Túy Kiều Phú Truyện Kiều Của Người Bình Dân – Trần Huyền Ân

Túy Kiều Phú Truyện Kiều Của Người Bình Dân – Trần Huyền Ân

*NÓI VÈ – NÓI THƠ – NÓI TUỒNG

Nghe dân ca Nam Trung Bộ có thể thấy thứ tự từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp là: Nói, hô, hò, hát.

Nói là một hình thức độc diễn, tọa diễn, chỉ dùng lời, không làm điệu bộ, không có nhạc cụ phụ họa. Có khi không có một thính giả nào hết, thích thì nói chơi, một mình ta, ta nói ta nghe. Nói tuồng khó hơn nhiều, phải biết các điệu hát, phải biết cách đánh trống, cầm chầu để khi cao hứng thì đệm bằng mồm “thùng thùng” hay “cắc cắc tùng tùng tơn dùng tơn dà” gì đó. Nói thơ, nói vè khá dễ dàng, chỉ cần tốt giọng. Điều quan trọng là người nói thơ phải hiểu nội dung tác phẩm, có thông cảm tâm trạng nhân vật, biết hòa cảnh, nhập vai thì mới hay. Người ta thường dùng những truyện thơ bình dân, những bài vè phản ảnh sinh hoạt địa phương để nói. Truyện Lục Vân Tiên cũng nói được. Truyện Kiều thì bác học quá, sang trọng và xa lạ, chỉ để ngâm, cho nên người ta phải nói bằng TÚY KIỀU PHÚ.

*TRƯỜNG HỢP SƯU TẦM…

Sưu tầm, là nói cho … oai thế thôi, sưu tầm là phải đi tìm kiếm, thật ra tôi chẳng tìm kiếm ở đâu cả. Cha tôi là một học trò chữ Nho, những khi thanh vắng ông thường ngâm nga thơ cổ, tôi nhờ nghe mà thuộc vài ba bài trước khi học chữ. Thời gian rộng rãi hơn thì ông ngâm thơ Kiều và nói phú Kiều. Ngâm thơ Kiều, ông chỉ chọn những đoạn miêu tả tài hoa trí dũng, tình yêu chân thực và hạnh phúc gia đình, bỏ qua những đoạn ông cho là miêu tả sự dung tục, kẻ xảo trá. Phú Kiều thì ông nói đầy đủ, từ đầu đến cuối, có khi ngày hôm nay một đoạn, ngày mai nói tiếp, cũng có khi lặp đi lặp lại độ mươi câu gọi là tâm đắc nhất. Tôi cũng nhờ nghe mà thuộc. Nhưng do tôi chỉ thuộc ngầm, không nói đi nói lại như cha tôi, nên nay dần dà quên mất rất nhiều, chỉ còn nhớ một số đoạn. Tuy vậy, cũng xin chép lại, chú thích vì sợ sẽ quên thêm nữa, và hy vọng gặp một người nào đó chính lý, bổ sung cho.

Tạp chí Bách Khoa Thời Đại (Sài Gòn) số 211 ngày 15-10-1965 đăng bài Túy Kiều Với Đại Chúng của Thuần Phong, có một đoạn (gồm 1 trang ¼, khổ giấy 15,5×24,5, in 2 cột) nói về Túy Kiều Phú. Theo tác giả thì bài phú dài chừng 500 câu, “chưa biết do ai đặt ra, chỉ biết do Phụng Hoàng Sang và Võ Thành Ký phiên âm ra quốc ngữ, đặt vào tay mọi người một bức tranh thâu hẹp cuộc đời của nàng Kiều, có công dụng lớn lao là đưa nàng Kiều vào mọi nơi và mọi giới” (tr. 64). Nhưng Thuần Phong chí trích dẫn có 28 câu, trong đó 22 câu nói về cái chết của Từ Hải để chứng minh là “rõ ràng là tác giả (Túy Kiều Phú – TSH) nặng lòng với những chàng anh hùng cái thế” (tr.65). Đoạn này tôi có nhớ, nên nay xem lại nó không giúp ích được gì nhiều. Chỉ thấy tiếc là… hồi trai trẻ tôi đang là cái thứ như thi hữu Tường Linh viết: “Mơ hoa trời lạ, bướm thành đô”, đang chạy theo thơ truyện đương đại, chưa quan tâm đến văn chương truyền khẩu, phải chi xin cha tôi đọc để chép thì bây giờ đâu đến nỗi!

* GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC

Túy Kiều Phú là bản thu gọn của truyện Kiều, kể theo thứ tự thời gian, trước hết giới thiệu thẳng nhân vật chính rồi lần lượt kể lại cuộc đời Kiều từ nhỏ đến lớn, trải qua mười lăm năm duyên phận: Hội ngộ – lưu lạc – đoàn viên.

Thể thơ dùng ở đây căn bản là thất ngôn trường thiên liên vận. Nhiều câu có thể do tác giả lúc sáng tác hay người biểu diễn sau này thêm vào một vài, ba bốn tiếng cho rõ nghĩa hơn.

Có khi muốn tạm ngưng sự việc này để chuyển sang sự việc khác, tác giả dùng tiếng “thứ”, nghĩa là lớp, đoạn.

Tình cảm của tác giả đối với các nhân vật được thể hiện qua cái nhìn chủ quan. Sự ưu ái dành cho Thúy Kiều và Từ Hải. Thái độ khinh ghét bộc lộ rõ ràng với Hồ Tôn Hiến, Hoạn Thư. Kim Trọng và Thúc Sinh được đánh đồng ngang bằng nhau.

Trong Túy Kiều phú có những từ nay không dùng nữa, hoặc dùng với nghĩa khác. Có đoạn rất nôm na, mang ròng tính chất dân dã của ca dao tục ngữ. Có đoạn sử dụng văn liệu, điển tích hoặc có một vài câu dùng toàn chữ Hán.

Ngoài ra, người nói Kiều phú có thể tùy ý thêm vào những tiếng tán thán ở đầu câu để diễn tả tình cảm của nhân vật, gây thêm xúc động cho người nghe.

Những điều trên đây chúng tôi sẽ đi vào chi tiết cụ thể khi chú thích.

*PHẦN VĂN BẢN CÒN NHỚ ĐƯỢC

Thật ra đây không phải là một bài phú theo định nghĩa của văn chương bác học, mà chỉ là một bài vè, dù làm theo thể lục bát, song thất lục bát, thất ngôn hay hợp thể. Phú được hiểu theo nghĩa là phô bày ra, nói thẳng đến, như thể phú của ca dao. Lối phú này ngày nay thường gọi là tấu. Cách biểu diễn tấu cũng gần giống như phú, điều khác căn bản là tấu được đưa lên sân khấu, còn nói thơ, nói phú chỉ trong phạm vi bằng hữu thưởng thức cùng nhau, hoặc chỉ tự mình thưởng thức.

(1) Nàng Túy Kiều là con ông viên ngoại
Quán sanh thành ở tại Bắc Kinh
Lúc Túy Kiều còn niên thiểu ấu sinh
Chị em xúm ngồi chơi trước cửa

(5) Tên đâu lạ bất tường hương sở
Xưng rằng thầy tướng sĩ du phương
Vừa ngẫu nhiên đến đó gặp nàng
Đứng dừng lại mới xem qua tài tướng

Như nàng ni là dung nghi đáng thiên kim vạn lượng

(10) Tiếc cho nàng tuyết nguyệt phong ba

-Túy Kiều (1/1): Tức Vương Thúy Kiều, nhân vật chính trong truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du. Thúy Kiều cùng em gái là Thúy Vân, em trai là Vương Quan đi chơi tiết thanh minh, gặp Kim Trọng. Rồi đi qua mộ Đạm Tiên, Kiều khóc thương cho thân phận người đàn bà bạc mệnh. Đêm ấy Đạm Tiên ứng mộng, họa thơ, hẹn 15 năm sau sẽ gặp nhau ở sông Tiền Đường. Kim và Kiều thề ước với nhau, nhưng liền đó Kim về Liêu Dương chịu tang chú, Kiều gặp gia biến phải bán mình cứu cha, gởi gắm tình duyên lại cho em gái. Cuộc đời Kiều từng trải qua bao tháng năm trôi nổi: Bị đưa vào lầu xanh, được Thúc Sinh chuộc về chung sống, bị vợ Thúc là Hoạn Thư bắt hành hạ, trốn đi, lại phải vào lầu xanh, sau sống chung với Từ Hải thành một mệnh phụ quyền uy, báo ân báo oán, Tổng đốc Hồ Tôn Hiến chiêu dụ Từ ra hàng, bắn chết, Hồ gả Kiều cho thổ quan, khi thuyền qua sông Tiền Đường Kiều nhớ lại mộng xưa, liền gieo mình tự vận và được Giác Duyên cứu sống đưa về nơi tu hành. Kim trở lại chốn cũ thấy cảnh gia đình Kiều tan nát, phụng dưỡng ông bà viên ngoại, cưới Vân theo lời dặn của Kiều, cùng Vương thi đỗ làm quan, vẫn trông tìm dấu tích người xưa. Cuối cùng tất cả được gặp nhau, đoàn viên hạnh phúc.

-Viên ngoại (1/2): Chức quan đứng hàng thứ 6 trong các bộ (viên ngoại lang), ngang hàng với tri phủ, hàm tòng tứ phẩm. Khi phái đoàn Mỹ Quốc đầu tiên đến Việt Nam do Edmund Roberts cầm đầu, đậu tàu thủy ở Vũng Lấm (Phú Yên), triều đình cử Tư Vụ Lý Văn Phức và Viên Ngoại Lang Nguyễn Tri Phương đến tiếp xúc. Ở Trung Quốc ngày xưa có thể bỏ tiền ra mua chức viên ngoại. Những ông chủ nhà giàu họ cũng gọi là viên ngoại. – Câu này, trong bài Túy Kiều ở Đồng Nai của Thuần Phong (tạp chí Bách Khoa SG số 211 ngày 15-10-1965) là: Nàng Túy Kiều là con Viên ngoại.

