7 Cuộc Chiến Tranh Trung Cộng Sẽ Phát Động Trong 50 Năm Tới – Thời Báo

7 Cuộc Chiến Tranh Trung Cộng Sẽ Phát Động Trong 50 Năm Tới – Thời Báo

Trang China News liệt kê về 7 cuộc chiến tranh Trung Cộng sẽ phát động trong 50 năm tới. Tiêu diệt Đài Loan (2020 – 2025); Nắm trọn Biển Đông, tiêu diệt Việt Cộng (2025 – 2030); Cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng, đánh bại Ấn Độ (2035 – 2040); Cuộc chiến thu hồi quần đảo Điếu Ngư (Sekaku) và quần đảo Lưu Cầu (Okinawa), đánh bại Nhật Bản (2040 – 2045); Cuộc chiến thống nhất Ngoại Mông, xâm lược và xóa tên Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ (2045 – 2050); Cuộc chiến thu hồi vùng Viễn Đông, đánh bại nước Nga (2055 – 2060). Đẩy Mỹ khỏi Châu Á, độc chiếm Thái Bình Dương (2061-2066). Bản kế hoạch này gây một tiếng vang vì tham vọng không tưởng của nó. Theo đó tất cả các quốc gia láng giềng hiện hữu của Trung Cộng đều sẽ nằm trong phạm vi mục tiêu của một cuộc chiến trong tương lai mà Trung Cộng sẽ đánh bại tất cả.

Điều gì đang diễn ra trong lòng xã hội Trung Hoa, vì đâu mà cái ý tưởng gây chiến và xâm lược các nước khác lại có sức sống kinh khủng đến thế trong suy nghĩ của người dân và chính quyền đang cai trị đất nước này?

Có thể nói lịch sử hình thành của người Trung Cộng “chính thống” là kết quả của các cuộc xâm lăng, và được viết tiếp cũng bằng các cuộc xâm lăng. Người Trung Cộng liên tục bành trướng ra bốn phía, lần lượt sát nhập Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông và phần đất thuộc về Bách Việt. Luôn có ưu thế về số đông so với các dân tộc giáp giới, người Hoa Hạ luôn có cảm giác về một sự ưu việt, giống như quan điểm của Hitler sau này về một giống dân siêu đẳng so với các dân tộc xung quanh. Quan điểm này là một quan điểm bén rễ đến tận xương tủy trong suy nghĩ của người Trung Cộng suốt chiều dài lịch sử.

Lần đầu tiên là khi các đạo quân của Thành Cát Tư Hãn tràn ngập Trung Hoa và dựng lên nhà Nguyên, cai trị Trung Cộng từ năm 1271-1368. Lần thứ hai là dưới triều đại Mãn Thanh, một dân tộc du mục thiểu số phương Bắc, xâm lược toàn bộ Trung Hoa và duy trì cai trị trong 268 năm, từ 1644-1912. Cho đến nay, đây vẫn là những thời kỳ lịch sử được coi là sỉ nhục của người Hoa Hạ hay Hán tộc, được coi là thời kỳ mà người Hán phải nhận giặc làm cha. Chính điều đó hình thành nên những hiện tượng tâm lý phức tạp của người Trung Cộng hiện đại. Một mặt họ vẫn tự coi là một giống dân siêu đẳng, luôn có cảm giác ưu việt vì lợi thế số đông. Mặt khác cũng cái số đông ấy luôn mặc cảm tự ti, dù chôn sâu trong lòng, vì số đông vượt trội ấy vẫn phải khuất phục nhiều lần trước các sắc dân thiểu số và phải chấp nhận hai triều đại cai trị “Nhận giặc làm cha” như những triều đại chính thức trong lịch sử Trung Cộng.

