diệu còn xông vào cả lĩnh vực dịch thuật: “Thi hào Nadim Hitmet” (1962), ”Những nhà thơ Bungari” (1978-1985)…

Tài hoa như thế nhưng ít ai gọi chàng trai của Xã Tùng Giản, Tuy Phước, Quy Nhơn gốc Hà Tĩnh này là nhà văn, nhà phê bình, dịch thuật mà chỉ dùng bốn từ gọn ghẽ: “Nhà thơ Xuân Diệu“. Thân mật hơn nữa, mọi người quen gọi chàng tóc quăn này là “nhà thơ tình yêu!” Tình yêu muôn màu như cuộc đời. Không ai yêu ai mà giống nhau. Vì thế, chàng trai xứ Rùa này yêu đương cũng… khác người.“Cái khác người” này qua hơi thở ca dao và các “ngã rẽ tâm tình – thơ bè bạn” tiêu biểu bổ sung vào dòng chảy tình yêu của Trảo Nha – Xuân Diệu với sáu tính cách.

1. Trong tình yêu, chàng tóc quăn này thể hiện rất là “đàn ông”:

Trước hết, đó là người đàn ông chịu thương, chịu khó đầy… nịnh bợ:

Anh ta đã xắn tay áo xông vào… nhà bếp để nấu nướng mà không biết anh ta nấu cái món gì ngoài cái món mà ca dao “mớn” dùm:

Canh bầu nấu với cá trê
Ăn vô cho mát mà mê vợ già

Nhưng chàng không thèm nấu cái món “bình dân học vụ” này mà nấu món bí mật sau khi “chăm xong cái bếp nhà”:

Tâm thành cơm nước dọn bưng ra
Một tuần mong đến, hôm nay tiếp
Vào bát cho em vị đậm đà.

(Đứng Chờ Em)

Người ta nói: “Vắng đàn ông quạnh nhà. Vắng đàn bà quạnh bếp” nghe ra… trật lất! Căn nhà Xuân Diệu nghe ấm cúng hẳn lên bởi chính chủ nhân lao vào bếp. Kẻ nào mà được chàng “chăm chút” đến như vậy? Ta hãy nghe chàng tự hào:

Đời anh, em đã đi qua
Sáng thơm như một luồng hoa giữa đời.

(Đời Anh Em Đã Đi Qua)

Vợ? Chắc chắn là không. Người con gái bí ẩn kia mà chàng “một tuần mong đến” mới hấp dẫn, mới hồi hộp còn bà vợ ở sẳn trong nhà ngày nào mà chả thấy, ngán đến tận mang tai, gai muốn chết! Rồi kẻ đợi chưa đến, chàng đợi lâu quá nhưng đâu có dám cáu. Chàng đầu bếp bất đắc dĩ này rất… dễ thương, cam lòng nhẫn nại: “Hãy đợi thôi, thương em vất vả, anh quên hết”. Không biết chàng có bực mình vì chờ một phút hơn nghìn thế kỷ mà làm tình, làm tội với ông bà Táo chăng? Khi nàng đến, ta hãy thử xem nàng là con cái nhà ai? Tiên nữ giáng trần hay Hằng Nga tái thế mà khiến chàng trai kia thiệt “tỉ mỉ” ngắm nàng trong “Em làm bếp”:

Trên trán em như gương
Giọt mồ hôi lấm tấm.
Tóc đôi cọng rơm vương
Anh nhìn em thương lắm.

Tính từ “thương lắm” biểu hiện mức độ tình cảm thân thiết lắm mới nhìn kỹ như thế chớ không chàng sẽ bị… chấm rớt cái bịch vì:

Đàn ông gì quá sổ sàng
Mới quen ngó dọc, ngó ngang hỡi chàng?

Nhưng cô nàng kia có lẽ… mệt quá, đói quá nên quên phắt… cặp mắt cú vọ xăm xoi mà ngồi vào bàn ăn ngay:

Bữa ăn thành một hội vui
Có em gắp với rau thôi cũng tình.
Cảnh thường cũng hóa ra xinh
Có em, anh hết ngẫm mình bơ vơ.

(Đời Anh Em Đã Đi Qua)

Bây giờ, vỡ lẽ, cái “món bí mật” kia, bật mí ra là… “rau” thôi, chớ có mẹ gì đâu! Chàng dạo bản nhạc mở màn cho nàng nhớ tục ngữ nhân gian: “Đói ăn rau, đau uống thuốc“. Thế là nàng hoảng quá, thưởng thức tài nấu nướng của chàng thật là đậm đà nên cũng xắn tay áo, để nguyên cái đầu “vương rơm” mà nhào vô bếp chứ không dám để chàng trổ tài đâu. (Ăn làm sao nổi, nuốt làm sao trôi!) Chàng lúc này “chai mặt” nên đâu biết “quê” lại trở nên ngoan ngoãn, nịnh bợ:

Em có tài nấu nướng
Anh có tài ngợi khen.