-quán sanh thành (2/1): Quán: Chỗ quê nhà của mình. Sanh thành: Sinh ra và lớn lên (trưởng thành). Trước đây thường phân biệt: chánh quán: Quê gốc của ông bà cha mẹ; sanh quán: Nơi sinh; trú quán: Nơi hiện đang ở. Câu này trong bài đã dẫn của Thuần Phong là: Lúc sanh thành ở tại Bắc Kinh.

-Bắc Kinh (2/2): Kinh đô, thủ đô Trung Quốc. Truyện Kiều viết theo một tác phẩm Trung Quốc, dùng địa danh Trung Quốc, là địa danh thực tế, không phải địa danh hư cấu như một số truyện cổ khác. Nhưng Nguyễn Du chỉ viết: “Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh. Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Hai kinh là Bắc Kinh và Nam Kinh. Nguyễn Du không nêu rõ quê quán Kiều ở Bắc Kinh, chỉ một lần Kiều” tìm đường nói quanh” khi Giác Duyên gạn hỏi: “Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh. Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu” và một lần viên lại họ Đô ở Lâm Tri thưa với Kim Trọng: “Tú Bà cùng Mã Giám Sinh. Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về. Thúy Kiều tài sắc ai bì…”

-niên thiểu (3/1): Thiểu: Ít. Niên thiểu = Niên thiếu: Người trẻ tuổi.

-ấu sinh (3/2): Trẻ con 10 tuổi trở xuống. Lời Kiều nói với Kim: “Nhớ từ năm hãy thơ ngây. Có người tướng sĩ đoán ngay một lời”. Cái “lúc còn niên thiểu”, “hãy thơ ngây” ấy, không rõ đã qua tuổi “ấu sinh” chưa?

-xúm (4): Tác giả đã dân gian hóa sinh hoạt của chị em Kiều trong gia đình, xúm xít ngồi chơi trước cửa. Đây là cảnh thường thấy ở nông thôn.

-bất tường hương sở (5): Bất tường: Chẳng biết. Bất tường hương sở: Chẳng biết quê hương, tung tích người này ở đâu.

-tướng sĩ (6/1): Thầy xem vận mạng người qua tướng mạo: Khuôn mặt, tay chân, dáng đi v.v… không phải xem qua tuổi tác hay quẻ bói.

-du phương (6/2): Đi chơi nơi này nơi kia. Phương: Phương hướng. Cũng có thể liên tưởng đến câu: Xuân du phương thảo địa, phương nghĩa là thơm, mùa xuân đi chơi nơi đất cỏ thơm, tức là nơi đẹp đẽ mà thanh tịnh, yên bình.

-ngẫu nhiên (7): Ngẫu: Tình cờ, thình lình. Nhiên: Như thế. Ngẫu nhiên: Tình cờ, thình lình không liệu định trước.

-đứng dừng lại (8/1): Nhớ tới câu thơ Bà Huyện Thanh Quan trong bài Qua đèo Ngang: Dừng chân đứng lại trời non nước…

-tài tướng (8/2): Xem tài mệnh qua tướng mạo.

-dung nghi (9/1): Dung: dáng mạo. Nghi: Vẻ ngoài. Dung nghi, cũng nói nghi dung: Dáng mạo bên ngoài, phong cách.

-thiên kim vạn lượng (9/2): Thiên kim: Ngàn vàng, lời dùng ca tụng người con gái đẹp. Như vậy, trùng nghĩa với vạn lượng. Tác giả muốn nhấn mạnh chăng? Hay do thuận câu? Hay thiên kim có nghĩa là loại vàng ngàn, tức là vàng rất tốt, như bây giờ là vàng 9999. Thiên kim vạn lượng là vạn lượng vàng loại giá trị nhất.

-tuyết nguyệt phong ba (10): Ba = hoa. Bốn thú chơi thanh nhã của người phong lưu trong bốn mùa: Mùa đông chơi tuyết, mùa thu thửng trăng, mùa hè hứng gió, mùa xuân thưởng hoa. Phong hoa: Nói về thú phong lưu, như: Phong hoa hai chữ ở đời ai không? (Nhị Độ Mai). Phong nguyệt: Dùng chỉ những người thích trăng trong gió mát, vui với tạo vật, như: Đề huề lưng túi gió trăng (Kiều). Lại có nghĩa trai gái tự tình thề thốt với nhau trong cảnh gió mát trăng trong: Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông. – Phong ba = Phong: Gió, ba: Sóng. Nghĩa bóng là vất vả nguy hiểm như chiếc thuyền bị sóng gió: Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh (Cung Oán Ngâm Khúc). – Ở đây, tác giả viết: Tiếc cho nàng… như thế tuyết nguyệt phong ba hàm ý cuộc đời gió trăng không đứng đắn.

(11) Tiết thanh minh trong lúc tháng Ba
Chị em mới dắt nhau đi tảo mộ
Tiếng nhạc ngựa chàng Kim tới đó
Gặp Túy Kiều lại với Túy Vân

(15) Vương gặp Kim hớn hở chào mừng
Người bạn cũ Khổng môn đồng nhứt mạch
Bóng hầu xế vó câu nhẹ tách
Ba chị em thong thả ra về
Đoái xa xem kìa ngọn tiểu khê

(20) Bên cồn thấy nấm mồ vô chủ

-tiết thanh minh (11): Cứ 15 ngày là một tiết, khí hậu thay đổi, mỗi năm có 24 tiết, bắt đầu bằng tiết lập xuân đến cuối cùng là tiết đại hàn. Thanh minh là tiết thứ 5, 15 ngày sau tiết xuân phân (giữa mùa xuân), 106 ngày sau tiết đông chí (giữa mùa đông).

-tảo mộ (12): Tảo: Quét. Tảo mộ: Nhổ cỏ cho sạch trên mồ mả. Tục ở thôn quê sau khi dãy cỏ, vun đắp thêm đất, bẻ một vài cành cây tươi làm chổi quét cho nấm mộ sạch sẽ đẹp đẽ hơn. Có nơi tảo mộ vào tiết thanh minh. Ở Phú Yên người Việt tảo mội tháng chạp, đông nhất là ngày 20, người Hoa tảo mộ vào tiết đông chí, tiết thanh minh chỉ đi viếng mộ.

-chàng Kim (13): Kim Trọng, nhân vật trong truyện Kiều, quê ở Liêu Dương, gặp Thúy Kiều, hai người yêu nhau nhưng do gia biến tình duyên trắc trở, Kim cưới Thúy Vân, em gái Thúy Kiều, cùng em Kiều là Vương Quan thi đỗ làm quan, nhưng trong lòng lúc nào cũng thủy chung với người cũ và may mắn đã tìm gặp lại.

-Túy Vân (14): Tức Thúy Vân, nhân vật em gái Thúy Kiều, theo lời chị dặn, lấy Kim Trọng, đảm đang công việc và không hề hờn ghen.

-Vương (15): Tức Vương Quan, nhân vật trong truyện, em trai Thúy Kiều, Thúy Vân, bạn học với Kim Trọng, sau cùng Kim thi đổ làm quan, vinh hiển.

-Khổng môn (16/1): Cửa Khổng, nói chung học trò của Khổng Tử. Khổng Tử (551-479 trước Công Nguyên): người nước Lỗ đời nhà Chu, tên Khâu (Khưu), tự Trọng Ni, là vị tổ của Nho Giáo. Ông từng làm quan nước Lỗ, bất đắc chí bèn đi chu du các nước, sau trở về Lỗ soạn lại Kinh Thi, Kinh Thư, dịch Kinh Lễ, Kinh Nhạc, phê bình Kinh Dịch, làm Kinh Xuân Thu, tạo ra một hệ thống giáo dục lớn, được hậu thế tôn là Khổng Thánh, là Vạn Thế Sư Biểu.

-nhứt mạch (16/2): Cùng một mạch, tức là chung một hệ thống giáo dục.

-bóng hầu xế (17/1): Vừa xế, truyện Kiều viết: Tà tà bóng ngã về tây.

-vó câu (17/2): Vó: chân ngựa. Câu: Ngựa non mới lớn, ngựa tốt. Vó câu: Chân ngựa câu, nói chung là chân ngựa và thường hiểu là bước chân khi ngựa đi, chạy.

-đoái (19/1): Ngoảnh lại, nhìn lại.

-tiểu khê (19/2): Dòng khe nhỏ. Man kê: Suối rách, thường bị cạn nước.

-cồn (20/1): Chỗ đất hơi cao hơn chung quanh.

-nấm mồ vô chủ (20/2): Tiết thanh minh, người người đi tảo mộ, nhìn ngôi mả này vẫn nguyên cỏ rác thì biết ngay là nấm mồ vô chủ. Chủ không phải người nằm dưới mộ mà là thân nhân của người ấy, chăm sóc bảo vệ mộ phần.

(21) Vương Quan dẫn sự xưa tích cũ
Rằng Đạm Tiên là gái nhà trò
Biết mấy nơi sông hẹn núi hò
Nay chín suối mồ vô nhân chủ

(25) Kiều nghe mấy lời xưa tích cũ
Nước mắt đầy nhỏ giọt dầm khăn
Túy Vân mới buông lời dứt chị rằng
Hơi đâu khóc cho những người bạc mạng
Kiều thấy vậy dùng dằng ở nán

(30) Thương thân người khác thể thân ta

-Vương Quan (21): Xem chú thích 15.

-Đạm Tiên (22/1): Nhân vật cõi âm trong truyện Kiều. Đạm Tiên là một ca nhi tài sắc nhưng đoản mệnh, có nhiều liên hệ với số kiếp, thân phận của Kiều từ khi hiển linh trong tiết thanh minh, rồi ứng mộng, họa thơ, báo trước cho biết Kiều có tên trong sổ đoạn trường, hoa trôi bèo giạt. Mười lăm năm sau, khi Kiều tự trầm ở sông Tiền Đường, lại gặp Đạm Tiên được cho biết căn phần đã mãn.

-gái nhà trò (22/2): Trong truyện viết là ca nhi. Nhà trò là nhà cô đầu, nơi khách đàn ông đến nghe cô đầu hát giải trí. Gái nhà trò: cô đầu, người xưa cũng gọi là con hát, người làm nghề ca hát giúp vui.

-sông hẹn núi hò (23): Hẹn hò nhau lấy sông núi làm chứng.

