100 Năm Trước, Chấm Dứt Thi Hội Và Thi Đình – Nguyễn Lân Bình

100 NĂM TRƯỚC, CHẤM DỨT THI HỘI (1) và THI ĐÌNH (2), có MỘT NGƯỜI VIỆT NAM MÃN NGUYỆN.

Việc đặt đầu đề bài viết là một sự quá sức đối với tác giả, song nhìn về bản chất, nó đã khích lệ người viết, vì liên quan trực tiếp đến hôm nay, đến nền giáo dục Việt Nam với thứ chữ viết được gọi là QUỐC NGỮ, thứ chữ viết thế chân chữ Hán trong lịch sử, tác nhân quan trọng của mọi sự đổi thay tại Việt Nam ở thế kỷ 20.

Chữ viết tiếng Việt theo mẫu tự chữ cái La Tinh, được hình thành từ giữa thế kỷ 17, nhờ sự sáng tạo của các cố đạo phương Tây đến Việt Nam để truyền giáo và giao thương.

Giữa thế kỷ 19, thực dân Pháp đánh chiếm phần phía Nam Việt Nam (Nam Kỳ) do triều đình Nhà Nguyễn cai quản, sự kiện này, lịch sử gọi đó là cuộc chiến tranh xâm lược. Đây là lý do tạo nên sự mặc cảm của người dân Việt Nam, một sắc dân lạc hậu vào thời đó trước hình ảnh của một phương Tây súng ống, lửa khói đáng sợ và kỳ quặc, tạo ra nhận thức tiêu cực về những người Âu (bọn Tây) nói chung, và chữ quốc ngữ nói riêng.

Triều đình nhà Nguyễn tồn tại với tư tưởng, văn hóa, ngôn ngữ của nước Trung Hoa phong kiến kéo dài ngót cả ngàn năm. Chữ Hán được dùng làm văn tự trong hệ thống cai trị và giáo dục. Điều này mặc nhiên trở thành sự đối đầu với văn hóa phương Tây do người Pháp mang tới, gây sự mâu thuẫn giữa hai dòng tư tưởng cũ và mới, Đông và Tây, Nho Giáo và Công Giáo.

Dù chữ quốc ngữ ra đời từ giữa thế kỷ 17, nhưng phải đến gần 200 năm sau, giữa thế kỷ 19 mới xuất hiện cuộc chiến tranh xâm lược của Thực dân Pháp, và xã hội Phong kiến Việt Nam lại coi chữ Quốc ngữ là đối tượng để bài xích, lên án vì là của Tây. “Họ quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang, là công cụ truyền bá đạo Thiên chúa, không phải là đạo gốc của dân tộc. Họ muốn duy trì học chữ Hán….” (Nguyễn Thiện Giáp ĐHQG.HN). Chữ Quốc ngữ đã bị khống chế, không phát triển và chỉ tồn tại ở những địa hạt do Thiên Chúa giáo cai quản.

Ảnh hưởng của người Pháp Thực dân có không ít khía cạnh tiêu cực, đã đè nặng lên tâm lý người Việt. Song về mặt tích cực, là việc nền văn minh phương Tây đã tràn vào Việt Nam, và không phải chỉ ở Việt Nam, mà còn gây ảnh hưởng mạnh ở Nhật Bản (3), Trung Quốc (4) cùng một số các quốc gia Châu Á khác. Thực tế này, đã làm nao lòng các nhân sĩ tiến bộ người Việt, những nhà cách mạng vốn là sản phẩm của nền giáo dục phong kiến, đặc biệt là các nhà Nho học.

Với một bộ phận người dân Việt Nam, sự có mặt của nước Pháp, đã tạo nên mối quan tâm, tò mò và đòi hỏi về khả năng tiếp cận, học theo những tiến bộ về văn hóa, kỹ thuật, khoa học, nghệ thuật và thương mại…. của nhân loại mà người Pháp lúc đó là đại diện. Để làm việc này, vào giai đoạn lịch sử đó, chúng ta thiếu một loại phương tiện để chuyển tải, vận động, quảng bá, đó là chữ viết phổ thông.