Thế này gọi là thế “lật ngược thế cờ” hay thiệt, thấp cơ mà chẳng có hèn. Cả hai cùng có tài: ”Em có tài nấu nướng. Anh có tài…ngợi khen”. Huề cả làng. Thế là khán giả… vỗ tay!

Vậy thì cái người đang cùng chàng quăn làm bếp có phải là Hoàng Cát? Một chàng trai trong muôn ”Tình Trai” của Xuân Diệu? Trong bài ”Xuân Diệu và Huy Cận hai nhà thơ đồng tình luyến ái” (tienve.org) Minh Nguyệt hé mở ”Hoàng Cát đi rồi, Xuân Diệu buồn vô cùng. Trong bài ‘Đời anh em đã đi qua’, còn có một đoạn cuối nói đến nỗi buồn trống vắng người yêu của Xuân Diệu:

Từ đây anh lại trong đời
Bữa ăn ngồi với một đôi đũa cầm
Giường kia một bóng anh nằm
Phòng văn một sách đăm đăm sớm chiều.

Ta hãy đồng ý với Minh Nguyệt ”dù người yêu là con trai thì tình cảm của Xuân Diệu vẫn dạt dào và nồng cháy. Nếu chúng ta đừng để ý đến chuyện đồng tính luyến ái của nhà thơ”. Ta hãy cứ xem xét thơ Xuân Diệu trong lớp áo tình yêu đơn thuần Việt Nam.

Nguyên Sa khác Xuân Diệu, trong “Áo Lụa Hà Đông“, chàng Trần Bích Lan này chân thành hơn: “Gặp một bữa, anh đã mừng một bữa“. Khỏi bày vẽ ăn uống mất thời gian quá nhưng nỗi mừng lẹ làng đó chứng tỏ chàng Nguyên chưa thấm cái câu: “Có thực mới vực được đạo” bằng chàng Xuân!

Thiệt ra, người con gái mà chàng tóc quăn xứ Rùa thương yêu, săn đón chỉ là con nhà dân giả với “tóc vương rơm“. Đi làm đồng mới vương rơm chớ đi đâu mà chui vào… đống rạ! Đàn bà, con gái thì cài bông, cài hoa chứ ai lấy rơm giắt lên tóc mà làm duyên bao giờ! Con gái nhà quê hiền lành, mộc mạc làm chàng quăn nhớ, đâu như người con gái… hiền như Masoeur của Nguyễn Tất Nhiên đã làm lòng chàng tan nát:

Em hiền như ma soeur
Vết thương ta bốn mùa.
Trái tim ta làm mủ
Ma soeur này ma soeur.

Có dịu dàng ánh mắt
Có êm đềm cánh môi
Ru ta người bệnh hoạn
Ru ta suốt cuộc đời.

(Ma Soeur)

Với mối tình dân giả của chàng trai tóc quăn, cách hay nhất là khuyên chàng nấu món bình dân này:

Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

Khi chàng và nàng cưới nhau, chỉ cần tặng cho họ vài ký tôm (không phải râu) vài trái bầu (không phải ruột) thế là “nhất cử lưỡng thiện” nhưng nhớ kỹ đừng tặng món quà đặc biệt này cho “nàng masoeur” của Nguyễn Tất Nhiên mà làm chàng Nguyễn khốn khổ tập hai với vết thương ”tứ thời khúc” đó!

Công nhận phát “nhất cử lưỡng thiện” ấy linh nghiệm. Họ đã có… con (chẳng biết công chúa vương cọng rơm hay hoàng tử nịnh đầm?). Người đàn ông tóc quăn xứ Rùa lại càng da diết, cưng chìu, nịnh tiếp:

Con giống em, con cũng giống cha
Giống cái mũi thật thà thẳng sóng.
Nhìn gần giống trông xa cũng giống
Cũng mái đầu dợn sóng Nha Trang.

(Đứa con của tình yêu)

Bài thơ này mà ta nói… hay thì đúng là “mắt đui”, tâm hồn ”thui chột” nhưng chưa tìm ra cái “mượt mà” cũng không nói là dở vì cái ý thuộc loại “quỷ quái” lắm. Này nhé, cha ở xứ Rùa (Quy Nhơn) mà khen mái đầu con “dợn sóng Nha Trang” chứ không phải dợn sóng Quy Nhơn. Thôi, cho mày giống mẹ mày. Bỏ bốn từ “con cũng giống cha” ra thì còn “con giống em” (chưa chắc con anh vì anh đâu có… con được?) và giống thằng cha nó với mái đầu dợn sóng Nha Trang? (đâu phải riêng anh… quăn!). Trời ơi! Bình thơ như vậy là “đốt nhà” người ta rồi còn gì! Người cha xứ Rùa này đời nào dám nghĩ vậy vì “khiếp” cái tật của nàng tức “cái nư khi dỗi“. Thông qua hình ảnh đứa con, kẻ mới lên chức cha này đã “ớn lạnh” gián tiếp khi nựng cục cưng:

Nhưng con ta nó giống em hơn
Giống đi đứng, nghĩ suy, ăn nói.
Duy chẳng giống cái nư khi dỗi
Khi em hờn trời cũng phải thua.