-chín suối (24): Chữ Hán là cửu tuyền, cửu nguyên, chỉ cõi âm phủ, là nơi định côn, luận tội những hồn ma con người khi sống làm ra.

-dứt (27): Nói, có vẻ rành mạch và hơi lạnh lùng.

-bạc mạng (28): Bạc mệnh, mệnh bạc. Dùng để nói vận mệnh mỏng manh, tài hoa nhưng cuộc sống ngắn ngủi. Thơ Tô Đông Pha: Tự cổ giai nhân đa bạc mệnh (tự xưa giai nhân thường bạc mệnh).

-câu 30: Đây là đạo lý ngày xưa, như trong ca dao: Thương người khác (như) thể thương thân. Ghét người khác (như) thể bỏ phân cho người. Hoặc: Gia Huấn Ca: Thương người như thể thương thân.

(31) Đốt nén hương khấn vái gọi là
Linh hồn hưởng của ta hành lộ
Vừa dứt tiếng bỗng đâu trận gió
Hồn Đạm Tiên ngọn cỏ gót hài

(35) Kiều làm thơ từ tạ một bài
Rút trâm rạch da cây cổ thọ
Đêm nằm thấy Đạm Tiên tỏ rõ
Trao mười bài thơ nọ dặn rằng
Sông Tiền Đường là chỗn mãn căn

(40) Tuần hoàn trải mười lăm năm lưu lạc

-linh hồn (32/1): Linh: Thiêng liêng. Linh hồn: Tinh thần, tâm ý, phần hồn cuả một người. Tín ngưỡng dân gian cũng như các tôn giáo cho rằng linh hồn là cái thần linh cai trị thể xác con người, khi con người đã chết linh hồn vẫn còn.

-hành lộ (32/2): Đi đường. Lúc này Kiều đang trên đường du xuân, khói hương là thể hiện chút lòng gởi cho Đạm Tiên.

-ngọn cỏ gót hài (34): Sau khi Kiều khấn vái và làm thơ đề lên cây bên mộ Đạm Tiên thì Đạm Tiên hiện lên qua một trận gió xoáy và mọi người nhìn thấy dấu giày in từng bước trên rêu.

-trâm (36/1): Vật trang sức giống cái dùi dùng để gài tóc, gài mũ. Người phụ nữ giàu sang thì dùng trâm có đính vàng ngọc đắt tiền, phụ nữ bình dân ở thôn quê dùng lông con nhím để cài nên gọi các vật cài tóc là lông nhím.

-cổ thọ (36/2): Cổ thụ: Cây già, cây cao lớn lâu năm.

-sông Tiền Đường (30): Sông lớn nhất tỉnh Triết Giang chảy theo hướng tây-đông ra vịnh Hàng Châu. Thủy triều ở đây dâng tràn và bay vút lên cao là một hiện tượng thiên nhiên lạ lùng, tạo ra cảnh tượng vô cùng ngoạn mục. Nguyên do là lực ly tâm gây ra bởi vòng quay của trái đất và hình dạng nút thắt cổ chai khác thường của vịnh Hàng Châu làm cho thủy triều dễ tràn lên nhưng rất khó rút. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du tả sóng nước Tiền Đường rất dữ dội: Triều đâu nổi tiếng đùng đùng. Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường và Ngọn triều non bạc trùng trùng. Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.

(41) Kiều tỉnh giấc nghĩ thôi bát ngát
Giữa hiên ngồi than thở năm canh
Mẹ thức nghe liền hỏi sự tình
Kiều rằng thấy Đạm Tiên mách bảo

(45) Ôi thôi thôi, ngậm ngùi nghĩ thâm ân vị báo
Nghĩ thân con nào có ra chi
Mẹ bảo rằng trẻ chớ sầu bi
Giải lòng trẻ là điềm mộng mị
Bỗng đâu lại xuân qua hè chí

(50) Kim quyết tình kết chỉ xe dây

-bát ngát (41): Bao la, mênh mông, rộng rãi, sau này dùng để chỉ cảnh ruộng đồng, biển cả, trời mây… Ở đây có nghĩa là suy nghĩ mông lung, xa xôi, đủ mọi điều.

-thâm ân vị báo (45): Thâm: Sâu, ân: Ơn, vị: Chưa, báo: Đáp trả lại = Ơn sâu (của cha mẹ) chưa báo đáp.

-sầu bi (47): Sầu: Buồn rầu, bi: Thương xót = Buồn rầu thảm thương.

-điềm mộng mị (48): Điềm: Việc xảy đến khác thường, khiến người ta dựa vào đó mà suy đoán tương lai. Điềm mộng mị: Chỉ là chuyện mộng mị của chiêm bao, không đáng tin, không nên tin.

-hè chí (49): Mùa hè đến.

-kết chỉ xe dây (50): Có 2 điển tích liên quan. 1- Dây tơ hồng, tức hồng ty. Trương Gia Trinh có 5 người con gái, muốn gả cho Đặng Nguyên Chấn một người. Ông bảo 5 con ngồi sau một cái màn, cầm mỗi người một sợi tơ màu sắc khác nhau. Đặng Nguyên Chấn ở ngoài nắm được mối tơ của người nào thì cưới người ấy. Chấn lựa sợi tơ đỏ và cưới người con gai thứ ba của Gia Trinh. 2- Xích thằng, sợi chỉ đỏ. Vi Cố, người đời Đường, một hôm trông thấy ông lão ngồi dưới trăng xem sách (Nguyệt Lão), bên cạnh có cái giỏ đựng chỉ đỏ. Vi Cố hỏi, ông lão đáp: Trong sách này cặp vợ chồng nào sẽ gặp nhau đã chép sẵn, còn chỉ đỏ là để cột chân vợ chồng với nhau. Vi Cố hỏi đến người vợ tương lai của mình thì ông lão bảo là người Vi Cố gặp đầu tiên khi sáng mai ra chợ. Hôm sau Vi Cố gặp đứa con gái nhà ăn mày, định giết chết để khỏi phải kết duyên với hạng ti tiện. Không ngờ vừa chém xuống một nhát chỉ làm con bé bị thương, được người mẹ cứu thoát. Về sau Vi Cố lấy một người con gái nhà quan làm vợ. Một hôm ngồi chơi nhân nhìn vết sẹo trên đầu vợ, hỏi ra mới biết, vợ Vi Cố chính là đứa con gái ăn mày và ông quan nọ đã xin về làm con nuôi. Nghĩa ở đây liên quan đến điển tích 1, có ý nói Kim quyết tâm kết duyên với Kiều.

(51) Mướn phố người tạm ở gần đây
Trước ôn cố sau vầy can lệ
Kiều thương Trọng tấm lòng đáo để
Trọng thương Kiều tấc dạ bâng khuâng

(55) Trời khiến chi đôi lứa trái nợ nần
Xui Kiều bữa ra chơi non bộ
Kim chợt thấy buông kìm lại đó
Kiều hổ ngươi lật đật liền vào
Bỗng rớt trâm ở chốn vườn đào

(60) Bên cỗi thọ chàng Kim xảy đặng

-ôn cố (52/1): Ôn lại việc cũ, ở đây có nghĩa là Kim ôn lại bài vở để chuẩn bị đi thi.

-vầy can lệ (52/2): Vầy: Họp lại, can: Gan (gan ruột = Tâm đắc, tri kỷ), lệ: Lứa đôi. Vầy can lệ: Để lứa đôi tâm đắc được sum họp.

-đáo để (53): Cùng tột, đến cùng, hết cách.

-bâng khuâng (54): Lòng hơi buồn buồn, hơi áy náy, không yên lòng song không hiểu vì đâu. Tác giả Túy Kiều Phú cũng đã lột tả được hai tâm trạng khác nhau của Kim và Kiều.

-trái nợ nần (55): Người xưa cho rằng trong tình yêu và hôn nhân có duyên và nợ, duyên định trước là để gặp nhau, nợ vì lời thề ước là để trả cho nhau, nghĩa là chung sống với nhau. Kim và Kiều trái nợ, không đủ nợ, nên hôn nhân trắc trở.

-non bộ (56): Núi giả, giả sơn. Cảnh núi non thu nhỏ đắp giả bằng đất đá để làm cảnh trong sân trong vườn.

-kìm (57): Tên một thứ đàn dây gân (tơ dẻo), xưa có 4 dây, nay còn 2 dây. Theo giáo sư Trần Văn Khê nói trên vô tuyến truyền hình thì kìm là cách gọi ở Miền Nam của đàn cầm, thông thường gọi là nguyệt cầm, đàn nguyệt (thùng đàn tròn như mặt trăng). Trong truyện Kiều, Nguyễn Du tả Kim Trọng buông cầm xốc áo vội ra, đoạn sau nói hiên sau treo sẵn cầm trăng. Cầm và cầm trăng đều là nguyệt cầm tức đàn kìm.

-hổ ngươi (58): Mắc cỡ, xấu hổ, lấy làm thẹn thùng. Tục ngữ, ca dao: Khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt. Lịch sự thầm dễ ở, hổ ngươi thầm biết thuở nào nguôi.

-cỗi thọ (60/1): Cỗi: Cội, gốc. Cỗi thọ: Gốc cây lớn, gốc cổ thụ.

-xảy (60/2): Xảy: Tình cờ, bỗng chốc; đặng: Được. Xảy đặng: Tình cờ bắt gặp, nhặt được.

(61) Bước lỡ bước nên chàng dừng hẳn
Đứng trông nàng ra kiếm ta trả cho
Gặp mặt nhau sông hẹn núi hò
Một lời nguyện trăm năm tơ tóc

(65) Chiếc kim xuyến trao cho bạn ngọc
Vuông khăn này vò lại trao tay

(không nhớ một đoạn dài)

Bỗng đến kỳ sinh nhật ngoại gia
Song thân với hai em qua đó
Kiều sắm sửa lễ mừng chúc thọ

(70) Rảnh việc nhà rồi lại lẻn qua

-trăm năm (64/1): Ba vạn sáu ngàn ngày. Người xưa cho rằng đây là hạn tương đối dài nhất của một đời người. Tình nghĩa vợ chồng lâu dài đến trọn đời, không phải qua đường, không nửa chừng gãy gánh. Ca dao: Trăm năm dầu lỗi hẹn hò. Cây đa bến cũ con đò khác đưa.