Đời sống chính trị khác nhau ở ba miền Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, hoàn toàn là hệ quả của quá trình hình thành và mở rộng bờ cõi của đất nước AN NAM xưa (sự đi lại giữa ba miền phải có thị thực). Song sự khác biệt đó một phần do cách nhìn nhận về nhân sinh quan của triều đình nhà Nguyễn, nhất là khi có mặt người Pháp thực dân, do họ muốn thuận lợi cho chính sách cai trị và đồng hóa, chia Việt Nam thành ba miền theo các quy chế riêng (Nam Kỳ là thuộc địa, còn lại là bảo hộ).

Quá khứ này, tạo ra tâm lý tiêu cực truyền đời, đối với người dân Việt Nam, nhưng không cản trở được nhu cầu hướng tới một cuộc đổi thay toàn xã hội.

Bản đồ Đông Dương thế kỷ 19. Nam kỳ được ghi tên riêng là Cochinchine

VĂN HÓA, XÃ HỘI VIỆT NAM cuối THẾ KỶ 19 đầu 20.

Sĩ phu Bắc kỳ, là những người gián tiếp chịu ảnh hưởng của các tư tưởng tiến bộ phương Tây thông qua các loại sách triết học, chính trị, tư tưởng học châu Âu được dịch ra chữ Hán, nhờ hai nhà tân học nổi tiếng người Trung Quốc, là Khang Hữu Vi (1858-1927), và Lương Khải Siêu (1873-1929). Nhưng sự hiểu và nhận thức những nội dung, giá trị của nguyên tác đối với các nhân sĩ Việt Nam đã bị giới hạn, do phải thông qua chữ Hán làm trung gian.

Ở phía Nam, nhờ ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuộc địa do người Pháp thiết lập, đã xuất hiện sớm những nhà ngôn ngữ, giáo dục xuất chúng. Tuy nhiên, các nhân sỹ tiến bộ ở Nam kỳ ngày ấy, đã không hoàn thành việc chuyển tải những tư tưởng mới này một cách hệ thống, thiếu cả tính quy mô chiến lược, và thiếu cả niềm đam mê sâu sắc, nên đã không tạo được thành trào lưu, và hiệu quả đạt được rất hạn chế.

Tầng lớp cai trị và rất nhiều nhân sĩ bảo thủ khác, do mặc cảm nên ghét người Pháp thực dân, đã ngăn cản việc tiếp thu một cách rộng rãi trong nhân dân việc phổ biến chữ quốc ngữ, cùng những kiến thức mới lạ.

Năm 1885, chính họ đã gửi kiến nghị tới Hội đồng Quản hạt Nam kỳ “Đề nghị bãi bỏ chữ quốc ngữ….”, họ lập luận: “Theo thiển ý chúng tôi, hiện nay chỉ có hai thứ tiếng có thể được ở Nam kỳ, tiếng Pháp mà chúng tôi muốn học và tiếng Annam nôm na mà chúng tôi đều biết viết bằng chữ Nôm….”.

Việc hình thành yêu cầu du nhập những tiến bộ mang tính tư tưởng của nhân loại của các nhân sĩ tiến bộ người Việt, nhưng vì những sản phẩm đó có xuất xứ từ phương Tây (Âu châu), đã tạo ra những xáo trộn nghiêm trọng trong nội bộ chính trị Việt Nam, trong các mối quan hệ giữa các thành phần xã hội khác nhau.

Trả giá cho những xung đột này của lịch sử, chính là các nhân sĩ cấp tiến, những người khát khao đòi cải cách và thay đổi lối sống, lối suy nghĩ cố hữu của một dân tộc thuần nông bị bao bọc trong các thiết chế Nho giáo, cái thiết chế áp đặt người dân sống bằng quan niệm vua tôi (5). Dân chúng mặc nhiên đã tự coi mình là kẻ hèn mọn như một định mệnh, không có khái niệm bình đẳng, không tư duy biện chứng, không biết khoa học, không tôn trọng bản năng phản ứng tự nhiên, không hiểu thế nào là phương pháp đấu tranh… Họ trung thành và thần phục tầng lớp cai trị, chủ trương của học thuyết phong kiến Nhân trị.