Tục ngữ có câu: “Con gái giống cha, giàu ba họ. Con trai giống mẹ, khó ba đời“. Chắc chàng cũng biết điều đó nên dù cho “giàu ba họ, khó ba đời” gì cũng lạy trời, con đừng giống mẹ cái lẫy, cái hờn. Như vậy, chàng Xuân đâu có phải là ”đồng tình luyến ái”? Chỉ là ước mơ bình thường của một người biết yêu và khát khao hạnh phúc gia đình. Ta cứ cho, cứ hiểu là như vậy. Trong khi đó, chàng Nguyễn Tất Nhiên mới lò cò yêu iếc và cũng vẽ rồng, vẽ rắn cho mơ ước của mình:

Ta sẽ là vợ chồng.
Sẽ yêu nhau mãi mãi.
Sẽ se sợi chỉ hồng
Sẽ hát câu ân ái.
Sống trong mái nhà tranh.

(Hôn nhau lần cuối)

“Sống trong mái nhà tranh” mà không con thì ôi thôi:

Có chồng mà chẳng có con
Khác gì hoa nở trên non một mình.

Thơ năm chữ của Nguyễn Tất Nhiên mộc mạc như cái tên cúng cơm của chàng và cũng họ hàng chú bác gì với câu thần chú của dân gian: “Một túp lều tranh, hai trái tim vàng” mà hai ca sĩ Hùng Cường, Mai Lệ Huyền đã “phát ngôn tình yêu”… nghèo mạt rệp cho bản nhạc “Túp Lều Lý Tưởng!” vang bóng một thời!

Cái gì trước hôn nhân cũng “sẽ“… đẹp đẽ, sau hôn nhân cũng “sẽ” nhưng cái “sẽ bẽ bàng” chống nạnh đứng chờ sau cánh cửa Tân hôn! Bởi vậy mới có câu:

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề.

Chàng trai tóc quăn với cái “vẹn câu thề” này ra sao? Chàng không còn là một chàng trai chịu thương chịu khó, nịnh đầm nữa mà trở thành:

2. Một chàng trai khổ với tình yêu vì mang nghiệp “đa tình”:

Xét kỹ mà nói: Bao nhiêu người “còn dang dở” nhưng tình đâu “chỉ đẹp”?. Xuân Diệu trong “Tình Thứ Nhất” thố lộ:

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em nên anh đã mất rồi.

Đã nói “thứ nhất” là phải có thứ tiếp theo nên chàng này yêu cũng… ba xạo! Thật ra, trên đời này, mỗi một con người nếu chỉ có một “tình thứ nhất” mà không thứ hai thì kẻ này sẽ… bẻ bút và không… gọi điện thoại nữa vì “nguồn sinh sự” đã cạn kiệt! Chao! Chuyện ấy không bao giờ xảy ra thế mới “khổ”! Các nhân vật trong kiếm hiệp của Kim Dung cũng hùng hùng, hổ hổ để rồi gát kiếm, ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Hỡi thế gian, tình là cái chi chi?”. Người thế gian điên cái đầu. Câu hỏi ấy vẫn nghìn năm treo trước gió!

Bởi vậy, chàng Xuân tóc quăn (khác ”Xuân tóc đỏ” của Vũ Trọng Phụng) càng yêu lắm nơi, bồ lắm chỗ chỉ có rước khổ vào thân. Mối tình thứ nhất của chàng ta đã “không chồng mà có con” sinh sôi nẩy nở, yêu qua hết bài thơ này đến bài thơ khác; hết tập thơ này đến tập thơ khác. Khiếp! Cho nên, chàng tha hồ rên trong “Em đọc lại thơ” như một lời trăn trối:

Mai sau dù có bao giờ
Em ngồi đọc lại chùm thơ đắng này
.

Câu đầu thấy “quen quen”. Chúng hình như giông giống hai câu thơ mà Nguyễn Du đã để Kiều trăn trối với Thúy Vân:

Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phiếm này.

“E thơ” giống lúc Kiều năn nỉ Thúy Vân lấy Kim Trọng dùm:

Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa.

Nhưng không sao, văn học có khó tính như bà già góa chồng đi chăng nữa cũng không nỡ bắt lỗi “thơ vẫn giống thơ, người giống người!”.

Trở lại chữ “Tình” của Xuân Diệu, chàng vỗ ngực khẳng định chắc nụi với nàng rằng:

Có ai trên trái đất này
Yêu em sâu thẩm như ngày anh yêu?
Tan đi, nát lại bao hồi
Yêu em ai khổ trên đời bằng anh!