-tơ tóc (64/2): Xe tơ kết tóc. Xe tơ: Xem chú thích 50. Kết tóc: Chữ Hán là kết phát. Có 2 nghĩa: 1- Tự lúc còn trẻ nhỏ, Lý Quảng đã tự kết tóc cùng Hung Nô giao chiến. Nghĩa bóng là vợ chồng lấy nhau lúc còn trẻ nhỏ. 2- Theo phong tục nhà Hán lúc thành hôn, hôm hợp cẩn kẻ tả hữu kết tóc cho đôi vợ chồng mới. Nghĩa thông thường là vợ chồng kết đôi với nhau.

-kim xuyến (65/1): Xuyến vàng. Xuyến: Một loại vật dụng trang sức đeo ở cổ tay phụ nữ.

-bạn ngọc (65/2): Bạn quý, thời xưa thường dùng chỉ người yêu.

-sinh nhật (67/1): Kỷ niệm ngày sinh.

-ngoại gia (67/2): Nhà ngoại. Ông bà ngoại.

-song thân (68): Hai thân: Cha mẹ. Cả hai bên cha mẹ chồng và cha mẹ vợ là tứ thân phụ mẫu.

-lẻn qua (70): Kiều lẻn qua nhà Kim trọ, tiếng qua này khác với qua ở câu 68 (gia đình Kiều qua gia đình bên ngoại).

(71) Kim gặp Kiều trò chuyện dan ca
Đờn mãn tiệc mới sang qua nghề vẽ
Úy cô nó ôi! Biết mấy thuở chung tình lặng lẽ
Tấm trăng mành chỉ thệ non sông

(75) Ngoài cửa nghe thấy tiếng tiểu đồng
Tin thúc phụ Liêu Dương vừa tới
Trời nỡ khiến cho kẻ trông người đợi
Vì chữ tang nên dứt chữ tình
Nay dừng cương còn ở Bắc Kinh

(80) Mai giục vó Liêu Dương ngàn dặm

-dan ca (71): Nói chuyện dông dài, vòng vo, rất nhiều vấn đề, không đầu không đuôi, không dẫn tới kết quả nào. Ca dao: Em gặp anh đây cũng muốn dan ca. Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời.

-câu 72: Hết chuyện âm nhạc sang chuyện hội họa, bàn luận về ngón đàn xong lại bình phẩm về bức tranh, đề thơ.

-câu 73: Người nói Kiều thường thêm vào mấy tiếng tán thán theo cách gọi nhau ngày xưa: Úy cô nó ơi!… để tăng thêm sự phấn khích thân tình của Kim

-câu 74: Nhìn vầng trăng nói lời thề sông núi.

-tiểu đồng (75): Đứa trẻ con hầu hạ, dùng sai công việc nhỏ nhặt.

-thúc phụ (76/1): Chú (em của cha). Bá phụ: Bác (anh của cha).

-Liêu Dương (76/2): Huyện thuộc địa phận tỉnh Liêu Ninh, ở trung tâm bán đảo Liêu Ninh, bên bờ sông Thái Tử, phía nam Thẩm Dương. Liêu Dương có ngôi chùa Bạch Tháp nổi tiếng xây dựng từ thời nhà Nguyên, từng là thủ đô của Mãn Châu, sau dời về Thẩm Dương năm 1625. Quê hương của nhân vật Kim Trọng. Nay là thành phố Liêu Dương.

-cương (79): Dây buộc từ hai bên giàm ngựa vòng lên để người cỡi nắm điều khiển ngựa. Gò cương là kéo dây cương cho ngựa đứng lại, dừng cương là thả lỏng dây cương khi ngựa đã đứng, giục cương là giật dây cương cho ngựa chạy, cùng có tác động như giục vó cho ngựa chạy (vó: Chân ngựa.)

(81) Mối sầu chảy một ngày một thẳm
Tấc đàng đi càng bước càng xa
Đưa ân nhân một đỗi quan hà
Cùng bạn ngọc cho thỏa niềm ân ái

(85) Kim dời gót rồi Kiều trở lại
Ngoảnh non đoài thỏ bạc lân la
Sinh nhật xong cha mẹ về nhà
Song thân với hai em vô cửa
Bỗng đâu thấy đầu trâu mặt ngựa

(90) Thằng bán tơ nó gieo họa thình lình

-câu 81, 82: Hình ảnh đẹp và gợi cảm. Mỗi tấc đường đi càng đưa Kim xa Kiều, đồng thời mối sầu chảy xuống mỗi ngày một sâu thẳm hơn.

-ân nhân (83/1): Người làm ơn giúp đỡ ta. Một chữ ân khác có nghĩa là cảm tình đậm đà. Ngày trước dùng với nghĩa này, ân nhân: người cùng ta có cảm tình đậm đà, người yêu.

-quan hà (83/2): Quan: Cửa ải, hà: Sông. Người đi xa phải qua cửa ải và sông, có ý nghĩa là đưa tiễn.

-ân ái (84): Tình yêu mến rất thân thiết.

-non đoài (86/1): Đoài: Phương tây. Non đoài: Núi ở phương tây.

-thỏ bạc (86/2): Do chữ Hán bạch thố. Tương truyền trong cung trăng có con thỏ trắng giã thuốc. Nghĩa bóng là mặt trăng. Cũng dùng từ: Ngọc thố (thỏ ngọc).

-đầu trâu mặt ngựa (89): Quỷ sứ dưới âm phủ, mình và tay chân là người, nhưng đầu là đầu trâu, ngựa. Nghĩa bóng: Những phường vô lại, độc ác, không biết thương người.

-thằng bán tơ (90): Nhân vật trong truyện Kiều, kẻ gieo tai họa cho gia đình Vương Viên ngọai vì một lời khai vu vơ, chẳng rõ lời khai ấy về việc gì. Trong truyện Nguyễn Du chỉ viết: Hỏi ra sau mới biết rằng. Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.

(91) Việc tưng bừng ai nấy đều kinh
Song thân với một em chịu lụy
Bởi vậy cho nên Kiều phải dứt tình chung thủy
Bán mình này chuộc tội cho cha

(95) Như thân con chừ, lươn lấm đầu bao quản xấu xa
Đem thân bán cho Giám Sinh họ Mã
Nào hay mắc phải tay độc quá
Mụ Tú Bà hành hạ tấm thân

(100) Bị Sở Khanh ra hại phong trần

-chung thủy (93): Chung: Lúc cuối cùng, thủy: Lúc bắt đầu. Chung thủy: Trọn vẹn từ khởi đầu đến cuối cùng.

-câu 93: Những người nói Kiều thêm vào “Bởi vậy cho…” để thêm rõ nghĩa.

-câu 95: Các tiếng tán thán nói thêm ở trước bày tỏ sự than vãn: Như thân con chừ…

-câu 96: Để thật đúng thất ngôn thì bỏ tiếng nào cho hợp?

-Mã Giám Sinh (96): Nhân vật trong truyện Kiều, người cùng Tú Bà chung sống, chung vốn mở lầu xanh tại Lâm Tri, đã đi mua Kiều và “nước trước bẻ hoa”.

-độc quá (97): Độc: Ác, quá: Sai lầm. Người độc ác, làm toàn những điều công luận cho là sai lầm.

-Tú Bà (99): Nhân vật trong truyện Kiều, người chung sống và chung vốn với Mã Giám Sinh mở lầu xanh ở Lâm Tri, đã hành hạ bắt buộc Kiều phải làm nghề mại dâm. Về sau, người ta thường gọi chung những người chủ chứa là Tú Bà.

-Sở Khanh (100/1): Nhân vật trong truyện Kiều, có vẻ đẹp mã hào hoa, cộng tác với Tú Bà trong âm mưu bắt buộc các cô gái bị họ mua về làm nghề mại dâm (xem chú thích 101). Về sau, dư luận gọi những người đàn ông con trai lừa đảo về tình yêu là hạng sở khanh.

-phong trần (100/2): Phong: Gió, trần: Bụi. Gió thổi bụi bay. Đi đường xa thường bị gió bụi nên thường gọi nỗi khó nhọc ấy là phong trần. Hiểu rộng là cảnh tượng hoan lạc khi từng trải cuộc đời cũng ví như sự sảng khoái vượt qua cơn gió bụi, tạo cho con người già dặn hơn. Cũng có nghĩa là tình cảnh gian nan, lưu lạc nay đây mai đó. Ở đây dùng với nghĩa sau là bởi do Sở Khanh hãm hại, Kiều mới lâm cảnh phong trần.

(101) Trao tích việt quá tin nên mắc
Xúm nhau lại bày mưu khổ khắc
Ép uổng Kiều đày đọa tấm thân

(không nhớ một đoạn)

Đem thân dựa vào nơi chàng Thúc

(105) Mới bỡ ngỡ chưa tường trong đục
Đơn Thúc Ông khiếu tử quan nha
Nhờ lượng trên phân xử giải hòa
Việc ăn ở thôi đà yên phận
Thứ này thứ con Hoạn Thư cừu hận

(không nhớ đoạn Kiều bị Khuyển Ưng bắt cóc)

(110) Biển “Trủng tể thiên quan” treo tỏ rõ

-tích việt (101): Sở Khanh lừa dối bảo sẽ cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, gửi mật thư ghi hai chữ “tích việt”. Phân tích theo Hán tự thì: Tích là 3 chữ trấp, nhất, nhật (21), việt là 2 chữ tuất (giờ tuất) và tẩu (chạy). Có nghĩa là giờ tuất ngày 21 thì trốn chạy. Kiều đã nghe theo và bị côn đồ của Tú Bà bắt lại. Với lý do bỏ trốn này Tú Bà bắt buộc Kiều phải nghe lời.

-chàng Thúc (104): Nhân vật trong truyện Kiều, tên Thúc Kỳ Tâm, thường gọi là Thúc Sinh, người huyện Tích, châu Thường, có vợ là Hoạn Thư con quan Lại bộ, theo cha đến mở cửa hàng buôn bán ở Lâm Tri, nghe tiếng Kiều đến gặp, say mê và chuộc ra làm vợ. Sau Kiều bị Hoạn Thư bắt cóc, Thúc Sinh giáp mặt mà không dám nhận, rất đau khổ, nhưng đành than thở “ái ân ta có ngần này mà thôi!”