Mặc cảm đan xen giữa kiêu ngạo và tự ti ấy được tô đậm thêm với thời kỳ Chiến Tranh Nha Phiến và cuối triều Thanh, khi các cường quốc phương Tây kéo nhau vào đặt tô giới trong lãnh thổ Trung Cộng, và được nhấn đậm bằng cuộc xâm lăng của người Nhật Bản từ năm 1937 – 1945. Một lần nữa, người Hoa Hạ bị khuất phục bởi một dân tộc ít người hơn rất nhiều lần. Chỉ nhờ vào cơ may lịch sử khi Nhật Bản bị liên quân Hoa Kỳ và Liên Xô đánh bại mà Trung Cộng giành lại được độc lập. Chính quá trình lịch sử hình thành phức tạp ấy đã tạo ra người Trung Cộng hiện đại ngày nay, họ luôn có khao khát dựa vào số đông để chứng minh tính ưu việt siêu đẳng của mình bằng cách tiếp tục xâm lấn các vùng lãnh thổ xung quanh. Khao khát chứng tỏ sức mạnh cơ bắp ấy được làm mạnh thêm bởi nỗi tự ti dai dẳng hình thành từ nỗi nhục nhiều lần phải “nhận giặc làm cha” trong lịch sử. Kết quả là cái máu xâm lược trong người Trung Cộng luôn vượt trội so với khao khát chung sống hòa bình, mạnh hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới ngày nay. Mỗi khi có điều kiện mạnh lên, điều người Trung Cộng nghĩ tới đầu tiên là phải thể hiện đẳng cấp ưu việt số đông của mình bằng các hành vi xâm lấn “thâm căn cố đế”.

Trung Cộng bước vào thời đại Tập Cận Bình từ năm 2012. Tập Cận Bình “Một gã rắn tay, ưa lối giải quyết bằng bàn tay sắt và bạo lực”. Cuộc chiến thống nhất quyền lực của Tập Cận Bình đã có một dấu chấm hoàn hảo. Bằng việc bỏ tù Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Cốc Tuấn Sơn, Từ Tài Hậu và Phó Chủ Tịch Quân Ủy Quách Mạnh Hùng, Tập hiện không còn đối thủ. Ngày 12/08/2015, Tập cho đăng trên Nhân Dân Nhật Báo lời cảnh cáo: “Các lãnh đạo về hưu nên tránh xa chính trị, người đi thì trà cũng nguội”, một cái tát vỗ mặt Giang Trạch Dân và có thể là cả Hồ Cẩm Đào. Tập đủ tự tin để truy tố nốt cả Giang nếu cảm thấy quyền lực của mình tiếp tục bị thách thức. Sau thời đại Mao Trạch Đông, Tập là người duy nhất đạt tới đỉnh cao quyền lực gần như tuyệt đối tại Trung Cộng. Tuy nhiên, cũng chính cuộc chiến quyền lực này đã đào rỗng ruột bộ máy cầm quyền Trung Cộng. Tập đã bỏ tù và truy tố hàng triệu quan chức nhằm lấy tính chính danh cho mình. Bằng cách đó, Tập được lòng dân nhưng những lỗ hổng trong bộ máy cai trị khó lòng bù đắp một sớm một chiều. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Trung Cộng đang đi vào một cuộc khủng hoảng không thể cứu vãn.

Thị trường chứng khoán Trung Cộng sụp đổ gần như là một kết cục không thể đảo ngược. Từ năm 2012, khi lên nắm quyền, Tập tìm mọi cách duy trì một nền kinh tế với tâm lý thịnh vượng gia tăng, nhằm vẽ lên một giấc mộng Trung Hoa hùng cường trong mắt dân Trung Cộng. Các chính sách và dòng tiền được định hướng để đảm bảo thị trường chứng khoán liên tục tăng cao. Người dân Trung Cộng thấy túi tiền ảo của mình phình lên ghê gớm. Đáng buồn cho Trung Cộng, nó lặp lại những gì mà Việt Cộng đã trải qua cách đây 8 năm, khi cơn bão khủng hoảng quét qua thị trường chứng khoán cuối năm 2007. Dù Trung Cộng đã đổ trên 141 tỷ USD để cứu thị trường, nhưng chắc chắn nó sẽ bước vào một thời kỳ suy giảm kéo dài không dưới 5 năm. Cái chết trên thị trường chứng khoán rồi sẽ còn lan rộng sang thị trường bất động sản, kéo theo sự khủng hoảng dây truyền trong hệ thống ngân hàng vì nợ xấu tăng cao. Đây sẽ là một kỷ nguyên suy tàn cho giấc mộng Trung Hoa.

