Bà Thụy Khuê Với Những…Chấm Hỏi (?) Chấm Than (!) – Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Bà Thụy Khuê Với Những…Chấm Hỏi (?) Chấm Than (!) – Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Đôi lời bộc bạch

Không có mây sao có mưa, một ngày thửa được bài Thụy Khuê trở lại quê hương để làm gì? I của cụ bạn chữ nghĩa Khuất Đẩu (xem tr 12). Bèn nghĩ vội gì mà ”cụ” khó khăn vậy với tựa đề có dấu ”?” và dấu ”!”. Trộm nghe hơi chữ có hơi hay hớm. Bèn lọ mọ với bút ký Quê hương ngày trở lại của bà Thụy Khuê. Bà. ”Đem tâm tình viết lịch sử” bằng cách khuân quyển Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long của bà viết năm 2015, bà rải chữ…từ Nam ra Bắc nối liền nắm tay, ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi…


Bà luận sử: Lịch sử không phải là đánh giá, miệt thị, mà là sự trung thực và sự thực…” vì vậy ai không theo bà, thì bà ”trung thực” để ”miệt thị” tuốt. Vì thế từ sử thần Trần Trọng Kim, đên sử gia Phan Khoang, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, v…v….Bà kết án những sử gia tiền bối này đều sử dụng tài liệu của Pháp nên bà xếp họ vào loại…“sử gia thuộc địa”.


Bỗng không tôi hóa thân là người mụ sử. Mụ sử tôi…mụ mẫm bà dựa vào dăm quyển sử Pháp viết về nhà Nguyễn thì bà cũng là …“sử gia thuộc địa” vậy. Riêng cố sử gia Tạ Chí Đại Trường chỉ vì dịch sai chữ Pháp nên bị bà… đàn hạch. Với ”một chữ” nhất tự thiên kim, mụ chữ tôi bới bèo tìm bọ về văn nghiệp và sử nghiệp của bà: Mới bước chân vào làng phê bình văn học, bà sửa tên tác phẩm Giòng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh từ chữ Giòng thành Dòng. Bà được ông Đặng Trần Huân…phê bình: Chúng tôi tự hỏi Thụy Khuê theo chính tả nào để viết “Giòng” là “Dòng”? Sau đấy, bước qua làng thơ, nói về chữ “Dê” trong thơ Lê Đạt, bà lại được ông Trần Nghi Hòang…luận chữ: Thụy Khuê lắc lư viết: “Chữ dê gợi những âm đồng nghĩa: dê, dâm, dương, còn gợi những âm khác nghĩa: như dương trong thái dương, v…v…

Lạc đường vào lịch sử với Quê Hương Ngày Trở Lại, bà về lần cuối năm 1997, sau suốt 10 năm bị cấm cửa, có thể vì bà viết vấn đề Nguyễn Ái Quốc chăng?. Rồi không biết lý do nào, bà được về lại năm 2017 để viết những gì ở Việt Nam cũng nhất. Lần mò theo chân bà qua bút ký, mụ chữ tôi góp nhóp được ít nhất 17 chữ: ”sâu sắc, cực kỳ, quy luật, giao lưu, hồ hỡi, xử lý, triệt để, hoành tráng, quần thể, thông tin, phản quốc, cách mạng vùng lên, công tác du kích, quân cảm tử, quân đội chính quy, bộ đội, Mỹ-Ngụy”. Ngòai ra trong bài Về quê Bắc, bà viết: ”Tôi có ông bác, lúc còn sống ông luôn luôn giơ tay lên trời thề: Khi nào còn cộng sản là tao không về. Tôi (Thụy Khuê) thầm nghĩ cộng sản là một lý thuyết, nào có đầu mình chân tay gì đâu”.
Bởi chưng nào ai biết gì đâu đằng sau nhiễu sự của bà chả biết đâu mà lần với thời trước thế đấy, thời nay thế đó. Thế nên mụ sử tôi xâu chữ như xiên khoai về những khuất lấp của sử học (xem tr 2) qua lăng kính của bà Thụy Khuê với lịch sử phải…trung thực (sic) và…sự thực (sic). Và mụ chữ tôi dồi chữ như dồi tiết, dồi lòng cùng những ẩn khuất của một Thụy Khuê hôm nay, khác với Thụy Khuê ngày nào qua Sóng từ trường, nhất là với Nhân văn Giai Phẩm!


Thế là với một ngón tay mổ chữ như cò mổ ruồi trên bàn gõ, mõ sớm chuông chiều bài phiếm: Bà Thụy Khuê với những…chấm hỏi (?), chấm than (!). Bám như cua cắp theo bà từ Sài Gòn ra Hà Nội, mụ chữ tôi len chân vào chuyện qua những gì bà rải chữ trên đường đi để đưa vào bài phiếm. Với phiếm gồm chữ thủy, chữ phạt, thủy là nổi trôi, phạt là vô định. Với nổi trôi, vô định nên những gì mụ chữ tôi góp nhặt qua chữ nghĩa với cái nhìn chủ quan hay khách quan, không có sai hay đúng, vì sai hay đúng chỉ cách nhau một sợi tóc. Dựa cửa thiền: Cái sai hôm nay có thể là cái đúng của…100 năm sau. Nay xin thưa – Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Chú thích: Vì bút ký Quê hương ngày trở lại quá dài, mụ chữ tôi phải cắt xén, đôi khi…không đúng chỗ nên ngúc ngắc khó hiểu và tối nghĩa. Xìn bà lượng tình thứ lỗi vì lực bất tòng tâm.

Phỏng vấn nhà nghiên cứu Thụy Khuê


Trả lời phỏng vấn Hà Thủy Nguyên, Văn Việt

Là một người tự nghiên cứu văn học Việt Nam, bà đã trở thành một nhà nghiên cứu, phê bình văn học có uy tín không chỉ với hải ngoại mà cả trong nước. Bà có thể chia sẻ với bạn đọc Văn Việt con đường đi tới thành công hiếm có như thế đối với một cây bút hải ngoại?

Tôi ở trong hoàn cảnh khá đặc biệt, năm 1962 (1A), khi đi du học, học về toán, rồi bỏ dở, lập gia đình, ở nhà trông con trong một thời gian dài, không để ý đến sách vở nói chung và văn học nói riêng. Bài đầu tiên đăng trên báo Tự Do, ở Bỉ, tháng 4/1985, là một đoản văn tựa đề Đường về Hà Nội, kể lại chuyến tôi về thăm quê mùa thu 1984, sau 30 năm xa cách. Chuyến đi và bài viết này khởi đầu cho ngõ quặt của một đời người. Lúc đó tôi 40 tuổi. Sau khi tiếp tục viết vài truyện ngắn và những bài phiếm luận được độc giả yêu thích, đôi khi có điểm sách, rất nhanh, tôi thấy phải chọn: hoặc tiếp tục sáng tác, hoặc chuyển sang phê bình, không thể làm cả hai, vì hai ngành đòi hỏi hai cách đọc và học khác nhau. Tôi chọn phê bình, vì nghĩ rằng: Nước mình có quá ít người viết phê bình giá trị, còn sáng tác mình có nhiều nhà văn lớn.

(1A) Nói vãi thì lại nói vơ bà và tôi cùng một lứa bên trời lận đận: Đồng canh, dồng tuế 1944. Bà Nam Định, tôi láng giềng láng tỏi dân đồng chua nước mặn Thái Bình. Bà tầm sư học đạo bên trời Tây năm 1962, tôi nhè vào năm 1963. Hai năm sau tôi cũng bỏ của chạy lấy người như bà.


Bởi những ngẫu sự ấy, khi được bà vụn vặt với Thủy Nguyên (tôi đóan mò là cô)…


“Cảm ơn Thủy Nguyên đã đặt câu hỏi này, để cho tôi có dịp nói qua về hai chữ đánh giá (…). Tôi không đánh giá gì cả, bởi vì người viết sử chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là trình bầy sự kiện lịch sử. Việc đánh giá là của người đọc. Độc giả đọc một đoạn sử viết về một nhân vật hay một giai đoạn lịch sử, rồi tự rút ra những suy nghĩ hay đánh giá về nhân vật hay giai đoạn lịch sử ấy, và đánh giá luôn cách viết của người soạn sử”.


Bởi những ngẫu sự trên, tôi xin mạo muội là người đọc, vì là người ngọai sử nên chỉ góp nhặt vu vơ qua những sự kiện lịch sử mà bà trình bày để có những ghi chú sau này, dưới đây…


(…)
Nhưng cái khó không chỉ ở đấy, mà còn ở sự thiếu vắng kiến thức về ngữ học, triết học, văn chương Tây phương mà các tác giả thường dẫn chứng, hoặc tiềm ẩn trong câu văn, trong tư tưởng của họ. Tôi vượt được bước khó khăn này, có lẽ cũng nhờ hai năm theo học lớp dự bị thi vào trường lớn (préparation aux grandes écloles): Cái học về toán thì mau quên, nhưng tinh thần cố gắng hết sức để đạt mục đích. Áp dụng vào việc phê bình nghiên cứu, nó bắt người phê bình phải đi tới tận cùng lập luận của mình, buộc người nghiên cứu phải điều tra đến nguồn cội việc mình tìm kiếm, không ba hoa, không gian dối, không loè bịp, không viết những điều mình không hiểu, không viết những điều mình không biết.

Là một người Việt sống ở nước ngoài, bà gặp khó khăn và thuận lợi nào trong việc tìm tư liệu nghiên cứu về nhân vật lịch sử Việt Nam?


Trả lời ngắn gọn thì việc tìm tư liệu để viết lịch sử Việt ở Pháp, có cả khó khăn lẫn thuận lợi: thuận lợi vì ở Pháp, có đủ điều kiện để tra cứu các tài liệu Pháp, nhưng lại khó tìm tư liệu Việt Nam. Nhưng tôi muốn nói thêm một chút về kinh nghiệm làm việc của tôi: Việc đầu tiên khi vào nghề viết, dù viết gì, phải có một tủ sách, tủ sách xấu xí để đọc chứ không phải tủ sách gáy vàng để trưng trong phòng khách. Tôi thu thập sách cách đây hơn 30 năm và có thói quen, đi đâu, gặp sách nào, thấy mình có thể sẽ cần tới là mua ngay. Hoàn cảnh xui khiến, tôi ở gần thư viện quốc gia Pháp, đi bộ 10 phút tới, cũng là một may mắn. Chợ sách cũ và những hàng sách cũ, cũng là nơi cung cấp sách xưa, có duyên thì mình gặp.


Hai lần về nước năm 1993 và 1997, tôi cũng mua được một số sách quý. Nhưng từ 1997 đến nay, không được về, đành thỉnh thoảng nhờ người thân hoặc bạn văn, là những ân nhân giúp, mà tôi đã có được bộ Thực Lục và bộ Hội Điển, là những bộ sách nền móng, tuyệt đối cần (sic). Tóm lại, đối với một người nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, không được về nước là một khó khăn lớn để tìm kiếm những tư liệu cần thiết.

Tại sao bà lựa chọn chủ đề người Pháp và vua Gia Long?


Sau cuốn Nhân Văn Giai Phẩm và Vấn đề Nguyễn Ái Quốc, tôi được một người thân của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh trao cho một số tư liệu quý và nhờ tôi nghiên cứu lại về ông. Tôi đã bắt tay vào việc được mấy tháng, thì một chuyện tình cờ đưa đến khiến tôi tạm hoãn viết về Nguyễn An Ninh, để khảo sát về những người Pháp giúp vua Gia Long trước.


Lý do gián tiếp và sâu xa, là đã từ lâu, khi đọc được đâu đó, những mẩu lịch sử về triều Nguyễn, tôi vẫn thấy có nhiều điều không ổn: thí dụ, khi đọc đoạn hai chiến hạm Pháp do Lapierre và Rigault de Genouilly điều khiển, tấn công Đà Nẵng ngày 3/7/1847 trong tập sách Les grands dossiers de L’Illustration, thấy họ trình bày trận địa bằng tranh vẽ hoành tráng và những bài viết về chiến thắng rực rỡ này. Tôi không hiểu tại sao vua Thiệu Trị lại hèn nhát đánh lén một phái đoàn Pháp vào Đà Nẵng xin thả một giáo sĩ Pháp, khi đang điều đình. Tôi bèn tìm đọc đoạn Thực Lục viết về việc này mới ngã ngửa ra: sự thực trái ngược hẳn: Vị giám mục Lefèbvre mà họ lấy cớ đến xin giải thoát, thực ra đã được vua Thiệu Trị tha cho lần thứ nhì và sai Nguyễn Tri Phương dẫn sang Singapore rồi, nhưng ông ta vẫn trở lại và vua Thiệu Trị lại thả ra lần thứ ba. Hai tàu Pháp mượn cớ đến hoạnh hoẹ rồi tấn công bất ngờ, bắn nát năm chiếc thuyền đồng của vua đỗ trong vịnh rồi bỏ đi, khiến vua phẫn uất, mấy tháng sau mất.


Sau khi đọc thêm những văn bản của giáo sĩ và những nhân chứng khác, tôi thấy những điều Thực Lục kể là đúng (sic): Lapierre đánh lén một trận Trân Châu Cảng rồi bỏ đi, khiến vua Thiệu Trị mới phẫn uất, mà chết. Sau đó tôi còn đọc những đoạn khác của Thực Lục viết về việc triều đình Tự Đức và Nguyễn Tri Phương đương đầu với Pháp trong 30 năm. Đọc những lời bàn cãi trong triều của các quan, những lời nói và hành động của vua trong mỗi cảnh huống, đều chứng tỏ một chính sách chống ngoại xâm ôn hoà, sáng suốt, và có tổ chức, khác với những điều tôi đã được học về giai đoạn này: các sử gia từ Trần Trọng Kim đến Phan Khoang, đều cho rằng vì vua Tự Đức kém cỏi, bảo thủ, không chịu nghe lời canh tân của Nguyễn Trường Tộ, cấm đạo (…). Tất cả những tội “bế quan toả cảng”, “cấm đạo”, “không canh tân. Các giáo sĩ đã làm gì mà bị cấm đạo? Điều này phải chờ đợi những sử gia đích thực viết ra.


Đó là hai lý do gián tiếp. Lý do trực tiếp cũng có hai:


1- Tôi mua được bộ sách Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823 (Lịch sử truyền giáo ở Nam Hà 1658-1863) của linh mục Launay. Đây là bộ sách nền móng, tập hợp khá đầy đủ thư từ của các giáo sĩ đến truyền giáo ở Việt Nam, từ 1658 đến 1863.


Đọc những thư của Bá Đa Lộc và các vị thừa sai, mới thấy những điều trước đây tôi được học về Bá Đa Lộc là sai cả: Bá Đa Lộc không giúp gì cho vua Gia Long. Những gì mà ta cho là sự thực lịch sử về thời kỳ đó, đều phiến diện và không phải như thế, v.v.


2- Cùng thời điểm đó tôi nhận được bộ sách Nguyễn Văn Tường của Nguyễn Quốc Trị, do nhà văn Phạm Phú Minh ở Mỹ gửi tặng. Nguyễn Quốc Trị là người đầu tiên tố cáo những gian lận của các sử gia thuộc địa khi họ viết về Việt Nam, đặc biệt về Nguyễn Văn Tường là ông cố của ông, một người yêu nước, và đã bị thực dân bôi nhọ như một nhân vật bán nước. (xem tr 48)
Hai lý do trực tiếp này thúc đẩy tôi phải viết, viết ngay, vì những điều chúng ta bị những ngòi bút thực dân đầu độc đã thấm quá sâu vào huyết quản, tạo ra một thứ mặc cảm tự ty về dân tộc, từ hơn một thế kỷ nay. Đã đến lúc phải gột rửa.

Cách đánh giá của bà và của các sử gia nước ngoài và Việt Nam trước đây về chủ đề này có những khác biệt nào? Theo bà tại sao lại có sự khác biệt ấy?
(xem tr 2 ở trên) Vấn đề quan trọng của chúng ta hiện nay, là lầm việc “viết sử” với việc “đánh giá”. Vì thế, trong các cuộc phỏng vấn, người ta không hỏi những nhà được mệnh danh là sử gia ông biết gì về nhân vật hay giai đoạn lịch sử này, mà thường hỏi ông “đánh giá” gì về nhân vật lịch sử này, về giai đoạn kia. Và vị “sử gia” được hỏi cứ thao thao bất tuyệt “đánh giá” về một vấn đề mà đôi khi ông ta không biết.


Khi vua Minh Mạng lập Quốc sử quán và lệnh cho các quan viết sử đi khắp các nơi trong nước để thu thập tài liệu (1B), viết các bộ Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện…nhà vua đã tế nhị không đọc, tức là ông không kiểm duyệt bộ sử đồ sộ này (xem Ngự Phê tr 35). Vì thế mà ta thấy có những trang viết rất tự do, ghi cả những lời Minh Mạng “tâm sự” những lúc ông không tự tin ở mình, hoặc cho là mình đã quyết định sai lầm, hoặc cho là cách cai trị của mình quá nghiêm ngặt, đó là những điểm chứng tỏ sử quan có đủ tự do để cầm bút, cho nên phần viết về Minh Mạng của Thực Lục được các học giả (ai vậy?) đánh giá là trung thực nhất (sic). (2)

(1B) Ghi chú của người góp nhặt:


Theo trí nhớ còm cõi, lãng đãng như sương, lờ mờ như khói của người góp nhặt thì Gia Long cho người đi thu thập những chứng tích (như cái nồi ba mươi chôn giữa đồng), những chuyện do dân kể lại, hay những giai thọai (ngay cả huyền thoại chính thống…“cá sấu cản thuyền” để đưa vào Thực Lục của sử nhà Nguyễn): vì những người đi theo Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu đều bị giết chết nên không còn ai biết rõ để thuật lại? Để Gia Long đền đáp công ơn.


(2) Sử quan nhà Nguyễn theo Tống nho với trung quân: “Thiên tử vạn tuế, vạn vạn tuế“ vì vậy họ viết về Minh Mạng sao… trung thực nhất được. Vì thế họ phải mài mực cho nhuyễn, vuốt bút lông cho nhọn hoắt để viết sử, chẳng ai dại để bị…thiến như Tư Mã Thiên.

Lịch sử viết theo đúng quy luật như thế, tôi nghĩ rằng thời đại chúng ta còn kém xa thời đại Minh Mạng. Chúng ta chưa có tác phẩm lịch sử đúng nghiã mà chỉ có sự “đánh giá” lịch sử, tức là người ta tuyên bố như thế này, thế kia về một nhân vật lịch sử (Thực lục của bà cũng…’’đánh giá’’ Gia Long và Minh Mạng vậy). Trở lại với cuốn “Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long” của tôi, đó là cuốn sách viết về lịch sử bằng cách phản biện lại những lập luận của những ngòi bút thuộc địa về giai đoạn lịch sử này.


Tại sao tôi chọn Gia Long? Khi Nguyễn Huệ diệt xong hai chú và anh em của Nguyễn Ánh, đang truy lùng Ánh; để tránh nạn tuyệt tự, Ánh phải trao đứa con ba tuổi cho Bá Đa Lộc đem đi trốn. Hai năm sau, Ánh lại bị thảm bại nữa, mới quyết định giục Bá Đa Lộc đem hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện. Giai đoạn lịch sử này, được người Pháp phản ảnh lại trong sách: Nguyễn Ánh hoàn toàn nhờ Bá Đa Lộc và những người Pháp đến giúp mới trung hưng được nhà Nguyễn; người Pháp xây dựng thành trì, đóng tàu, đúc súng. Tóm lại, trước khi người Pháp đến, ta không có gì cả, chính người Pháp đã đem “văn minh” cho chúng ta và dựng lại ngai vàng cho nhà Nguyễn. Tôi phản bác và chứng minh rằng Bá Đa Lộc không giúp gì (3).về quân đội cũng như khí giới cho Nguyễn Ánh. Tất cả mọi công trình xây dựng, đóng tàu và luyện tập quân sự của Nguyễn Ánh dưới sự điều khiển của chính Nguyễn Ánh. Cũng nên nói thêm: Gia Long và Minh Mạng đã làm cho nước Việt Nam thống nhất trở thành một cường quốc ở châu Á.