Thằng cha này mới đợi một chút đã than khổ, mới nấu ăn (luộc rau) có một bữa cũng than khổ “tan đi nát lại“, mới chịu cái “nư” một chút đã rên khổ! Ngón đòn “gậy ông đập lưng ông” là một nét đặc sắc của thơ Xuân Diệu… bị chửi cho chừa trong mảng thơ tình yêu của chàng quắn này. Mình rên “khổ” trong khi mình xuống bút, giấy trắng mực đen hẳn hoi:

Người ta khổ vì thương không phải cách
Yêu sai duyên và mến chẳng nhầm người.
Có kho vàng nhưng tặng chẳng tùy nơi
Người ta khổ vì xin không phải chỗ.

Đường êm quá ai đi mà nhớ ngó
Đến khi hay gai nhọn đã vào xương.
Vì thả lòng không kềm chế dây cương
Người ta khổ vì lui không được nữa.

(Dại Khờ)

Toàn bộ thơ tình của Xuân Diệu nói riêng, thơ Xuân Diệu nói chung, bài thơ “Dại Khờ” này coi như bài thơ “kết luận” được đúc kết từ thực tiễn. Tôi cho đó là bài thơ lý trí hay nhất của Xuân Diệu về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật.

Cái “khổ” của chàng Xuân tóc quăn vì ”thương không phải cách” làm “tan đi, nát lại” là cái khổ ”bụng làm dạ chịu“. Chàng phạm lỗi lầm cho nên bị nàng cho “de” một bên, bỏ mặc chàng với “lỗi lầm anh trả bằng đau đớn rồi“. Cho chừa!

Cái yêu “sâu thẳm” của Xuân Diệu khác cái yêu dịu dàng của Bàng Bá Lân trong “Tình trong mưa”:

Xa nhìn đắm đuối tìm trong gió
Chỉ thấy màn mưa nước ngập đường.
Ta nhìn theo bước đi run len lén
Bỗng cả lòng yêu náo nức liền.

Yêu một bước đi “run” trong “màn mưa nước ngập đường” không rõ mặt thì chắc chàng yêu đương tột đỉnh với ma men hoặc bậm gan mà yêu đại một… con ma trong mưa. Yêu “ma” khỏi sợ mất bồ! Tính toán bậc thầy! Còn chàng họ Chế chưa thấy mở đầu dạo nhạc cho chữ yêu đã… nhào đại vào nàng, quắp nàng cùng bay lên “Ngủ trong sao”:

Đầu gối lên hàng thất tinh vừa mọc

Ta hôn nàng trong bóng núi mây cao
Ta ôm nàng trong những nguồn trăng đổ
Ta ghì nàng trong những suối trăng sao.

Với “hôn”, “ôm”, “ghì” liên tục của Chế thì thiệt tội nghiệp cho nàng nào vô phước nếu không “thất đởm kinh hồn” vì lời tỏ tình “lý thuyết đi đôi với thực hành” có một không hai này. Yêu thì yêu, muốn “làm gì thì làm”, sao còn la om sòm lên ngu thế, lại vác cả người yêu mà bay lên cao quá lỡ xảy tay… ôi xương tan! Yêu như chàng, thiếp ngán tới trời! Gãy xương cổ bỏ mẹ!

Xuân Diệu vì yêu mà rên. Bàng Bá Lân vì yêu mà bất chấp. Chế Lan Viên vì yêu mà bạo. Còn Nguyên Sa, Nguyễn Bính, Hồ Zếnh, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…?

Vương Duy (Trung Quốc), Nguyên Sa và Nguyễn Bính có hai bài thơ cùng tựa đề “Tương tư“. Tương tư của Vương Duy gởi vào… trái đậu:

Hồng đậu sinh Nam Quốc,
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt,
Thử vật tối tương tư.

Trương Đình Tín dịch:
Đất Nam, hồng đậu sinh này,
Đến xuân lại nảy một vài nhánh cao.
Xin anh hái thật nhiều vào,
Đậu này giữ lấy nhớ nhau suốt đời.

Một kiểu tương tư gắn liền một loại thực vật đầy đủ chất đạm đáng nhớ một đời trong… bao tử! Ui cha! Còn Lý Bạch trong ”Trường Tương Tư” (Thơ Đường tập II, Viện Văn Học 1962) thì gởi hồn vào tiếng đàn tri âm khúc của nàng một dạo gặp ở Trường An:

Trường tương tư
Tại Trường An…

Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ
Mộng hồn bất đáo quan sơn nan.
Trường tương tư
Tồi tâm can.

Quỳnh Chi phỏng dịch trên chimviet.free.fr:

Nhớ nhau mãi, ở Trường An
“Trường Tương tư khúc” tiếng đàn đêm thu.
Bay về tìm gặp người thương
Làm sao về đến bên nàng đêm nay??
Quan san muôn dặm đường
Trường tương tư dạ ai hoài canh thâu.