Các chính sách ngăn chặn kinh tế mà Mỹ định hình có vẻ đang bồi một cú đấm thôi sơn vào nền kinh tế Trung Cộng. Xuất khẩu của Trung Cộng vào Nhật đã giảm 13% so với cùng kỳ, vào EU đã giảm 12% và vào Mỹ cũng đã giảm trên dưới 2%. Trong bối cảnh khó khăn trong nước lan tràn thì đây là những đòn chí mạng, tổng hợp chung, xuất khẩu của Trung Cộng đã giảm 8,3% trong tháng 7/2015. Khi TPP thành công, Trung Cộng sẽ còn gánh thêm các cú bồi nặng nề và tiếp tục phải đối mặt với đà suy giảm của dòng thương mại xuất khẩu.

Nỗ lực khôi phục dòng thương mại xuất khẩu vốn là thứ đã làm nên điều thần kỳ cho nền kinh tế Trung Cộng suốt 50 năm, Tập Cận Bình cho phá giá đồng tiền. Chính sách kiềm chế Trung Cộng gần như đã định hình trong thế giới phương Tây, do đó mọi hành động phá giá tiền của Trung Cộng nhằm kích thích xuất khẩu gần như sẽ gặp các đòn đáp trả ngay lập tức. Vấn đề lớn hơn thế, bởi hàng hóa Trung Cộng hiện nay không phải chỉ bị ngăn chặn bởi các nhân tố thị trường (tỷ giá) mà còn bằng cả các hàng rào pháp lý và chính sách (TPP là một điển hình). Do đó, bất kể đồng Nhân Dân Tệ bị phá giá đến mức nào thì đà suy giảm của dòng hàng hóa xuất khẩu Trung Cộng là mặc định.

Tham vọng lớn nhất của Tập Cận Bình là đưa Nhân Dân Tệ thành một đồng tiền quốc tế, cạnh tranh với vị trí thống trị của USD. Bằng việc phá giá Nhân Dân Tệ 3,6% trong ít ngày, Tập kéo lùi giấc mơ này thêm 20 năm, nếu thực sự Trung Quốc còn có cơ hội gượng dậy sau cú sốc.

Chính sách cai trị sắt máu của Tập tại Tân Cương, Tây Tạng rồi sẽ khiến Trung Cộng trả giá nặng nề. Khi kinh tế suy tàn, khủng hoảng rồi sẽ lan rộng trong xã hội Trung Hoa, vốn từ lâu còn rất ít sự gắn kết dựa trên nhân tính. Thế giới sẽ chứng kiến một kỷ nguyên bắn giết và bỏ tù tại Trung Cộng.

Khủng hoảng Trung Cộng không làm thế giới an toàn hơn mà là ngược lại. Không giống Liên Sô, vốn còn mang đôi nét văn minh Châu Âu, cuối cùng đã sụp đổ trong hòa bình, Trung Cộng chắc chắn sẽ tìm cách xuất khẩu khủng hoảng ra thế giới nhằm ổn định tình hình trong nước. Chính vì thế, mối đe dọa chiến tranh của các nước giáp giới Trung Cộng không những không giảm đi khi đất nước này suy yếu mà là ngược lại. Cần nhớ rằng năm 1979, một trong những lý do Đặng Tiểu Bình xua quân xâm lược Việt Cộng là nhằm cố kết xã hội Trung Cộng sau nhiều thập niên suy tàn dưới thời đại cai trị Mao Trạch Đông.