(3) – Ghi chú của người góp nhặt: Vậy chứ bà… “sử gia” Thụy Khuê nghĩ thế nào về Jean Baptiste Chaigneau (tên Việt Nguyễn Văn Thắng) và Philippe Vannier (Nguyễn Văn Chấn) giúp Nguyễn Ánh sau đó làm quan cho Gia Long đến cuối đời. Hai ông Tây này sát cánh với Nguyễn Ánh đánh quân Tây Sơn ở trận Thị Nại tại Quy Nhơn. Trận thủy chiến Thị Nại được coi là trận Xích Bích của Nguyễn Ánh. Theo Thực Lục: Có ba người Pháp tham dự cuộc chiến là Chaigneau, Vannier, và de Forçant, họ lái ga-le hộ vệ Nguyễn Ánh..Nhưng dựa vào Đại Nam sử ký, số người Pháp giúp Gia Long còn nhiều hơn thế nữa (xem trang 32).

Theo bà, để dạy môn Lịch sử trong nhà trường cũng như truyền bá lịch sử trong xã hội, Việt Nam cần có những thay đổi nào?


Về việc dạy sử, trước hết phải có một bộ sử giáo khoa phổ thông soạn theo đúng nghiã của lịch sử, tức không như lối người Pháp viết về giai đoạn lịch sử Pháp thuộc để biện hộ cho chính sách của họ. Tôi không biết hiện nay trong nước học sinh được học những sách sử nào (5).


Cho tới bây giờ, bộ sử của Trần Trọng Kim vì ông dùng gần như hoàn toàn tài liệu của Thực Lục, vẫn là cuốn sử ít sai lầm nhất. Tôi không biết Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có được đưa vào sách giáo khoa không (sic) (4). Tuy nhiên nó là bộ sử soạn cách đây gần 100 năm rồi, chẳng lẽ, trong một thế kỷ, chúng ta chưa viết được một bộ sử nào khác, xứng đáng để cho học trò học. Nếu chưa có thì nên bắt tay ngay, từ giờ phút này. (5)
(4) – Ghi chú của người góp nhặt: Thụy Khuê học trung học ở Sài Gòn, tất nhiên có học môn sử ký (năm đệ ngũ, đệ tứ thì phải). Sau bà là “sử gia“, là người dựng sử mà không hay biết Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim có được đưa vào sách giáo khoa không! Nghe lạ.


Bà khẳng định: “Cho tới bây giờ, bộ sử của Trần Trọng Kim vì ông dùng gần như hoàn toàn tài liệu của Thực Lục”. Nguồn nào bà quyết đóan như thế? Ừ thi có thể cụ Trần Trọng Kim tra cứu Thực Lục để tìm những sai trái của nhà Nguyễn viết về nhà Tây Sơn, hay nhà Mạc thì sao?


Với Việt Nam sử lược dầy 617 trang, ở trang 13 cụ kê cứu sách chữ Nho và chữ Quốc ngữ 16 quyển, chữ Pháp 10 quyển. Trong khi bà chỉ có 2 quyển Thực Lục và Hội Điển của Hà Nội bằng chữ Việt, vì chữ Hán bà…chữ Tây chữ u. Ấy là chưa kể trong Việt Nam sử lược, cụ trích dẫn 4 quyển sử của nhà Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam thống chí, Đại Nam chính biên liệt truyện. Chứ không chỉ một quyển Thực Lục của riêng bà.


(5) Trong cuộc phỏng vấn, bà Thụy Khuê… tâm sự vụn với người phỏng vấn Hà Thuỷ Nguyên, báo điện tử Văn Việt ở Sài Gòn: “Chúng ta chưa viết được một bộ sử nào khác, xứng đáng để cho học trò học. Nếu chưa có thì nên bắt tay ngay, từ giờ phút này”. Vì vậy không ai cấm người góp nhặt suy diễn hay… “nghĩ dại” thế hệ hôm nay hãy bắt tay ngay, từ giờ phút này tiếp tục đi con đường của bà…viết lại lịch sử khác, để xứng đáng, để cho học trò học. Nếu vậy bà Thụy Khuê có hơi…lạc quan tếu. Vì năm 2017, bà có mặt ở Sài Gòn, ngẫu nhiên trùng hợp với hai cuốn Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Hòang Sa Trường Sa tư liệu & quan điểm của học giả quốc tế của người ngọai sử Trần Đức Anh Sơn. Thêm quyển Một cơn gió bụi của cụ Trần Trọng Kim bị cấm phát hành mà không thấy bà đả động đến. Lại lạ nữa.

Thay đổi góc nhìn lịch sử trong xã hội tác động thế nào đến sự phát triển của xã hội?


Lịch sử, như tôi vừa nói, là môn học về những nhân vật và những sự kiện lịch sử. Phải coi Lịch sử là sự trung thực và sự thực. Các sử thần nhà Nguyễn đã đáp ứng hai yếu tố này, trong bộ Thực Lục, cho tới thời vua Tự Đức. Vậy viết lại lịch sử giai đoạn nhà Nguyễn, dù khó, vẫn có thể làm được, vì ta đã có bộ Thực Lục là nguồn tư liệu nền móng.


Vậy những ai tha thiết với lịch sử nên sưu tầm những thông tin đáng tin cậy để làm tài liệu lịch sử. Thông tin trong sách Bên thắng cuộc của Huy Đức, có những điều dùng được, khi tác giả đề rõ xuất xứ, nhưng thông tin trong Đèn cù của Trần Đĩnh lại khó dùng, vì ông thưòng nói bâng quơ: nghe người này, người kia kể, do dó, không dùng làm tài liệu lịch sử được.
Khi người Pháp chiếm được nước ta, họ tự hào là đã chiếm được một cường quốc vào bậc nhất ở Châu Á. Vậy ta thử tìm hiểu tại sao. Tại vì Gia Long tự học, làm việc suốt ngày, đêm ngủ 6 tiếng, ăn cơm với cá mắm, xắn tay đào hào, đắp luỹ cùng với tướng sĩ. Tại vì Minh Mạng mua cân đường, cân nhãn cũng ghi vào Hội điển.


(…) Nếu ta lạnh lùng làm ngơ để quân Tầu chiếm Hoàng Sa, thì ta phải chạnh lòng nhớ đến chúa Nguyễn đã tạo đội Hoàng Sa, để giữ quần đảo Hoàng Sa (6), đội Bắc Hải để kiểm soát Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc, từ thế kỷ XVII. Vì vậy, khi biết sử, ta không thể sống tồi tàn, bệ rạc, ăn cắp của công, vì cha ông ta, (….) đã sống tử tế, sống lương thiện.


(6) – Năm 2008, người góp nhặt ôm đồm với bài văn sử Hải bất dương ba viết về Hòang Sa, Trường Sa gồm văn bản và bản đồ thời Gia Long, Minh Mạng. Qua văn bài của Lê Quý Đôn ghi chép trong Đại Nam thực lục vào năm 1754:


“họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh bổ sung vào. Mỗi năm luân phiên nhau đi, tháng giêng nhận giấy làm sai dịch, chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển, phải mất ba ngày ba đêm mới đến đảo”

Quê hương ngày trở lại


I. Sài Gòn-Châu Đốc-Hà Tiên


Về Sài Gòn tôi bị lạc. Tình trạng lạc kéo dài trên taxi, xe ôm, đi một mình hay cùng gia đình, bè bạn, tôi thường lẩm nhẩm trong đầu: đường này Gia Long (1), Tự Do đây, chắc là Lê Văn Duyệt (1). Nhưng khi ra Hà Nội, lại tịnh không có sự lẩm nhẩm nào. Hôm tới Lê Văn Hưu ăn phở, dù phố này nay đã hoàn toàn khác với trí nhớ, tôi vẫn nhận ra: đây là Lê Văn Hưu (1)., tới chút nữa rẽ ngang là phố Huế. Đèn phố Huế bẩy mươi năm qua chưa bao giờ tắt trong tôi.

(1) Ghi chú của người góp nhặt: đuờng Gia Long nay là Lý Tự Trọng, trường Gia Long của bà Thụy Khuê bị đổi tên là Nguyễn Thị Minh Khai, vậy mà chả thấy bà nắng không ưa mưa không chịu gì sất. Tiếp đến, đường Lê Văn Duyệt nay là đường Cách mạng tháng 8.


Ông Ngô Văn Phát, trưởng phòng họa đồ tòa đô chính Sài Gòn đặt tên phố có sự sắp xếp hòm hõm của ông: Nguyễn Huệ, Lê Lợi hai anh hùng áo vải, hai đường lớn nằm trong trung tâm thành phố Sài Gòn. Đường Gia Long song song với Lê Lợi, nằm trên đường có…”khám lớn”, người đọc sử lại đau chân há miệng đến Gia Long giam…”đầu lâu” Nguyễn Huệ trong khám. Đường Minh Mạng cắt ngang đường Nguyễn Tri Phương ngập những nghêu, sò, ốc, hến tuốt trong phố Tàu Chợ Lớn. Nay Minh Mạng bị ông Tàu Vân Nam cầm súng Mút-cơ-tông hộ tống ông Hồ về Việt Bắc, ông Tàu Vân Nam theo…“cách mạng“ tên Ngô Gia Tự được thể truất ngôi Minh Mạng. Tự Đức ở một nơi hẻo lánh gần Đa Kao ít ai biết tới.


Phố Lê Văn Hưu theo người góp nhặt là phố mới nhưng không chắc lắm. Lạ một nhẽ, bà…“sử gia“ Thụy Khuê chả lẽ không hay biết Lê Văn Hưu là tên một sử gia đời Trần, sau khi ông đỗ trạng nguyên, được giữ chức Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử Viện giám tu, năm 1272, ông hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta.


Năm 2016, trước bà Thụy Khuê một năm. Tôi tới quán bún chả Hương Liên mà tổng thống Obama đã tới ăn ở phố Lê Văn Hưu. Leo lên gác, tôi được bà chủ quán kể chuyện bún riêu nhà, cà hàng xóm là bà chủ quán được điện thoại đặt cọc giữ chỗ cả tháng trước với danh sách đồ ăn thức uống, chủ quán ngỡ có… đám cưới. Bà kể lể ngày đó, tầng trên tầng dưới đông nghẹt những khách là… bò xanh. Dưới con phố Lê Văn Hưu, đàn ông đàn bà thong dong nhàn tản đi lại làm như không có gì xảy ra và không ai biết các ông các bà đều là… bò xanh.


Lạ thêm nhẽ nữa, phố Lê Văn Hưu ngắn tũn có tiệm phở nào ra hồn. Sao bà không ghé phở Thìn ở 13 phố Lò Đúc, hay phở Bát Đàn ở số 42 phố Bát Đàn gần hồ Hồ Kiếm. Nhưng ấy chả phải chuyện của người góp nhặt tôi.

Hôm nay, từ phố Huế, đứa nhỏ bẩy mươi ba, bước trở lại Lê Văn Hưu, đi thêm chút nữa sẽ tới phố nhà nó: Thi Sách, số 7. Sài Gòn, hồi ấy tôi sống ở đường Phan Đình Phùng từ 10 đến 18 tuổi, đã lớn, ngoài giờ học, đạp xe đi chơi suốt, thuộc lòng hầu hết các con đường, thế mà sao bây giờ lại lạc? Từ khi rời nước năm 1962, tôi về lại cả thảy bốn lần: 74, 84, 93 và 97. Trừ lần 74 không lạc, còn ba lần sau, lần nào cũng lạc. Điều nhỏ nhặt này cứ luẩn quẩn trong đầu bao nhiêu năm, bây giờ ra Hà Nội tôi mới hiểu: Tại việc đổi tên đường. Hà Nội và Sài Gòn đều của tôi, chúng đã tham dự vào mảnh đời thời thơ ấu và niên thiếu, vậy mà tôi không lạc Hà Nội thời bé, lại lạc Sài Gòn thời lớn, bởi vì đường phố Hà Nội không hề bị đổi tên (2) : phố Huế vẫn là phố Huế, Hàng Bài vẫn là Hàng Bài, Trần Hưng Đạo vẫn là Trần Hưng Đạo. Nhờ vậy, những ai trở lại Hà Nội, dù bẩy, tám mươi năm sau, vẫn nhận diện được ba mươi sáu phố phường.

(2) Ghi chú của người góp nhặt:


Năm 1954, sau khi tiếp thu Hà Nội, “Ủy ban phố” lọai bỏ tên phố có…“liên” hệ đến vua, quan nhà Nguyễn. Như phố mang tên Nguyễn Hữu Huân. Vì các sử gia miền Bắc bài bác Phan Thanh Giản… “đầu hàng“ Pháp nên đưa Nguyễn Hữu Huân thay thế. Phố Nguyễn Hữu Huân tên xưa là phố Bè Thượng (người Pháp đặt tên là Rue de la Digue). Sau đặt tên lại là Rue Bắc Ninh, sau là Rue Maréchal Pétain (1940), thời 1948-1954 là phố Phan Thanh Giản.


Nguyễn Hữu Huân (1830-1875), quê Chợ Gạo, tỉnh Định Tường, ông dự thi Hương (học vị Cử nhân) và đỗ đầu, nên được gọi là Thủ khoa Huân. Ông khởi nghĩa chống Pháp ở các tỉnh miền đông Nam kỳ, ông bị Pháp xử chém năm 1875 tại Định Tường. !0 Năm sau, năm 1964, tên phố có…“liên hệ” đến vua, quan nhà Nguyễn mới được…“phục hồi” lại (kể cả sử nhà Nguyễn).
Quang Trung (3) sau khi diệt Trịnh, cũng chỉ dám đổi Thăng Long ra Bắc Thành, vậy mà Thanh Quan cũng đã giận lắm, nhiều năm sau, bà còn viết Thăng Long thành hoài cổ để lại như một chúc thư. Bởi vì con người luôn luôn gắn bó với đất nước, và đất nước của mỗi người không chỉ là nơi sinh và nơi lớn, mà còn là tiếng nói, là tên gọi những chốn thân yêu ấy nữa. Sự đổi tên một con đường, một thành phố, vô tình đụng đến ký ức xương thịt, ký ức tâm hồn của một người, của nhiều người, của một vùng, một phương, kéo theo những bi thương, phẫn nộ.


(3) Ghi chú của người góp nhặt:


Trong sớ tấu lên Quang Trung, Ngô Thời Nhiệm gọi Thăng Long là Bắc Thành, từ đấy trong sử học có tên…”Bắc Thành”. Quang Trung không đổi tên Thăng Long ra Bắc Thành. Chẳng thấy bà Thụy Khuê nhắc tới Minh Mạng đổi tên kinh đô Thăng Long là…tỉnh Hà Nội.


Nhiều nhà biên khảo cho rằng Minh Mạng vay mượn chữ Hà Nội lấy từ câu sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương): “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội” (Hà Nội bị tai họa thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội).


Như tên Hồ Tây: Quang Trung ra Bắc Hà, có ông tiến sĩ họ Đỗ, để lấy lòng vua mới, xin đổi hồ ra tên khác, ngài trả lời: “…Tây Hồ là thắng cảnh của người Thăng Long, người Thăng Long vẫn yêu mến và lưu luyến Tây Hồ, lẽ nào nay vì trẫm lại đổi tên đươc. Khách Tây Sơn, cảnh Tây Hồ, cũng là duyên kỳ ngộ, cảnh chẳng phụ người, làm sao người phụ cảnh…”.
Ngắn hai dài một thì Minh Mạng năm 1832 hết đổi tên Hà Nội đến Tây Hồ thành…Hồ Tây.

Chúng tôi về tới Sài Gòn sáng sớm ngày 2/11/2017. Vậy là hơn 20 năm xa cách, lần chót tôi rời Sài Gòn cuối tháng 9 năm 1997 (4).

(4) Ghi chú của người góp nhặt:

“…Đến nỗi một bài viết trong đó của nhà văn Thụy khuê (Việt kiều tại Pháp, cũng là tác giả “có vấn đề” cũng phải bịa ra một cái tên là Yên Cơ (xem tr 43). Sau này tôi (Nguyễn Đăng Mạnh) biết đấy là cái mẹo nghề của một biên tập viên, để qua mắt kiểm duyệt…”


(trích lược Thương nhớ mãi thầy Nguyễn Đăng Mạnh – Đào Tiến Thi)

Tôi thực thụ gặp lại quê hương qua chuyến đi Sài Gòn-Châu Đốc-Hà Tiên, do một công ty du lịch tổ chức riêng cho hai Việt kiều: Cái Bè là điểm hẹn đầu tiên với sông nước Tiền Giang. Phải đến đây mới cảm được Cửu Long Giang bát ngát của Phạm Duy, tiếng hát Thái Thanh bốc khói trên chiều về bên sông như giọng thuỷ thần cất lên từ đáy nước. Chúng tôi lên thuyền nhỏ đi vào sông lạch, ở đây cách Rạch Gầm Xoài Mút không xa, nhưng tôi không dám hỏi cô lái đò “điạ chỉ” vì chắc cô cũng chẳng biết việc Nguyễn Huệ phá quân Xiêm (1785 quá xa vời), hỏi thêm lẩn thẩn. Sông lạch miền Nam vô cùng quyến rũ, tôi nghĩ chắc hai chị em Hàn Mặc Tử đi thuyền trên sông trăng Sa Huỳnh ngày trước cũng chỉ tương tự thế này, ta thay ánh trăng bằng dừa nước, bằng tất cả những thứ cây sà xuống nước mà tôi không biết tên; lòng tôi chĩu trong đáy nước. Nước tôi. Chúng tôi ăn bữa cơm trưa đầy thi vị bên con cá chiên xù, trong khung cảnh thơ mộng của ngôi nhà cổ Anh Kiệt, không xa Rạch Gầm Xoài Mút của Nguyễn Huệ.

Buổi trưa hôm ấy mưa như trút nước, khiến tôi nhớ mưa miền Nam, mưa rồi tạnh ngay, trời lại nắng, như lời chào thân ái của vùng đất miệt vườn với đứa nhỏ di cư, mười tuổi, năm 54. Trời lại mưa. Mưa theo chân chúng tôi đến tận vùng đất cũ, tôi biết tên nhưng chưa bao giờ đến: Châu Đốc. Chúng tôi ở một khách sạn trên đồi cao, nằm cheo leo sườn núi Sam. Nhìn những tia nắng cuối cùng của hoàng hôn Châu Đốc chiếu lên khung cảnh tuyệt vời, đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy hãnh diện vì quê hương,một cảm tưởng gần như đã biến mất trong tôi từ nhiều năm tháng: bởi đây là lần đầu tiên tôi được ở một khách sạn tại vùng đèo heo gió hút, do người mình xây, có kiến trúc đẹp, những căn nhà nhỏ thơ mộng lẩn trong bụi cây, có mỹ thuật và tôn trọng môi trường, đầy đủ tiện nghi, khó tìm thấy trên đất Pháp cái gì tương tự. Tôi không khỏi bồi hồi cảm động, trong bụng nẩy lên một niềm tự hào dân tộc sâu xa: hai mươi bốn năm trước, tôi cũng tá túc tại một khách sạn sang ở Huế, nhưng phòng tắm đầy gián, chuột; đêm ấy, tôi không sao ngủ được, nghĩ bụng không biết khi nào dân mình mới thoát vòng nhược tiểu, mới có khả năng xây dựng một căn nhà. Thế mà nay, những người Âu đến đây, cũng như chúng tôi, họ ngạc nhiên và trầm trồ khen ngợi: từ kiến trúc, bài trí, đến cách tiếp đãi lịch sự, nồng hậu, món ăn, tất cả đều top, giá lại phải chăng, chỉ bằng 1/4 giá một khách sạn tương đương như thế ở Pháp. Khó tìm thấy khung cảnh nào thần tiên hơn.

