Hai Lời Khen, Một Tiếng Chê Dành Cho Tác Giả “Gọng Kìm Lịch Sử” – Minh Võ

Hai Lời Khen, Một Tiếng Chê Dành Cho Tác Giả “Gọng Kìm Lịch Sử” – Minh Võ

Kể từ 1975, tại các thư viện Hoa Kỳ thấy xuất hiện rất nhiều hồi ký của các nhân vật quan trọng Việt, Mỹ, viết về vấn đề Việt Nam. Trong số những tác giả, về phía Mỹ, nổi bật là các Tổng thống Richard Nixon, Lyndon Johnson, các Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Mc Namara, Ngoại Trưởng Kissinger, các Tướng Westmoreland , Maxwell Taylor, Giám D7ốc Trung Ương Tình Báo William E. Colby, Đại Sứ Frederick Nolting và nhất là Đại Sứ Henry Cabot Lodge với cuốn: “The Storm Has Many Eyes”.

Về phía Việt Nam, không kể Cựu Hoàng Bảo Đại với cuốn Con Rồng Việt Nam (Le Dragon d’Annam), và rất nhiều tác giả các hồi ký trong tù của Cộng Sản, thì có các tướng: Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Đôn… và sau hết, nhưng quan trọng nhất, là cựu Đại Sứ Bùi Diễm với “In The Jaws of History” viết chung với Channoff, xuất bản năm 1987 và vừa dịch ra tiếng Việt là “Gọng Kìm Lịch Sử”, do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, đã được giới thiệu ra mắt tại quận Cam ngày 9/12/2000.

(Xin mở dấu ngoặc để nói rõ sáu vị cuối cùng từ Tướng Đỗ Mậu đến cựu Đại Sứ Bùi Diễm đều là những người chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm và hoặc có dính líu vào việc lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa).

Ngoài những tác giả viết hồi ký trong tù Cộng Sản ra, tất cả những tác giả Việt cũng như Mỹ nêu trên đều là những tác giả của loại hồi ký chính trị. Vì họ đều là những người làm chính trị, lại từng nắm giữ những vai trò quan trọng trên chính trường, nên qua hồi ký của họ, độc giả sẽ thấy được phần nào tình hình thời cuộc trong một giai đoạn nào đó. Dĩ nhiên, mỗi người có một hoàn cảnh riêng, và cái nhìn riêng về thời cuộc. Ví dụ, 6 người chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm và làm đảo chánh, thì động cơ chính của của họ, là biện hộ cho hành động của họ mà ngày nay họ đã thấy rõ là bị nhiều người lên án. Nhưng đọc nhiều người, rồi đúc kết và gạt ra ngoài những nhận định chủ quan và đối chiếu-so sánh các quan điểm của nhiều người, thì cũng có thể có một nhận định khá chính xác, tuy không đầy đủ của tình hình trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Tác giả càng có kiến thức rộng và càng thành thực, thì độc giả càng có được một bức tranh chính xác về thời cuộc.

Chúng tôi vừa nói trong số 6 người viết hồi ký nhằm biện hộ cho thái độ hay hành động chống cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và nhúng tay vào việc lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa, quan trong nhất là cựu Đại Sứ Bùi Diễm… vì chẳng những tác phẩm của ông được viết bằng hai thứ tiếng và bề dầy của nguyên tác bằng Anh ngữ cũng hơn hẳn các hồi ký của Tướng Kỳ, tướng Đôn. Còn tuy bản dịch Việt ngữ không “vĩ đại” như cuốn “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của Tướng Đỗ Mậu, dày đến 1200 trang, nhưng đã được viết một cách hết sức cẩn thận bằng một giọng văn sáng sủa, lưu loát đầy cân nhắc, chừng mực và chững chạc, chứ không hằn học, hậm hực như giọng văn của tướng “văn hóa xã hội” Đỗ Mậu.

Thân thế tác giả

Bui_Diem
Ông Bùi Diễm

Qua 35 chương của nguyên tác, hay 37 chương của bản dịch, kèm theo khoảng ba chục tấm tình xen vào giữa sách, tác giả đã cho biết rõ về thân thế, sự nghiệp cao sang và ảnh hưởng sâu rộng của đời hoạt động chính trị của ông “có tính quyết định đến số phận nhân dân Việt Nam”.

Dòng họ ông đã từng có người làm qua đại thần trong triều.

Chính ông, là con học giả phó bảng Bùi Kỷ. Ông còn là cháu ruột của sử gia Thủ Tướng Trần Trọng Kim. Về hoạt động chính trị và cách mạng, ngay từ khi còn đi học ông đã có dịp “gặp” ông Hồ Chí Minh và chứng kiến tài đóng kịch giỏi của ông này, và mặc dù còn ít tuổi như vậy, mà đã thấy được ông Hồ sau này sẽ là người “không thiếu thủ đoạn chính trị” (bản Việt ngữ trang 68). Ông tuyên thệ gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng rất sớm (Bác Sĩ Phan Huy Quát lúc ấy mới chỉ là cảm tình viên) và còn được cố Đảng Trưởng Trương Tử Anh tin dùng ngay và giao cho nhiệm vụ liên lạc giữa ông và Thủ Tướng Trần Trọng Kim. Ông cũng sớm làm quen với Bác Sĩ Phan Huy Quát, ngay từ khi ông ông này là đổng lý văn phòng cho chú ông. Cho nên khi Bác Sĩ Quát liên tiếp 4 lần giữ những chức bộ trưởng trong thời Quốc Trưởng Bảo Đại, thì ông đã trở nên quen thân, đến độ, khi nước nhà bị chia đôi vào năm 1954, chính ông đã tìm gặp Quốc Trưởng Bảo Đại để “lobby” cho Bác Sĩ Quát thay Thủ Tướng Bửu Lộc, mặc dù biết tài của ông bộ trưởng Bộ Quốc Phòng (2 lần) lại không chọn ông Quát mà vì “tình riêng” (bạn học cũ) với ông Ngô Đình Luyện mà đi năn nỉ ông Ngô Đình Diệm (bản Anh ngữ, trang 83-84).

Khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị một số nhà trí thức trong nhóm Caravelle chống đối, thì chính ông Bùi Diễm là người đã giúp soạn thảo bản tuyên bố (bản tiếng Anh, trang 94) gọi là “Bản Tuyên Ngôn Caravelle (the Caravelle Mannifesto).

Hai lời khen: Thành thực và can đảm

Nhiều người đã ca tụng tác phẩm của ông Bùi Diễm trên báo, trên đài. Và tôi cũng đã được nghe những lời tán thưởng của Đỗ Văn trên đài BBC cách đây hơn một thập kỷ.

Riêng phần tôi, sau khi đọc hết cuốn sách, tôi nhận thấy có hai ưu điểm, xin được nêu ra ở đây. Trước hết, là sự thành thật của một nhà ngoại giao chính cống. Người ta thường nói: Mồm mép nhà ngoại giao, để ngụ ý thiếu thành thực. Nhưng có lẽ là ngoại lệ. Cựu Đại Sứ Bùi Diễm đã tỏ ra thành thực trong khi ông viết cuốn “Gọng Kềm Lịch Sử”. Hay ít nhất, ông cũng đã làm cho người đọc có cảm tưởng như thế. Tôi chỉ đan cử một vài ví dụ chợt thấy trong khi đọc nguyên văn bằng Anh ngữ, mà ông cùng viết với Chanoff, xuất bản năm 1987.

Ông đã thành thực ghi rằng, ông có rất nhiều bạn Mỹ, và ông nêu ra một số tên, trong đó, có mấy nhà báo nổi tiếng đoạt giải về báo chí như: Neil Sheehan, David Halberstam, Malcolm Brown… trong số những nhà báo mà cựu Tổng Thống Nixon đã quy cho trách nhiệm làm Mỹ thất trận ở Việt Nam, và có lẽ khi Võ Nguyên Giáp nói báo chí Mỹ đã giúp ông ta một tay đắc lực, thì cũng có ý nói những nhà báo vừa kể (trang 101).

Ông cũng không ngần ngại nói rõ liên hệ và sự cấu kết giữa ông và Phillipp Rufus là bộ hạ của Đại Sứ Cabot Lodge trong khi đang xảy ra cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963, vì Rufus luôn kề cận với Tướng Lê Văn Kim là người phụ trách về chính trị trong nhóm tướng lãnh làm đảo chánh, cũng y hệt như Lucien Conein luôn kề cận Tướng Đôn là anh vợ của Tướng Lê Văn Kim (trang 101-102). Điều đó, cho thấy ông Bùi Diễm rất tích cực trong cuộc đảo chánh, mặc dù không hành động công khai.

Ông cũng không úp mở viết rõ: Người Mỹ đã đưa những đơn vị (Thủy Quân Lục Chiến) đầu tiên vào Việt Nam tại Đà Nẵng ngay ít ngày sau khi Bác Sĩ Phan Huy Quát nhận chức thủ tướng từ tay Tướng Nguyễn Khánh, để mở đầu cho cuộc Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam. Và cũng không che dấu việc ông là bộ trưởng Phủ Thủ Tướng, nghĩa là cánh tay phải (hay tay trong) của Bác Sĩ Phan Huy Quát vào chính lúc đó. Ngay ở những chương đầu cuốn hồi ký ông Bùi Diễm cũng nói rõ, ông đã đích thân gặp Cựu Hoàng Bảo Đại ở Pháp trong Hội Nghị Geneve đang họp để vận động cho Bác Sĩ Phan Huy Quát thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc. Nhưng Bảo Đại đã chọn ông Ngô Đình Diệm. Rồi có lúc ông còn “khoe” là chính ông đã thảo bản tuyên ngôn của nhóm Caravelle. Điều này, thì ông Trần Anh Tuấn, trong số báo Thế Kỷ 21 cho là khoe khoang không đúng. Nhưng riêng người viết, lại thấy rất có thể đúng, vì dầu sao ông cũng rất thân cận với Bác Sĩ Phan Huy Quát, nhưng ông thảo với sự hướng dẫn của ai, thì ông không nói.