Trong nhiều thập niên, Trung Cộng đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền và chuẩn bị tâm lý rất kỹ càng cho đại bộ phận dân chúng Trung Cộng về đường lưỡi bò và chủ quyền của Trung Cộng về các quần đảo ở biển Đông. Thế mạnh quân sự vượt trội khiến trên 80% số thanh niên TQ hiện đều rất hung hăng và cho rằng việc dùng sức mạnh để chiếm trọn biển Đông là hoàn toàn hợp lý. Có thể nói, Trung Cộng đã chuẩn bị rất kỹ cho cuộc chiến về mặt tuyên truyền và con người cho cuộc chiến tranh tương lai ở Biển Đông.

Kế hoạch đánh phủ đầu Việt Nam

Các khoản đầu tư hàng trăm tỷ USD mỗi năm vào quân sự khiến Trung Quốc có sức mạnh bằng hầu như tất cả các nước Châu Á cộng lại. Số lượng máy bay tại các đại quân khu, số khu trục hạm, tuần dương hạm và tàu hảo tiễn lửa biên chế tại ba hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải của Trung Cộng hiện vượt xa quy mô không quân và hải quân của cả Ấn Độ và Nhật Bản cộng lại. Dù các tàu chiến và máy bay Trung Quốc có thể thua kém Nhật Bản đôi chút về công nghệ tinh vi, nhưng khoảng cách đang ngày một thu hẹp, và điều quan trọng là số lượng thì Trung Quốc vượt xa mọi đối thủ. Nếu chiến tranh là sự so đọ khả năng chấp nhận tổn thất và tiêu hao, thì về mặt này Châu Á không ai so được với Trung Quốc. Riêng hạm đội Nam Hải và lực lượng không quân đóng tại căn cứ Tam Á, Du Lâm có sức mạnh vượt xa hải quân và không quân của tất cả các nước Đông Nam Á cộng lại, nếu chỉ xét đơn thuần về số lượng trang bị và đơn vị khí tài.

Nắm trọn Biển Đông

Dù bảy đảo nhân tạo tại Trường Sa vẫn chưa hoàn tất, nhưng sự sẵn sàng phục vụ chiến tranh của các căn cứ tại đảo Phú Lâm – Hoàng Sa và các căn cứ tại Du Lâm – Hải Nam khiến Trung Cộng có thể tung một đòn đánh phủ đầu ồ ạt bằng không quân tới các căn cứ ven biển của các nước ven biển Đông, đặc biệt là Việt Cộng. Mức đe dọa sẽ ngày một nặng nề khi các phi đạo tại Trường Sa hoàn tất. Trong bối cảnh đó, Trung Cộng có khả năng uy hiếp nặng nề mọi quốc gia Đông Nam Á, và phần nào loại trừ được nguy cơ bị kiểm soát yết hầu Mallaca từ Mỹ và đồng minh.

Tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên có thể cung cấp cho Trung Cộng một cơ hội tuyệt hảo để lợi dụng cho các hành vi xâm lăng có kiểm soát. Nước Nga và Châu Âu đang bận rộn với câu chuyện Syria và dòng người di dân. Mỹ cũng buộc phải phân tán nguồn lực của mình để đối phó với các căng thẳng ngày một tăng ở Châu Âu và Trung Đông. Bên cạnh đó, lần đầu tiên kể từ năm 1952, Trung Cộng đã bắt tay với Mỹ và đưa ra một lệnh trừng phạt rất nặng nề đối với Triều Tiên. Có thể cho rằng đó là sự trừng phạt của Trung Cộng đối với thái độ nhờn mặt của Kim Jung Un kể từ khi lên nắm quyền tại Bắc Triều Tiên, nhưng cũng có thể lý giải Trung Cộng đang chơi một ván cờ với nhiều mục tiêu. Bằng việc dồn Kim Jung Un đến thế đường cùng, bán đảo Triều Tiên đang nóng hơn bao giờ hết, rất có thể Triều Tiên sẽ phản ứng cực kỳ hung hăng đối với các biện pháp kiểm soát tàu bè ra vào Triều Tiên theo nghị quyết trừng phạt mới. Điều này có thể khiến nổ ra các vụ chạm súng trực tiếp giữa Bắc Triều Tiên với Nam Hàn và Nhật Bản, những quốc gia thù địch sát sườn. Tình huống này nổ ra sẽ đặt Mỹ và đồng minh Đông Bắc Á trước áp lực cực kỳ căng thẳng vì Triều Tiên sở hữu vũ khí tấn công nguyên tử. Ngoài ra, năm 2016 nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử, mọi sự chú ý đều đang dồn vào cuộc đấu giữa các ứng viên và hai đảng Dân Chủ – Cộng Hòa, Mỹ sao nhãng rất nhiều các vấn đề quốc tế. Trung Cộng chắc chắn sẽ tận dụng cơ hội này để giải quyết mọi vấn đề.