Thực chất, các nhân sĩ tiến bộ người Việt lúc đó đang nhen nhóm việc hướng người dân đến một cuộc cách mạng xã hội, có thiết chế tự do dân chủ và nhân quyền, hệ quả của Cách mạng Tư sản Pháp đã thành công từ năm 1789.

SỰ CAN DỰ CỦA CÁC NHÂN SĨ.

Để đối chọi lại với những điều được gọi là phong tục, tập quán do chế độ phong kiến thiết lập, từ những năm 1899, 1900, và tránh việc phải tiếp thu gián tiếp những tư tưởng triết học tiến bộ phương Tây, các nhân sĩ có năng lực ngoại ngữ ở phía Bắc Việt Nam, đã trực tiếp chuyển ngữ một số tác phẩm kinh điển của các triết gia danh tiếng thế giới sang chữ quốc ngữ như: Contrat social (Khế Ước Xã Hội – Còn được gọi là Dân Ước của J.J. Rousseau ‘1772-1778’, nhà triết học), Esprit dé lois (Tinh Thần Pháp Luật của Montesquieu ‘1689-1755’, nhà tư tưởng chính trị), Traité de l’Esprit (Hiệp Ước Thánh Linh của Helvétius ‘1715-1771’, nhà triết học) (6).

Theo Phan Châu Trinh, người đả kích kịch liệt chế độ quân chủ‘ thiên tử’ được truyền từ nước nhà nước phong kiến Trung Hoa sang, ông coi đó là chế độ Nhân trị, ông cắt nghĩa: “Nhân trị nghĩa là cai trị một cách rộng rãi hay nghiêm khắc, chỉ huy tùy theo lòng vui, buồn, thương, ghét của một ông vua mà thôi, pháp luật tuy có cũng như không.”

Các nhân sĩ tiến bộ Việt Nam trong giai đoạn này, đã trở thành lực lượng, tạo ra động lực giúp thành hình các cuộc canh tân về văn hóa tư tưởng từ Nam ra Bắc.

Cần phải kể đến những nhu cầu trong chính sách cai trị của chính quyền Thực dân, nhờ sự thắng thế của công cuộc mở rộng thuộc địa đã thúc đẩy họ tìm kiếm, lựa chọn một thứ ngôn ngữ viết phù hợp với người dân bản xứ. Một thứ chữ phải dễ tiếp thu, dễ truyền bá, làm phương tiện để cải cách, từ đó được coi là phương tiện cai trị, đồng thời là cơ sở để rời xa tư tưởng phong kiến.

Sự trùng lặp giữa mưu đồ và ý đồ của kẻ cai trị và kẻ bị trị trong việc phát triển vai trò của một loại chữ viết ở Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã biến thành phương thức tương kế tựu kế đối với lịch sử văn hóa Việt Nam, và về lâu dài rõ ràng điều này có lợi cho dân tộc Việt.

Nhà nước phong Kiến từng bước bị lấn át, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, một nền giáo dục bị gọi là nền giáo dục khoa cử (7) sử dụng chữ Hán, hoàn toàn chỉ phục vụ cho nhu cầu của bộ máy cai trị, tuyệt nhiên không vì lợi ích quốc kế dân sinh và phát triển xã hội (tất cả các ghi chép lịch sử đều thống nhất như vậy).

Thập niên 60, 70 thế kỷ 19, Nam Kỳ đã đi trước một bước dài trong việc tìm kiếm cơ hội phát triển và phổ cập chữ Quốc Ngữ, mà đỉnh cao là tập Giáo Trình Thực Hành Tiếng Annam (1868) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898), rồi Huỳnh Tịnh Của (1830-1908), Trương Minh Ký (1855-1900) họ đều là những người tài tâm huyết với khuynh hướng phát triển chữ Quốc Ngữ. Nhưng đáng tiếc, khuynh hướng này đã không được đẩy lên thành cao trào, mà không có cao trào thì không thể có Cách Mạng!