Ông đã thành thực ghi nhận là Bác Sĩ Phan Huy Quát (chắc là nghe lời “quân sư”, bộ trưởng Phủ Thủ Tướng của mình) đã “miễn cưỡng thỏa thuận” cho Mỹ đem quân tác chiến đầu tiên vào Việt Nam (Đà Nẵng). (Bản tiếng Anh, trang 141, và bản Việt trang 237). Mặc dù trước và sau khi viết những hàng “thú nhận” đó, ông đã dài dòng thanh minh và cho thấy ông và Bác Sĩ Phan Huy Quát đã bị kẹt cứng, nên chỉ làm vì bất đắc dĩ. Có lẽ ông đặt tên cuốn hồi ký “Gọng Kìm” là đã nói lên cái thế kẹt của các ông trong trường hợp này chăng? Nhưng “kẹt” cứng như vậy, mà còn cố vùng vẫy được để múa bút cho ra cuốn hồi ký đồ sộ như vậy, thì thật là can đảm.

Nhưng ông Ngô Đình Diệm, ông Ngô Đình Nhu đã bị sát hại, vì không khuất phục trước bạo lực, và không chịu nghe lời khuyên của Cabot Lodge đến Tòa Đại Sứ lánh mặt. Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, năm vị tướng thà tự kết liễu đời mình, chứ không chịu hàng địch theo lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, và Phan Huy Quát chết rũ tù do chế độ tàn bạo của Cộng Sản Việt Nam cũng đến phải chào thua…

Ông cũng thành thực nói lên nhận định của ông đối với cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ban đầu ông bảo “ông Diệm là người sắc sảo, tinh khôn (trang 87 ông dùng tính từ astute, có nghĩa tốt mà cũng có nghĩa xấu. Đây là một cách chơi chữ sắc sảo tinh khôn, vì nó còn có nghĩa là “láu cá, khôn vặt, ranh mãnh”). Nhưng rồi, ông chê là “độc tài, gia đình trị và đàn áp Phật Giáo”, nhưng lại cũng thành thực ghi rằng lỗi nặng hơn là Giám Mục Ngô Đình Thục và Cố Vấn Ngô Đình Nhu mà ông gán cho tính từ “nham hiểm” (machievellian). Do những gì ông tường thuật lại vụ Phật Giáo, người đọc sẽ thấy luận điệu của ông giống như luận điệu của những nhà báo Mỹ thiên Cộng và/hoặc sẵn ác cảm với “nhà Ngô”, hoặc bị chi phối bởi những nhà ngoại giao của đảng Dân Chủ lúc ấy là các ông Averell Harriman, Roger Hilsman, George Ball, và 2 ông H.H. làm thành một nhóm mệnh danh là nhóm “Diệm must go”, quyết triệt hạ ông Diệm bằng mọi cách. Trong cuốn: Ngô Đình Diệm, Lời Khen, Tiếng Chê, chúng tôi đã nói kỹ về hai nhân vật này và mấy nhà báo mà ông Bùi Diễm quen thân và có nhắc đến như chúng tôi đã nói ở trên.

Sự thành thực cuối cùng này, cũng cho ta thấy tác giả “Gọng Kìm Lịch Sử” lại một lần nữa chứng tỏ ông cực kỳ can đảm, vì (mặc dù bị kẹt cứng trong gọng kìm) vẫn dám lội ngược dòng lịch sử. Vì cho đến nay, vụ Phật Giáo năm 1963, đã được không biết bao nhiêu nhân vật lỗi lạc Hoa Kỳ và các nhà báo, nhà viết sử nổi danh lên tiếng quả quyết, đó chỉ là một màn ma mớp chính trị của những kẻ muốn hãm hại anh em của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, hoặc của những kẻ đã mắc mưu Cộng Sản, cố tình làm suy yếu hàng ngũ Quốc Gia. Hãy chỉ sơ qua vài tên tuổi và sự việc. Trước hết, là cố Tổng Thống Nixon. Rồi đến Cựu Hoàng Bảo Đại. Rồi một lô nhà báo nỗi tiếng của Mỹ, dĩ nhiên không thân Cộng, như Margueritte Higgins với “Our vietnam nightmare”, Allen Hammer với “A Death In November”,… và gần đây nhất, là Giáo Sư Francis Xavier, Úc với tác phẩm: “Lodge in Vietnam”, Semour M. Herech với “The Dark Side of Camelot” (ông này không nhấn mạnh vấn đề Phật Giáo, nhưng đã đưa ra ánh sáng những mưu tính thiếu đạo đức của chính quyền, thậm chí của chính Tổng Thống Kennedy, mà dân Mỹ qua báo chí đã có thời coi như thần tượng của họ. Nhưng, khi người ta đọc đã thấy chính quyền Kennedy quyết tâm tìm mọi cách để hạ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì cũng thấy ngay biến cố Phật Giáo không còn mang tính thuần túy tôn giáo nữa; mà đã là chính trị, lại nhằm lật đổ chính phủ hợp hiến-hợp pháp, thì đó là làm loạn, và chính quyền có lý do chính đáng để có những biện pháp mạnh, để dẹp loạn). Đáng kể hơn nữa, là báo cáo của phái đoàn Liên Hiệp Quốc tới Việt Nam điều tra về những lời tố cáo chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm “đàn áp, kỳ thị Phật Giáo”. Phái đoàn này đã phúc trình rằng: Không có đàn áp hay kỳ thị. Nhưng, bản phúc trình cả trăm trang này đang được dịch ra tiếng Việt, đã bị ông Cabot Lodge “dàn xếp” với trưởng phái đoàn Liên Hiệp Quốc, để ém nhẹm đi, không đưa ra thảo luận tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Theo như con gái của vị trưởng đoàn, sau này, đã thổ lộ với bà Claire).