Sự tiếp xúc với Châu Đốc sâu hơn, ngày hôm sau, nhờ thiếu nữ hướng dẫn thật sự yêu nghề, yêu đất nước. Em rành từ tên cây, tên cỏ, đến tên đất của vùng quê em, ngõ nào em cũng biết, em kể về quá khứ xa, gần: nội em xưa làm công chức cao cấp trong chính quyền cũ, bị án tử hình. Ôi quê hương yêu quý, đâu đâu cũng thấy dấu vết tương tàn, nỗi buồn làm tắt niềm vui. Em dẫn chúng tôi đi thăm Trà Sư, điểm lạ của miền đất có âm thanh Châu Đốc gióng lên như tiếng trống, thúc giục ta tiến sâu vào vùng sông nước, cây cỏ, hòa một, độc nhất vô nhị này. Trà Sư là rừng tràm bí mật và thơ mộng mà tôi đã nghe tiếng từ lâu, vì không hiểu rõ, nên vẫn đồng hoá với Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc. Nhưng không phải: Trà Sư là rừng tràm mọc trên nước, mênh mông, bất tận, mở ra, mở ra mãi… Thuyền đi, thuyền đi, rẽ lối trên bèo, đi sâu, sâu hơn, sâu mãi, thuyền đến đâu bèo mở ra đến đấy rồi vội vàng khép lại sau lưng thành một cánh thảm xanh tuyệt vời, có lẽ vì vậy mà người miền Nam gọi bèo tây là lục bình.


Châu Đốc còn là quê hương của Thoại Ngọc Hầu, vì Hầu mà chúng tôi đến đây: Thoại Ngọc Hầu hôm nay nằm trong dinh bên cạnh những ngôi mộ đá hình trái soan trắng, là mộ của gia nhân, tùy tướng. Hầu vẫn nhăm nhăm tay thương, tay kiếm, oai phong trấn giữ mảnh đất quan ải. Tôi giật mình, vừa yên tâm, vừa sợ. Châu Đốc trong trí tôi ngày trước là vùng địa đầu, rắn rít, nước độc, bây giờ là đất Trà Sư mênh mông đẹp rộng như rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, có Thoại Ngọc Hầu sừng sững bảo vệ. Muôn đời.

Từ Châu Đốc, chúng tôi theo con kinh Vĩnh Tế của Hầu để về Hà Tiên. Anh lái xe cho đi con đường dọc sát biên giới Miên Việt, bên kia núi là đất Miên, bên này đất Việt, anh guide bảo: mạ bên mình lá xanh hơn mạ bên kia, cô ạ. Ý anh muốn nói, mạ mình xanh hơn mạ Miên, tôi mỉm cười thầm nghĩ: Người mình chủ quan thật. Con đường đi dọc kinh Vĩnh Tế, mộc mạc, không trang điểm, còn làđường mộchôn bao nhiêu nhân công đào kinh mở nước, họ đã nằm xuống đây. Phải đến mới cảm thấy thấm thía công lao của người trước: vừa chống trả với “quân xâm lăng” (xâm lăng hay đòi đất? Vì mình chiếm đất của người ta!), vừa làm công việc dẫn thuỷ nhập điền cho dân cư cả một vùng đèo heo gió hút.


Đến Hà Tiên, quang cảnh khác hẳn, như thể ta bước sang một “nước” khác. Nước của họ Mạc. Gia trang Đông Hồ-Mộng Tuyết tựa ở cửa ngoài. Thi sĩ Đông Hồ bị lạc lõng trong vùng đất này, dù đó là quê hương ông. Bởi ông đã “phản bội” quê hương, văn chương Đông Hồ quá chải chuốt, quá Hà Nội, quá tỉnh thành, không hợp với đất Hà Tiên, có lẽ vì thế mà ông chỉ ở ngoại thành. Hà Tiên là của dòng họ Mạc, cha con người Triều Châu. Mạc Cửu phá hoang, xây dựng, rồi dâng chúa Nguyễn. Mạc Thiên Tích, con trai ông, nhà thơ tướng quân, đã mở rộng Hà Tiên thành đất văn học. Tôi biết Hà Tiên qua vài truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc trong Nhốt gió, nói về người Triều Châu lưu lạc sang ta. Đặc biệt chú Yều, mẹ Việt, có ông cố lưu lạc sang đây, lập làng đồ gốm Chòm Sao, nhưng chú ương bướng chủ trương “bất cộng tác” không chịu “hội nhập”, cứ nói, hát tiếng Triều. Nhưng rồi dần dần, chú Yều cũng “đầu hàng”, chú trở thành… người Việt. Tôi không biết trong số những người Triều Châu này, có bao nhiêu Trịnh Hoài Đức? Bao nhiêu Hồ Dzếnh? Di tích còn lại của họ Mạc ở Hà Tiên là những nấm mồ trên núi Bình San: cả dòng họ Mạc đã sống, chết, bảo vệ mảnh đất này, cả dòng họ Mạc nằm đó, nhìn xuống vịnh Hà Tiên, vẫn một lòng trung với Chúa, đã ba trăm năm.


Anh guide và anh tài dẫn chúng tôi ra tận biên giới Miên-Việt. Đứng bên cột mốc phân chia lãnh địa, bình an, một mối xúc động không tên dấy lên như thể qua bao nhiêu trận chiến tàn khốc, hồn người nằm xuống đã bảo an cho thời hiện tại trong không gian đầy nắng này. Tối đó anh guide dẫn chúng tôi tới một quán nhậu, ăn ghẹ luộc Hà Tiên, bất hủ.


Sáng sớm hôm sau đi mũi Hòn Chông, phía nam Hà Tiên, thăm Hòn Phụ Tử. Tiếc thay núi cha đã bị gẫy đôi vì một trận bão, nhưng phong cảnh vùng ráng tiên vẫn tuyệt vời. Chẳng biết có phải Mạc Cửu chọn tên Hà Tiên vì khu này có người tiên hay ra vào trên sông nước? Với tôi, ông đã chọn nghiã ráng tiên, bởi khi đứng trên Hòn Chông buổi sớm, mặt trời vừa mọc, dưới biển nhấp nhô bao đảo nhỏ chen chúc, trên trời ráng tiên múa hát vạn sắc màu, cho nên Mạc Cửu đã bình trị vùng đất hoang sơ tuyệt đẹp này rồi dâng chúa Nguyễn với tên Hà Tiên.


Hà Tiên gói trọn lịch sử về tình người, về lòng chung thuỷ, vượt trên mọi tranh chấp quốc gia, kỳ thị chủng tộc. Hà Tiên nhắc nhở thời điểm lịch sử mà hai dân tộc Việt-Hoa chung sống yên bình, chia nhau, không chỉ một mảnh đất, mà cả linh hồn mảnh đất ấy.

Trên đường trở lại Sài Gòn, chúng tôi ngủ đêm tại một khách sạn ở Cần Thơ, trên bến Ninh Kiều: dòng Hậu Giang hiện ra trước mắt, vẫn Cửu Long Giang và Phạm Duy cùng trổi dậy, cuồn cuộn, dưới chân cầu Cần Thơ, uyển chuyển, thanh nhã, nổi lên trong ráng chiều. Một lần nữa tôi cảm thấy hãnh diện vì những kỹ sư, kiến trúc sư trẻ của quê hương (sic) (5), đã dựng lên một kiến trúc hiện đại xứng đáng bắc ngang Sông Hậu. (Cái gì đẹp thì lại có người bảo Đại Hàn hay Nhật xây đấy, nhưng tôi chắc họ không đem “thợ” sang đâu!). Từ Cần Thơ, chúng tôi trở lên Vĩnh Long, rồi xuôi xuống Mỏ Cầy gần Bến Tre thăm gia đình trước khi về lại Sài Gòn.

(5) Ghi chú của người góp nhặt: “những kỹ sư, kiến trúc sư trẻ của quê hương”, lý sự gì bà Thụy Khuê… “ca” quá thể!. Ắt có ý gì đây? Ngòai ra trên đường Quê hương ngày trở lại, hành trang trong bút ký, bà còn mang những từ : hồ hỡi, xử lý, v…v…và rất nhiều như sau này.

Trở lại Sài Gòn, tôi bắt đầu để ý đến ngôn ngữ của người miền Nam, đặc biệt những người lái taxi. Chỉ cần một câu hỏi: cô chú ở đâu về? là biết chắc chúng tôi Việt kiều, họ bắt đầu tâm sự. Một cái tên được nhắc nhở khá nhiều trong những câu chuyện taxi là Võ Thị Sáu; có lẽ vì cô này chết trẻ. Sau này tôi còn gặp lại cô ở Côn Đảo. Người taxi phân trần: Cô coi, mấy đứa nhỏ phải học trường Võ Thị Sáu (xem tr 12), thiếu gì tên hổng xài, lấy tên con nhỏ vô học đặt cho trường học, tui hổng cho đi, tui cho chúng học tư, tốn kém mấy thây kệ.


Taxi vào vùng Thủ Thiêm, sự khác biệt còn dữ dội hơn: Một quần thể biệt thự sang trọng, đường phố toàn tên cách mạng mà vắng tanh, hiềm gì bác tài không dọa: Tui chở cô zô đây, chớ đây đâu phải đất “người mình”. Tôi lạnh gáy. Việc hòa hợp dân tộc xem chừng không dễ dàng. Về phiá người Bắc vào Nam, từ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp, cũng than: Lúc đầu đi mua hàng họ không bán bác ạ, họ bảo hết rồi, họ đuổi đi. Bây giờ khá hơn nhiều.
Tôi nhớ lại những ngày năm tư, lũ lỏi Bắc kỳ di cư chúng tôi, chín mười tuổi học chung trường với lũ lỏi Nam kỳ. Bọn di cư học buổi trưa, khi trường trống, còn sáng và chiều dành cho học trò Nam. Ngày nào hai bên cũng viết thư “gây chiến” để lại hộc bàn, lời lẽ con nít Bắc Kỳ ăn cá rô cây; cuộc chiến âm ỷ tới hết thời tiểu học. Lên trung học, mấy con người đẹp Bình Dương chủ trương hoà hoãn với đứa di cư lạc lõng một mình trong trường nữ học Gia Long, chúng đình chiến, chúng thương xót, xử huề. Thế là tôi trở thành gián điệp nằm vùng, nhiệm vụ dò thám tình hình địch Trưng Vương (của mấy bà chị): năm nay lễ Hai Bà bên đó ai cưỡi voi, ai đóng Trưng Trắc? Tình hình “nội chiến” những năm xa xôi ấy trở lại trong tôi, lúc này; nhưng hôm nay, bây giờ, không phải là lũ trẻ ranh mà là người lớn với nhau, âm thầm, đáng ngại.


Điểm văn hoá cuốn hút tôi ở Sài Gòn là Đường Sách, một con đường rất ngắn nằm ngang hông nhà thờ Đức Bà, ít ai nhớ tên thật (6), thường gọi Đường Sách.

(6) Ghi chú của người góp nhặt:


Tên Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (1910-1995)


Đường Sách do ông Lê Hoàng, giám đốc Nxb Trẻ lập nên.


(nguồn: Con đường sách Sài Gòn và câu chuyện đốt sách của Ngô Thế Vinh)

Tôi chưa thấy ở đâu có quang cảnh như thế, từ thời phồn vinh của Sài Gòn ngày trước với hai nhà sách lớn Khai Trí, Xuân Thu, hay Paris ngày nay, với nhà sách Joseph Gilbert trên đại lộ Saint Michel và siêu thị Sách-Vidéo Fnac ở Montparnasse. Đường Sách, chen lẫn giữa những cửa hàng sách là những quán cà phê, bạn mua sách. Hay bạn là tác giả, ra đó ký sách cho người đọc. Hoặc chỉ đơn thuần bạn thích ngồi cà phê, nhìn ngắm những cặp vợ chồng trẻ, tung tăng dẫn con đi chơi, mua sách hình… tất cả gợi lên một không khí thanh bình, một sức sống mãnh liệt đang lên của dân tộc, tôi không biết ở dưới có giấu những ngu dốt, tham ô, tham nhũng nào không, nhưng tôi tin vào sức sống và sự an nhiên tự tại của những người trẻ đang làm sách và đọc sách ở đây, phần lớn họ đều sinh sau bẩy lăm cả.


Đường sách chứng tỏ Sài Gòn ngày nay đã khác nhiều với Sài Gòn hôm qua, không chỉ với những cao ốc, những tiện nghi, tân tiến của một thành phố thế kỷ XXI, mà Sài Gòn còn đang phục hồi phần linh hồn, tức là phần chữ nghiã, tư tưởng, đã một thời bị dập xoá. (7)

(7) Ghi chú của người góp nhặt:


Có thể vì…“kỵ húy “ với người trong nước nên không thấy bà Thụy Khuê nhắc tới chuyện đốt sách hay tấm bảng to bằng cái đình :


“…Tấm bảng hiệu uy nghi cao hơn đầu người với hàng chữ: “Không cần phải đốt sách để phá huỷ một nền văn hoá. Chỉ cần buộc người ta ngừng đọc mà thôi.”. Tác giả câu nói ấy được ghi là của Mahatma Gandhi. Thực ra câu này của nhà văn Ray Douglas Bradbury…”.


(nguồn: Con đường sách Sài Gòn và câu chuyện đốt sách của Ngô Thế Vinh)

Không chỉ những sách miền Nam cũ dần dần được in lại, như những sách về tư tưởng, triết học của Nghiêm Xuân Hồng, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung… mà còn có cả sách in chui, mà còn có cả những sách hiện đại của Tây phương dịch sang tiếng Việt.


Duy Cường dẫn chúng tôi đi thăm mộ cha. Ông ở Bình Dương, trong Vườn Phạm Duy, thực hiện theo ý tưởng của Duy Cường, bên cạnh ông là mộ Thái Hằng và bia Duy Quang. Trên tượng bán thân bằng đồng đen, ông sừng sững như còn tại thế. Ông đã vĩnh viễn trở về với đất nước với tiếng nói và con người. Khi tôi ra đời cách đây 75 năm. năm tôi lên bốn, Phạm Duy về làng với những tiếng quân hành bộ đội tràn vào sân nhà những đêm trăng sáng một mùa thu năm qua cách mạng tiến ra đất Việt, bừng ngàn tiếng thanh niên tung gông phá xiềng. Tôi “theo” kháng chiến từ giây phút ấy, trong vô thức chưa định hình của đứa bé lên bốn, với Đường Lạng Sơn, với Việt Bắc, với Ngọn Trào Quay Súng, với Tiếng Hát Trên Sông Lô.

II. Côn Đảo


Từ Sài Gòn, chúng tôi lấy máy bay ra Côn Đảo. Chiếc máy bay nhỏ chở đầy hành khách. Tôi để ý: hầu như không có người Nam, máy bay chở toàn người Bắc. (…) Ra khỏi sân bay, hai chúng tôi đi cùng xe ca lớn với họ về khách sạn, trên con đường duy nhất, dọc bờ biển, quanh co đồi núi, phong cảnh tuyệt vời. Xe vừa ra khỏi phi trường chừng cây số, đã thấy một bức tường cổ, tôi đoán chừng là tường thành Catchpoole.


Di tích này gắn bó với thời điểm lịch sử khi quân Anh xâm lấn nước ta đầu thế kỷ mười tám. Theo sử thì tháng 10 năm 1702, Allen Catchpoole đem tám chiến thuyền và hơn 200 quân đến chiếm Côn Lôn, lập đồn trại, gọi là thương điếm. Y tự phong cho mình chức Toàn quyền, hùng cứ, ra vào buôn bán như ở trên đất Anh vậy. Thời đó Anh nhất thế giới, chiếm xong Ấn Độ, họ lập công Ty Anh-Ấn, buôn bán khắp vùng (…) Chuyện ông Allen Catchpoole đại khái là sau khi ghé Tầu, không làm ăn gì được, ông bèn xuôi Nam, đến Côn Đảo thấy phong cảnh hữu tình, dân cư thưa thớt, bèn đổ bộ vào tháng tám năm Nhâm Ngọ tức tháng 10 năm 1702.


Trước một lực lượng hùng hậu như thế, các cụ phải chịu thua lúc đầu, vả lại lúc đó Quốc Chúa mới chiếm xong Thuỷ Chân Lạp, còn đang lo bình định. Hơn một năm sau các cụ mới “phản công” và dùng mưu Khổng Minh Gia Cát: Chúa Nguyễn Phước Chu, tức Quốc Chúa, thấy bọn giặc biển bấy giờ đã đã lập xong sự nghiệp thành trì, bèn sai Trương Phước Phan (cha Trương Phước Loan) xử lý vụ này. Phước Phan mộ 15 người Mã Lai cảm tử làm kế trá hàng, vào thành Catchpoole, đến đêm nổi lửa đốt thành, đâm chết quan một, quan hai, mở cửa cho quân Việt vào. Quan ba, quan tư trốn thoát. Bắt sống quan năm, tức Catchpoole, giải về kinh, dọc đường chẳng may ông ta bị chết. Quân Anh từ đó không dám bén mảng tới Côn Lôn nữa. Một nhân chứng người Anh, là Finlayson, đến Côn Lôn 120 năm sau (1822) còn tìm thấy vết tích: “Cách bờ biển độ nửa dặm [800m], chúng tôi thấy tàn tích của công ty thương mại ngày xưa đã xây dựng trên đảo này“. Đi khỏi phi trường một lúc, chúng tôi nhìn thấy một tường thành dài chạy dọc theo đường xe đi, tôi không dám chắc đây là một phần tường thành Catchpoole, nhưng cứ chụp ảnh và ghi lại đây, may ra xác định, hoặc tìm lại được dấu vết ở chỗ khác chăng? Điều này khả thể bởi vì Côn Đảo không bị chiến tranh tàn phá, các dấu tích đã còn lại từ 1822, có thể tiếp tục tồn tại đến bây giờ.

Côn Đảo dân cư thưa thớt, chắc không khác quang cảnh những thế kỷ trước là bao. Chúng tôi ở khách sạn nhà nước, giá rẻ, đó là một resort nằm trên bãi biển, đầy đủ tiện nghi, nhân viên tiếp đãi lịch sự, trong phòng khách nhìn ra biển (…). Biển xanh ngọc bích, bãi cát mênh mông hệt như những nơi được gọi là thiên đường hạ giới như Tahiti, Madagascar…Côn Đảo nước tôi cũng là một thiên đường hạ giới. Bây giờ tôi đang ở đây, trước cảnh trời nước bao la, cát trắng mịn, biển biếc, nước trong vắt nhìn thấy đáy. Khách sạn có cả phái đoàn đi cùng trên máy bay buổi sáng, nhưng không ai tắm, chỉ có hai chúng tôi. Không cảm tưởng nào êm dịu bằng. Trưa hôm đó chúng tôi ăn đồ biển lần đầu ở Côn Đảo. Ghẹ Hà Tiên đã kinh hồn rồi, đến Côn Đảo ghẹ còn ghê hơn, mà còn thêm bao nhiêu thứ khác, tôm, cá, sò, ốc, tôm hùm, mực, rùa biển… bạn không thể nhớ hết tên… bạn chỉ cần chỉ tay vào hồ nước, bất cứ chủng loại nào, đều tươi, nhẩy, đầu bếp vớt ra xào nấu theo thực đơn.

Chiều hôm đó chúng tôi lên xe điện đi một vòng thành phố, bé tí, nhưng cảnh đẹp vô cùng, lô nhô đầy quần đảo vây quanh. Nắng gió, như món quà đến từ trời thổi về an ủi những linh hồn chỉ tìm được tự do sau khi chết. Chúng tôi định nghỉ ngơi hôm trước và sáng sau đến nghiã trang Hàng Dương thăm mộ Nguyễn An Ninh, nhưng cậu guide bảo: Ấy, cô đến đây mà không đi Hàng Dương ban đêm thì kể như chưa đi Côn Đảo. Có gì vậy em? Bí mật, cô phải đến mới biết được. Mà phải mười hai giờ đêm mới linh. Tôi giãy nảy: cô sợ ma không đi đêm đâu và giờ ấy cô ngủ từ khuya rồi. Cậu trẻ nhất định: Thôi cháu đến đón cô chú 9 giờ tối vậy, sớm quá, ít người không vui. Tò mò thúc giục, tôi gật đầu.