-đơn (106): Tờ giấy viết một điều thỉnh nguyện gởi lển cấp thẩm quyền xin cứu xét: Đơn trình bị mất trộm, đơn xin nhập học, đơn xin giảm thuế, đơn kiện nhau v.v…

-khiếu tử quan nha (106): Khiếu: Kiện, tử: Con, quan: Người làm việc nhà nước, chế độ Nam triều trước năm 1945 về hành chánh từ tri huyện trở lên, về học vụ từ Huấn đạo trở lên gọi là quan, quan nha: Nơi giải quyết công việc nhà nước. Lúc đầu thấy Thúc Sinh đưa Kiều về, Thúc Ông không bằng lòng, kiện lên quan nha.

-câu 107: Sau khi gia hình và gạn hỏi biết rõ sự việc, cảm mến tài sắc và đức hạnh Kiều, quan phủ khuyên Thúc Ông chấp nhận cuộc hôn nhân. Thúc và Kiều đã sống được một thời gian êm ấm.

-thứ (109/1): Thứ: Đoạn văn thơ, lớp tuồng, ngày xưa dùng khi tạm ngưng sự việc này để chuyển sang sự việc khác. Câu 109 có nghĩa: Đây là đoạn nói về việc Hoạn Thư cừu hận… Cách chuyển đoạn này thấy truyện Lục Vân Tiên, như: Đoạn này tới thứ ra đời. Vân Tiên thuở ấy ở nơi chùa chiền – Đoạn này tới thứ Nguyệt Nga. Ở đây tính đã hơn ba năm rồi…

-Hoạn Thư (109/2): Nhân vật trong truyện Kiều, con quan Lại Bộ, vợ Thúc Sinh, một người ghen tuông và thâm độc. Về sau, thường gọi tính ghen của phụ nữ là “máu Hoạn Thư”. Nguyên truyện miêu tả Hoạn Thư khách quan hơn, không rõ bản gốc Túy Kiều phú thế nào, những người nói Kiều thường bày tỏ thái độ căm ghét với Hoạn Thư, nên mấy chỗ đều gọi là “con Hoạn Thư”. Nếu câu phú chỉ có 7 tiếng thì tiếng con sẽ không có chỗ đứng: Thứ này thứ (con) Hoạn Thư cừu hận – Thứ này thứ (con) Hoạn Thư trở mặt…

-cừu hận (109/3): Cừu: Thù hằn, hận: Oán giận. Cừu hận: Thù oán, căm giận.

-biển (110/1): Bảng treo trước nhà, ngày nay những từ đường, nhà thờ gia tộc cũng treo các biển như vậy. Các hiệu buôn gọi là bảng hiệu.

-Thiên quan trủng tể (110/2): Chức quan theo sách Chu Lễ đứng đầu trăm quan. Đời nhà Đường gọi Lại Bộ là thiên quan. Đây là nhà cha mẹ Hoạn Thư.

(111) Giường bát bửu một bà ngồi đó
Quở vang lừng bốn phía dạ rân
Quân ra oai tay tuốt gươm trần
Kiều khấp khởi hồn nương mây bạc

(115) Trên lớn tiếng nhiều điều quở phạt
Dưới cúi đầu sống thác nào hay
Quân (thiếu 2 tiếng) roi thước ra tay
Đá cũng nát huống chi là xương thịt
Rồi lại cấp theo quân gia dịch

(120) Đày tấm thân cho tóc quắn da chì

-bát bửu (111): Tám vật quý. Giường bát bửu là giường có chạm trổ tám hình trang trí, ví dụ như hình bát tiên (8 vị tiên), bát tiết (8 cảnh của 4 mùa)… – Tám món binh khí xưa cắm trên giá để trước bàn thờ thần hoặc bàn thờ ông bà cũng là bát bửu.

-quở (112): Rầy, trách. Tiếng bề trên dùng với kẻ dưới. Quở phạt: Rầy la, trừng trị. Quở trách: Trách móc la rầy.

-khấp khởi (114): Rộn rã, hồi hộp khi vui mừng hoặc lo lắng. Nay ta chỉ thường nói khấp khởi mừng thầm. Thơ Phan Văn Trị: Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc. Người khó xăng văng mới gặp vàng. Thơ Tôn Thọ Tường: Xăng văng chậm tính thương đòi chỗ. Khấp khởi riêng lo biết những ngày.

-gia dịch (119): Đầy tớ, người giúp việc trong nhà. Cũng gọi gia bộc.

-tóc quắn da chì (120): Quan niệm xưa trắng da dài tóc là đẹp, tóc quắn da chì là nhan sắc tiêu hao, xấu xí. Ca dao: Củi mục dễ nấu. Chồng xấu dễ sai. Chẳng ham da trắng tóc dài. Ngồi trên phản dựa còn nài lửa lư. – Tóc quăn chải lược đồi mồi. Chải đứng chải ngồi quăn vẫn hoàn quăn.

(121) Lầu Hoạn Thư có một mụ dì
Thương Kiều mới bày lời hơn thiệt
Kiều than thở thương ôi thảm thiết
Tấm thân này đày đọa bằng hai

(125) Trời khiến chi những kẻ sắc tài
Mà nỡ để lầm tay quá ngặt
Thứ này thứ con Hoạn Thư trở mặt
Bắt Kiều về làm mọi hoa nô
Thúc Sinh về chàng mới bước vô

(130) Hoạn Thư bắt Kiều ra tiếp đãi

-câu 125, 126: Là lời bàn của tác giả Túy Kiều phú, cũng là lời của người diễn đọc.

-mọi (128/1): Cũng nói tôi mọi: Kẻ tôi tớ, nô bộc, thân hèn mọn, không còn làm chủ mình nữa. Làm mọi: Làm tôi mọi.

-hoa nô (128/2): Đầy tớ gái, cũng gọi hoa tì.

(131) Đày hết kiếp rồi làm mặt phải
Cho lên chùa thủ tự chép kinh
Sinh thương Kiều lẻn tới trần tình
Hay đâu nỗi Hoạn Thư toan hại

(135) Kiều biết được lánh mình đã phải
Lén cắp đồ chuông khánh hộ thân
Đêm lách mình qua ngọn đông lân
Gà vừa gáy thiền môn tới đó
Vãi Giác Duyên sự tình chưa rõ

(140) Hỏi, Kiều rằng người ở Bắc Kinh

-câu 131: Một cách nói dân gian về kẻ đạo đức giả: Làm mặt phải. Đày đọa xong làm ra vẻ ta là người rộng lượng, thi ân cho kẻ dưới.

-thủ tự (132): Thủ: Tay, tự: Chữ. Thủ tự: Chữ viết tay – Một nghĩa khác: Thủ: Giữ, tự chùa. Thủ tự: Người giữ chùa lo việc kinh kệ hương đăng khi chùa không có sư trụ trì. Ở đây chưa rõ tác giả dùng theo nghĩa nào, vì nghĩa nào cũng hợp với việc Hoạn Thư cho Kiều ra ở Quan Âm các trong vườn nhà giữ chùa, chép kinh.

-trần tình (133): Trần: Bày ra, tình: Những điều trong lòng do cảm xúc mà phát tiết ra ngoài như vui, mừng, giận, hờn… Lòng yêu mến nhau. Trần tình: Bày tỏ tình cảm, tâm sự.

-chuông (136/1): Vật đúc bằng kim khí dùng dùi đánh hay kéo dây rung làm hiệu lệnh ở chùa, nhà thờ và khi tụng niệm kinh kệ. Ca dao: Đem chuông đi đánh xứ người. Chẳng kêu cũng thử một hồi lấy danh. – Gió đưa cành trúc la đà. Tiếng chuong Thiên Mụ canh gà Thọ Xương.

-khánh (136/2): Nhạc khí làm bằng đồng, xưa làm bằng đá, hình tròn hay bán nguyệt, dùng dùi đánh. Có những vật trang sức bằng vàng, bạc hay ngọc, làm giống hình cái khánh cũng gọi là khánh. Ca dao: Chuông khánh còn chẳng ăn ai. Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre.

-hộ thân (136/3): Hộ: giúp đỡ, che chở. Hộ thân: Phòng vệ cho thân mình.

-câu 136: Kiều trốn đi, đánh cắp chuông khánh trong Quan Âm các đem theo.

-đông lân (137): Bên phía đông. Được hiểu là đông phong chăng? Lúc Kiều trốn đi đã canh ba, trăng tà về tây, trời đông vừa rạng, có thể là một trận gió sớm nhẹ nhàng.

-thiền môn (138): Thiền: yên lặng. Đạo Phật lấy thanh tịnh làm gốc nên việc liên hệ đến tu hành gọi là thiền. Thiền môn: cửa thiền, cửa nhà chùa, nói chung nhà chùa, nhà Phật.

-vãi Giác Duyên (139): Vãi: Sư nữ, nữ tu Phật giáo. Giác Duyên: nhân vật trong truyện Kiều, trụ trì Chiêu Ẩn am, cho Kiều cùng ở tu hành khi trốn từ nhà Hoạn Thư ra, nhưng khi biết việc chuông khánh là của gian, lo sợ nên gởi sang nhà họ Bạc và Kiều bị bán đi. Sau Giác Duyên theo lời Đạo Cô Tam Hạp nhờ người cùng đón vớt Kiều ở sông Tiền Đường.

(141) Cho tạm đây chờ đợi sư huynh
Xin hỉ cúng chuông vàng khánh bạc
Chịu hẩm hút Kiều cùng vãi Giác
Khi kệ kinh nhờ bữa tương dưa

(145) Vãi thấy Kiều thông tuệ vừa ưa
Lần hồi ở nhờ chùa sáu tháng
Số Kiều hãy còn nhiều hoạn nạn
Xui cho người đàn việt sang chơi
Giở đồ xem chuông khánh vừa rồi

(150) Nhìn thấy của Hoạn Thư quả quyết

-sư huynh (141): Vị tăng ni ở các bực trên, tiếng các tăng ni tôn xưng các vị khác. Trong truyện, Kiều gọi Giác Duyên là sư huynh, Giác Duyên nói về thầy của Kiều cũng là sư huynh. – Các tu sĩ Thiên Chúa Giáo có cấp sư huynh (frère = thầy dòng) chuyên về lãnh vực giáo dục – Trong chỗ thân tìn cũng gọi người lớn tuổi hơn và hiểu biết hơn là sư huynh.