Trong bài thứ hai, Lý Bạch thay tiếng đàn tương tư bằng dáng hoa u sầu:

Nhật sắc dục tận hoa hàm yên

Nguyệt minh như tố sầu bất miên
Triệu sắt sơ đình phượng hoàng trụ
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền

…Tích thời hoành ba mục
Kim tác lưu lệ tuyền
Bất tín thiếp trường đoạn
Quy lai khán thủ minh kính tiền

Quỳnh Chi dịch:

Bóng chiều bảng lảng hoàng hôn
Trăng lên hoa khép ngậm sương đọng sầu
Trăng soi óng ánh lụa đào
Trăng khuya thao thức dạ sầu ngẩn ngơ

…Sầu dâng đòi đoạn tơ vò
Xa xôi ai có thấu cho chăng là
Khi về đến trước thềm hoa
Gương trong còn bóng dáng hoa u sầu

Trong ”Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã để cho Kiều với ”dáng hoa u sầu” tương tư Kim Trọng qua bóng trăng:

Một mình lặng ngắm bóng nga
Rộn đường gần với nỗi xa, bời bời.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay chăng?

Đêm khuya ngắt tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
và Kiều nhớ nhung Thúc Sinh cũng qua ánh trăng:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Toàn là những tương tư khóc gió than mây gọi hồn tri kỷ cả! Tuyệt vời thay! Thế nhưng khi trăng bị mây che khuất hay khuyết rồi mất hút bên rèm, lúc ấy, ai có còn tương tư ai qua… bóng đêm? Sự tương tư của người xưa ẩn nấp vào một điểm tựa và khi điểm tựa đổ thì trạng thái tinh thần cũng tiêu! Ta hãy coi thử người thời nay tương tư có khác người xưa không?

Hàn Mặc Tử trong ”Trường Tương Tư” là một tương tư huyền hoặc như khói như sương, âm u đầy nhang khói:

Một mối tình nức nở giữa âm u,
Một hồn đau rã lần theo hương khói,
Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi,
Một lời run hoi hóp giữa không trung,
Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng,
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn.

Đấy là tất cả người anh tiêu tán,
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ,
Cùng tình em tha thiết như văn thơ,
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.

Tương tư trong “hương khói” với “vũng máu đào” như Hàn thì chắc chắn tình yêu nhang khói “cõi trên” thế kia trước sau gì cũng tan vào trăng với gió! Buồn thật nhưng chẳng chút gì của cái gọi là… thất tình trong thơ Hàn!

Nguyên Sa trong “Tương Tư” yêu em trong lớp áo mây:

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Ðể nắng thu vàng giữa lối đi?

đến nổi… mờ con mắt:

Cho nên đôi mắt mờ hư ảnh
Cả bốn chân trời chỉ có em.

Cái dạng chập chờ, chập choạng “mờ hư ảnh” này nguy quá lỡ mà… “nhìn gà hóa cuốc” vợ người tưởng vợ mình, dễ ăn bợp tai. Trời bao la quá, để chắc ăn nên chàng Sa (Satăng) mới lấy “đinh ba” hô “biến” thành bốn cái cọc đóng giăng nàng lại cho khỏi lộn. Nàng tự do bay nhảy nhưng chỉ trong “bốn chân trời” đó thôi (bốn chân… gường thì nàng “cũng liều một thác cho xong“!).

Nguyễn Bính yêu khác Nguyên Sa, khác hết, tình yêu đến với chàng là cái bệnh:

Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai hỏi ai người biết cho,

Bệnh hết trơn vì tương tư? Thiệt ra, có “ấm đầu sổ mũi” gì đâu! Chứng “kinh niên” này của Nguyễn Bính, Đông y, Tây y bó tay. Huê Đà tái thế cũng đầu hàng. Thằng cha này khôn ngoan quá, “sỏ lá” quá nhưng ai cũng nhìn vào, nghe mát lỗ tai cho rằng chàng hiền lành nên yêu chơn chất. Lầm! Này nhé: Dám cả gan cho rằng: ”Trời mắc bệnh mưa gió. Tôi mắc bệnh tương tư yêu nàng”. Thế là “nhất trời, nhì… tôi” rồi còn gì! Mưa (mát mẻ, ướt át). Gió (mát mẻ, vỗ về). Tổng hợp lại: Ta đem cái ướt át, mát mẻ vỗ về này để yêu em. Em đồng ý không? Trời bệnh… mát mẻ, ướt át. Tôi yêu ướt át, mát mẻ. Té ra hai… thằng này… khỏe re mà dám nói bệnh hoạn! (Trời ạ! Nếu có sai thiên lôi thì sai Nguyễn Bính này vác cái búa “Tương tư” giáng xuống là con nguyện chết… ướt trên tay của chàng, ngu gì làm con bướm chết khô!). Ai cũng cho Nguyễn Bính “chân quê” từ xưa đến nay, trật hết trơn!