Sau cả ngần ấy tài liệu, mà nay ông Bùi Diễm vẫn còn cố tình đi ngược dòng lịch sử, để kết tội Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì lại một lần nữa, chứng tỏ ông Diễm vô cùng “can đảm”.

Tóm lại, chúng tôi thấy qua quyển hồi ký “Gọng Kìm Lịch Sử” (In The Jaws of History) người ta thấy ông Bùi Diễm là người khá “thành thực” và qua sự thành thực đó, ta thấy được một số chuyện, khiến phải thêm rằng: ông cũng rất “can đảm”.

Một tiếng chê

Đã đành viết hồi ký, thì không thể tránh được cái tôi đáng ghét. Ông nào thì cũng thế thôi. Điều đó, chẳng đáng trách. Nhưng đã có thời từng là nhà cách mạng (Đại Việt ban đầu là một đảng cách mạng, sau mới trở thành “Đại Việt Quan Lại”) lại từng rất thân với cố Đảng Trưởng Trương Tử Anh, mà ngoài cái tôi ra ông không nêu ra những thành tích chống Pháp, chống Cộng của lãnh tụ của ông cũng như của biết bao đồng chí khác (những thành tích này, cố nhiên phải nhiều nên Đại Việt mới trở thành một đảng lớn có tiếng tăm như ta biết).

Ông đã viết rằng: Năm 1946 vô số đồng chí của ông đã bị Việt Cộng tàn sát trong thời gian ông Hồ Chí Minh bận sang Pháp thương thuyết, thế mà ông không nhắc gì đến những nạn nhân này, và sự ám hại dã man của đàn em ông Hồ ra sao. Khi nêu lên sự việc tay chân của ông Hồ tàn sát… trong lúc ông Hồ ở ngoại quốc, có phải ông Bùi Diễm muốn chạy tội cho ông Hồ không, mà trong cả cuốn sách chỉ thấy ông nhắc qua tên Hồ Chí Minh có mươi lần, và lại không hề có một lời tố cáo tội ác của ông ta, chỉ có một câu nhẹ nhàng rằng: “Ông Hồ đóng kịch giỏi và sau này sẽ không thiếu thủ đoạn” (bản Việt ngữ, trang 68). Đó là trong bản Việt ngữ xuất bản năm 2000, chứ còn trong bản Anh ngữ, thì rõ ràng ông Bùi Diễm đã phục lăn ông Hồ rồi. Đây là nguyên văn bản Anh ngữ:

“But I thought to myself nevertheless that this was a truly capable man relaxed and unflappable – a consumate politician.” (Nhưng tuy nhiên, tôi tự nghĩ trong thâm tâm rằng ông này quả thực là người có khả năng, bình thản, không có gì có thể làm cho bị lung túng – đúng là một chính trị gia tài giỏi tuyệt vời).

Tại sao lại có chuyện thay đổi từ chỗ ca tụng lên đến mây xanh thành phê bình nhẹ nhàng như vậy nhỉ?

Một vài thay đổi thêm bớt trong bản dịch

Không cần đọc kỹ lắm, cũng thấy tác giả “Gọng Kìm Lịch Sử”, khi dịch tác phẩm của mình đã còn có nhiều thay đổi khác, mà chúng tôi chỉ nêu ra một vài chỗ:

– Về Tuyên Ngôn Caravelle trong bản tiếng Việt xuất bản năm 2000 (trang 161) ông Diễm đã bỏ không dịch câu: “I helped draft the letter” (bản Anh ngữ trang 94).

Nhân đây, tưởng cũng nên nhắc lại là khi cuốn: Ngô Đình Diệm Lời Khen, Tiếng Chê của Minh Võ viết theo tác giả “In The Jaws of Hitory” rằng ông Bùi Diễm làm phim “Chúng Tôi Muốn Sống”, thì có người nói: “Phim đó, do ông Vĩnh Noãn làm, chứ đâu có phải ông Bùi Diễm”. Có lẽ lời đó đến tai ông, nên trong bản tiếng Việt năm 2000 ông có thêm là phim đó do ông Vĩnh Noãn đạo diễn, và ông Phan Huy Quát là một trong những sáng lập viên của công ty Tân Việt Điện Ảnh.

Nơi chương 19 nói về diễn văn ông Bùi Diễm đã thảo cho ông Nguyễn Cao Kỳ đọc ở hội nghị thượng đỉnh Honolulu, bản Anh ngữ ông nói chỉ có một người duy nhất (the only person) giúp ông soạn thảo là ông Nguyễn Ngọc Linh (trang 160). Nhưng ở bản Việt ngữ, thì ông lại kể thêm ông Vũ Đức Vinh (trang 266-267). Điều khác đáng chú ý, là nhà báo Stanley Karnow trong cuốn “Vietnam A History” lại bảo bài diễn văn của ông Kỳ là do các cố vấn Mỹ soạn. Ông Diễm quả quyết là ông Karnow viết sai sự thật. Phải chăng những lời lẽ, văn phong và cả ý tưởng của ông Diễm đã Mỹ hóa đến độ nhà báo sành sỏi lỗi lạc Karnow cũng phải lầm là “chỉ có Mỹ mới viết được hay như vây?”