Đúng chín giờ, xe điện đón chúng tôi chở đến cửa nghiã trang. Chúng tôi theo chân cậu guide, một cảnh tượng âm u hoành tráng hiện ra trước mắt: hai hàng dương liễu sừng sững trong bóng tối chập chờn dẫn vào nghĩa địa, một điệu nhạc đông tây giao hưởng giữa Requiem Mozart và bát âm cầu hồn, mời gọi người sống giao lưu cùng người chết. Tôi vốn tính sợ ma từ nhỏ, bấy giờ lạnh người, nổi da gà, chân tay rã rời không muốn bước, nhưng cũng không dám lui. Cậu guide đi trước, chúng tôi bám sát theo, được một lúc, cậu dẫn chúng tôi rẽ sang một con đường nhỏ, còn rùng rợn hơn: chúng tôi đi giữa hai hàng mộ, mộ áp sát chân, vừa áp đảo, vừa quyến rũ, tôi sợ dẫm lên mả, nhạc vẫn đi theo như mời gọi, kéo mình vào sâu hơn, sâu hơn… Tôi đi như người lên đồng, như kẻ bị ma làm.


Cậu guide quyết giữ bí mật đến phút chót, cuối cùng, một ngôi mộ rất lớn hiện ra: Mộ cô Võ Thị Sáu (1), lần thứ hai tên cô trở lại, từ hôm tôi về nước. Lần này cô không bị xỉ vả là người vô học mà cô được sùng bái như một nữ thần. Tôi chụp vội vài cái ảnh vì trời chưa tối mịt, họ bận rộn sắp đồ lễ, đốt nhang; quang cảnh vừa âm u vừa lạ lùng mà thân thuộc: trong đám đồ lễ có rất nhiều nón, chừng họ thương cô ở dưới ấy trời nắng gắt. Tôi nhận ra phái đoàn đồng hành trên máy bay. Nhiều người vào lễ, chen nhau khấn vái, có người khấn lâm râm, có người khấn rất to, tuồng như sợ kẻ bên cạnh lấn lướt, khiến cô Sáu không nghe được giọng mình. Đại khái họ cầu cô Sáu phù hộ cho họ lên quan tiến chức, khấn xong họ hể hả đốt vàng mã như để bảo cô: đấy nhá có tiền tiêu rồi nhá, nhớ mà phù hộ đi, đừng có quên đấy. Đêm càng khuya, người đến lễ càng đông, khói nhang vàng mã ngộp thở mặc dù trời cao đất dầy và những ngôi mộ bạt ngàn trong nghiã trang nằm im, vô chủ, không nói, không hương, không khói, không thở. Tôi thương cô Sáu. Tôi cầu cô sống khôn chết thiêng, cô còn trẻ quá, cô chả biết những dàn cảnh âm u, nhạc cầu hồn, chẳng dành cho cô đâu, mà chỉ để lôi cuốn đám khách mê tín dị đoan, bay từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi ra Côn Đảo, ở đúng một đêm, sáng sau lại bay về Bắc.

(1) Ghi chú của người góp nhặt:


Lẽo đẽo theo bà Thụy Khuê trên đường Quê hương ngày trở lại của bà, hành trang của người góp nhặt không quên cõng theo…cụ Khuất Đẩu. Cụ tên thật là Trương Đẩu, người Bình Đinh, cụ viết Những tháng năm cuồng nộ nên bây giờ vẫn còn sống nhăn răng ở… Bình Định, đất của Nguyễn Huệ Quang Trung. Cụ giục giặc: “…Bà Thụy Khuê là một nhà nghiên cứu và phê bình, tôi nghĩ bà không nên viết những thứ vớ vẩn ấy mới phải…”

Sáng hôm sau chúng tôi quay lại Hàng Dương thăm mộ Nguyễn An Ninh. Nghiã trang đẹp hùng vĩ, xứng đáng là nơi an nghỉ của hàng ngàn người tù đã ngã xuống. Ông mất đã hơn bẩy mươi năm, nhưng vẫn trẻ như ngày nào. Tôi thích ông vì ông là nhà cách mạng trẻ, chịu chơi nhất, để tóc dài từ năm 1920. Đẹp trai, sang Pháp làm tốp-mô-đen kiếm tiến để học và hoạt động chống Pháp. Ông còn biết tạo kiểu mẫu áo nữa: Loại cổ cao, ông thiết kế từ năm 1920, không biết năm nào thì bị Mao cóp. Khoảng 1980, Karl Lagerfeld, cái ông người Đức, thiết kế hàng đầu của Pháp, giám đốc mỹ thuật nhà Chanel, chế biến chút đỉnh, được cả thế giới khâm phục. Nhưng không như cổ áo Nguyễn An Ninh sáng tạo cách đây một thế kỷ.


Lại thêm một chuyện này nữa, tôi có trong tay một tài liệu quan trọng là lá thư của viên bác sĩ Pháp phụ trách trại giam nơi Nguyễn An Ninh ở (là trại Phú Sơn, trại này lúc tôi đến thăm đang đóng cửa trùng tu) gửi cho Toàn quyền Pháp ở Sài Gòn yêu cầu chuyển ngay Nguyễn An Ninh về Khám lớn để điều trị vì ông bị bệnh phù thũng trầm trọng. Nhưng khi thư đến phủ Toàn quyền thì Pháp đã bị Nhật đảo chính, không còn quyền hành gì nữa, do đó lá thư không ai trả lời, và Nguyễn An Ninh đã chết oan vì hoàn cảnh chiến tranh, không phải vì thực dân tàn ác, bỏ đói khát, bệnh tật, như ta thường viết ở khắp nơi. Nguyễn An Ninh khi ở tù khám lớn, được Tây một điều Monsieur hai điều Monsieur tức là Thưa ông theo lời Phan Văn Hùm kể.


Và ở Côn Đảo ông có phòng riêng trong trại Phú Sơn vừa xây xong. Nhà tù là phần chính của thành phố, cũng gần biển, bây giờ không giam ai nữa.

Nhà tù Côn Đảo


Trại Phú Hải


Tôi đến Bảo Tàng Côn Đảo để hỏi xem họ còn giữ di tích tài liệu gì về Nguyễn An Ninh không, cho cuốn sách sẽ viết. Nhưng đã không tìm được gì. Một người nhiều tuổi, khẽ bảo tôi: Còn gì đâu cô, hồi giải phóng, người ta đốt ba ngày không hết tài liệu. Tôi ngỡ ngàng buồn bã: Tại sao đốt tài liệu Côn Đảo, nếu đốt hết thì còn gì để chứng minh tội ác Thực Dân-Mỹ Ngụy. (2)

(2) Ghi chú của người góp nhặt: Hành trang trong bút ký Quê Hương Ngày Trở Lại, bà Thụy Khuê mang theo những từ : Hồ hỡi, xử lý, v…v…Nay thêm “nếu đốt hết thì còn gì để chứng minh tội ác Thực Dân-Mỹ Ngụy”. Người góp nhặt với đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ thì bà…”đổi mới tư duy” chăng? Ai biết đó là đâu!

Còn một chuyện này nữa: đây là chuyện trong nhà: Chuyện bà Phi Yến ghi trên tấm bia đặt ngoài cửa An Sơn Miếu ở Côn Đảo: Bà Phi Yến tên thật là Lê Thị Răm, là thứ phi của Nguyễn Ánh. Năm 1783, Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo, có ý định giao Hoàng Tử Cải, con bà Phi Yến, cho Bá Đa Lộc đưa sang Pháp làm con tin, bà khuyên Ánh không nên cầu cứu ngoại bang. Ánh bắt giam bà trong một cái hang ở đảo xa và đem hoàng tử Cải xuống thuyền chạy. Cậu bé khóc lóc đòi mẹ, bị Ánh ném xuống biển…Còn bà Phi Yến được hai thần vật là Vượn Bạch và Hắc Hổ cứu sống, sau bà bị một tên vô lại cưỡng bách, bà nhẩy xuống biển để giữ tròn trinh tiết.


Chuyện Nguyễn Ánh gửi Hoàng Tử Cải cho Bá Đa Lộc xẩy ra cùng năm (1783) với gửi Hoàng Tử Cảnh cho Bá Đa Lộc đem đi trốn. Vậy năm 1783, Ánh gửi tới hai con, hai lần, cho Bá Đa Lộc? Năm 1783, Ánh 21 tuổi. Vợ chính thức là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, con gái Tống Phước Khuông, cưới năm Mậu Tuất (1778, lúc 16 tuổi) sinh hai con trai: Chiêu, chết sớm, và Cảnh sinh năm 1780. Liệt truyện (3) ghi rõ tên các bà hoàng, bà phi và các con của vua: Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (3), có hai con, Chiêu, chết sớm và Cảnh, sinh năm 1780.

(3) Ghi chú của người góp nhặt: Liệt truyện ghi không chính sử chút nào, vì với danh bất chính, ngôn bất thuận vì khi Gia Long lên ngôi bỏ chức…hòang hậu, (như Minh Mạng bỏ hàm vị trạng nguyên trong thi cử). Lại nữa, Nguyễn Ánh chưa làm vua sao có hòang hậu.


Người góp nhặt lấy ngắn nuôi dài vào thời Nguyễn Ánh: Hoàng tử Cảnh mất năm 1801, 22 tuổi, vì bệnh đậu mùa, có hai con trai là Mỹ Đường và Mỹ Thùy. Năm 1824, Tống Thị Quyên, vợ goá hoàng tử Cảnh tư thông với Mỹ Đường, bị Lê Văn Duyệt biết, tâu vua. Tống Thị phải tội: Lê Văn Duyệt dìm nước cho chết. Mỹ Đường tội nặng bị giáng xuống hàng thứ nhân, mất năm 1848, đời Tự Đức. Mỹ Thùy bị bệnh chết năm 1826, không có con. Các con của Mỹ Đường được giữ tôn thất, Lệ Chung trông nom việc thờ phụng dòng hoàng tử Cảnh. Những việc này ghi rõ trong Thực Lục và Liệt Truyện. Chuyện này không thấy bà Thụy Khuê đả động đến. Và cũng như chuyện “Chúa Minh vương (Quốc chúa Minh Mạng) có đến 146 con“.

Bởi chưng bà Thụy Khuê thửa được từ Hà Nội hai bộ: Hội Điển và Thực Lục. Bộ Hội Điển víết về những thói tục, lệ tục dân cũng như quan phải theo, thảng như. “Phàm quan văn võ ở đêm với con hát, hay đem con hát vào tiệc rượu, phạt 60 trượng”, tức giải ra công đường đánh 60 gậy rồi lột mũ áo, đuổi về vườn”. (do Tùng Nhiên Phạm Đình Hổ sọan vào thời Gia Long)
Bà Thụy Khuê chỉ viết khơi khơi, không nói rõ Thực Lục nào vì nhà Nguyễn có tới 4 bộ: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam thống chí, Đại Nam chính biên liệt truyện. Có bộ chia thành ”kỷ” (chương, mục) chép từng một đời vua, như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, v…v…Riêng Đại Nam chính biên liệt truyện viết về các bà phi, công chúa hay các quan là công thần nhà Nguyễn


Không thấy ghi tên bà Phi Yến và hoàng tử Cải ở đâu. Từ lúc lên ngôi Vương, Ánh chạy Huệ suốt. Không thấy chỗ nào nói Ánh ra Côn Lôn nghỉ mát để lập phòng nhì. Đến lúc chạy ra Côn Lôn năm 1783 (4), cũng không chắc Ánh có ghé vào đảo. Mà nếu Ánh có ra Côn Lôn để cứu con rơi đi nữa, thì chắc cũng phải có vú nuôi hoàng tử, chứ đâu đến lượt vua phải tã lót, ru dỗ không nổi thằng bé, khiến nó khóc toáng lên, phải vứt nó xuống biển! Chưa kể bà Phi Yến vì khuyên Nguyễn Ánh đừng cầu viện Pháp mà bị Ánh giam trong hang tối. Rồi bà Phi Yến lại được khỉ trắng và hổ đen cứu. Rồi bà lại xém bị tên vô lại hiếp. Rồi bà lại dại dột nhẩy xuống biển tự tử, thành ra ta không thể biết dấu tích bà đâu mà điều tra. Tôi đọc đi đọc lại tấm bia sừng sững trước cổng Miếu, không tin được mắt mình: Một chuyện phong thần (4) như vậy được dựng thành bia. Ở Côn Đảo hiện nay, vẫn còn tồn tại việc thờ bà thánh Phi Yến, cả mẹ lẫn con bị giết bởi bàn tay vị vua xây dựng triều Nguyễn, ban Quản Lý Di Tích Côn Đảo, khi ký tên dưới những dòng chữ này, lại không nghi ngờ gì cả.

(4) Ghi chú của người góp nhặt: Theo…”sử gia” Thụy Khuê, Thực Lục là cuốn sử ít sai lầm nhất, đến độ cụ Trần Trọng Kim gần như hoàn toàn dùng nó để làm tài liệu để viết Việt Nam sử lược. Thi đây: Cuốn sách gối đầu giường của bà viết về Nguyễn Ánh chạy trốn ra Côn Sơn.

Theo Thực Lục quyển I, trang 205: “…Mùa xuân năm Đinh Dậu [1777], giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ vào đánh cướp Sài Gòn (thuộc tỉnh Gia Định), Duệ Tông (chúa Nguyễn Phúc Thuần) đi Đăng Giang (sông Chanh, thuộc tỉnh Định Tường). Vua [Nguyễn Ánh] đem binh Đông Sơn đến ứng viện, đón Duệ Tông đến đạo Trấn Giang (An Giang), rồi đến Long Xuyên (thuộc tỉnh Hà Tiên). “Tháng 9 [ÂL, 10/1777] mùa thu, quân giặc theo ngặt, Duệ Tông bị nạn băng. Một mình vua được thoát, lên thuyền đậu ở sông Khoa (thuộc Long Xuyên), định nhân ban đêm vượt biển để lánh giặc. Bỗng có con cá sấu cản ngang mũi thuyền ba lần, bèn thôi. Sớm mai dò biết đêm ấy có thuyền giặc ở phiá trước. Vua dời sang đóng ở đảo Thổ Châu…”.

Vì những người đi theo Nguyễn Ánh đều bị giết chết nên không còn ai biết rõ để thuật lại? Phải chăng vì đã có huyền thoại (hay phong thần) chính thống “cá sấu cản thuyền”, nên không ai dám hỏi Nguyễn Ánh sự việc ra sao, để ghi lại? Các huyền thoại về việc Nguyễn Ánh chạy thoát Nguyễn Huệ nhiều lần, được các sử gia triều Nguyễn viết vào bài Biểu, ghi ở đầu bộ Thực Lục phần viết về Gia Long, với những câu: “Sông Khoa có ngạc ngư [cá sấu] cản mũi“. “Trâu thần hộ giá ở Đăng Giang”, “Rắn thiêng nọ cõng thuyền nơi Phú Quốc”. Đó là những lời viết trong…Biểu, với ý thần thánh hoá vua. Những huyền thoại này, sau được viết thành truyện, vẽ lại trên các bình sứ, điã bát sứ cổ, kể các giai thoại Gia Long tẩu quốc.

III. Nha Trang

Máy bay từ Sài Gòn ra Nha Trang đỗ tại phi trường Cam Ranh. Đường từ phi trường về Nha Trang là một xa lộ rất đẹp, không kém gì những đại lộ nổi danh trên thế giới mà tôi đã đi qua.

Trước khi về nước, tôi đã đọc những bài báo mạng vô cùng khẩn cấp báo động việc người Tầu đang chiếm miền Nam, họ đã chiếm hết Nha Trang rồi, có một “phóng viên tại chỗ” chụp hình những cửa hàng trên bờ biển Nha Trang 100% là Tầu, y hệt như ở Hồng Kông hay Thượng Hải, vị “phóng viên” này còn cho biết, Nha Trang hiện đã cho tiêu tiền Trung Cộng. Ngoài những tin giật gân này lại còn có bài báo mô tả chuyện người Hoa ăn thịt người, với chứng cớ đầy đủ: chụp hình mâm cỗ thịt người có món xào, món rán, món nấu ninh rựa mận, kèm bên cạnh là ảnh cô kiểu mẫu chân dài tóc mượt, mắt bồ câu, trước khi bị chặt làm cơm. (1)

(1) Ghi chú của người góp nhặt:

Kính thưa bà Thụy Khuê,

Tôi xin mạn phép được viết những dòng này, sau khi bài bút ký của bà nhan đề: Quê Hương ngày trở lại phần ba là: Những dòng đầu khiến cho ai đọc cũng phải choáng. Xin trích:

”….Trước khi về nước, tôi đã được đọc những bài báo mạng vô cùng khẩn cấp báo động việc người Tầu (…) chân dài tóc mượt, mắt bồ câu, trước khi bị chặt làm cơm…”.


Là một nhà nghiên cứu và phê bình, tôi nghĩ bà không nên đọc những thứ vớ vẩn đó mới phải. Đàng này bà đọc, rồi dành cả mấy trăm chữ để chứng minh rằng người Tàu không ăn thịt người. Mà có ăn như trong Thủy Hử cũng chỉ là do tác giả Thi Nại Am hư cấu mà thôi. Và bà khuyên không nên tin các nhà văn, họ nói vậy mà không phải vậy.

(Thụy Khuê, trở lại quê hương để làm gì?! – Khuất Đẩu)

Chúng tôi đến Nha Trang không phải để kiểm tra những “sự kiện” này, vì khi về Sài Gòn và xuống miền Tây đã tìm chả ra mống Tầu nào, muốn ăn cơm Tầu, cũng khó kiếm, còn chuyện cô tốp mô đen mắt bồ câu bị cắt ra xào nấu, thì tôi chắc vị nào có cao kiến đem vụ việc lên internet phải là người trí thức có đọc Thủy Hử và Lỗ Tấn, mới biết chuyện “người Trung Hoa ăn thịt người” mà minh chứng bằng hình ảnh. Nhưng ông (hay bà) này lại không coi chừng tụi nhà văn, họ nói vậy mà không phải vậy.

Cụ Thị Nại Am kể chuyện hồi đó (tức là hồi 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc phất cờ khởi nghiã, nước Trung Hoa loạn lạc, cướp bóc, tham ô, giặc giã nổi lên khắp nơi, đi tới chỗ hẻo lánh nào cũng có quán rượu thịt người. Là cụ ấy cường điệu, muốn nói nước Tầu hồi ấy đầy dẫy trộm cướp giết người. Còn ông Lỗ Tấn nói đồng bào của ông ta ăn thịt người thì được, chứ kẻ nào không phải người Tầu dám nói như thế, vô phúc ông ấy biết được là ông ấy hiện về bóp cổ lè lưỡi ngay. Bởi ông Lỗ Tấn cũng dùng hình ảnh người Tầu ăn thịt người để chỉ một xã hội Trung Hoa hiện đại xuống dốc, người xâu xé người, chỉ muốn “ăn thịt” lẫn nhau; chuyện này áp dụng vào dân tộc Việt Nam hiện nay cũng không sai mấy đâu, tôi sẽ nói thêm ở dưới.

Chúng tôi đến Nha Trang trước hết để thăm thành Diên Khánh và kiểm chứng lại những điều người Pháp thực dân rêu rao khắp nơi và các sử gia của mình cũng y nguyên chép lại:

Diên Khánh là thành Vauban do Pháp xây. Để xem tận mắt cái “thành Vauban” đó nó như thế nào. Diên Khánh, trước kia chỉ là một đồn nhỏ có tên Hoa Bông, Nguyễn Ánh hành quân qua thấy vị trí tốt, bèn chọn làm cứ điểm địa đầu để chống Tây Sơn: mỗi lần từ Sài Gòn ra đánh Quy Nhơn có chỗ nghỉ chân và cũng là nơi rút về khi thua trận.

Tháng 10/1793, Tôn Thất Hội và Vũ Viết Bảo được lệnh vua đắp thành. Theo sự mô tả của Lê Quang Định (Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí) thì Diên Khánh là thành đất, cao hơn 4 mét, chu vi hơn 2 hai cây số. Thành hình tứ giác, bên trong có núi đất, ngoài thành có hào, có cửa trại, phiá trước có cầu treo bắc ngang trên hào. Thành có sáu cửa: phiá Nam và phía Đông, mỗi phiá một cửa, phiá Tây và phiá Bắc, mỗi phiá 2 cửa. Bây giờ còn lại hai cửa Đông và Tây là chính. Trên cửa thành có lầu. Hào đã bị lấp, không còn cầu treo, nhưng thành vẫn sừng sừng, trải 224 năm sau khi đắp. Một phần tường thành còn nguyên vẹn.