Trên là “trời”, dưới là “tôi”, vốn dĩ “hai ta” đã hài hòa giữa đất trời và con người. Cô nàng của Hồ Dzếnh thật cũng “gan dạ” lắm dù chỉ “be bé” thôi:

Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ
Em ạ! Yêu nhau… chết cũng đành.

(Xuân Ý)

Chàng Hồ này quả thật cũng loại “hồ ly tinh”. Ai lại “yêu nhau” mà… quăng… ”trái lựu đạn” vào tình yêu bao giờ? Chết thì chết một mình đi, sao lại rủ người yêu cùng chết chung! Người ta đẹp như… Thúy Vân… trăng rằm bị xẻ nửa (bán nguyệt), người ta chuẩn bị đóng phim “con… cầy” (người ai nhỏ) vậy mà rủ đi thăm… ông nội sớm vậy! Ác!

Nàng của Vũ Hoàng Chương trong “Say” khác nàng “nư” của Diệu, chẳng phải nàng “masoeur” của Sa, không giống “Cô Hàng Xóm” của Bính, xa lạ với nàng “cây” của Dzếnh:

Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?

Nàng dòng dõi… Lưu linh chớ còn ai nữa! Khá khen cho họ Vũ, nửa say, nửa tỉnh trong tình yêu làm người ta không biết đâu là thật, đâu là giả? Hết rượu, hết say. Vắng em, ta lăn quay. Ta ôm cái bình rượu mà không có linh hồn em trong đó để làm gì? Tử Kỳ đập đàn vì không có Bán Nha. Nay ta… đập quách cái “bình khô rượu” này vì thiếu nàng! Chậc! Vì sao người ta yêu mà khổ, mà tương tư mà sầu muộn chớ? Cũng bởi một chữ “đa tình” mà ra cả. ”Đa tình tự cổ nan di hận” là thế!

Trở lại với Xuân Diệu, chàng thanh niên trong “đa tình” đã tự viết “sơ yếu lý lịch” trích ngang:

Tôi biết yêu từ khi chưa có tuổi
Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa dòng đời
Tôi đã yêu khi đã hết tuổi rồi.
Không xương vóc chỉ huyền hồ bóng dáng.

Cách phóng đại của chàng quăn nói theo nghĩa giang hồ là… “nói dóc”. “Chưa sinh”, “chưa có tuổi” mà đã “biết yêu” là quỷ quái mà đến khi “hết tuổi rồi” nghĩa là “lợi đi đàng lợi, răng đi đàng nào?” vẫn còn yêu là ông tổ nội quỷ quái. Thiệt “gừng càng già càng cay“! Thiệt là “càng già càng dẻo càng dai” nói theo giang hồ nữa là: “Già không nên… nết“! Văn chương lại một lần nữa mỉm cười, bỏ qua, lại coi đó là “hình ảnh mẫu mực”, một ly nước lạnh dưới 0oC tạt vào những cái hồn trơ như đá không biết chữ yêu thương là gì!

Quang Dũng trong “Trắc Ần” đã đứng một bên Xuân Diệu để bổ sung:

Chưa gặp sao đành thương nhớ nhau
Đôi phen số mệnh cũng cơ cầu.

Cái “số mệnh cơ cầu” đã đưa biết bao bao mối tình trắc trở vào huyền thoại! Dòng ca dao “nhớ ai như điếu thuốc lào” không phải ngẫu nhiên mà chảy qua dòng sông đa tình. Nó hiện diện từ khi có con người, có những tương tư khi Ađam và Eve ăn trái cấm. Khi từ “nhớ”bắt đầu xuất hiện trong dòng ca dao: “Nhớ ai nhớ mãi thế này, nhớ đêm quên ngủ nhớ ngày quên ăn” thì trần gian đã loạn lên vì nó. Trong ”Tứ tuyệt tương tư”, Xuân Diệu như khóc như than với nỗi nhớ xanh núi, tím trời này:

Lâu lắm em ơi, tháng rưỡi rồi
Sao nhiều xa cách thế, em ơi!
Sớm trông mặt đất thương xanh núi;
Chiều vọng chân mây nhớ tím trời

Bỗng nhiên trời đất nhớ người yêu
Cây vắng: Chim bay, nắng vắng chiều
Nước cũng lơ thơ, bờ líu ríu
Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu…

Hoa tím tương tư đã nở đầy
Mời em dạo bước tới vườn đây
Em xem: Yêu mến em gieo hạt
Hoa tím tương tư đã nở đầy…

“Tương tư, chiều” của Xuân Diệu không thoát khỏi cái “nhớ” ác nghiệt này:

Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em. Anh nhớ lắm, em ơi!