– Trong bản Anh ngữ, ông Diễm viết rằng: “Những người ký tên trong bản tuyên bố Caravelle bị nhà cầm quyền bắt giam” (“police began rounding up the signers and throwing them in jail…” trang 95). Nhưng Minh Võ trong cuốn Ngô Đình Diệm Lời Khen, Tiếng Chê lại trưng bằng chứng (trích từ hồi ký của Nguyễn Chánh Thi) nói rằng ông Phan Quang Đán đâu có bị bắt lúc đó, vì ông ta còn tự do tham gia đảo chính 1960 cơ mà. Có lẽ cũng đã đọc trong Ngô Đình Diệm Lời Khen, Tiếng Chê, cho nên, trong bản Việt ngữ, tác giả Bùi Diễm đã cho thêm vào hai chữ: “hầu hết” (đã bị bắt). (trang 161).

– Trong bản tiếng Anh, ông Diễm viết là ông Ngô Đình Diệm chỉ tin dùng người trong gia đình (trang 88). Nhưng trong bản tiếng Việt, thì ông thêm mấy chữ: “Hay một vài người thật thân cận với ông” (trang 149). Có lẽ trong vòng 13 năm đó, ông đã nghe ai đó trưng dẫn sự việc Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã dùng nhà bác học duy nhất của Việt Nam lúc ấy, là Giáo Sư Bửu Hội, không phải người trong gia đình, cũng không phải là người đồng đạo; đó là, chưa kể các Đại Sứ Hà Vĩnh Phương, Nguyễn Duy Toản… hay các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Quách Tòng Đức, Đoàn Thêm, Võ Văn Hải, Đại Úy Đỗ Thọ, Giáo Sư Tôn Thất Thiện… Chỉ nguyên ở Phủ Tổng Thống, đã có từng ấy người không phải là đồng đạo hay trong gia đình, họ hàng gì của “nhà Ngô”. Và ngay chính người thân cận nhất của ông Ngô Đình Nhu là Trung Tá Phạm Thư Đường, chánh văn phòng của cố vấn, cũng là một Phật tử, và không phải là người Trung, hay người của gia đình họ Ngô. Đặc biệt là ông Cao Xuân Vỹ, phụ tá cho ông Ngô Đình Nhu trong chức tổng thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, người đã lăn vào chỗ chết để tìm đường thoát cho hai ông Ngô Đình Diệm và Ông Ngô Đình Nhu vào lúc dinh Gia Long và Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống bị tấn công vây hãm nguy kịch nhất. Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, Đại Úy Đỗ Thọ cũng là những Phật tử sùng đạo, chẳng có liên hệ gì đến họ Ngô, tại sao cũng trung thành với “nhà Ngô” cho đến phút chót? Một người chỉ huy binh sĩ của lữ đoàn chiến đấu cho đến khi được lệnh ngưng bắn, một người tình nguyện đi theo tổng thống cho đến khi bị bắt, và đã viết nhật ký thổ lộ hết lòng cảm phục và thương mến một vị tổng thống, mà còn xem như cha đẻ. Và còn rất nhiều lắm lắm, làm sao kể cho hết những người trong chính phủ, trong quân đội, và các tổng giám đốc, giám đốc được chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm trọng đãi, mà đâu phải là người trong gia đình của họ Ngô. Có lẽ vì nhiều người đã viết, đã nói như thể phê bình những kẻ xuyên tạc rằng “ông Diệm chỉ tin dùng người trong gia đình” cho nên, 13 năm sau, ông Bùi Diễm đành phải thêm mấy chữ: “Hay một vài người thật thân cận với ông”. Nguyên cả câu của ông Diễm, trong bản tiếng Việt, trang 149 như sau:

“Ngoài những người trong gia đình ông hay một vài người thật thân cận với ông, ông không tin và cũng không cần tới ai.”

Cái giống và cái khác giữa hai ông đại sứ

Nhờ đã đọc cả hai cuốn hồi ký, nên tôi thấy hồi ký của ông Bùi Diễm có nhiều điểm giống hồi ký của ông Cabot Lodge: Cả hai đều là những nhà ngoại giao vào cuối cuộc đời chính trị. Cả hai đều thuộc dòng dõi con nhà quyền thế hay thượng lưu. Cả hai đều chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng lại cũng từng có lúc khen ông Diệm, v…v…

Nhưng hai ông có một điểm khác nhau quan trọng: Ông Lodge đã thú nhận ông sai lầm khi chủ trương lật đổ ông Diệm. Còn ông Bùi Diễm thì chưa có lời nào hối hận.

Có lẽ vì ông Lodge thấy sự việc xảy ra tai hại cho nước ông. Còn ông Bùi Diễm thì thấy sự việc xảy ra như thế, mới có lợi cho cá nhân ông. Vì nếu Tổng Thống Ngô Đình Diệm không chết, thì làm gì ông có cơ hội là bộ trưởng Phủ Thủ Tướng, rồi phụ tá đặc biệt của Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đặc trách về kế hoạch và ngoại viện của thủ tướng, làm đại sứ tại nước “bạn vĩ đại”, rồi làm đại sứ lưu động đi khắp nơi, tiệc tùng quanh năm, mất tự do đâu có thiệt hại gì tới ông, phải chăng vì vậy, mà bây giờ ông khuyên:

“Không nên trách nước bạn vĩ đại. Và hãy kiên nhẫn chờ, vì tiến trình dân chủ đòi hỏi thời gian? (đoạn này ở hai chương cuối bản tiếng Việt, không có trong bản Anh ngữ).