-hỉ cúng (142): Hỷ: vui vẻ, việc tốt đẹp, cúng: Dâng lễ vật cho Trời, Phật, thánh thần, tổ tiên, ma quỷ với lời vái và nhang đèn – Quyên góp giúp vào quỹ phước thiện hoặc cơ sở tôn giáo cũng gọi là cúng. Ý nói Kiều bày tỏ sự hoan hỷ khi tặng chuông vàng khánh bạc cho chùa này.

-hẩm hút (143): Hủ hỉ, hôm sớm, ở chung với một người khác cho vui và đỡ đần nhau trong cơn hoạn nạn.

-kệ kinh (144/1): Kệ: Ý tứ kinh Phật đặt theo thể thơ. Kinh: Lời dạy đời, sửa thân của thánh hiền, của các giáo chủ. Kinh kệ: Kinh Phật và bài kệ.

-tương dưa (144/2): Tương: Thức ăn làm bằng gạo, đậu nấu chín ủ cho lên men, trộn với muối, ăn thay mắm. Dưa: Thức ăn dùng trái cây (như cà), lá cây (như cải) ướp với muối cho chua. Tương dưa là từ nói về món ăn của các vị tu khổ hạnh và những người nghèo khó, ăn chay. Một câu hát trong tuồng Sãi Mầm: Ăn đậu dầm tưởng tới thịt heo. Húp tương lỏng nhớ mùi mắm ruốc.

-thông tuệ (145): Thông: Tỏ, tai nghe hiểu rõ ràng, tuệ: Sáng suốt, tinh mẫn. Thông tuệ: Thông minh sáng suốt lắm.

-hoạn nạn (147): Khốn khổ gian nan.

-đàn việt (148): Người mộ đạo có công đức (hay cúng tiền của) với nhà chùa, nghĩa rộng là người hay đi lễ chùa. Câu này có người đọc: Xui cho người đất Việt sang chơi, có lẽ những người này không hiểu từ đàn việt, tưởng rằng người ở đất Việt (địa danh) đến chơi.

(151) Vãi nghe nói ngay gian chưa biết
E lửa thành họa tới cá ao
Thương để lòng biết liệu làm sao
Khuyên Kiều hãy kiếm nơi nương tựa

(155) Chim lánh ná tìm cây mà đậu
Nào hay đâu mắc phải Bạc Bà
Mụ bảo rằng mụ có cháu nhà
Khuyên Kiều hãy kết duyên Bạc Hạnh

(160) Hay đâu nỗi buồm loan nhẹ cánh

-lửa thành họa tới cá ao (151): Theo thành ngữ thành môn thất hỏa (cửa thành bị lửa), ngụ ý do việc không đâu mà bị vạ lây. Bắc sử có câu: Sở quốc vong viên lâm họa viên mộc. Thành môn thất hỏa ương cập trì ngư: Nước Sở mất vượn họa đến cây rừng (vì phải đốn cả cây rừng để tìm vượn đi mất), cửa thành bị lửa họa đến cá trong ao (vì phải múc nước ao để chữa cháy, cá bị chết).

-chim lánh ná… (155): Suy diễn từ thành ngữ “Kinh cung chi điểu”: Con chim sợ cây cung. Con chim bị bắn một lần, sau thấy vật gì cong cong giống cây cung thì sợ hãi. Người bị gặp hoạn nạn, sau gặp việc gì khó khăn dễ nản lòng. Ở đây, chim đã sợ ná, lánh ná, tìm cây đậu nhưng vẫn cứ gặp nạn. Trong truyện viết: Phải cung rày đã sợ làn cây cong.

-Bạc Bà (156): Nhân vật trong truyện Kiều, cũng một phường với Tú Bà, chủ mưu đưa bán Kiều lần thứ hai.

-Bạc Hạnh (159): Nhân vật trong truyện Kiều, giả vờ tỏ vẻ tình cảm với Kiều để lừa bán vào lầu xanh.

-buồm loan (160): Lá buồm trên thuyền chở người đàn bà đẹp hoặc vị quan lớn. Có nghĩa là chiếc thuyền, theo lối hoán dụ, dùng bộ phận để chỉ toàn thể.

(161) Đem Túy Kiều qua bán châu Thai
Cửa lầu xanh cứ nghiệp cũ hoài
Biết mấy thế buôn hoa bán nguyệt

(không nhớ một đoạn dài)

Rồi Từ Hải cử đồ đại sự

(165) Giương hùng binh trực chỉ đế kinh
Tứ vi hùng gia nội triều Minh
Chiếm ải ngoại anh hùng quả quyết
Tay quấy rối đất trời oanh liệt
Những trên đầu nào biết có ai

(170) Rạch sơn hà văn võ chia hai

-châu Thai (161): Tức phủ Thai Châu thuộc tỉnh Triết Giang.

-lầu xanh (162): Chữ Hán là thanh lâu. Trong Cổ nhạc phủ có những câu: Đại lộ khởi thanh lâu (đường lớn dựng lầu xanh). Thanh lâu lâm đại lộ (Lầu xanh thẳng đến con đường lớn). Thanh lâu dùng để chỉ nhà phú quý. Đời Tề, vua Vũ Đế bảo xây dựng lầu cao phía trên sơn xanh, nên chỗ vua ở thời bấy giờ cũng gọi là thanh lâu. Nhưng từ khi Lương Lưu Diếu làm câu thơ: Sương nữ bất thăng sầu, kết thúc hạ thanh lâu (Sương nữ sầu mênh mông, lầu xanh nàng bước xuống) thì 2 chữ thanh lâu chuyên dùng để nói về nhà chứa điếm như sau này.

-buôn hoa bán nguyệt (163): Hoa nguyệt trong cảnh trí thiên nhiên hữu tình là thú phong lưu tao nhã, hoa nguyệt còn tượng trưng cho cái đẹp của nữ nhân, được khen ngợi là hoa nhường nguyệt thẹn, nhưng khi đem hoa nguyệt ấy, cũng như phấn hương tô điểm ra buôn bán thì bị coi là phường bất hảo. Và một người phụ nữ gia giáo đoan chính như Kiều phải xót xa kêu than rằng biết mấy thế!

-Từ Hải (164/1): Nhân vật trong truyện Kiều, quê ở Việt Đông tức là Quảng Đông ngày nay, nổi lên chống triều đình nhà Minh, chiếm 5 huyện phía nam, hùng cứ một phương, chung sống với Kiều, sau bị Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến lừa bảo ra hàng, phục binh bắn chết, chôn xác bên bờ sông. Nguyễn Du đã miêu tả Từ Hải là một bậc anh hùng, tác giả Túy Kiều phú cũng rất ca ngợi Từ, chỉ trách Từ vì nghe lời Kiều mà sự nghiệp tan tành. Cái chết của Từ cũng là nỗi đau lớn và nỗi ân hận lớn của Kiều. Trong dân gian, mỗi khi gặp điều gì quá đỗi ngạc nhiên, dường như không kịp phản ứng, người ta hay nói: “Như Từ Hải chết đứng”.

-cử đồ đại sự (164/2): Cử: Đưa lên, tiến dẫn, nổi dậy; đồ: Đường, mưu kế lo liệu; đại sự: Việc lớn. Từ Hải bắt đầu nổi dậy với những tính toán xây dựng cơ nghiệp lớn lao.

-câu 165: Kéo binh lực mạnh mẽ (hùng binh) tiến thẳng (trực chỉ) đến kinh đô (đế kinh).

-tứ vi (166/1): Bao vây bốn mặt. Trong truyện không có việc Từ Hải kéo quân về đế kinh bao vây triều đình nhà Minh, chỉ có việc chiếm 5 huyện thành phương nam hùng cứ một cõi.

-triều Minh (166/2): Triều đại Trung Hoa từ năm 1368 đến năm 1644, gồm 16 đời vua, sau nhà Nguyên, trước nhà Thanh, do Chu Nguyên Chương đánh đuổi nhà Nguyên và dẹp hết anh hùng cát cứ lập nên, đặt quốc hiệu là Minh, niên hiệu Hồng Vũ, đóng đô ở Kim Lăng (Nam Kinh). Đời thứ 3 là Minh Thành tổ niên hiệu Vĩnh Lạc, dời đô lên Bắc Kinh (Yên Kinh). Ông vua này đánh nhà Hồ chiếm nước ta, gây ra cuộc chiến từ năm 1418 đến năm 1427. Gia Tĩnh là niên hiệu vua Chu Hậu Thông miếu hiệu Thế Tông từ năm 1522 đến năm 1566. Vua cuối cùng là Chu Do Kiểm niên hiệu Sùng Trinh miếu hiệu Tư Tông, tự vẫn khi Lý Tự Thành nổi dậy chiếm kinh đô. Ở Nam Kinh triều Minh còn kéo dài 6 đời vương nữa đến năm 1662 mới chấm dứt hẳn.

-ải ngoại (167/1): Ải: Chỗ đất hiểm trở chật hẹp. Ải ngoại: Nơi gần biên giới.

-anh hùng (167/2): Anh là vua loài hoa, hùng là vua loài thú. Anh hùng là người hào kiệt xuất chúng.

-oanh liệt (168): Oanh: Tiếng ầm ầm, liệt: Mạnh bạo. Oanh liệt, do từ oanh oanh liệt liệt: Công nghiệp hiển hách lừng lẫy, khí thế mạnh bạo ghê gớm, ai ai cũng phải sợ.

-sơn hà (170/1): Núi sông, từ dùng chỉ đất nước, quốc gia.

-văn võ (170/2): Văn: Việc cai trị đất nước về mặt hành chánh, võ: Việc trị an đất nước về mặt binh bị.