Có tất cả 7 từ “anh nhớ” trong 3 câu thơ tạo thành chùm điệp ngữ gào thét để được bày tỏ tình yêu! Trời à! Tả cảnh ngụ tình nếu ai làm được không cần dùng động từ, tỉnh từ trực tiếp tả như trên ắt vượt qua cái câu: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của Nguyễn Du. Không nói chữ “buồn” mà người ta đọc cảm giác “buồn” mới là kỹ xảo của thơ. Xuân Diệu khi làm thơ, viết: “Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm” thì cũng chỉ xuất phát từ mạch cảm xúc mà ra thôi nhưng không ngờ, nó lại trở thành một trong những câu đại diện cho một nét nghệ thuật độc đáo: Sự cộng hưởng!

Cái lạnh: Tâm hồn thiếu vắng, cô đơn khi ”mặt trời đi ngủ sớm”. Trừ lúc buồn ngủ, ngoài ra là cái tâm bệnh “tương tư, chiều buồn”. Nằm ngủ mới thả hồn qua chữ “nhớ”. Chữ “nhớ” kéo cả họ cả hàng cả hóc cả hang ra.

Trở lại cái nghệ thuật trên, từ nghĩa thật: Lạnh có nghĩa thời tiết vào mùa đông rồi nên mặt trời lúc nào cũng lặn sớm hơn mùa hè để chuyển sang sự “cộng hưởng”: Mặt trời bị mây mù che khuất gợi con người một xúc cảm cho chữ buồn không buông ra được: Không thể nói: Mặt trời buồn, ngủ sớm! Một câu trên chưa nói tới cách nhân hóa, cách ẩn dụ đã đủ ý rồi, thêm nhiều điệp từ “anh nhớ” vào và dẫn ra nhiều cái nhớ quá làm nỗi buồn nhớ bị kéo dài, trải rộng, không cô động nên rất uổng cho cái ý “Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm“!

Nhưng điều đáng phục ở đây là chàng Xuân tóc quăn dám yêu, dám nói khác với những “mày râu nhẵn nhụi” chỉ mới hé chữ “yêu” là sợ tổn thương danh dự, lu mờ công danh, tan tành sự nghiệp làm gì có chữ “nhớ” quằn quại như Xuân Diệu! Từ xưa đến nay, người ta nói “cờ bạc là bác thằng bần” chứ có thấy nói “yêu đương là con đường bần của… các bác” đâu!

Cho nên nói: Một kẻ chưa sinh như Diệu đã yêu, một người chưa gặp như Quang Dũng đã thương. Cả hai đồng cao thủ hết. Nâng lên cấp nữa, chàng quăn làm kẻ nhẹ vía sợ le lưỡi:

Kẻ đa tình không cần đủ thịt da
Khi chết rồi tôi sẽ yêu ma.

Con người khi vướng vi rút “đa tình” sao mà dễ sợ, hăng máu quá đến nổi yêu “không cần đủ thịt da” gì cả. Yêu đến nổi chỉ còn “bộ xương” với cái đầu lâu biết nói? Eo ơi! Yêu như vậy là quá trời, quá đất! Yêu từ kiếp này qua kiếp khác làm kẻ yêu hoài không biết chán này, giật mình! Cảnh ma cỏ này sao nghe rờn rợn, giông giống “trên đường về” của Chế Lan Viên:

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma hời sờ soạng dắt nhau đi
.

Thì ra, ma của chàng Diệu là ma thất tình, ma của chàng Viên là ma mất nước! Ma của Đoàn Phú Tứ chưa thành hình chỉ vì:

Phấn hương chưa ủ tình yêu lạnh
Em chết! Trời ơi! Anh tủi lòng.

(Tủi )

Đinh Hùng trong “Tiễn em cay đắng” lại “phụ diễn” cho Xuân Diệu:

Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn.

Một ông Xuân tóc quăn nhớ em đến lóc cả thịt da. Một ông Hùng lại bắt chước Nguyễn Tất Nhiên “bởi vì em mà thiên tài chán sống” để “chết vì em” vì “hôn”. Có lẽ hôn lâu quá, nàng ú ớ, chàng không nghe nên nàng giở độc chiêu… cắn cho một phát, chàng… tắt thở! Diễn thơ kiểu này giống bọn học sinh cơm nguội, gà mờ mà báo chí hay “mượn trò chửi thầy” đây! (mượn trò ngu, chửi thầy dốt!). Tình là cái chi chi? Đàn ông sao mà yếu xìu, yêu đương búa xua, la lối om sòm không còn oai phong gì ráo! Ca dao có câu chống lưng hay thế này mà không chàng nào thuộc lòng để phùng man trợn mắt với cái ”tương tư” với cái “thất tình”:

Có ai ta cũng thế này
Không ai ta cũng như rằng có ai.
Có ai nước cũng đứng bờ
Không ai nước cũng đứng cơ mực này!

Họ chỉ khư khư ôm lấy cái:

Trường gian, trường lộng, bất cộng chi tình
Ai kia hờ hững, riêng mình tương tư!

Đáng đời!

Người ta nói: “Yêu nhau lắm, cắn nhau đau”. Xuân Diệu với những “ngã rẽ” là một chứng minh hùng hồn cho câu tục ngữ “có răng” trên khi yêu đến tột đỉnh!