– Phải chi hồi năm 1963, các nhà trí thức như ông Diễm cũng viết “hồi ký” khuyên nhau là “tiến trình dân chủ đòi hỏi thời gian”, để đừng kết tội ông Ngô Đình Diệm là “độc tài, gia đình trị”, đòi đốt giai đoạn, thì đất nước đâu đến nỗi như ngày hôm nay.

Thấy ông Cabot Lodge khen Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở một vài chỗ, lại còn tỏ ý tiếc thương khi biết ông Diệm bị giết, ông Hoàng Ngọc Thành, tác giả cuốn: “Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm”, đã mỉa mai rằng: “Nước mắt của kẻ sát nhân khóc nạn nhân”. Đối với một số người còn ngưỡng mộ và tiếc thương anh em ông Ngô Đình Diệm, thì khi đọc những trang ông Diễm viết rằng ông ta không có thành kiến gì về ông Diệm, hoặc còn ủng hộ là khác, chỉ tiếc là ông Diệm “không cho ông hợp tác mà chỉ muốn ông phục tòng…” nhất là chỗ khen “ông Diệm là người sắc sảo, tinh khôn”; có thể những người đó sẽ bảo ông Diễm là một thứ Nhạc Bất Quần-không phải là “quân tử kiếm” mà là “quân tử bút” hay “quân tử lưỡi”. Nhưng riêng đối với người viết, thì ông Bùi Diễm quả thực là một nhà ngoại giao can đảm phi thường: Toàn thân bị kẹt cứng trong “Gọng kìm”, mà còn cố vùng vẫy viết nên cuốn hồi ký được nhiều người khen ngợi. Đâu có như 5 vị tướng thà chết theo thành, chứ không đầu hang, chả có hồi ký nào để lại!

Nếu ta nhìn cuộc chiến không phải chỉ ở mặt thuần túy quân sự, mà coi như một cuộc chiến ý thức hệ và toàn diện, toàn bộ, trong đó ngoại giao cũng là một mặt trận quyết định, thì vai trò của ông Bùi Diễm cũng chẳng khác gì một thống soái (không tranh được thế ngoại viện cần thiết, không thuyết phục được dân biểu, nghị sĩ và nhà báo Mỹ ủng hộ Việt Nam, lại nương theo họ, mà nói điều bất lợi cho chế độ, cho nước nhà, thì sống có vinh dự gì, mà còn viết hồi ký nọ kia? Năm tướng lãnh nêu tên ở trên, đã theo truyền thống: “Không giữ được thành, thì chết theo thành”. Còn thống soái trong mặt trận ngoại giao, nếu không theo được gương những anh hùng đó, thì thiết tưởng, tốt nhất là im lặng như nhiều người đã im lặng, trong đó, có cả hàng Tướng Dương Văn Minh. Như thế, tốt cho mình, mà cũng tốt cho đại cuộc, hơn là vùng vẫy trong “Gọng Kìm Lịch Sử” để múa bút.

Ông Bùi Diễm nói: “Tiến trình dân chủ hóa, thì tiến chậm, cần thời gian”, ngụ ý kêu gọi nhân dân “kiên nhẫn”. Nhưng nhân dân ở trong nước đang trong cảnh dầu sôi, lửa bỏng, đói khổ, bị áp bức trăm bề, có kiên nhẫn được như nhà ngoại giao hãnh tiến đang an hưởng thành quả cả đời mình, chung quanh toàn những người bạn Mỹ giàu sụ hay không?!

Ai trả lời được câu hỏi của ông Bùi Diễm và ông Mc Govern không thể trả lời?

Nơi cuối chương 36, bản Việt ngữ, đầu trang 583 (bản Anh ngữ chỉ có 35 chương). Tiếc rằng sách không có mục lục, nên việc tra cứu và đối chiếu khó khăn!) tác giả “Gọng Kìm Lịch Sử” có nêu lên câu hỏi của một người bạn cũ của ông phê bình thái độ của người Mỹ vào cuối năm 1974:

“Khi họ (người Mỹ) muốn đến, thì cứ đến, khi họ muốn ra đi, thì họ ra đi. Chẳng khác gì một người láng giềng đến nhà mình, gây tan hoang rồi bỗng nhiên bỏ ra về. Tại sao một cường quốc có thể trả lời làm như thế được”.

Rồi ông Bùi Diễm bảo, ông không thể trả lời được câu hỏi đó, và còn bảo một nhân vật như ông Mc Govern cũng chịu. Nhưng, người dân Việt Nam bình thường lại thấy câu trả lời quá dễ:

Là vì một người có đủ cương nghị và lòng yêu nước, lòng tự trọng, có đủ uy dũng không cho người Mỹ “muốn đến, thì cứ đến, muốn đi là cứ ra đi thoải mái”, thì đã bị giết chết mất rồi; và trong số đó có những “nhà trí thức” thân Mỹ coi trọng quyền lợi của cá nhân trên cả Chủ Quyền của Quốc Gia, sẵn sàng để cho người Mỹ làm như vậy. Người ấy, chính là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Cứ nhớ lại sự “miễn cưỡng thỏa thuận” của ai đó, đã viết ra nơi chương 17 (trang 230, bản tiếng Việt) về sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam thì rõ. Bằng lời lẽ và sự cẩn thận của nhà ngoại giao ông Diễm đã nhiều lần trong chương này muốn phủi tay, để nói đi, nói lại rằng Bác Sĩ Quát thỏa thuận, chứ không phải ông. Trước đó ít trang, ông còn còn ghi bằng chữ ngả “khẩu lệnh” (một việc quan trọng như vậy, mà chỉ bằng “khẩu lệnh”(?) của Bác Sĩ Quát bảo ông là hãy ghi vắn tắt trong thông cáo rằng: “Việc Mỹ đưa quân vào đã được sự chấp thuận của chính phủ Việt Nam”. Và để bào chữa cho cả ông lẫn Bác Sĩ Quát, ông không quên trưng dẫn một số ý kiến của giới chức Mỹ, như Đại Sứ Maxwell Taylor rằng ngay cả những ông này cũng không biết được ý định của thượng cấp của mình (ông chỉ nói bằng miệng, chứ không dẫn chứng gì trên giấy trắng mực đen. Hồi ký có điểm khó chịu đó. Nhân danh hồi ký người viết có quyền viết theo trí nhớ. Vì vậy, cũng nhiều người gọi là hồi ức thay vì gọi hồi ký. Cũng vì vậy, nên cuối hồi ký thường không có các sách khảo luận).

Ông Diễm muốn cho người đọc thấy rằng, là vì tình hình chiến sự quá cấp bách nên sự việc mới xảy ra như vậy, chứ không phải lỗi ai cả. Vậy chứ cái gì đã làm cho tình hình đến nông nỗi ấy??? Có phải tại những “trí thức” thân Mỹ muốn Việt Nam Cộng Hòa cần “đốt giai đoạn” để sớm có nền dân chủ như kiểu Mỹ, hay tại ai đó, muốn được chia xẻ quyền hành, nên không ngần ngại tiếp tay cho những kẻ ghét ông Diệm, hoặc những tay trùm tài phiệt nào đó hãm hại kẻ “ương ngạnh, bướng bỉnh” Ngô Đình Diệm, ngõ hầu có thể tự tung, tự tác, “muốn đến lúc nào, thì cứ đến, muốn ra đi lúc nào, thì cứ ra đi” (trang 583, bản tiếng Việt).

Những nhà trí thức thân Mỹ này chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm, muốn đánh đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, lấy lý do ông Diệm không chia xẻ quyền hành, coi chính quyền cứ như mâm cỗ, mâm xôi; chính phủ lúc ấy chỉ có mười bộ, mà ông nào cũng muốn mình có một bộ; nhưng sau khi ông Diệm đổ rồi, một vài nhà trí thức ấy đã nắm quyền trong tay; nhưng lại chứng tỏ bất lực, ngay giữa phe mình với nhau cũng không giải quyết được. Ví dụ cụ thể, là chính phủ của bác sĩ Quát (có quân sư Bùi Diễm một bên) nhưng đã không thỏa mãn được với Kỹ Sư Phan Khắc Sửu về quyền hành phe phái đến độ cả hai phe đều rã đám, phải giao quyền hành cho giới quân nhân.

Lưu ý đến những việc sau đây, một số độc giả không khỏi bị cám dỗ đặt dấu hỏi to tướng: Không biết đàng sau ông Diễm còn ai đứng núp để giựt dây không:

1. Chưa đến tuổi tam thập, mà ông Diễm đã đứng môi giới vận động cho Bác Sĩ Phan Huy Quát được làm thủ tướng thay cho Hoàng Thân Bửu lộc, tuy không thành.

2. Vẫn ở tuổi đó, mà ông Diễm đã thường gặp CIA hạng nặng Lansdale cùng với Tướng Collins, đại diện Mỹ quốc, để “lobby” cho Bác Sĩ Quát được có chức bộ trưởng Bộ Quốc Phòng trong chính phủ Ngô Đình Diệm (trang 150 bản tiếng Việt) tuy cũng không thành công, vì ai cũng biết ông Diệm kỵ nhất những vụ nhờ người Pháp hay người Mỹ, vì không muốn họ xen vào nội bộ Việt Nam, vi phạm chủ quyền của Việt Nam.

3. Ở tuổi ba mươi mà ông Diễm đã giúp 18 nhà trí thức chính trị gia soạn thảo bản Tuyên Ngôn Caravelle.

4. Trong khi cuộc đảo chánh 1963 diễn tiến, ông Diễm thường xuyên liên lạc với Phillipp Rufus và Tướng Lê Văn Kim em rể của tướng Đôn, một trong những nhân vật chính của nhóm đảo chính, và tướng Kim lại phụ trách về chính trị của cuộc đảo chính. Ông còn viết “người đặc trách về chính trị của nhóm đảo chính chắc phải nắm vững tình hình chính trị và phải biết người Mỹ muốn gì” còn phải hỏi ý kiến ông đối với tình hình chính trị Việt Nam lúc ấy. Và ông Kim nêu lý do phải hỏi ông Diễm, nên có thể biết rõ thái độ của họ! (bản Anh ngữ, trang 101, bản Việt ngữ trang 169).