Tường thành bằng đất, cao khoảng bốn mét đúng như Lê Quang Định mô tả, vững như chân vại, điều này giải thích tại sao quân Nguyễn Ánh chặn đứng được những cuộc tấn công ác liệt của Trần Quang Diệu. Hai cửa thành và phần tường thành còn lại xác định Diên Khánh không phải là thành Vauban, không có một nét gì của Vauban cả. Đứng trên tường thành, ta thấy rõ vị trí chiến lược của Diên Khánh: ngoài hào (đã bị lấp) và tường thành, còn một vòng thành thiên nhiên kiên cố hơn nữa, đó là vòng núi quây tròn khép kín chung quanh, bảo vệ Diên Khánh.

Khi viết cuốn Vua Gia Long và người Pháp, tôi phải đọc tài liệu để chứng minh Diên Khánh là thành đất, do Tôn Thất Hội và Vũ Viết Bảo đắp. Nhưng bây giờ đến đây, đứng trên thành đất này, thì không cần tài liệu gì cả: sự thực hiển nhiên thành đất Diên Khánh hiện ra trước mắt đúng theo lời mô tả của Lê Quang Định. Xin nhắc lại, Lê Quang Định viết rất rõ, từ năm 1802 trong Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí, rằng: Diên Khánh là thành đất, cao hơn 4 mét, chu vi hơn 2 hai cây số. Thành hình tứ giác, tức là hình vuông.

Vậy mà, trên Wikipédia tiếng Việt in bản đồ thành Diên Khánh hình cá chép, có nhiều góc nhọn nhô ra khỏi tường thành, đặc biệt theo kiểu kiến trúc Vauban (Vauban tạo những chỗ nhô ấy để lính canh có thể nhìn xa hơn, không bị tường thành che lấp). Từ đâu lọt ra cái thành Vauban hình con cá này? (2) Vì đứng trên tường thành ta thấy rõ: thành hoàn toàn làm bằng đất, không có sự xây cất nào, trừ cửa thành. Tôi chụp thêm tấm ảnh: đứng trên tường thành ta nhìn thấy một góc quẹo, và góc này đúng là góc vuông. Tóm lại, tường thành thẳng tắp không có gì nhô ra như thành Vauban và thành Diên Khánh hình vuông.

(2) Ghi chú của người góp nhặt:

Giữa Gia Long và Minh Mạng có “Xung khắc” về thành quách. Thảng như thành Thăng Long, Gia Long đập phá cho thu nhỏ lại năm 1804, Hòang Thành bị thu hẹp lại, phá cổng Tường Phù, nay còn mảng tường ở số 38B phố Hàng Đường, dựng cột cờ có dạng Vauban. Năm 1835, Minh Mạng thu hẹp lại hơn nữa.

Học mót theo… “sử gia“ Thụy Khuê, mặc dù chỉ là cái thành: “Người viết sử chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là trình bày sự kiện lịch sử, sử viết về một nhân vật hay một giai đoạn lịch sử, rồi tự rút ra những suy nghĩ “. Vì vậy người góp nhặt ngẫm nguội thế này: Trước kia, Nguyễn Ánh cho xây thành bằng đất. Sau khi lên ngôi vua, Gia Long dựng lại thành xây 6 góc (xem thành Diên Khánh hình các chép) theo kiến trúc Vauban của Pháp.
Như năm 1790, Gia Long xây “Thành Sài Gòn”. Người Pháp vẽ kiểu tên Oliver de Puymanuel, ông này có tên Việt là Ông Tín, xây theo kiểu Vauban: thành xây 8 góc theo Bát Quái, tên chữ gọi Quy Thành. Sau Minh Mạng đập phá thành Sài Gòn, xây lại nhỏ hơn và đặt tên là Gia Định thành.

Với lịch sử là cuộc tái diễn không ngừng, có thể Minh Mạng phá bỏ…’’thành Vauban’’ và dựng thành Diên Khánh hình vuông…bằng gạch, chứ không phải là…thành đất (xem Cửa tây thành Diên An).

Cách cửa tây của Diên Khánh vài trăm mét có nhà thờ Hà Dừa rất đẹp, nhưng không mấy ai biết đến. Hà Dừa là một trong những ngôi nhà thờ cổ hiếm hoi còn sót lại. Những cột gỗ cao vút của nhà thờ còn nguyên, chắc bằng gỗ lim, đánh bóng mầu huyết dụ, tuyệt đẹp. Ra Bắc, tôi sẽ còn thấy một kiệt tác nữa, thật hoành tráng là nhà thờ Phát Diệm (xem tr 37) ở Ninh Bình.

Chúng tôi ở khách sạn sát bờ biển, trên đường Trần Phú (3), khu đông vui nhất, có thể ví với đại lộ Lối dạo của người Anh (Promenade des Anglais) ở Nice. Nha Trang có nhiều điểm giống Nice: Nước biển cùng mầu ngọc bích trong vắt như pha lê. Vịnh Nha Trang hình bán nguyệt hơi giống Vịnh Thiên Thần (Baie des Anges) ở Nice, nhưng bãi biển Nice toàn sỏi, đi đau chân, Nha Trang cát mịn, vuốt ve chân người. Bãi biển không chỉ ngừng ở Nha Trang mà chạy dài suốt dọc bờ biển Khánh Hoà. Bãi biển Khánh Hoà, không chỉ ngừng ở Khánh Hoà, mà chạy dài suốt cả miền Trung… Hơn hai ngàn cây số bờ biển, chưa kể đảo và quần đảo, có một không hai của đất nước ta. Trong khách sạn, bạn chạm trán với nhiều người da vàng, phần lớn là Tầu, không phải Nhật. Các cô chiêu đãi thấy chúng tôi bèn nói tiếng Anh, tôi bảo phải nói tiếng Việt chứ, em cười: cháu tưởng cô người Tầu, vì ít có khách Việt vào đây. Về sau, tôi nhận thấy: Mỗi thành phố có một loại du khách ngoại quốc: Hội An đầy Nhật. Hà Nội đầy Pháp và Nha Trang đầy người Hoa, như thể những người ngoại quốc này đã chọn ưu tiên miền đất du lịch đã gắn bó với họ từ trước. Hội An gắn bó với người Nhật là phải, vì đây là thành phố do người Nhật đến buôn bán dựng nên phố Nhật từ đầu thế kỷ XVII. Còn Hà Nội gắn bó với người Pháp cũng dễ hiểu vì Hà Nội là thủ đô của Đông Dương Pháp.

Riêng người Hoa, theo lịch sử, có thể gắn bó với: Chợ Lớn, Biên Hoà và Hà Tiên. Năm 1679, các tướng người Minh gốc Quảng Tây là Long Môn, Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm và Trần Bình An, chạy nhà Thanh, đem 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến cửa Tư Dung (tức Tư Hiền) vào Đà Nẵng “xin làm tôi tớ”. Chúa Nguyễn Phước Tần không từ chối, nhưng ông lấy cớ “ngôn ngữ bất đồng” nên cho họ vào đất Đông Phố (tên xưa của Gia Định) lúc đó còn thuộc nước Chân Lạp khai hoang và lập nghiệp và chuá ra lệnh cho vua Chân Lạp phải đón tiếp. Những người Hoa này đóng ở Bàn Lân (thuộc Biên Hoà), họ xây dựng nên vùng Biên Hoà, Chợ Lớn ngày nay. Một đám khác, gốc Quảng Đông, tức là đám Mạc Cửu, thời chúa Nguyễn Phước Chu (1691), chạy xuống phiá nam khai khẩn vùng đất Hà Tiên rồi dâng đất chuá (1708). Nhưng có lẽ người Hoa đi du lịch hiện nay không tha thiết lắm với lịch sử hoặc vì họ không biết tổ tiên họ đã đến những vùng này lập nghiệp, nên họ chọn Nha Trang là nơi biển đẹp, nước ấm và gần đất Tầu.

Chúng tôi ngạc nhiên vì không thấy một cửa hàng Tầu nào trên đại lộ Trần Phú (3), ven biển. Đi vào mấy phố bên trong, lác đác có vài tiệm chen lẫn với những cửa hàng ngoại quốc khác. Buổi tối, chúng tôi xuống đường tìm quán ăn dọc bờ biển, một thanh niên lái xích lô điện dừng lại mời: Cô chú đi ăn phải không? Lên xe con chở sang bên kia, khu người mình, rẻ lắm, chỗ này họ bán cho Nga, Tầu, mắc mà dở. Chỉ mất có 20.000 đồng tiền xe, đi dọc bờ biển chừng hai ba cây số, là tới khu hàng quán người Việt, bình dân, đông đảo, hải sản thật tươi, thừa mứa, ngon và rất rẻ. Ở đây, chỉ có người Việt và một số người Nhật, chứ không có người Tầu.

(3) Ghi chú của người góp nhặt:

“…Cầu sông Cạn, gần thành Diên Khánh, là nơi Trần Quý Cáp bị triều đình Huế vâng lệnh Pháp chém ngang lưng. Khi lên Diên Khánh sao bà không dừng lại chụp một tấm hình?

Hay con đường ven biển đẹp nhất Nha Trang, giờ đổi tên Trần Phú. Bà có biết trước 75 con đường ấy mang tên một ông vua trẻ yêu nước bị Pháp bắt đi đày. Bà có biết đó là vua Duy Tân và bà có thắc mắc ông có bị tội gì với đảng cộng sản không mà nay bị lấy mất tên?

Là một người yêu nước, xa quê hương trở về, sao bà không thắc mắc những điều đó, mà lại đi thắc mắc sao người Việt lại căm thù Tầu? Những người xa quê hương không nhiều thì ít, ai cũng thắc mắc này nọ. Bà thắc mắc cũng phải thôi. Chỉ tiếc là hơi trật bản lề.

Xin trân trọng chào bà…”.

(Thụy Khuê, trở lại quê hương để làm gì?! – Khuất Đẩu)

Xa hơn nữa là thời Gia Long, các quan đại thần giúp vua dựng nước như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh… đều là học trò của Võ Trường Toản, đều là người Minh hương cả: Trịnh Hoài Đức, tác giả Gia Định Thành Thông Chí, một thứ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của miền Nam. Lê Quang Định, tác giả Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí, (4) cuốn sách địa dư đầu tiên của nước ta, viết từ năm 1802, sau này Hoàng Lê Nhất Thống Chí dựa vào rất nhiều (4). Nhờ Lê Quang Định mô tả thành Diên Khánh mà ta biết được thành Diên Khánh hình vuông, đắp đất, là sản phẩm hoàn toàn Việt Nam.

(4). Ghi chú của người góp nhặt:

Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí, không phải là cuốn sách địa dư đầu tiên của nước ta. Bà Thụy Khuê hãy hỏi lại…cụ Ức Trai thì rõ ngay. Nều bà không hay cụ Ức Trai là ai thi cụ sẽ nói cụ Nguyễn Trãi cho bà biết: Dư địa chí là tập địa dư cổ nhất của nước ta. Rất tiếc vì vụ án Lệ Chi Viên, Đại Tư đồ Đinh Liệt sai hủy bản khắc in sách Dư địa chí năm 1447.

Bà Thụy Khuê đơm chuyện Hoàng Lê nhất thống chí dựa vào Hoàng Việt nhất thống địa dư chí. Trong khi Hòang Lê nhất thống chí là tiểu thuyết lịch sử viết theo Tam quốc chí, do con cháu Ngô Thì Sĩ thay nhau viết nên mỗi chương mỗi khác. Vì nhà Nguyễn đốt sách nhà Tây Sơn nên sử gia Hà Nội viết về thời Tây Sơn gần như đều vay mượn từ Hòang Lê nhất thống chí, như Nguyễn Huệ tả phù hữu bật có quân sư La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp hay giáo Hiến v.v…

Ngay như…”sử gia” Thụy Khuê, từ đầu chí cuối hòm hõm vay mượn sử nhà Nguyễn viết về Gia Long, Minh Mạng, nào khác gì Hòang Lê nhất thống chí: Gia Long văn võ tòan tài như Khổng Minh. Minh Mạng nào khác gì Bàng Thống v.v…

IV. Phú Yên

Từ Nha Trang chúng tôi đi dọc bờ biển Phú Yên lên Quy Nhơn, qua Vạn Giã, Đại Lãnh, Tuy Hòa…cảnh đẹp vô cùng, bao ghềnh đá, đầm, vịnh, mỏm, bãi…không bút nào tả hết được. Nhà thờ Hà Dừa ở Nha Trang, có phong cách của nhà thờ đầu tiên trên đất Việt (theo sự mô tả của giáo sĩ Cristoforo Borri ở dưới) vì có những cột toàn bằng gỗ lim, thổ sản vùng này. Nhưng về di tích tôn giáo, đáng kể là nhà thờ Mằng Lăng ở Phú Yên, không cổ như Hà Dừa, nhưng nhà thờ có lưu trữ một bản cuốn sách song ngữ Việt-La Cathechismus (Phép giảng tám ngày) của Alexandre de Rhodes, xuất bản tại La Mã năm 1651.

Gần đây có phong trào tôn vinh Alexandre de Rhodes, coi ông là cha đẻ của chữ quốc ngữ. Vì vậy cần tìm hiểu giai đoạn trước khi de Rhodes đến Đàng Trong, tức là thời kỳ đầu tiên đạo Thiên Chúa truyền vào Việt Nam và sự phát sinh ra chữ quốc ngữ với Cristoforo Borri.


Ký sự của giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), người đến Đàng Trong năm 1618, và là tác giả duy nhất mô tả kỹ càng xã hội Đàng Trong thời chúa Sãi và thời kỳ truyền giáo đầu tiên ở nước ta, giai đoạn trước khi Alexandre de Rhodes (1651-1660) đến Đàng Trong (12/1624).

1- Cristoforo Borri


Ba giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đến Đàng Trong là: Linh Mục Francesco Buzomi (Ý), Linh Mục Diego Carvalho (Bồ) và thầy giảng Antonio Dias (Bồ), đến Cửa Hàn (Đà Nẵng) cùng ngày 18/1/1615. (xem Cristoforo Borri tr 21)
Francesco Buzomi (1576-1639) ở Đàng Trong lâu nhất, ông đã xây dựng nền móng đạo Thiên chúa, ông dựng ngôi nhà thờ đầu tiên ở Đà Nẵng, nhưng ông không nói được tiếng Việt, phải giảng đạo qua thông ngôn. Năm 1639 chúa Thượng Nguyễn Phước Lan phái ông về Macao lo công việc cho chúa, rồi ông bị bệnh và mất ở Macao năm đó.


Diego Carvalho (1576-1624) chỉ ở Đàng Trong một năm, năm 1616, ông trở về Nhật truyền đạo, và theo lời kể của Borri, ông bị ném xuống hồ nước lạnh, dầm gió tuyết, chết cóng ngày 22/2/1624, tại Nhật.


Antonio Dias (Bồ) ở lại Đàng Trong đến 1639, thì bị chúa Thượng Nguyễn Phước Lan trục xuất. Sau khi Carvalho sang Nhật, Francesco Buzomi ở lại Đàng Trong với người trợ giảng, ông đã ráo riết hoạt động và đã thành công: xây được nhà thờ đầu tiên ở Đà Nẵng.

Macao bèn gửi linh mục Francesco de Pina (1585-1625) người Bồ, sang trợ giúp. Francesco de Pina, là người Âu châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt, ông đã theo cách ghi lại tiếng Nhật của các giáo sĩ Dòng Tên ở Nhật, để viết tiếng Việt theo mẫu tự la tinh (a, b, c). Năm 1620, các tu sĩ dòng Tên tại Hội An đã soạn thảo một cuốn sách giáo lý bằng “chữ Đàng Trong”. Francesco de Pina đã dạy de Rhodes tiếng Việt khi ông đến Đà Nẵng năm 1624


Việc giảng đạo bị ngừng, các giáo sĩ ở trong tình trạng khẩn cấp. Năm 1618, Macao gửi linh mục Cristoforo Borri (1583-1632), người Ý và linh mục Pietro Marches (tức Pedro Marquez) (1613-1670) người Bồ lai Nhật, sang trợ giúp. Cristoforo Borri là một nhà bác học, quê ở Milan. Qua sáu tháng học tập, ông đã nói chuyện và “giải tội” bằng tiếng Việt. Nhập dòng Tên ngày 16/9/1601. Năm 1615, ông đi Đông Á truyền giáo. Năm 1618, ông cùng với Pedro Marquez, từ Macao đến Đàng Trong. Sau khi thiết lập xong cơ sở đạo Gia Tô ở Đàng Trong, năm 1622, Borri rời Nước Mặn (thuộc Bình Định), sang Macao, rồi về Ý. Sau ông bị trục xuất khỏi giáo hội. Ông mất bất ngờ ngày 24/5/1632, một cái chết được gọi là “tai nạn” ở Roma.

Cristoforo Borri là tác giả tập Ký sự nổi tiếng về Đàng Trong, xuất bản lần đầu năm 1631, tại Roma, rồi sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bản in trên BAVH, quyển 3-4, 1931, do Đại tá Bonifacy dịch và chú giải. Bonifacy là giảng viên môn lịch sử bản xứ tại Trường Đại Học Hà Nội, và là đặc phái viên của trường Viễn Đông Bác Cổ. Tập Ký sự Đàng Trong có tên đầy đủ là (Ký sự của Tân phái bộ Tu sĩ dòng Tên ở Vương quốc Đàng Trong). Đây là tác phẩm đầy đủ nhất về con người, sản vật, xã hội Đàng Trong, đồng thời ghi lại lịch sử những bước đầu tiên của đạo Gia Tô ở Việt Nam.


Đối với chữ quốc ngữ, tác phẩm của Borri còn có ý nghiã nguồn cội: trong 5 năm ở Đàng Trong (từ 1618 đến 1622) ông đã học tiếng Việt và ghi lại những chữ quốc ngữ, đầu tiên hết là những điạ danh: Sinua (Thuận Hoá), Cacciam (Kẻ Chàm, Quảng Nam), Quamgua (Quảng Nghiã, tức Quảng Ngãi), Quignin (Quy Nhơn), Renran (phiên âm tên sông Đà Rằng, tức Phú Yên), rồi dần dần ông viết những câu ngắn: Dàdèn, Lùt, Dàdèn, Lùt (đã đến lụt ). Ông coi Balaciam (nước mắm) là thứ gia vị thực phẩm của Trời, chỉ một vài giọt đủ tăng thêm giá trị thức ăn không đâu có được. Ông cho sầu riêng là trái cây tuyệt vời trần thế. Borri thấy người Đàng Trong phần đông đi chân đất (có ít người đi xăng đan, kiểu dây buộc như mốt bây giờ) ông và các giáo sĩ cũng quen đi chân đất, sau này về lại Macao, không chui chân vào giày nữa. Ông mô tả bữa ăn xem ra không khác bây giờ: ăn cơm trắng với các món ăn, gắp bằng đũa. Người mình thời đó đã uống chìa (trà). Có hai thứ Đông y và Tây y, uống thuốc Tây không khỏi quay sang thuốc Ta lại khỏi. Ông chứng kiến một người Âu bị bọ cạp cắn, thuốc tây không chữa được, chờ chết. Mời thầy ta đến, thầy thuốc sai thổi một nồi cơm, để nạn nhân ngồi lên trên trùm chăn kín mít, nước cơm xông lên, vết thương xẹp dần, nạn nhân thoát chết.
Borri cho rằng tiếng Việt dễ học vì không cần chia động từ, vì vậy chỉ trong 6 tháng ông đã biết nói và nghe xưng tội, nhưng muốn làm chủ ngôn ngữ này thì phải 4 năm. Borri mô tả chúa Sãi luyện quân: người Việt vớt súng ống của những thuyền Hòa Lan hay thuyền Bồ gặp bão tạt vào bờ, nên họ rất sành sử dụng những loại súng này.