3. Xuân Diệu với tột đỉnh tình yêu:

Tình yêu bỗng bị gán cho cái tội “có răng” với cái răng nanh nhọn quắc! “Cắn” thôi cũng đủ làm người bị cắn… nhiễm trùng, dở sống dở chết rồi mà Xuân Diệu còn chơi trội hơn… giết quách!

Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim
Từ đây, anh không được yêu em ở trong sự thật.
Tại em cố chấp nên anh giết em rồi anh chôn vào trái tim anh
Anh đã giết em rồi, anh vẫn ngày đêm yêu mến.

(Anh Đã Giết Em)

Lời thơ chỉ có bốn dòng trên mà đã sử dụng “giết” tới ba lần nhưng không thấy nói đến “hung khí” gây án? Giết người đền mạng còn giết tình đền chi? Muốn “giết”, trước hết, người ra tay phải ghét, thù, căm, hận trước rồi mới đủ sức mạnh đẩy đến động cơ! Lại đụng cái mụ ca dao:

Ghét nhau câu câu xấu bửa ba
Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.

Kinh khủng mà cũng hú hồn vì chàng quăn chỉ giỏi “yêu, nhớ” bằng cái mồm thì “giết” cũng chỉ bằng cái miệng. Không ai giết người mà la làng, báo trước: “Trời ơi tôi muốn giết người tôi đã yêu” như ca sĩ Trường Vũ gào trên sân khấu? La như thế thì người sắp bị giết… trốn mất bởi đâu có ngu mà đứng đó cho chúng tới… thịt!

Bài “Anh Đã Giết Em” của chàng quăn này không thể gọi là thơ được bởi nó như văn xuôi. Bỏ vào trong văn xuôi cũng chưa chắc nó có “chỗ trọ”! Đọc thơ mà ngứa tay nên làm dùm chàng quăn đoạn này:

Anh giết em rồi chôn ở tim
Tìm đâu em nữa để yêu nhiều.
Vì em cố chấp nên anh giết
Giết mất em rồi, anh vẫn yêu.

Ngó… chưa chuẩn lắm nhưng đảm bảo… lọt tai, mát mắt.

Kiểu yêu và giết của chàng quăn thiệt quá lắm. Giết thật không nỡ mà để sống thì ngứa gan. Lỗi nàng “cố chấp” cũng chỉ là “cái nư” của nàng mà chàng từng nói “trời cũng phải thua”. Yêu mà nóng nảy, chấp nhứt thì cũng giết chết tình yêu. Kẻ “cố chấp” chính là Xuân Diệu chớ không phải nàng. Trước đó, chàng quăn cũng đã từng: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào mi”, nên giờ tình lên đỉnh điểm, ta không lạ gì cái tính đa tình và “đánh võ mồm” của chàng. Chế Lan Viên cũng… cắn nhưng không thèm cắn cái…”xuân hồng” của chàng quăn mà… cắn cái… sọ người: “Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ”!

Buồn tình đi cắn… sọ người có… ê càng, ê que một chút nhưng nhân đạo hơn đi giết người yêu dù dưới bất cứ hình thức nào, phương tiện nào. Người ta cho Chế Lan Viên làm thơ có chút trí tuệ coi bộ không sai!

Yêu có “trí tuệ” té ra cũng không chỉ có một Chế mà Bàng Bá Lân trong: “Chưa Bao Giờ Thương Thế“, tự xét:

Em cắn răng chịu đựng.
Được thể ta lại càng.
Làm em thêm đau khổ
Ôi thương em, thương em.

Trong “Hối Hận”:

Em được gì kia chứ? Mà phải chịu đau buồn
Ta được gì kia chứ? Mà làm em đau thương.

Nếu có ai yêu mà biết nghĩ vậy cho người mình yêu như chàng Lân thì quả tuyệt cú mèo! Rất tiếc! Với Xuân Diệu, em “cố chấp” nên ta “giết” quách và nếu nhẹ hơn, ta “đánh em đau” để “bắt đền sầu anh“.

Còn Nguyễn Bính muôn đời vẫn khôn ngoan trong cái lớp vở “chân” trong “Chân quê” xuống giọng… năn nỉ khi em quá quắc:

Nói ra sợ mất lòng em
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa.

Giới phụ nữ cũng có nhiều loại. Loại nghe hù, nghe dọa là sợ toát mồ hôi hột; loại chịu đòn mà vẫn bám dai như… đĩa; loại “trên đe dưới búa” chẳng nhằm nhò chi ráo thuộc loại “công phu thượng thừa” nên phải sử dụng chiêu “năn nỉ xuống nước”, vừa tỏ lòng tôn trọng nàng vừa khẳng định mình. Thế là “nhứt tiễn song điêu” vừa lòng nàng, mát dạ chàng! Ban giám khảo nhất định trao vương miện “đối nhân xử thế” cho chàng Nguyễn lập tức!

(còn tiếp)

Share this post