5. Khi Bác Sĩ Quát lên làm thủ tướng thì ông Diễm lại kè kè một bên trong chức Bộ trưởng Thủ tướng phủ.

6. Đến khi ông Nguyễn Cao Kỳ làm thủ tướng (chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương), thì ông Diễm cũng lại kè kè một bên trong chức vụ phụ tá đặc biệt về kế hoạch và viện trợ (để liên lạc với Hoa Kỳ) như ông viết 3 lần nơi trang 248-249, ấn bản Việt ngữ, nghĩa là một siêu ngoại trưởng, (vì lúc ấy viện trợ Mỹ là yết hầu của chính phủ) để dễ tiếp xúc với Cabot Lodge lúc ấy đã trở lại làm đại sứ lần thứ hai. Vân vân và vân vân…

***

Trước khi kết thúc, tôi xin thêm một ý chót: Trở lên, tôi đã khen tác giả “Gọng Kìm Lịch Sử” ở hai điểm thành thực và can đảm. Như vậy cũng đã nhiều rồi, nhưng đáng lý phải thêm rằng: Ông Diễm là con người khiêm nhường, không muốn liệt kê hết những thành tích của mình trong khi ra “gánh vác” việc nước trong chức từ bộ trưởng Phủ Thủ Tướng, đến phụ tá đặc biệt của Tướng Kỳ, chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, đặc trách về kế hoạch và viện trợ, với nhiệm vụ đặc biệt liên lạc với giới chức Hoa Kỳ, rồi đại sứ siêu cường Mỹ…

Điều mà ông Diễm có thể nói, nhưng đã bỏ qua; đó là, sự góp sức của ông Diễm trong chính phủ của Tướng Kỳ hồi mùa hè 1966. Dù có chê Tướng Kỳ ở một số điểm, nhưng những sử gia sau này cũng phải công nhận ông là một người can đảm và khéo léo vô cùng, nên đã dẹp được vụ nổi loạn ở miền Trung núp dưới áo cà sa của thượng tọa từng làm mưa làm gió tại miền Nam trong thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là Thượng Tọa Thích Trí Quang. Và tuy ông Diễm không ghi lại, nhưng đã biết ông là người quen thân rất nhiều nhân vật Mỹ lúc ấy, lại đang giữ chức phụ tá đặc biệt của Tướng Kỳ, ông Diễm đã giúp ông kỳ một tay đắc lực. Thực ra, ông Diễm cũng ghi rõ là ông Kỳ muốn ông giúp “để giữ liên lạc với Hoa Kỳ (trang 248-249, bản tiếng Việt, ông Diễm đã nhắc 3 lần điều này) và thấy ông Kỳ cần tới ông lắm, ông mới nhận lời mời giữ chức vụ này, chứ thực ra sau khi Bác Sĩ Quát nghỉ, thì ông cũng thấy không tiện ra làm việc với chính phủ quân nhân (ông vốn chủ trương chính phủ dân sự).

Sở dĩ tôi phải viết như vậy, là vì trong cuốn hồi ký bằng tiếng Anh: “Twenty Years And Twenty Days” ông Kỳ đã tả lại khá chi tiết việc ông dẹp loạn miền Trung ra sao (SĐD của ông Kỳ trang 87) và có thể xem: Ngô Đình Diệm, Lời Khen, Tiếng Chê, của Minh Võ, xuất bản tháng 5 năm 1998, trang 122-124 hay cuốn tái bản tháng 10-1998, trang 157-162, trong đó, quan trọng nhất, đáng nói nhất, mà các sử gia sẽ không thể nào coi thường, là việc ông Bùi Diễm đã bắt được Thượng Tọa Thích Trí Quang đem nhốt ở Sài Gòn, mà Đại Sứ Cabot Lodge đã không can thiệp, để che chở như thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Lúc đó, ông Lodge cũng là đại sứ, thì, lại cho Thượng Tọa Thích Trí Quang “lánh nạn an toàn” ở trong Tòa Đại Sứ Mỹ.

Chính vì bắt được Thượng Tọa Thích Trí Quang, người cầm đầu cho nên cuộc nổi loạn mới dẹp được ngay một cách dễ dàng. Có thể nói Tướng Kỳ đã hơn hẳn anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm về kỳ tích đó. Và theo tôi, thì sở dĩ Tướng Kỳ làm được điều đó là nhờ tài ngoại giao của ông Bùi Diễm. Có lẽ nhà ngoại giao lão luyện Bùi Diễm nghĩ khác ông Kỳ là một quân nhân thẳng ruột ngựa. Hay ông Bùi Diễm không khoe vì khiêm nhường, mà vì sợ mất lòng Phật Giáo. Nhưng tôi thấy cần phải nói thẳng ra một điều. Ông Thích Trí Quang không phải là Phật Giáo mà chỉ là “nhà tu” có tham vọng chính trị và thủ đoạn, thu hút được một số người nhẹ dạ cả tin. Ngày nay, nhiều Phật tử chân chính và có suy nghĩ cũng đã nhận ra điều đó. Cho nên các nhà báo Mỹ, hay các chính khách Việt Nam còn nghĩ Tổng Thống Ngô Đình Diệm “kỳ thị, đàn áp Phật Giáo”, thì nên xét lại quan điểm của mình.

Và, tôi xin dùng ý đó, để kết thúc bài: Hai Lời Khen; Một Tiếng Chê, dành cho tác giả: “Gọng Kìm Lịch Sử”.

Minh Võ

Share this post