Điểm lại lịch sử, tham vọng mở rộng lãnh thổ của Trung Cộng là vô cùng lớn và nó luôn được mọi triều đại cai trị Trung Cộng nung nấu và kế thừa, dù đó là thời phong kiến hay đến thời cận đại của Tưởng Giới Thạch. Và dù là một đối thủ một mất một còn nhưng Mao Trạch Đông chẳng thấy phiền hà gì khi tiếp thu và phát triển thêm tham vọng bành trướng biển Đông của Tưởng. Đến thời Đặng Tiểu Bình, nó được hiện thực hóa bằng cuộc xâm lăng Hoàng Sa năm 1974, cuộc chiến biên giới khốc liệt với Việt Cộng kéo dài từ 1979 đến 1988, và đặc biệt là cuộc xâm lăng chiếm 6 đảo đá tại Trường Sa năm 1988. Trong tất cả các cuộc chiến xâm lược ấy, rất đáng tiếc, nạn nhân luôn là Việt Cộng và phần thất trận cũng luôn thuộc về Việt Cộng. Ngày nay, Tập Cận Bình đang kế thừa tiếp dã tâm ấy, và Tập đã rất sẵn sàng. Cái còn thiếu chỉ là thời cơ.

Có thể nói Trung Cộng rất giỏi trong việc tận dụng thời cơ. Tây Tạng từng giành được độc lập năm 1913, và họ duy trì được nền độc lập của mình đến năm 1951. Lợi dụng việc toàn thế giới bị hút vào cuộc chiến Triều Tiên 1950-1953, dù đã gửi hàng triệu lính đến Triều Tiên, Mao Trạch Đông vẫn âm thầm gửi một đội quân đến Tây Tạng mà không ai kịp nhận ra. Khi nước Mỹ thoát khỏi được cuộc chiến Triều Tiên thì Tây Tạng đã là một câu chuyện đã rồi với Trung Cộng. Năm 1959, sau một cuộc kháng cự bất thành, nền độc lập của Tây Tạng chính thức bị xóa sổ. Quốc gia này đã biến mất trên bản đồ thế giới. Người Tây Tạng đang bị gạt ra bên lề và biến thành thiểu số trên chính quê hương sau các kế hoạch Hán hóa của Bắc Kinh. Ngày nay, họ chỉ còn dám mơ về một quyền tự trị ít ỏi về văn hóa mà cũng chẳng thể đạt tới.

Năm 1974, khi cuộc chiến Nam-Bắc ở Việt Nam đang bước vào chặng xế chiều. Mỹ ký Hiệp Định Paris và rút khỏi cuộc chơi, miền Nam kiệt quệ vì viện trợ cắt giảm còn miền Bắc đang há miệng mắc quai vì công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 theo đó thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Cộng (đây là một vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh, năm 1958 đang là lãnh tụ tối cao và đầy quyền lực, Hồ không ký, nhưng tất nhiên Phạm Văn Đồng chỉ có thể ký công hàm dưới sự cho phép của Hồ); Mao Trạch Đông chớp lấy thời cơ ấy đã gửi hạm đội đến Hoàng Sa (từ 1954-1972 khi Mỹ còn sát cánh với Việt Nam Cộng Hòa, quyền kiểm soát Hoàng Sa luôn nằm trong tay người Việt và Mao chưa bao giờ dám gửi hạm đội tới đó). Sau nỗ lực kháng cự ngắn ngủi bất thành của Việt Nam Cộng Hòa, lúc đó đã rất suy yếu và đang trên đà bại trận trước Bắc Việt, người Việt mất trọn vẹn Hoàng Sa và chưa nhìn thấy tương lai lúc nào đòi lại được.