Buzomi có công đầu trong việc truyền giáo ở Đà Nẵng. Rồi ông đi khắp nơi, ông giảng đạo qua những người thông ngôn có trình độ và ông đã thành công. Ông đã thu phục được nhiều người quyền quý theo đạo ở Cacciam (Kẻ Chàm, tức Dinh Chàm) là nơi Chúa ở. Borri kể tiếp: Cha Buzomi đã hết sức vận động khiến triều đình ban cho cha một mảnh đất để xây nhà thờ, xây nhanh lắm, tất cả con chiên đều góp phần vào, người góp công, người góp của. Cha cũng được một nơi làm nhà ở, tốt, sạch, để giáo huấn dân tộc này niềm tin thánh chúa.

Tiếng đồn vang đến Macao, Cha Tỉnh (tức là cha bề trên) thấy cần phải gửi ngay một linh mục trẻ, và một thầy trợ giảng, người Nhật, cùng đến, để sau khi học tiếng, ông có thể giảng đạo, không cần thông ngôn. Linh mục trẻ này chính là cha Francesco de Pina (1585-1625), người Bồ, đã từng học Thần học với cha Buzomi. Borri quyết định đi tìm cha Buzomi và ông tìm đến Đức bà Giovanna (Jeanne) bà cho biết, cha Francesco de Pina với cha người Nhật, đã được những người Nhật có đạo bí mật dẫn về Faifo (Hội An). Cha Pietro Marches, rất thạo tiếng Nhật, muốn đi Faifo, và ở đấy, chúng tôi đã gặp lại cha Francesco de Pina, vẫn sống giấu diếm, nhưng được người Nhật trông nom rất tử tế và ông vẫn giảng đạo. Gặp lại nhau chúng tôi mừng rỡ vô cùng, vì chúng tôi rất thân nhau và cùng ở trong giáo đoàn Macao.


Trong khi ông đang khốn khổ ở trên bờ biển Đà Nẵng với một mụn nhọt ác tính trên ngực, tưởng chết, thì không ngờ quan trấn thủ Pulucambi (Bình Định ngày nay) đến Turon, thấy người này đau đớn, trông như cái xác thoi thóp, động lòng thương cảm, ông hỏi người này là ai, vì sao lại rơi vào sự bất hạnh như thế này. Người ta thuật lại cho ông tất cả tình huống đã xảy ra, rằng: người ta đã gán cho ông ta và những bạn đồng hành cái tội làm cho trời hạn hán, khiến dân chết đói, nên họ bị Chúa ra lệnh trục xuất. Quan trấn thủ cười: Làm sao có thể gắn cho vị thầy tu ngoại quốc khốn khổ này cái điều chẳng dính dáng gì đến ông ta? Và ông ra lệnh khiêng thầy tu xuống thuyền, dẫn về vùng ông cai trị, cho ở trong tư dinh và mời những thầy thuốc danh tiếng và giỏi giang nhất trong triều đến chữa, lại sai các con trai ông tận tình chăm sóc cha Buzomi trong vòng một năm, cho đến ngày khỏi bệnh. Mọi người đều kinh ngạc thấy một vị quyền quý, vì lòng bác ái vị tha đã xử sự như thế với một người lạ ngoại quốc.
Cha Buzomi ở Pulucambi cách hải cảng Turon một trăm năm mươi dặm; cha Marches ở lại Faifo (Hội An) làm cha bề trên, tương tế những người Nhật, cùng với cha de Pina; còn về phần tôi (Borri) tôi trở lại Turon để phục vụ những người Bồ, làm lễ, giảng đạo và nghe họ xưng tội.

Borri kể tiếp: Các cha Buzomi, de Pina và tôi rời Faifo đi Pulucambi cùng với quan trấn thủ. Trong suốt cuộc hành trình, ông đã đối đãi với chúng tôi một cách lịch lãm và nồng hậu không thể tả, cho chúng tôi ở cùng với ông, cách xử sự không có động cơ nhân đạo nào giải thích nổi, mà phải công nhận đó là do sự an bài của thượng đế.
Ông dành riêng một con thuyền lớn cho chúng tôi và những người thông ngôn, còn hành lý lại có một chiếc thuyền khác chở. Với tiện nghi như thế, chúng tôi đi trọn 12 ngày, sáng rời, tối cập bến, bởi tất cả các bến cảng đều gần gụi các thị trấn, hay tỉnh thành lớn của tỉnh Quanghia [Quảng Ngãi] và ở tỉnh này, quan trấn thủ cũng có quyền như ở tỉnh Pulucambi.
Tám ngày sau, ông ra lệnh xây cho chúng tôi một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi ở thành phố Nước Mặn [Xin nhắc lại: Tỉnh Pulucambi gồm cả ba thành phố Nước Mặn, Nước Ngọt, và Qui Nhơn, tức là tỉnh Bình Định ngày nay]. Sau khi nhìn qua những chỗ ở trong dinh ông, gồm độ hơn trăm nóc nhà, ông nói với chúng tôi chọn một căn sạch sẽ nhất (có thể) làm nhà thờ, và bảo cho ông biết để khi cần đến ông sẽ cho. Ông cấp cho chúng tôi tiền bạc và sai tiếp tế thực phẩm ăn uống đầy đủ cho cả “phái đoàn” gồm các tu sĩ, các thông ngôn và người hầu cận.


Sau đó quan trấn thủ bảo chúng tôi chọn chỗ để xây nhà thờ để ông đến xem và ước lượng các phiến gỗ, cột, kèo… cần thiết. Chỉ ba ngày sau, chúng tôi được báo tin “nhà thờ đã đến”. Không hiểu “đến” bằng cách nào, chỉ biết theo chỗ chúng tôi chọn thì nhà thờ không thể lớn và sẽ có nhiều cột để dựng. Lúc đó chúng tôi mới hiểu, ở nhà quê, chỗ dinh ông có sẵn một đội ngũ cả ngàn người bắt tay vào việc. Mỗi cột lớn, được ba mươi người lực điền khênh, còn những người khác, người thì mang đầu cột, mang kèo, mang rui, mang các mảnh ván, mang ghế, mỗi người cầm một thứ gì đó, kéo nhau vào nhà chúng tôi để giữa sân. Ông kiến trúc sư đến, ông đo dây thừng và lượng lại các khoảng cách đâu đó xong rồi ông bảo những người khênh cột đến, mỗi cái được trồng đúng nơi chốn của nó, sau đó ông gọi tiếp các mảnh khác và người ta cứ tuần tự đem đến lắp xong, theo đúng trật tự răm rắp, chúng tôi ngạc nhiên và kinh hoàng, chỉ một ngày, họ đã dựng xong nhà thờ! Nhưng có lẽ làm vội quá nên nhà thờ hơi bị nghiêng về một phía. Quan trấn thủ biết tin gọi ngay kiến trúc sư ra lệnh phải sửa không sẽ bị chặt chân, muốn cần bao nhiêu thợ cũng được. Ông kiến trúc sư bình tĩnh bảo họ tháo nhà thờ ra từng mảnh và dựng lại hoàn hảo trong một thời gian rất ngắn.


Nhưng chẳng may cho phái đoàn giáo sĩ: Quan trấn thủ, sau một buổi cưỡi voi đi săn bị cảm nắng nặng, ông qua đời. Phái đoàn không còn trợ cấp, rơi vào tình trạng thê thảm. Rồi phải quyết định: Vì không còn cấp dưỡng và cũng không truyền đạo được, Linh Mục de Pina trở về Faifo, nhờ người Nhật quyên góp cứu trợ; vì ông biết rõ tiếng Việt, ông nói thông thạo tự nhiên, cho nên ông đã không bỏ lỡ cơ hội để truyền giáo cho người Vìệt. Cha Buzomi đi Đà Nẵng, đem theo người thông ngôn giỏi nhất, để xin người Bồ cứu giúp. Tôi và hai người trợ giảng ở lại Nước Mặn, tìm cách sống sót cho tới khi nào nhận được sự giúp đỡ của Macao.

Trong những ân nhân của các giáo sĩ, đáng kể nhất là quan trấn thủ Bình Định, hiện chưa biết ông là ai, cần phải nghiên cứu thêm. Linh mục Cadière nghiên cứu và ông rất khâm phục bà Minh Đức Vương Thái Phi, tên thánh là Marie, bà phi của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Điều này giải thích uy quyền của bà, tại sao bà có nhà thờ ở trong cung, bà xây nhà thờ cho Buzomi và bao che cho tất cả những giáo sĩ từ Buzomi đến Alexandre de Rhodes. Bà Minh Đức Thái Phi là mẹ của Nguyễn Phước Khê, em út chúa Sãi. Sau khi chúa Sãi băng hà, Hoàng tử Khê sẽ là cột trụ của triều đình, tuyệt đối trung thành với chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1635-1648), cháu ruột. Ông bắt mẹ phải phá nhà thờ của mình. Tôi đoán: quan trấn thủ Phú Yên là Nguyễn Phước Vinh, con rể chúa Sãi.

V. Quy Nhơn


Quy Nhơn có bề dầy trọng đại của lịch sử. Khách sạn của chúng tôi nhìn chéo vào cửa đầm Thị Nại. Điều thật bất ngờ. Bởi đầm Thị Nại là nơi tôi ao ước được đến ít nhất một lần trong đời, để xem bề thế của nó, nơi đã xẩy ra bao nhiêu cuộc chiến ác liệt trong lịch sử, do vị trí hiểm yếu nhất vùng Bình Định tức Quy Nhơn.


Từ balcon của phòng chúng tôi, nhìn ra cửa đầm Thị Nại, một cảm tưởng không thể diễn tả giữa khâm phục và kinh hoàng của kẻ hậu duệ “nhìn về” trận địa lịch sử đẫm máu.


Tháng 3/1773, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi binh ở ấp Tây Sơn, chiếm Quy Nhơn, mưu đồ diệt nhà Nguyễn. Năm năm sau, Quy Nhơn trở thành kinh đô của Nguyễn Nhạc: Tháng 6/1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Thái Đức, xây cung điện trên vùng đất cũ của thành Đồ Bàn, tức thành Quy Nhơn.


Sau khi Quang Trung băng hà (16/9/1792), từ năm 1793 đến 1799, Nguyễn Vương tiến đánh Quy Nhơn ba lần. Lần đầu, Nguyễn Nhạc cầu cứu cháu là Cảnh Thịnh đóng ở Phú Xuân, nhưng tướng của Cảnh Thịnh sau khi thắng trận, uy hiếp Nguyễn Nhạc, khiến ông uất ức mà chết năm 1793. Đến lần thứ ba, Võ Tánh chiếm được Quy Nhơn. Nguyễn Ánh vào thành, đổi tên là Bình Định, để Võ Tánh và Ngô Tòng Châu ở lại trấn giữ và cai trị.

Từ khách sạn, tôi nhìn thấy cửa biển mở vào đầm Thị Nại xa xa, bên phía trái: Đấy là chỗ đại quân Nguyễn Ánh tiến vào đầm để tiêu diệt toàn bộ hạm đội Tây Sơn đêm 27 rạng ngày 28/2/1801. Về phía Tây Sơn, để chắn địch, Võ Văn Dũng dùng ba chiến hạm đại hiệu, có giàn đại bác nòng lớn và hơn trăm thuyền chiến đóng chặn cửa biển Thị Nại. Cửa đầm còn được canh giữ bằng bãi Nhạn Châu bên trái và núi Tam Toà bên phải, đều đặt giàn đại bác và nhiều súng lớn. Bên trong đầm, hải quân Tây Sơn do Võ Văn Dũng làm tư lệnh. Trên bờ là bộ binh, bao vây thành Bình Định. Tất cả thuỷ bộ dưới quyền của Trần Quang Diệu.


Phía quân Nguyễn, Nguyễn Vương đích thân làm tổng tư lệnh, Lê Văn Duyệt và Võ Di Nguy, điều động quân cảm tử. Quân của Nguyễn Vương từ Cù Mông tiến về Thị Nại chiều 27/2/1801, sau khi tập trận, lần này Vương không dùng thuyền đại hiệu, chỉ dùng ga-le và thuyền nhỏ. Đến chiều tối, Nguyễn Vương ra lệnh cho Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy đổ bộ lên bãi cát, ngang tầm đảo Hòn Đất, đến chiếm giàn đại bác ở bãi Nhạn Châu. Đại bác Tây Sơn từ đồn Tam Toà nã xuống như mưai. Quân cảm tử của Lê Văn Duyệt xông trận, trèo lên thuyền Tây Sơn đốt phá, tấn công. Võ Di Nguy trúng đạn, mất đầu. Quân Nguyễn hoảng sợ. Nguyễn Vương thấy quân sĩ chết nhiều, ra lệnh tạm lui, nhưng Duyệt thề chết chứ không lùi. Trận Thị Nại kéo dài 12 tiếng từ 10 giờ đêm 27/2 đến 10 giờ sáng 28/2/1801. Có ba người Pháp tham dự cuộc chiến là Chaigneau, Vannier, và de Forçant, họ lái ga-le hộ vệ Nguyễn Ánh, đậu ở cửa biển. Nhưng người Pháp (thuộc điạ) sẽ viết lại lịch sử rằng trận Thị Nại là chiến công của Pháp.

Thị Nại là nơi xẩy ra hai trận đánh lịch sử, giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn: Thị Nại 1792 và Thị Nại 1802. Trận 1802 là trận quyết liệt, có thể coi là trận Xích Bích (sic) của Gia Long. Sự mênh mông và vị trí kín đáo của đầm Thị Nại giải thích tại sao, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng, chỉ huy quân Tây Sơn, lại chọn nơi này đóng đại bản doanh để tiến đánh thành Bình Định (thành Quy Nhơn) nơi Võ Tánh và Ngô Tòng Châu cố thủ năm 1799. (1)

(1) Ghi chú của người góp nhặt: “sử gia” Thụy Khuê…thuật sử có 2 trận thủy chiến Thị Nại 1792 và 1802 (trận Xích Bích của Gia Long). Rồi bà ngẫn ngẫn tả trận Thị Nại 1801 (kéo dài 12 tiếng) khiến người góp nhặt rối như canh hẹ…


Người góp nhặt rối ren hơn nữa qua tiểu sử của Bá Đa Lộc:


“Giám mục Bá Đa Lộc chết ngày 9-10-1799 trong cuộc bao vây pháo đài Quy Nhơn”. Người góp nhặt không biết Bá Đa Lộc mất như thế nào. Chỉ biết chiến trận đang diễn ra tại Quy Nhơn, chúa Nguyễn Phúc Ánh thực hiện chuyến xuôi nam vào Gia Định dự tang lễ, trong khi thái tử Cảnh được giao phó sắp xếp chi tiết cho lễ tang.


Trương Vĩnh Ký tả đám tang:


“Một thánh giá lớn, làm từ những chiếc đèn lồng khéo léo sắp xếp ở đầu đám rước, theo sau là một kiệu điêu khắc công phu màu đỏ và vàng. Thứ hai chứa một hình ảnh của St Paul và một hình ảnh thứ ba của St Peter, người bảo trợ của các giám mục Adran. Thứ ba chứa đựng hình ảnh của các thiên thần hộ mệnh và thứ tư là một hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria. Sau đến các phù hiệu của các vị giám mục, thập giá được đặt ở phía trước của chiếc xe tang. Ở hai bên của kiệu là những người Kitô giáo và giáo sĩ từ mọi nhà thờ ở Nam Kỳ. Xe tang chở thi thể giám mục là dài khoảng 20 feet chiều dài, chở 80 người đàn ông tuyển chọn, và được bao phủ bởi một mái vòm vàng thêu. Trên đó đặt quan tài tráng lệ phủ bằng vải gấm”


Đó là lý do bà Thụy Khuê cứ ngay đơ gọi cụ Trương Vĩnh Ký là…sử gia thuộc địa.

Sau trận Thị Nại là trận Quy Nhơn: Võ Tánh và Ngô Tòng Châu, bị bao vây trong một năm rưỡi, lương thực đã cạn, phải giết ngựa, voi, để ăn dần. Ngoài thành, quân Trần Quang Diệu vây ba vòng, không lối thoát. Trận Quy Nhơn chính là sự phục thù của Tây Sơn sau chiến bại Thị Nại: Tất cả xẩy ra trong thành Hoàng Đế của Nguyễn Nhạc, tức Quy Nhơn hay Bình Định. Năm 1814, vua Gia Long dọn thủ phủ sang thành mới gần Quy Nhơn bây giờ, nay thành này không còn lại gì, ngoài chiếc cổng tượng trưng, mới được dựng lại.


Rời Thị Nại, chúng tôi đi tìm thành cổ Quy Nhơn, cách Quy Nhơn khoảng 27 cây số về phía tây bắc, chính là thành Hoàng Đế. Thành dựng trên nền Đồ Bàn mà ngày trước Lê Thánh Tông đã san bằng, nay chỉ còn lại hai con nghê chầu, và gần đó là tháp Cánh Tiên, di tích duy nhất còn lại của Đồ Bàn xưa. Thành Hoàng Đế nằm khuất trong một làng nhỏ (huyện An Nhơn), không mấy ai biết đến. Nhưng khi đến nơi, tính cách vừa đế vương vừa khiêm tốn của phần hoàng thành còn lại, khiến ta không khỏi khâm phục và ngậm ngùi. Quy Nhơn (2) chính là Đồ Bàn (2), kinh đô Chiêm Thành từ thế kỷ XII, dính liền với Đại Việt lúc thịnh lúc suy:

(2) Ghi chú của người góp nhặt


Bình Định vốn đất cũ của Chiêm Thành. Theo sách Đồ Bàn ký : sau khi bị Lê Đại Hành đánh lấy thành Địa Rí (982), vua Chiêm chạy vào đây đóng đô đặt tên kinh đô là Đồ Bàn. Vì Đồ Bàn (Chô Pan) là hiệu của vua. Sau chúa Nguyễn Hoàng có mặt ở vùng đất mới. Đồ Bàn được Nguyễn Hoàng đổi thành Qui Nhơn. Tới thời Gia Long đổi tên là Bình Định mang ý nghĩa đã thắng nhà Tây Sơn và Gia Long ngay thòng thõng…”bình định” được đất này.
Năm 1301, Trần Nhân Tông gả Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Mân dâng hai châu Ô và Rí làm sính lễ, nước ta có thêm đất Thuận Hoá (Huế) từ đấy.


Vua Chiêm Chế Bồng Nga, làm ta khốn đốn mười ba năm. Năm 1377, Duệ Tông tiến xuống cửa Thị Nại, tiến đánh Đồ Bàn. Chế Bồng Nga phục quân đánh úp. Duệ Tông tử trận. Thừa thắng Chế Bổng Nga đem quân ra đánh Thăng Long, thế mạnh không ai cự nổi. Trần Nghệ Tông phải bỏ kinh đô chạy trốn. Trần Khát Chân ở lại đem binh ra chống cự ở sông Hải Triều. Một tên hầu của Chế Bồng Nga có tội, sợ bị giết, chỉ cho Khát Chân thuyền Chế Bồng Nga. Khát Chân cho lệnh bắn vào thuyền, Bồng Nga trúng đạn chết.
Hồ Quý Ly đảo chính lập nhà Hồ đem quân vào đánh Chiêm Thành, vua Chiêm dâng đất Chiêm Động (Quảng Nam), đất Cổ Lụy (Quãng Ngãi). Năm 1403, Quý Ly lại vào vây thành Đồ Bàn, nhưng quân Chiêm giữ vững không đánh nổi phải rút về. Năm 1470, Lê Thánh Tông đem 20 vạn quân thân chinh đi đánh chiếm cửa Thị Nại, san bằng Đồ Bàn.


Đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá (1558), năm 1611, ông lấy thêm đất Phú Yên. Biên giới phía Nam của nước ta lúc ấy dừng ở đèo Cả. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần (1648-1687), vị chúa lớn nhất triều Nguyễn, tiếp tục đánh chiếm hết nước Chiêm Thành rồi chiếm xuống Thuỷ Chân Lạp (sic) (3). Đến đời Võ Vương Nguyễn Phước Khoát (1738-1765) ta chiếm xong Thủy Chân Lạp (sic) (3), lập nên 6 tỉnh Nam kỳ (4). Cuộc chinh phạt chiếm Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp kéo dài từ Lê Đại Hành đến Nguyễn Phước Khoát, trải tám thế kỷ, nước ta đã mở rộng thêm diện tích từ Quảng Bình đến Hà Tiên. .