Cuối đời, nhân sĩ tiêu biểu, xuất chúng Trương Vĩnh Ký đã không dấu được cái tâm tư giằng xé, cùng cái tâm lý tuyệt vọng, thiếu niềm tin trong lập trường cách mạng khi thấy cơ đồ của mình dang dở, nên ông đã phải cay đắng thốt lên “Rằng tuy ăn ở cùng Tần, bâng khuâng nhớ Hán muôn đời xót xa”.

Ở Trung Kỳ đầu thế kỷ 20, Phong Trào Duy Tân Tự Cường do Phan Châu Trinh (1872-1926) phát động cùng các nhân sĩ danh tiếng như Trần Quý Cáp (1870-1908), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)…. Nhưng cũng đáng tiếc vì đã không có được cơ duyên để đạt đến thành công trong việc phổ cập và phát triển chữ Quốc ngữ. Trung kỳ một mảnh đất vô cùng nghèo khó, lại gắn liền với sự áp đặt, kìm kẹp về tư tưởng của Triều đình Nhà Nguyễn mượn danh truyền thống, tập quán để đặt người dân vào những khuôn mẫu của tư tưởng Vua – Tôi, loại hình tư tưởng không chấp nhận sự tiến bộ của người dân!

VIỆT NAM SỬ LƯỢC là cuốn sách đầu tiên viết về lịch sử Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ từ năm 1919 của nhà sử học Trần Trọng Kim (1883-1953).

Cuốn sách này từng là sách giáo khoa thời Pháp thuộc và ở chế độ Việt Nam Cộng hòa cho đến 1975.

Sách được in tại nhà in Trung Bắc Tân Văn ở Hà Nội năm 1920.

Để phát huy được năng lực và khát vọng của mình, các nhân sĩ tiến bộ Trung kỳ đã quyết định tìm ra miền Bắc Việt Nam.

Nguyên khí của tầng lớp nhân sĩ tiến bộ Việt Nam đầu thế kỷ 20, vô hình chung đã được hội tụ ở Đông Kinh (Hà Nội), và cho ra đời Phong Trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) 1907. Đây là nơi đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hình thành một phương thức giáo dục mới, đề cao vai trò của chữ Quốc Ngữ, khác hoàn toàn so với nền giáo dục Nho Giáo truyền thống.

Ngôi trường Đông Kinh Nghĩa Thục là nơi đầu tiên ở Việt Nam dạy học theo phương thức hoàn toàn mới. Tại đây dạy cả tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ, cho dù Thục Trưởng Lương Văn Can (1854-1927) là Nho sĩ. Trong số các nhân sĩ tiêu biểu của nhà trường như Nguyễn Quyền (1869-1941), Lê Đại (1875-1951), Dương Bá Trạc (1884-1944), Phạm Duy Tốn (1881-1924), Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936)…. dù có người trong số họ được mệnh danh là Tân Học, nhưng đều còn rất trẻ và chỉ được đào tạo với một trình độ sơ khai, chưa theo bài bản của hệ thống giáo dục hiện đại.

Các phong trào cách mạng văn hóa xuất hiện ở cả ba vùng miền ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ở các môi trường chính trị khác nhau, thiết chế xã hội khác nhau, nhưng đều đã tạo ra áp lực lớn đối với nền giáo dục Nho học. Thực tế, qua gần một ngàn năm cai trị của Phong kiến Trung Hoa, chữ Hán đã không thể trở thành quốc tự của người Việt. Đây là một cản trở lớn của ngành giáo dục bản xứ và lại cũng chính là nguyên nhân để chữ Quốc ngữ rộng đường đua chen. Bên cạnh đó, tâm lý bất mãn do là kẻ bị trị, cộng với sự khó nhọc khi tiếp thu, nên người dân Việt không thực lòng chú tâm theo đuổi Hán học.

Các nhân sĩ đi trước cũng đã cố gắng tạo ra một thứ chữ riêng cho người dân, được gọi là chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm vẫn dựa trên cơ sở hình tượng của chữ Hán, nên nhìn thực chất, thứ chữ viết đó đã không đủ các yếu tố khoa học để phát triển hoàn thiện, trở thành văn tự truyền đời cho người dân Việt, điển hình là bản kiến nghị vào thập niên 70 thế kỷ 19 của Nguyễn Trường Tộ (1830-1871).