(171) Cõi nam thảy năm tòa đạp đổ
Bởi nghe thiếp đêm khuyên ngày dỗ
Trung kia tròn hiếu nọ đặng chăng
Nghe lời Kiều Từ thất cơ binh

(175) Lẽ đâu phải lầm tay hạ sĩ
Gái quốc sắc khiến anh hùng phải lụy
Lâm trận đồ hà úy tử sinh
Bắc hướng Hồ Tôn Hiến phục binh
Xạ tử tại Lâm Tri thử xứ

(180) Anh hùng tử khí hùng nào tử

-cõi nam năm tòa (171): Thu phục được 5 huyện thành vùng Miền Nam.

-đêm khuyên ngày dỗ (172): Ngôn ngữ rất dân gian, tựa như ca dao: Rộng đồng thì gió thổi luôn. Trai khôn gái dỗ lâu buồn cũng xiêu. Lúc chúng tôi còn nhỏ, bà và mẹ không cho con trai ăn cơm bằng dĩa, bảo rằng: Ăn dĩa gái dỗ = Ăn cơm bằng dĩa sau này sẽ bị con gái dụ dỗ.

-câu 173: Trong truyện, khi toan tính việc đầu hàng, Kiều nghĩ chuyện riêng tư trước rồi mới chuyện công, nhưng khi bàn với Từ Hải thì phải nói việc công trước cho hợp lẽ, đó là tác giả miêu tả là đúng với tâm lý Kiều, đánh vào tình cảm của Từ mới mong được thuận ý, cũng là tâm lý phụ nữ nói chung. Câu này tác giả Túy Kiều Phú cũng theo nội dung ấy: Tròn trung thì đặng hiếu.

-thất cơ binh (174): Mất, lỡ cơ nghi binh bị.

-hạ sĩ (175): Chức quan bậc dưới. Đây là cách gọi Hồ Tôn Hiến theo lối khinh thường của tác giả Túy Kiều Phú – Trong quân đội ngày nay hạ sĩ chỉ trên binh nhì và binh nhất, dưới hạ sĩ nhất, giữ chức vụ từ tổ trưởng đến tiểu đội phó. Thời Pháp thuộc gọi là ông Cai (khác với Cai cơ thời nhà Nguyễn hoặc Cai tổng trong Nam).

-câu 175: Thật ra Hồ đâu phải là “tay hạ sĩ”, Hồ đã dùng mưu mẹo và giết được Từ. Từ vì nghe lời người vợ yêu quý, miệng thế gian nói là nghe lời đàn bà, mà để cho trễ tràng việc phòng thủ, thất lỡ cơ binh, vong mạng, thì ai là hạ sĩ đây, sao ta lại chê Hồ? Bởi tác giả theo quan niệm người làm quan, cầm binh phải là bậc quân tử, có tinh thần thượng võ, mới đáng kính phục, còn tráo trở như vậy là hèn! Thế nhưng, trong lịch sử kẻ tiểu nhân tráo trở thường dễ bề chiến thắng. Trong đoạn trích của Thuần Phong đăng trên tạp chí Bách Khoa (bài đã dẫn) -sẽ ghi tắt TP/BK- là: Dễ đâu Hải lầm tay hạ sĩ?

-quốc sắc (176/1): Sắc đẹp nhất nước. Quốc sắc thiên hương: Sắc nước hương trời, chỉ người tuyệt đẹp. Quốc sắc thiên tài: Sắc nước, chỉ người đàn bà đẹp, tài trời, chỉ người đàn ông giỏi.

-lụy (176/2): Bị tổn hại khốn khổ…

-câu 177: Lâm: đến, đương lúc. Trận đồ: Ở đây có nghĩa như trận mạc, trận chiến, trận tiền, nghĩa là nơi đánh nhau. Hà: sao, làm sao. Úy: sợ. Ý nói kẻ anh hùng khi vào trận chiến rồi, há sợ điều gì sao, đâu kể chi chuyện sống chết, tất cả coi là lẽ thường – Theo TP/BK thì: Lâm trận đồ hà úy tử tham sinh. Úy tử tham sinh: sợ chết tham sống. Đoạn này suốt mấy câu dùng toàn chữ Hán.

-câu 178: Hồ Tôn Hiến phục binh ở hướng Bắc.

-câu 179: Bắn chết tại Lâm Tri là chỗ này.

-câu 180: Anh hùng tuy chết nhưng khí hùng không chết, còn mãi mãi.

(181) Trơ như trồng nhứt trụ kình thiên
Kiều than Từ chi xiết lụy liên
Bởi nghe thiếp nên ra thế ấy
Từ vương ơi! Duyên tưởng vậy nào hay đâu vậy

(185) Tấm lòng này phải quấy có trời hay
Duyên thắm duyên chưa bấy nhiêu ngày
Nghĩa nặng nghĩa thiếp còn mang ơn đó
Tiếc là tiếc cho trăm trận ra oai võ
Nay chẳng khác như ngọn đèn xao trước gió

(190) Uổng là uổng cho năm năm công khó

-câu 181: Kình: Cứng mạnh. Trơ trơ như một cột trụ cứng mạnh đứng giữa trời. Theo TP/BK câu này: Vững như trồng, như trụ kình thiên.

-câu 162: Theo TP/BK: Kiều than từ không xiết lụy liên. Lụy = Lệ: Nước mắt, liên: Thương tiếc, thương hại. Lụy liên: Khóc lóc thảm thiết.

-câu 184: Khi nói, thêm lời than gọi: Từ vương ơi!, biểu lộ sự cảm động tha thiết.

-phải quấy (185): TP/BK câu này là: Tấm lòng này phải quấy ông trời hay. Quấy: Sai, trái. Tấm lòng này phải hay trái có trời biết cho. Ca dao: Vai mang túi bạc kè kè. Nói quấy nói quá nẫu nghe rầm rầm. Nói quấy: Nói sai, nói quá: nói ẩu. Nẫu: Người ta, thiên hạ.

-câu 186: TP/BK là: Duyên thắm duyên chưa mấy mươi ngày, nghe không hợp, sao chỉ mấy mươi ngày?

-câu 188: TP/BK: Tiếc là tiếc trăm trận oai võ.

-câu 189: Sao chỉ là ngọn đèn xao trước gió? Ngọn đèn tắt mất giữa cơn gió mạnh đấy chứ! Bản TP/BK là: Nay chẳng khác như ngọn đèn xao dưới gió. Cũng không khác.

-câu 190: TP/BK: Uổng là uổng năm năm công khó.

(191) Chừ tỉ như giọt nước đổ dòng sông
Lời khuyên chồng té ra lẽ hại chồng
Còn mặt mũi nào đứng trong vòng trời đất
Từ nghe mấy lời than vừa dứt

(195) Day mặt nhìn giọt lệ ngã xiêu
Té ra tam quân bay thua giọng nàng Kiều
Xô chẳng rúng nàng than mà ngã
Tiêu dắng dỏi đêm thanh Cai Hạ
Tử đệ sầu rời rã bát thiên

(200) Khiến Ngu Cơ tự vận huỳnh tuyền

-câu 191: TP/BK: Chừ giả như giọt nước chảy dòng sông. Nghe không thuận bằng, đem một giọt nước đổ xuống sông mới thấy đó là việc vô ích, uổng công, chứ giọt nước chảy dòng sông là việc đương nhiên, thường tình, và mỗi giọt nước đều có giá trị.

-câu 192: TP/BK: Lời tôi khuyên chồng té ra lẽ tôi gạt chồng. Té ra: Hóa ra

-câu 193: TP/BK: Mặt mũi nào tôi còn đứng trong vòng trời đất.

-cây 194, 195: Nguyễn Du viết: Lạ thay oan khí tương triền. Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra. Tác giả Túy Kiều Phú thêm những động tác: Từ nghe lời than, day mặt nhìn Kiều, nhỏ giọt lệ rồi mới xiêu ngã xuống, người bình dân nghe cảm động lắm.

-câu 196, 197: Lời Hồ Tôn Hiến mắng ba quân hay lời chung của dân gian?

-tiêu (198/1): Nhạc khí bằng ống trúc dài độ 4cm có một hàng lỗ tròn nhỏ, trống hai đầu, miệng ống được vạt khuyết hình bán nguyệt bằng nửa lỗ, vành mỏng để kê môi vào thổi.

-dắng dỏi (198/2): Lảnh lót, thánh thót, réo rắt.

-Cai Hạ (198/3): Địa danh thuộc nước Trung Hoa, trong vùng Ngũ Lý Sơn. Tại đây khi quân của Hạng Võ bị quân Hán bao vây Trương Lương đã dùng kế thổi khúc tiêu gợi nhớ quê nhà khiến cho tướng sĩ của Hạng Võ buồn rầu bỏ trốn cả, cuối cùng Hạng Võ bị thất bại phải tự tử.

-tử đệ (199/1): Con em, đàn em, kẻ thuộc quyền, binh sĩ trong đơn vị.

-bát thiên (199/2): Tám ngàn quân của Hạng Võ, bỏ trốn hầu hết, hàng ngũ tan rã, chỉ còn mấy trăm.

-Ngu Cơ (200/1): Con của Ngu Công, vợ Hạng Võ, một trang tuyệt thế giai nhân và tiết liệt Trung Hoa trong thời Hán Sở tranh hùng. Nàng theo chồng từ Cối Kê đến Cai Hạ. Khi Hạng Võ lầm mưu bị bao vây ở Cửu Lý sơn, 8.000 tử đệ tan rã, để cho chồng được rảnh tay về Giang Đông, Ngu Cơ đã dùng kiếm báu của chồng tự tử bên sông Ô Giang. Đời sau lập miếu thờ và xưng tụng đức tiết liệt của Ngu Cơ. Tương truyền trên mộ của Ngu Cơ mọc lên một loại cỏ màu xám, rất đẹp, người đời gọi là “ngu mỹ nhân thảo’ (cỏ người đẹp họ Ngu).

-huỳnh tuyền (200/2): Suối vàng. Chốn âm phủ. Huỳnh = Hoàng: Vàng. Nghĩa như cửu tuyền (chín suối).