(3) Ghi chú của người góp nhặt : Nói cho ngay qua nhiều, rất nhà biên khảo, nhà sử học với những bài viết công phu, nhờ vậy người góp nhặt bòn mót được chúa Nguyễn Hòang, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã có công trong cuộc Nam tiến và có những…“dự kiến lịch sử” (từ của Gs Trần Quốc Vượng) trong cuộc khai khẩn đất hoang miền Nam sau này. Người góp nhặt vần câu như vần cơm, lùi chữ như lùi khoai không hề thấy chúa Nguyễn Phước Tần là “vị chúa lớn nhất trong 9 đời chúa” lại “đánh chiếm hết nước Chiêm Thành rồi chiếm xuống Thuỷ Chân Lạp”. Mà chỉ biết chúa Nguyễn Phúc Tần (vị chúa thứ 4), đánh chiếm Phan Rang của vua Chiêm là Bà Tấm. (Nguyễn Phúc Tần chiếm Phan Rang lập thêm Khánh Hòa và Ninh Thuận), và chúa Nguyễn Phúc Tần chưa hề bao giờ đặt chân tới miền Nam.


Tiếp đến qua…”sử gia” Thụy Khuê: “chúa Nguyễn Phước Khoát chiếm…xong Thủy Chân Lạp”, người góp nhặt dựa dẫm vào sử gia Phan Khoang, chúa Nguyễn Phúc Chu (chúa thứ 5) lấy cớ Bà Tranh không tiến cống nên sát nhập Bình Thuận vào lãnh thổ mình. Sau đó chúa Nguyễn Phúc Chu đưa Chiêm hậu Bà Tranh và 5.000 quan binh ra Bắc giam giữ làm tù binh. Nhà chúa tập trung người Chàm còn lại ở phía nam Thuận Thành. Một số đông người Chàm chạy sang Cao Miên (con số sinh sản tới thế kỷ 20 khỏang 250.000 người). Một số chạy lên miền cao nguyên (con số sinh sản tới thế kỷ 20 khoảng 140.000 người) thế nên mới có truyện ngắn Bà Mọi hú của Bình Nguyên Lộc ở trang dưới. Còn chúa Nguyễn Phước Khoát của…”sử gia” Thụy Khuê không lặn lội vào Thủy Chân Lạp. Mà chỉ tiếp tục sách lược chúa Nguyễn Phúc Chu tập trung người Chàm tại ở Thủy Xá và Hỏa Xá để….cải tạo.


Từ nhà tiền Lê (Lê Đại Hành) chiếm được Quảng Bình đến Đèo Ngang, rồi rút quân về. Nhà Lý (Lý Thường Kiệt) mang quân vào sâu tới tận Quảng Trị và ngừng chân ở đây để vẽ…đồ chí. Và cũng như nhà tiền Lê, nhà Lý cũng không nghĩ đến việc mở mang bờ cõi.


Nhà Hồ (Hồ Hán Thương) lấy được đất Quảng Nam. Người Việt đã mở rộng lãnh thổ của mình xuống 3/5 đất đai Chiêm Thành. Chính sách di dân của người Việt ta chỉ thật sự bắt đầu với họ Hồ. Hồ Hán Thương cho đào kinh dẫn thủy nhập điền ở đây, (Thuận Hóa) như thế đủ thấy về sự khai khẩn quốc thổ của nhà Hồ.


Công cuộc Nam tiến được tiếp nối với các chúa Nguyễn, tuy nhiên từ nhà Lê với Bình Định, người Việt đã chiếm được 4/5 đất đai của Chiêm Thành. Chúa Nguyễn tiến quân xuống Phan Rang chỉ chiếm phần 1/5 lãnh thổ còn lại của họ. Với chuyện gì của lịch sử hãy trả lại cho lịch sử: Một là ở Thuận Hóa (gồm Quảng Trị và Huế), nhà Hồ cho đào kinh lập dinh điền sẵn …cho Nguyễn Hòang, sau đấy nhà Hồ chiêm Qủang Nam cho Nguyễn Phúc Nguyên. Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi tức Gia Long đổi tên Dinh Chàm là Quảng Nam với nghĩa Quảng là rộng lớn, Nam là đất đai phát triển về phía nam…của nhà Nguyễn.


Theo…”sử gia” Thụy Khuê: chúa Nguyễn Phước Khóat có công lập nên Nam kỳ lục tỉnh gồm 3 tỉnh miền đông và 3 tỉnh miền tây Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Thế nhưng Mạc Cửu (và con là Mạc Thiên Tứ) dâng Hà Tiên và Châu Đốc cho chúa Nguyễn, nào có khác gì họ Mạc…làm cỗ cho ma sơi. Bởi chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công nương Ngọc Vạn cho vua Chey Chetta II để giao hảo với Chân Lạp. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu (đời chúa thứ 6) mới đưa dân vào Mỏ Xòai (Bà Rịa năm1698) khai khẩn đất hoang, lập làng xã ruộg vườn để thu thuế.

(4) Những gì của lịch sử hãy trả lại cho lịch sử:


Người dựng lên địa danh Nam kỳ lục tỉnh là Minh Mạng. Năm 1832, Minh Mạng thứ 12 dùng 6 chữ cuối trong một bài cổ thi 8 chữ để đặt tên cho 6 tỉnh miền Nam ngày nay: Sáu chữ trong câu thơ “Khoái mã gia biên vĩnh định an hà“ nghĩa là “phóng ngựa vung roi giữ yên bờ cõi”. Vì vậy mới có Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên.


Năm 1859 Pháp đánh chiếm Gia Định. Năm 1862, sứ thần Phan Thanh Giản ký hoà ước với thiếu tướng Bonard nhường 3 tỉnh miền đông Biên Hoa, Gia định, Định Tường cho Pháp. Năm 1867, Pháp định ngày lấy 3 tỉnh miền tây Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, cụ Phan Thanh Giản liệu không giữ nổi, nên bảo các quan nộp thành trì rồi uống thuốc độc tự tử.


Vì vậy mới chuyện sử gia Hà Nội kết tội cụ Phan Thanh Giản đầu hàng Pháp.

Quay quả trở lại với Quê hương ngày trở lại:


Quy Nhơn, với bề dầy lịch sử của cuộc Nam tiến, đối với tôi là một vinh dự và ân hận vì tội ác diệt chủng dân Chàm (xem khúc dướ). Bà Mọi hú của Bình Nguyên Lộc chính là lương tâm đầu tiên của người Việt về sự xám hối đã sát hại người Chàm. Ông mô tả một trái núi bé con đi lạc, xưa nó vốn thuộc dãy Trường Sơn, nhưng dân tộc nó bị dồn mãi, dồn mãi, nó phải ty nạn xuống phía nam, đến Biên Hoà nó dừng lại, người ta gọi nó là núi bà Mọi. Chữ Mọi (5) là từ chữ M.O.I (Main d’Œuvre Indochinoise), chỉ mới có từ thời thực dân, với ý miệt thị người thợ Đông Dương sang làm việc cho Pháp.

(5) Ghi chú của người góp nhặt: chữ ”Mọi” đã có trước Thế Chiến Thư Hai, theo tài liệu của Pháp: Cuối thế kỷ 19, người Mạ, người Stiêng sống ở thung lũng Donai gần Biên Hoà, người Pháp gọi là “mọi”. Người Viêt kêu là người Thượng, người Sơn cước, người trong nước kêu là…người dân tộc, còn người Việt ta là…người Kinh. Thời Pháp, Sài Gòn xưa có con đường nhỏ cắt ngang đường Công Lý, người Pháp đặt tên là: Moi. (Rue Le Moi – tiếng Tây tiếng u người góp nhặt nhớ mài mại vậy thôi) sau đổi tên là cụ đồ…Nguyễn Đình Chiểu.

Người Việt chiếm dần đất Chiêm, họ đốt rừng, làm rẫy, dồn người Chiêm vào sâu, lên núi. Mới đầu người Chiêm còn chống lại, sau sức yếu dần, chết hết, chỉ còn lại độc một mình “mụ Mọi già, tóc tai bồm xồm, trông rất ghê sợ” ở lại giữ công tác du kích (sic) tuyệt vọng. “Rừng già bị gặm ngày một, chậm mà chắc chắn, mãi cho đến ngày kia thì vòng vây đã siết chặt quanh hòn núi như ở nhà quê người ta cạo trọc đầu con trẻ, chừa lại chiếc bánh bèo”.Nhưng rồi một ngày kia, bọn di dân chiếm đất bỗng thấy sáu con suối phát xuất từ đỉnh núi, chẩy xuống miền khẩn hoang dần dần bớt nước, rồi cạn hẳn. Thủ phạm là mụ Mọi già. Mụ đút nút nguồn của sáu ngọn suối bằng thịt cây gồ, một thứ gỗ khi thấm nước, nó cứ nở mãi, nở mãi… Không bắt được mụ, bọn di dân bèn đốt rừng, đốt mụ: “Lửa leo núi được vài giờ thì người ta nghe tiếng hú dài ghê rợn trên đỉnh núi nổi lên. Tiếng hú như kêu gọi một cách tuyệt vọng đồng bào sơn dã của mụ đến giải thoát mụ…tiếng kêu của mụ mất hút trong không khí, không có lấy một tiếng vang nào vẳng lại. Tiếng hú vang rền từng hồi, hấp hối, rồi lại nấc lên và rốt cuộc chết lần, tắt hẳn, trong ngọn lửa cao ngất trời đã bò lên tới đỉnh”. Tác phẩm của Bình Nguyên Lộc (6) gây ấn tượng kinh hồn trong lòng người đọc (sic) về tội ác của tổ tiên mình.

(6) Ghi chú của người góp nhặt:


Ở khúc trên, Chế Bồng Nga đánh Thăng Long, vua Trần phải chạy trốn, may Chế Bồng Nga bị làm phản nên bị giết. Tuy nhiên… “sử gia” Thụy Khuê không cho người đọc hay Chế Bồng Nga đánh Thăng Long tất cả 3 lần, có lần đốt cháy thành Thăng Long cả tháng trời mới tắt. Nếu họ Chế đánh Thăng Long lần thứ ba, không bị giết thì Chiêm Thành sẽ chiếm được Đại Việt. Với sinh tồn được mạnh yếu thua thì…Thì bõng không chợt nhớ bà Thụy Khuê nói…nhỏ với cô phỏng vấn Thủy Nguyên: “người viết sử không ba hoa, không gian dối, không loè bịp…”. Lạc đường nắm đuôi chó, người góp nhặt vồ được ở đọan khác bà viết: “không nên tin các nhà văn, họ nói vậy mà không phải vậy”. Người góp nhặt bèn tìm đọc…Bà Mọi hú của ông Bình Nguyên Lộc xem ông viết khác thế nào, lạc ngõ nắm đuôi trâu thấy ông nhà văn viết khác thật: Vì chả thấy người Chàm phải chạy trốn lên rừng để bà…ân hận vì tội ác diệt chủng dân Chàm.


Trong khi truyện Bà Mọi hú của ông nhà văn viết về một ông sư đầu để tóc, sư dựng chùa trên núi Chứa Chan. Từ Hố Nai, đi về hướng tây, trước khi đến sông Ðồng Nai phải qua rừng rậm, đồng bào di cư khai phá để làm củi. Người đi rừng thường bị người mọi phục kích bằng tên tẩm thuốc độc. Họ rình mò mãi mới biết được kẻ phá hoại là một mụ Mọi già vừa đốt rừng vừa hú, vì vậy ông sư phải dựng miếu thờ và đặt tên núi là núi Bà Mọi. Người đi rừng đốn củi quanh hòn núi chạy về lại trại di cư Hố Nai. Đám người lên rừng là người Bắc vì chạy trốn CS di cư vào Nam, họ lên rừng đốn củi để sinh nhai lại bị bà Mọi…đội lốt du kích phá phách tiếp.


Đó chuyện ông nhà văn…ẩn dụ người cộng sản là…Mọi. Truyện này ông viết trước 75, là chuyện giả tưởng, ngỡ giả hóa thật, sau 75, ông bị bà Mọi… hú, ông chạy quáng quàng qua đất tạm dung, ít lâu sau ồng để thân xác lại nơi xứ người.

Với công tác du kích, người góp nhặt lại sa đà với sử kiện mà…”sử gia” Thụy Khuê dấu biến:


Để xây dựng chế độ, người cộng sản “bài bản” in hịt như triều đại phong kiến nhà Nguyễn cũng đốt sách tàn dư của Ngụy quyền: “Nào có khác gì nguyên mẫu của bản sao Gia Long, Minh Mạng vì nhà Nguyễn có tha gì mà không đốt sạch dấu vết nhà Tây Sơn còn sót lại được gọi là Nguỵ tây”. Ngoài ra theo Đại Nam chính biên liệt truyện, chúa Nguyễn Phúc Khoát dành vùng Thủy Xá và Hỏa Xá để “.cải cách” và “.tạo dựng” nơi ăn chố cho người Chàm. Hai chữ “.cải tạo” (hay Ngụy) họ cũng vay mựợn từ thời…”phong kiến”. Lịch sử là chuỗi móc xích tiếp nối, để không khỏi không nhắc đến sử kiện Minh Mạng sai Trương Minh Giảng đánh Cao Miên. Minh Mạng (học theo chúa Nguyễn Phúc Chu) bắt nữ vương Ang Mey đưa về Gia Định quản thúc, sau đó bầu đoàn thê tử cận thần quan lại của Cao Miên bị đưa ra Bắc “.cải tạo” ở cạnh Hồ Tây mới có chùa bà Đanh, chùa bà Banh (theo Tạ Chí Đại Trường) cho tuyệt hậu hoạn.


Lịch sử là những gì lập lại 210 sau (tính từ Nguyễn Phúc Khóat 1765), đoàn người thất trận từ phương Nam ngược về phương Bắc, nơi sơn lam chướng khí bên dẫy núi Hoàng Liên Sơn để “.cải tạo”. Nơi mà thân bằng quyến thuộc của Nặc Ông anh, Nặc Ông em đã bị tập trung ở đấy gần 200 năm trước (tính từ thời Minh Mạng). Trở lại lịch sử sang trang với cuộc chiến Nam Bắc, cũng ở nơi đây tù binh là Ngụy quân, Ngụy quyền bỏ xác bên sườn núi đìu hiu hút gió.

Theo dòng lịch sử, bà Thụy Khuê cũng… “cải tao” chữ nghĩa của mình để phù thịnh chứ ai dại phù suy với: ”sâu sắc, cực kỳ, giao lưu, hồ hỡi, xử lý, triệt để, hoành tráng, quần thể, thông tin, phản quốc, cách mạng vùng lên, công tác du kích, quân cảm tử, quân đội chính quy, bộ đội, Mỹ-Ngụy” và còn nhiều nữa như sau này trong Quê hương ngày trở lai.

VI. Dòng họ Nguyễn Tường ở Hội An


Từ đường Nguyễn Tường nằm trong một ngõ khuất, bạn phải chú ý lắm mới nhìn thấy chiếc bảng nhỏ có kèm mũi tên. Nếu bạn yêu văn chương, thì nơi này quả là điểm quý giá nhất của Hội An. Ngôi từ đường này, thờ quan Binh Bộ Thượng Thư Nguyễn Tường Vân và cũng là nhân vật nổi tiếng đầu tiên của dòng họ Nguyễn Tường, dòng họ phát sinh ra Tự Lực Văn Đoàn. Tôi đến đây, cũng chỉ vì muốn tìm lại gốc gác gia đình Nguyễn Tường cho cuốn sách đang soạn về Tự Lực Văn Đoàn, và đầu tiên hết là Nguyễn Tường Vân.
Liệt truyện ghi về Nguyễn Tường Vân như sau: “Người huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, trước ngụ ở Gia Định”, câu này không rõ nghiã, trước là lúc nào, chưa biết, nhưng chắc chắn gia đình ông đã vào Gia Định sinh sống. Nhưng Liệt Truyện viết rất kỹ về đời ông: “Năm Bính Thìn (1796) đi thi, trúng cách nhị trường, được bổ lễ sinh ở phủ, nhắc lên viện thị thư”.


Năm Bính Thìn 1796: Nguyễn Huệ mất đã ba năm; Nguyễn Ánh đã tạm yên ở Gia Định, và chính năm này ông tổ chức lại việc học hành thi cử, theo Thực Lục, tháng 12 năm Ất Mão (tháng 1-2/1796) lập [thêm] Hàn Lâm Viện Thị Học, tháng 3 năm Bính Thìn mở khoa thi, lấy 273 người đỗ. Nguyễn Tường Vân đỗ năm 1796, tức là đỗ khoá này. Vậy đỗ theo quy luật nào?
Nhân dịp này, chúng ta cũng nên dò lại việc thi cử, vì gia phả họ Nguyễn Tường ghi Nguyễn Tường Vân đỗ tiến sĩ, chắc là không đúng. Như ta đã biết, năm 1674, chúa Hiền Nguyễn Phước Tần quy định lại việc thi cử, lấy tên mới là Chính đồ và Hoa văn (tương đương với thi Hương và thi Hội). Sau khi thống nhất đất nước, năm Gia Long thứ 6 (1807) và đến Minh Mạng thứ 2 (1821), mới có kỳ thi Đình đầu tiên, do Trịnh Hoài Đức làm Chủ khảo, và thời Minh Mạng là thời mở rộng việc học, việc thi cử trên toàn thể đất nước chưa từng thấy (sic). (1)

Ghi chú của người góp nhặt:


(1) Khoa cử đời Nguyễn kỳ thị Bắc Nam, chuyện…chưa từng thấy là năm 1825, sĩ tử Thừa Thiên, Quảng Nam không một ai đỗ. Minh Mạng sai Lục bộ lấy thêm Cao Xuân Dục ở Thừa Thiên lúc này chỉ là Hương cống. Cao Xuân Dục sau là chánh chủ khảo trường thi Nam Định (đánh rớt cụ Tú Xương…8 lần). Năm 1826 thi Hội, sĩ tử trên 200 người, quan trường lấy đỗ 9, Minh Mạng bảo 9 người đỗ đều là người Bắc là sao thế? Nên cho người Thừa Thiên để cổ lễ sĩ phong mới phải? Thế là quan trường lấy thêm cụ Phan Thanh Giản.


Kể từ khoa 1829 Minh Mạng định lệ sĩ tử ứng thí phải khai tên họ, lý lịch ông cha ba đời trên mặt quyển. Những ai có ông cha ba đời làm nghề xướng ca, hay can trộm cắp hoặc làm giặc đều không được đi thi, làm quan với nhà Tây Sơn hay với nhà Lê cũng bị coi là làm giặc mặc dù nhà Nguyễn áp dụng thi cử của nhà Lê. Năm 1831, trường thi Thừa Thiên, Lê Đức Quang, Phạm Huy có cha làm quan đời Nguyễn ghi lầm quan nhà Lê nên bị xóa tên trên bảng cử nhân. Chữ đẹp được tăng điểm, chữ xấu có thể bị đánh hỏng như trường hợp Nguyễn Văn Siêu người Hà Nội. Thi Hương đỗ đầu, bị xếp xuống hàng thứ hai. Thi Hội đỗ tiến sĩ bị xếp xuống hàng phó bảng chỉ vì chữ “như gà bới”. Năm 1834, khoa thi hai trường Nam Định và Hà Nội, Minh Mạng ra dụ: “Mỗi trường không được lấy quá 50 tú tài”. Trong khi 4 trường Thừa Thiên, Nghệ An, Bình Định, Thanh Hóa sĩ số chuẩn định là 100.

Gia Long bỏ chữ Nôm của Quang Trung trở về với Tống nho như đời Lê. Tống nho nguyên từ Tần Thủy Hoàng dựa vào học thuyết của phái Pháp gia để cai trị, ra lệnh tiêu hủy sách vở của Nho giáo. Vì vậy Gia Long, Minh Mang cho người đi tìm sách vở nhà Tây Sơn để tiêu hủy, ai dấu diếm bị trị tội theo pháp gia (Thực Lục). Nhẽ này bà Thụy Khuê không động đậy gì sất cả Cũng vì vậy sử gia Hà Nội, khi viết về nhà Tây Sơn phải dựa vào Hòang Lê nhất thống chí.