Năm 1988 đồng minh duy nhất của Việt Cộng là Liên Sô đang sụp đổ, kinh tế Việt Cộng khủng hoảng và kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và cai trị dốt nát của Đảng Cộng Sản, Đặng Tiểu Bình chớp thời cơ gửi hạm đội tới Trường Sa. Hải Quân Việt Cộng nhận lệnh không nổ súng, dù vô cùng dũng cảm, họ mất một số tàu và 64 thủy binh. Việt Cộng cũng đồng thời mất 6 đảo đá chiến lược tại Trường Sa.

Năm 1995, lợi dụng liên minh Mỹ-Phi Luật Tân suy yếu sau khi người Phi yêu cầu Mỹ rời căn cứ Hải Quân Subic từ năm 1992, Trung Cộng gửi bảy tàu đến chiếm đá vành khăn đang nằm dưới sự kiểm soát của Phi Luật Tân. Quốc gia này bất lực và thấm đòn đau cho sự sai lầm chiến lược của mình.

Năm 2012, Trung Cộng lần đầu tiên thí điểm chiến lược bắp cải để chiếm đoạt bãi đá Scaborough do Phi Luật Tân kiểm soát. Bằng việc sử dụng tàu cá, tàu công vụ chiếm lĩnh vòng trong và tàu quân sự đe dọa vòng ngoài, cuối cùng Trung Cộng kiểm soát được bãi đá này. Bất lực trên thực địa, người Phi Luật Tân sau đó chọn một hướng đi mà họ ít nhiều đạt được thành công khi kiện Trung Cộng ra Tòa Quốc Tế.

Tháng 5/2014 Trung Cộng điều dàn khoan Haiyang 981 và hơn 100 tàu chiến vào lãnh hải Việt Cộng. Các nguồn lực và sự chú ý của Việt Cộng bị hút cạn vào cuộc chiến vòi rồng và đâm húc không cân sức với Trung Cộng (chính xác thì chỉ có Trung Quốc dùng vòi rồng và đâm húc tàu Việt Cộng, phía Việt Cộng chỉ duy trì sự hiện diện và dùng loa phản đối). Trong lúc đó Trung Cộng ồ ạt xây 7 đảo nhân tạo tại các bãi đá đã chiếm từ Việt Cộng và Phi Luật Tân ở Trường Sa, tiến một bước rất dài trong lộ trình xâm lược biển Đông.

Điểm lại tất cả các sự kiện trên, có thể nói Trung Cộng rất giỏi trong việc chớp thời cơ cho các hành vi xâm lấn của mình.

Độc chiếm Thái Bình Dương

Năm 2016 và các năm kế tiếp, có rất nhiều thời cơ Trung Cộng có thể tận dụng để phục vụ cho dã tâm xâm lược xuyên suốt của họ. Cũng trong vài năm tới đây, nhu cầu xuất khẩu khủng hoảng bằng một cuộc chiến tranh sẽ ngày càng lớn với Trung Quốc. Một cuộc chiến có kiểm soát và giành thắng lợi ở Biển Đông có thể khiến Tập Cận Bình ngồi vững trên ngai vàng thêm ít nhất 10 năm bất chấp các biến động xã hội lớn trong nước do kinh tế suy thoái, và nếu thắng, đương nhiên Trung Quốc sẽ bước càng xa trên lộ trình nắm trọn Biển Đông, độc chiếm Thái Bình Dương mà họ chưa bao giờ xao nhãng.

Share this post