(201) Xui Hạng Võ đầu trao đình trưởng
Gái quốc sắc như cơn sóng lượn
Trai anh hùng khác thể thuyền cây
Hồng nhan mỏng mảnh bấy nhiêu ngày

(205) Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Hồ đang lúc say không kịp nghĩ
Ép Kiều đòi thổ lộ trăng hoa
Kiều hẵn hòi cượng lý thưa qua
Té ra lẽ tôi giết chồng lại lấy chồng sao phải

(210) Hồ tỉnh giấc biết mình làm phi ngãi

-Hạng Võ (201/1): Tên là Hạng Tịch, người ở Hạ Tượng thuộc đất Cối Kê, Trung Quốc, có chí lớn và giỏi võ nghệ, sức mạnh muôn người. Sau cùng Lưu Bang đánh diệt nhà Tần, lấy tôn hiệu Tây Sở Bá Vương, rồi đối địch với Lưu Bang gây ra cuộc Hán Sở tranh hùng. Sau mất đế đô Bình Thành, bị quân Hán (Lưu Bang) bao vây ở Cửu Lý sơn. Vợ là Ngu Cơ tự sát để Hạng Võ rảnh tay phục nghiệp, nhưng Hạng Võ đã đi vào tử lộ. Lúc đến bến Ô Giang được đình trưởng mời qua sông, nhưng nghĩ mình là bậc anh hùng, sống thêm tủi nhục với thiên hạ, nên dã dùng gươm tự sát, bảo rằng tặng đầu cho đình trưởng đem dâng nộp quân Hán lấy thưởng. Lúc ấy Hạng 41 tuổi. Nhiều văn thơ viết về Hạng Võ. Hai câu sau đây thật là sâu sắc: Nhất bại hữu thiên vong Trạch Tả. Trùng lai vô địa đáo Giang Đông (Một lần thất bại này, có trời mới biết, mất Trạch Tả. Lần thứ hai trở lại không có đất đến Giang Đông nữa). Nhất bại hữu thiên, xưa nay trong lịch sử riêng gì Hạng Võ! Cách đối nhau trong thơ cũng thật chỉnh.

-Đình trưởng (201/2): Đời Hán cứ 10 dặm đất thì gọi là một đình, đặt người đình trưởng để ngăn giữ trộm cướp.

-câu 202 ,203: Trong bản TP/BK là: Cơn quốc sắc như con sóng lượn. Mặt anh hùng như chiếc thuyền cây.

-hồng nhan (204): Nhan: dáng mặt, sắc mặt, góc trán, màu sắc ở giữa khoảng mắt và lông mày. Hồng nhan: Má hồng = Người con gái đẹp. Thơ Lý Bạch, bài Trường Can hành: …Thập tứ vi quân phụ. Tu nhan vị thường khai… (Khi mười bốn tuổi thiếp về làm vợ chàng, mặt thẹn thùng chưa từng hé mở…)

-câu 205: Nhất phiến: Một tấm, thiên cổ: Ngàn xưa. Một tấm tài tình tự ngàn xưa đã là điều lụy – Cái lụy của một tấm tài tình là điều tự ngàn xưa.

-trăng hoa (207): Chỉ việc trai gái yêu nhau, nhưng thường hiểu với nghĩa không đẹp, như ở câu này là Hồ Tổng đốc đòi hỏi Kiều về nhu cầu nhục thể. Tất nhiên là đổ thừa vì say quá chén.

-cượng lý (208): Cượng = Cưỡng: không chịu khuất. Cượng lý: Dùng lý lẽ chống lạ không chịu vâng lời.

-phi ngãi (210): Phi nghĩa, trái với điều nghĩa, không đúng lẽ phải.

(211) Đem Túy Kiều tra cán cho thổ quan
Thuyền đưa nàng vừa tới Tiền Đàng
Bốn bề thấy mênh mông đại hải
Kiều mới hỏi, quân chèo bẩm lại

(215) Sông Tiền Đường là tại chốn ni
Kiều vái hồn Đạm thị cố tri
Hẹn hò với trước sao sau vậy
Vừa dứt tiếng giảo mình chốn ấy
Tiên đưa Kiều vào chốn giang tân

(không nhớ một đoạn)

(220) Giữ lời dặn Đạo Cô Tam Hạp

-tra cán (211/1): Ở đây có nghĩa là gán ép gả Kiều cho thổ quan.

-thổ quan (211/2): Ông quan người thổ dân cai trị tại địa phương các sắc tộc thiểu số, không thuyên chuyển đi nơi khác. Khác với lưu quan là quan do triều đình bổ đến, luân chuyển cai trị nhiều địa phương. Trong truyện còn dùng từ thổ tù: Tù trưởng ở các xứ thổ dân.

-đại hải (212): Biển lớn. Cảnh sóng nước Tiền Đường khiến mọi người có cảm tưởng là nơi mênh mông đại hải (xem chú thích 30).

-cố tri (216): Cố: Cũ, tri: Biết. Cố tri: Bạn cũ.

-giang tân (219): Bờ sông.

-Đạo cô Tam Hạp (220): Đạo cô: Người đàn bà tu Đạo Giáo hay Phật Giáo. Tam Hạp, nhân vật trong truyện Kiều, một tu sĩ người tiên tri đã báo cho Giác Duyên biết để đón vớt khi Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường.

(221) Năm tháng đến quy kỳ giải giáp
Kết thuyền chèo hai chiếc giăng sông
Vớt được Kiều nhờ sức ngư ông
Rồi chở thẳng lên nơi am tự

(225) Từ Kim Trọng quy tang hồi xứ
Mấy năm trường nay mới sang đây
Thuở xưa kia nhà cửa chốn này
Nay dời đổi nơi nào chẳng biết

(229) Hỏi lân lý mới tường hơn thiệt…

(không nhớ cả phần tiếp theo đến hết truyện)

-quy kỳ giải giáp (221): Đã đến kỳ giải nạn cho Kiều.

-am tự (224): Am: Nhà tranh nhỏ để thờ Phật (thảo am). Tự: chùa, nhà quan, nơi thầy tu ở. Am tự: ngôi nhà nhỏ, đơn sơ thờ Phật.

-quy tang (225/1): Về nhà chịu tang.

-hồi xứ (225/2): Về xứ, về quê.

-lân lý (229): Lân: Ở gần, hàng xóm, 5 nhà ở gần nhau gọi là một lân, lý: Một dặm, chỗ ở, một làng, một xóm. Lân lý: người láng giềng ở gần và trong xóm làng. Tục ngữ: Nhất cận thân, nhì cận lân (Thân: người bà con – họ hàng thân thích)
*

Theo Thuần Phong thì Túy Kiều phú dài chừng 500 câu. Tôi chỉ nhớ được hơn 200 câu, chưa đầy một nửa, chỉ hơn 2/5. Thật đáng tiếc, bây giờ muốn tìm chắc phải lặn lội vô Nam, họa may có người già còn nhớ, còn ở đây hỏi han cùng khắp không tìm được ai, đành tạm thời chào thua, tạm thời bằng lòng bấy nhiêu vậy.

Mà không riêng việc này! Đời tôi đã đánh mất quá nhiều thứ, tuy có lúc chưa cầm trong tay, nhưng đã sát bên tầm tay, có thể nắm bắt dễ dàng mà bỏ qua! Xin mượn lời của tín đồ Thiên Chúa mà xưng tội rằng: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, mọi đàng” (Méa culpa! Méa maxima culpa!).

–==0==–

Tuy Hòa, tiết Lập Thu năm Mậu Tý

Tháng 8 năm 2008

THƯ MỤC THAM KHẢO:

-ĐÀO DUY ANH * (1957) Hán Việt Từ Điển – NXB Trường Thi SG

-ĐÀO DUY ANH * (1975) Từ điển truyện Kiều – NXB Khoa Học Xã Hội

-HẠ NGỌC ANH * (1969) Non Nước Quảng Nam – Tác giả XB tại Quảng Nam

-NGUYỄN ĐÌNH CẦM – TRẦN SĨ * (1938) Địa dư tỉnh Phú Yên – Nhà in Quy Nhơn

-HÙYNH TỊNH CỦA * (1895) Đại Nam Quấc Âm Tự Vị – Nhà in Văn Hữu SG in lai

-CAO XUÂN DỤC – TRẦN XÁNG – LƯU ĐƯC XỨNG * (1966) Đại Nam nhất thống chí quyển 10, tỉnh Phú Yên – Nguyễn Toại dịch – Nha Văn Hóa Bộ Giáo Dục SG

-NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU * (1997) Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn: Phú Yên – NXB TP HCM

-LÊ QUÝ ĐÔN * (1964) Phủ Biên Tạp Lục – Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tĩnh dịch – NXB KH

-LÊ VĂN ĐỨC * (1970) Việt Nam Tự Điển – Nhà sách Khai Trí SG

-TRẦN SĨ HUỆ * (2007) Phú Yên: Thời Khẩn Hoang Lập Làng – NXB Nông Nghiệp

-BỬU KẾ * (1968) Tầm Nguyên Từ Điển – Nhà sách Khai Trí SG

-A. LABORDE * (1929) Tỉnh Phú Yên (La province de Phu Yen) – BAVH số 4, tam cá nguyệt thứ tư nưm 1929

-NGUYỄN HIẾN LÊ * (1997) Sử Trung Quốc – NXB Văn Hóa

-THUẦN PHONG * (1965) Bài Túy Kiều với đại chúng, mục Túy Kiều ở Đồng Nai – Tạp chí Bách KHOA THỜI ĐẠI SG số 211 ngày 15/10/1965

-NGUYỄN ĐÌNH TƯ * (1966) Non Nước Phú Yên – NXB Tiền Giang SG

-TRỊNH VÂN THANH * (2008) Thành Ngữ-Điển Tích-Danh Nhân Từ Điển – NXB Văn Học

-LẠC THIỆN * (1990) Tự Điển Hán Việt Thông Dụng – Trường Đại Học Tổng Hợp TP SG

-PHẠM TRUNG VIỆT – HUỲNH MINH * (2003) Non Nước Xứ Quảng Tân Biên – NXB Thanh Niên

-NGUYỄN VĂN XUÂN * (1969) Phong Trào Duy Tân – NXB Lá Bối SG

-Tạp chí BÁCH KHOA THỜI ĐẠI SG số 209 ngày 15/9/1965

-Tạp chí TRÌNH BẦY SG số 5 ngày 1/10/1970

-Và một số tư liệu khác…

Share this post