Việc xã hội hóa chữ viết tiếng Việt được La Tinh hóa từ các nhà truyền giáo phương Tây kể từ năm 1865 (thời của Petrus Ký) đến 1906 như một sự thử nhiệm của nhà cầm quyền nhằm thế chân Hán văn và Pháp văn. Họ đã bế tắc nhìn từ chiến lược cai trị, bất chấp sự nỗ lực của các nhân sĩ hàng đầu người Việt, và các chuyên gia đầu ngành đầy kinh nghiệm người Pháp như François-Henri Schneider (1851-1931), Ernest Babut (1878-1962)….

Rõ ràng, dù nhìn theo góc độ nào của lịch sử, có lẽ bạn đọc cũng sẽ đồng ý rằng, trên đây là những nguyên nhân cơ bản, dễ nhìn thấy nhất, đặt các nhân sĩ yêu nước, yêu văn hóa, trân trọng đồng bào mình, tìm cách động viên cuộc cách mạng sử dụng, phát triển và hoàn thiện chữ viết tiếng Việt dùng mẫu tự chữ cái La Tinh, một cách hệ thống với mục tiêu tối thượng: Khai dân trí và xây dựng nền giáo dục hiện đại để chấn dân khí!

Cuộc cách mạng của chữ QUỐC NGỮ soán ngôi chữ Hán và chữ Nôm ở Việt Nam nhìn khái quát là vậy.

Chú thích:

1: Triều đình phong kiến Việt Nam tổ chức thi Hội, là khoa thi Nho học thường lệ 3 năm 1 lần tại trung ương để tuyển chọn người tài. Người đỗ cả bốn kỳ của khoa thi Hội là đậu đại khoa sẽ được xếp hạng tiến sĩ. Tiến sĩ sẽ được bổ nhiệm giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy cai trị.

2: Thi Đình, là khoa thi Nho học cao cấp nhất của triều đình dành cho những người đỗ kỳ thi Hội. Người đỗ đầu (thủ khoa) còn được gọi là Đình Nguyên. Gọi là thi Đình, vì được tổ chức trong cung điện của nhà Vua. Người đỗ thi Đình sẽ được bổ nhiệm làm quan trong triều đình.

3: Năm 1868, Nhật Bản chấm dứt 265 năm phong kiến, bắt đầu kỷ nguyên Minh Trị Thiên Hoàng và thực hiện công cuộc hiện đại hóa, xây dựng đất nước theo các học thuyết chính trị của Anh và Pháp.

4: Mùa Thu năm 1891, Lương Khải Siêu đến gặp Khang Hữu Vi và tôn Khang Hữu Vi làm thầy. Từ đây, hai vị nhân sĩ này trở thành những người lính xung kích của trường phái Tân Học ở Trung Quốc. Trong thời gian này, họ còn soạn ra bảng thống kê có đề mục: Tây học như mục biểu, gồm 300 cuốn sách đã dịch từ tiếng Anh, Pháp ra Hán văn để mọi người tìm đọc. Từ Hi Thái Hậu (1835-1905) đứng đầu phái bảo thủ đã chống đối quyết liệt những tư tưởng duy tân của hai nhà cách mạng này, họ đã phải lưu vong sang Nhật Bản.

5: Về quan hệ vua tôi, Khổng Tử viết: “Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” (Wikipedia).

6: Phỏng vấn của nhà báo Thái Phi, đăng trên báo TIN VĂN, là tuần báo văn học và mỹ thuật phát hành tại Hà Nội ngày Chủ Nhật 28/7/1935).

7: Nền giáo dục khoa cử, do nhà Lý (năm 1075) là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam xác lập hệ thống giáo dục khoa cử có hệ thống. Từ đầu Công Nguyên thời Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc đã truyền bá chữ Nho (Hán), mở trường học tại Việt Nam, với quan niệm là công cụ đồng hóa. (Wikipedia).

Bản thân chữ khoa cử đã mô tả đúng như nghĩa đen của từ.

NGUYỄN LÂN BÌNH

(Hết phần thứ nhất)

Share this post