Minh Mạng lệ thuộc vào Tàu để cải tổ hành chánh, từ đó mới có quận, tỉnh. Cũng lây dây vào Tàu nên có giai thọai: Tự Đức vừa là thi nhân còn là nhà học giả uyên thâm hơn cả các quan văn đã từng khoa trường xuất thân, trước mặt các quần thần, một lần vua nói: “Trẫm bất ứng thí, nhược ứng thí, tất trúng trạng nguyên”. Bởi thế, vua cùng hai bảng nhãn, hai thám hoa, mỗi người làm một bài luận phú rồi rọc phách nhờ vua Tàu chấm giùm. Khi ống quyển trả lại, bài của Tự Đức có chữ son phê: “Bài này tỏ ra là người học rộng, khí phách không phải là một người thường, nhưng lại là môt người…không có tài chi mấy”. Tự Đức đứng…đội bảng.


Năm Kỷ Mùi [1799], ông theo Nguyễn Vương đi đánh Qui Nhơn, được thăng Tham luận vệ Túc Trực [chỉ huy quân cảm tử], rồi chuyển về làm Tri bạ Chánh doanh [tòng ngũ phẩm] cai quản nội đồ gia [quản trị tài sản vật dụng cho nhà vua và hoàng gia tại nội cung]. Năm Tân Dậu [1801] ông theo vua đi đánh Phú Xuân. Rồi được cử đi theo sứ bộ Trịnh Hoài Đức sang Quảng Đông mua bán, trở về lại tiếp tục cai quản nội đồ gia. Sau thăng Cai bạ Quảng Nam.

Nguyễn Tường Vân có con thứ là Nguyễn Tường Phổ, đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ nhất [1841], đậu tiến sĩ khoá Nhâm Dần (1842), làm trong Hàn Lâm viện biên tu (quan viết sử) ở Nội Các, có tiếng là thanh liêm, nhưng tính tình cao thượng, nhiều người không thích. Nguyễn Tường Phổ sinh Nguyễn Tường Tiếp. Nguyễn Tường Tiếp có người con trai là Nguyễn Tường Chiếu (húy Nhu) làm thông phán, là cha của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam. Nguyễn Tường Tiếp là người đầu tiên đã đem gia đình ra Bắc khi ông làm Đồng tri phủ huyện Thủy Nguyên [huyện này ở gần Hải Phòng]. Ông đã chọn huyện Cẩm Giàng (gần Hải Dương) để lập trại, do đó con cháu ông, nhóm Nguyễn Tường ở Bắc, sẽ xây dựng nên Tự Lực Văn Đoàn.


Nhìn lại nguồn gốc dòng họ này, ta thấy rõ hai yếu tính: Làm chính trị và làm văn. Nguyễn Tường Vân, xuất thân quan văn, nhưng lúc cần có thể trở thành quan võ (Tham luận vệ Túc Trực), giúp vua cai trị nước, coi việc hành chánh, thi cử. Nguyễn Tường Phổ có những đặc điểm khác: văn chương, nghệ sĩ, và là người đẹp. Trong một dịp nói chuyện với anh Nguyễn Tường Thiết, con trai út Nhất Linh, chúng tôi có đề cập tới “nhan sắc” của gia đình Nguyễn Tường (phần lớn là con trai). Anh Thiết kể trong gia đình, anh và anh Nguyễn Tường Giang, con Thạch Lam thường nói với nhau: hay nhà mình có dòng máu lai (vì mũi cao giống Tây).


Sau khi đọc tiểu sử Nguyễn Tường Phổ trong Liệt Truyện tôi đoán sự “xinh đẹp” của con trai nhà Nguyễn Tường chắc không phải do lai Tây, mà đến từ Nguyễn Tường Phổ: “Tường Phổ lúc nhỏ kháu khỉnh lạ lùng, khảng khái, có khí thức, học rộng nghe nhiều, ngoài chính Kinh ra, về kiếm thư cầm phả [văn, võ, đàn, nhạc] không nghề gì là không kiêm thông”.


Câu văn ngắn ngủi mà hàm súc, bao gồm cả những “tính chất chung” của anh em Nhất Linh: thông minh, thường học nhẩy, học lấy, và thi đỗ dễ dàng. Khá tài hoa, cầm kỳ thi họa đủ cả. Gia đình này có những lựa chọn. Hoặc ra làm quan “thuần tuý” như Nguyễn Tường Thụy, anh cả, làm Giám Đốc Bưu Điện Sài Gòn, Nguyễn Tường Cẩm, anh hai, công chức, rồi làm Giám Đốc báo Ngày Nay trong một thời gian ngắn, nên sau này bị (thủ tiêu) mất tích. Hoặc làm văn chương và chính trị như Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, làm chính trị và văn chương cùng một lúc: Việt Nam Quốc Dân Đảng và Tự Lực Văn Đoàn. Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long với đầu óc cải tổ xã hội, luật pháp, vừa phò anh và vừa lập chính. Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, vì lý do sức khoẻ, hoàn toàn theo nghiệp văn.

Thành phố Hội An giữ gìn từ đường Nguyễn Tường khá tốt. Còn nguyên không khí cổ xưa với những văn bản cổ được gia đình giao phó, rất tiếc là chúng tôi không biết chữ nho để đọc. Điều đáng quý thứ hai là việc trưng bầy những đầu sách của Tự Lực Văn Đoàn với nhiều bản in khác nhau, từ thời kỳ đổi mới đến ngày nay. Công phu gìn giữ và trưng bầy sách của Tự Lực Văn Đoàn ở đây, liên hệ với sự “mở cửa” về TLVĐ. Và sự mở cửa này đến từ đâu? Ai cũng biết tác phẩm của TLVĐ bị xoá sổ trong một thời gian dài ở Bắc, kể cả sau khi thống nhất đất nước, không mấy ai dám dính vào “bọn Quốc Dân Đảng” làm gì.Khi đả động đến họ thì những tê-no phê bình và nhà văn cùng thời với TLVĐ, đều tìm đủ mọi chữ hiểm để phê phán thật nặng, càng nặng càng tốt. Xuân Diệu tồi tệ không nói làm gì, Tú Mỡ cũng viết nhảm nhí, bậy bạ.


Nhưng có một người không. Người đó là nhà phê bình và nghiên cứu Trương Chính (1916-2004). Trong hơn nửa thế kỷ ông đã giữ được ngòi bút trong sạch. Và còn hơn nữa, ông cam đảm đi ngược lại tiếng hú của đám đông. Ngay từ năm 1939, ông đã cho xuất bản cuốn Dưới mắt tôi phê bình 13 tác giả, trong số đó có Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…ông đã có những nhận định sâu sắc về những tác giả này, đặc biệt ông nhìn ra tính cách tranh đấu xã hội trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn và ông nhìn thấy cái hời hợt rất hề trong tiểu thuyết xã hội của Nguyễn Công Hoan.


Nhưng điều đáng chú ý là trong thời kỳ TLVĐ bị phê phán nặng nề nhất, Trương Chính vẫn không thay đổi lập trường, ông cho in lại bài Nhất Linh, trong Dưới mắt tôi, viết năm 1939, trong tập Lược Thảo Lịch sử Văn Học Việt Nam tập III, (Xây Dựng, 1957). Đây là bộ sách tham khảo chính thống, in 1957 là năm gay gắt nhất về vấn đề Nhân Văn Giai Phẩm. Đến thời kỳ đổi mới, ông viết thêm hai bài khác: Tự Lực Văn Đoàn (1989) và Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực Văn đoàn (1990) sau này in lại trong Trương Chính Toàn Tập (Văn Học, 1997), vẫn với lập trường kiên định về TLVĐ. Và cũng trong năm 1997, ông cho in lại tất cả những bài ông viết về TLVĐ trong cuốn Dưới mắt tôi trong bộ Tổng Tập Văn Học Việt Nam (NXB Khoa Học xã Hội, 1997).


Năm 1989, Trương Chính viết bài Tự Lực Văn Đoàn, đưa ra nhiều thông tin khác về thời kỳ mới thành lập văn đoàn chung quanh năm 1930. Ông mở đầu bài viết bằng câu:


“Có thể nói trong vòng tám năm, từ 1932 đến 1940, Tự Lực Văn Đoàn chiếm ưu thế tuyệt đối trên văn đàn công khai; sách báo của họ in đẹp nhất, bán chạy nhất, có một ảnh hưởng nhất định trong giới trí thức tiểu tư sản và tiểu tư sản thành thị. Điều đó không ai phủ nhận được. Người đứng đầu là Nhất Linh, tức Nguyễn Tường Tam, viết văn hay đã đành mà lại có óc tổ chức, có nhiều sáng kiến: những người ghét ông cũng phải phục, muốn bắt chước cũng không bắt chước được. Nói gì thì nói, nhóm TLVĐ của ông có một vai trò rất lớn trong sự phát triển văn học của ta những năm 30”.

Sau khi kể lại tiểu sử của Nhất Linh và việc thành lập Phong Hoá và Ngày Nay… Trương Chính công phá những lập luận chống Tự Lực Văn Đoàn (khủng hoảng tư tưởng, vô luân, chống lại nhân dân, chủ nghiã cá nhân tư sản, cực đoan, ích kỷ, bệnh hoạn,cải lương, phù phiếm, giả dối, trưởng giả, phản động, sa đọa, trụy lạc, phi luân, độc ác… Nguyễn Hoành Khung, trong ba mục từ: Khái Hưng, Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn, Từ Điển Văn Học, 1984), bằng những luận điểm sau đây (xin tóm tắt):


– Văn chương lãng mạn trước 1930, tức là trước khi TLVĐ ra đời, là một thứ lãng mạn đầy giọng bi quan, giận đời, chán đời, của những người thất bại, những người yếu hèn trước thời cuộc. Đa sầu đa cảm trở thành cái mốt. Người ta không ốm mà rên. Hoàng Ngọc Phách trong bài Văn chương và nữ giới kể lại: vào những năm 1920, các nữ sinh trường Nữ Lưu học sinh, sáng tác toàn một giọng văn thơ sầu thảm rồi dán lên tường ở khắp các phòng, vậy mà khi viết Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách cũng rơi vào loại văn chương ấy nốt.


– Văn chương TLVĐ “không có tính cách trưởng giả”. Nhân vật chính trong tiểu thuyết TLVĐ, từ buổi đầu đã là những người thuộc thành phần trung lưu: Mai, Loan, đều là những cô gái “bình dân”. Chính TLVĐ là những người đầu tiên viết những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn bình dân: Gành hàng hoa, Tối tăm, Anh phải sống, Hai vẻ đẹp…


– TLVĐ “tôn trọng tự do cá nhân, làm cho người ta biết đạo Khổng không còn hợp thời nữa”. Tác phẩm của TLVĐ đều chiã mũi nhọn đả kích lễ giáo và nếp sống đại gia đình phong kiến: Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự. Họ hô hào giải phóng cảnh mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chổng, cảnh thủ tiết của những người đàn bà trẻ goá bụa. Họ đòi cho nam nữ có quyền được hưởng hạnh phúc riêng.
– Ở đây cần nói thêm về cái “chủ nghiã cá nhân tư sản” mà người ta phê phán. Nên nhớ rằng chủ nghiã cá nhân tư sản là một bước tiến bộ, trong quá trình con người giành quyền sống. Xã hội Việt Nam thời phong kiến chưa hề có quan niệm về cá nhân.


Trương Chính là nhà phê bình duy nhất ở miền Bắc đã viết những điều trung thực về Tự Lực Văn Đoàn trong suốt giai đoạn khó khăn nhất. Tôi nghĩ đó là động lực chính khiến cho sách của Tự Lực Văn Đoàn được in lại ở trong nước, ngay từ thời kỳ đổi mới thập niên 1990: Công đầu là Trương Chính, ngòi bút can đảm và chính trực của nhà phê bình Trương Chính.

VII. Trận Đà Nẵng 1847 và 1858


Trước khi liên quân Pháp-Y tấn công Đà Nẵng năm 1858, mười năm trước đã có biến cố vịnh Đà Nẵng ngày 15/4/1847, gây ra cái chết của vua Thiệu Trị. Jean-Louis de Lanessan, toàn quyền Đông Dương (1891-1894), Bộ trưởng hải quân Pháp (1899-1902), phản ảnh biến cố vịnh Đà Nẵng 1847: “Năm 1847, dưới triều Thiệu Trị, xẩy ra cuộc xung đột đầu tiên giữa Annam và Pháp; năm chiến thuyền An Nam đe dọa tấn công hai tầu chiến do Lapierre và Rigault de Genouilly điều khiển, bị tiêu diệt ở vịnh Đà Nẵng. Thiệu Trị chết vì phiền muộn”.

Biến cố Đà Nẵng 1847, tóm tắt như sau:

Tháng 3/1847, hai chiến hạm La Victorieuse, do thiếu tá hải quân Rigault de Genouilly trách nhiệm và La Gloire, do trung tá hải quân Lapierre điều khiển, nhận lệnh của Đô đốc Cécille, Tư lệnh hải quân Pháp ở Thái Bình Dương đến Đà Nẵng để “giải thoát Giám Mục Lefèbvre”.

Giám Mục Lefèbvre là ai?


Giám mục Lefèbvre (1810-1865), đến miền Bắc sau khi vua Minh Mạng đã chính thức ra lệnh cấm giáo sĩ ngoại quốc vào Việt Nam, năm 1825, ông sống lẩn lút trong Nam. Năm 1844, dưới thời Thiệu Trị, có người tố giác, ông bị bắt, bị xử tử. Nhưng vua Thiệu Trị chỉ kết án rồi để đấy, đợi dịp trao cho tầu ngoại quốc. Lefèbvre được tha ngày 11/6/1845, vua cho đi cáng từ Huế vào Đà Nẵng để lên tầu Alcmène đi Singapore.


Ngày 23/5/1846, Lefèbvre lại lên tầu ở Singapore lẻn vào Nam, bị bắt ở cửa sông Sài Gòn ngày 8/6/1846. Bị giải ra Huế. Bị kết án tử hình, nhưng vua Thiệu Trị vẫn tha và ngày 9/2/1847 vua sai Nguyễn Tri Phương dẫn độ ông sang Singapore. Lefèbvre lại rời Singapore để trở về VN ngày 3/5/1847, đúng 18 ngày sau khi hai tầu la Gloire và la Victorieuse gây hấn ở Đà Nẵng.


Đô Đốc Cécille lần này, năm 1847, lại sai Lapierre chỉ huy tầu La Gloire đến “để giải cứu Lefèbvre” và điều đình việc tự do giảng đạo. Như vậy, sau khi đến vịnh Đà Nẵng một tuần, Lapierre đã bất thình lình đánh trước, bao vây 5 thuyền đồng (xem tr 47), và hạ lệnh nếu không giả lời thì không trả. Jurien de Gravière, người kế vị Lapierre phê bình việc này: “Lapierre đã ép các quan nhận thư ông đem đến bằng cách: tịch thu buồm 5 tầu nước Nam đậu trong vịnh”.


Thực Lục viết: “Chúng đưa ra một lá thư của nước chúng bằng chữ Hán, lời lẽ phần nhiều ngông càn. Phức không chịu tiếp nhận, đầu mục Tây phương quát to để doạ nạt, đặt lá thư lên trên ghế rồi đi. Phức và Đình Tân bàn với nhau rằng: “Nhận thư [vô lễ] là có tội, mà đốt thư đi cũng có tội, không gì bằng cho chạy trạm về để tâu lên. Phức cũng về kinh để đợi tội. Vua giận là làm mất quốc thể, sai vệ cẩm y đóng gông đem giam ở Tả đãi lậu, bắt giải chức, giao cho đình thần bàn” (Thực Lục, tập sáu, trang 975).


Vua sai Mai Công Ngôn và Đào Trí Phú chuẩn bị, nếu quân Pháp đánh trước thì mới đánh lại, còn không thì ta không động tĩnh gì. Ngày 14/4/1847, trong lúc hai bên tiếp xúc để tổ chức làm lễ nhận thư trả lời của vua Thiệu Trị ngày 15/4/1847, thì biến cố xẩy ra.

Thình lình, Lapierre hạ lệnh cho hai chiến hạm Pháp câu đại bác tiêu diệt 5 chiếc thuyền đồng: Kim Ưng, Phấn Bằng, Linh Phụng, Thọ Hạc, Vân Bằng, của vua đang đậu ở vịnh Trà Sơn (vịnh Đà Nẵng) rồi bỏ đi. Những thuyền đồng này (1) không hề có ý định “tấn công” gì cả, vì như trên đã nói, đã bị quân Pháp giật dây và cướp buồm trước rồi, nhưng trong các tài liệu của Pháp hẩu hết đều nói những thuyền này tiến về phiá chiến hạm Pháp để tấn công!

(1) Ghi chú của người góp nhặt: thuyền đồng là từ do Thực Lục viết. Theo Nguyễn Trường Tộ thì Minh Mạng không có thuyền đồng. (xem tr 47)

Giám Mục Forcade viết: “Các thuyền buồm cứ tiến mãi. Tầu La Gloire bắn trước. Phía Việt đã phòng bị sẵn, có lẽ các quan đã triệt hạ tất cả mọi phương tiện tẩu thoát của lính, nên họ chiến đấu mạnh mẽ hơn chúng tôi tưởng. Tầu của họ, làm bằng thứ gỗ rất cứng, có độ bền bỉ lạ lùng; bị 800 viên đại bác tàn phá trong 70 phút; một chiếc nổ tung, một chiếc bùng cháy, chiếc thứ ba chìm, hai chiếc khác ra hàng, sau bị đốt cháy; người bị thương được bác sĩ phẫu thuật của chúng tôi chăm sóc, họ không chờ đợi việc ấy… Tầu La Gloire không có ai chết hay bị thương; đạn bắn qua đầu chúng tôi, cắt vài dây chão. Tầu La Victorieuse, gần tầm đạn hơn, chỉ bị chết một người, mà tôi đã giải tội, và một người bị thương mất một bàn tay và ba bốn nốt bầm nhẹ…


Một tháng sau biến cố, tháng 5/1847, vua Thiệu Trị sai đặt thêm 7 đồn Trấn Dương [chống quân Tây Dương] ở bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Giám Mục Cuénot viết: “Chúng tôi tưởng như đang ở trước thềm hoà bình”. Thiệu Trị đã có ý định gửi thẳng tầu trực tiếp sang buôn bán với Âu Châu. Biến cố Tourane đã dứt khoát và tàn nhẫn đảo ngược khuynh hướng này […] Ngay sau khi trận chiến chấm dứt, Lapierre đã vội vã thái quá rút lui, chẳng cần đếm xiả đến số phận của Đức Giám Mục Lefèbvre.”(Thư ngày 3/5/1847). Jurien de Gravière viết: Trận Tourane đã có hậu quả là hầu như toàn diện mối giao thương giữa Pháp và nước Nam trong nhiều năm bị gián đoạn hẳn”.(Jurien de la Gravière, Chuyến đi của tiểu hạm La Bayonnais ở biển Đông).

Ngày 27/9/1847, vua Thiệu Trị mất.


Lanessan cho rằng vua Thiệu Trị chết vì phiền muộn. Không đúng.Vua Thiệu Trị có phiền muộn, nhưng ông tức giận mà chết. Có thể vua bị bệnh cao huyết áp, nhân việc này bị chấn thương não, năm tháng sau biến cố Đà Nẵng, vua qua đời, ở tuổi 40.


Mười năm sau, ngày 31/8/1858, liên quân Pháp-Y Pha Nho tấn công Đà Nẵng lần thứ nhì, vẫn lấy lý do “trị tội hoàng đế An Nam giết giáo dân và giáo sĩ hai nước”.


Tình hình như thế, cho nên Minh Mạng phải có chính sách quân sự chặt chẽ.


Ông tăng cường phòng thủ. Năm 1823, ông dời đồn Điện Hải vào trong đất liền về phiá nam, xây bằng gạch vững chắc hơn và gọi là thành, bên trong có chỗ cho quân lính đóng và có kho đạn. Ông xây thêm pháo đài Định Hải trên núi nhỏ Định Hải (gần núi Hải Vân). Năm 1830, ông cho xây lại thành An Hải. Năm 1840, ông cho xây thêm pháo đài Phòng Hải trên bán đảo Sơn Trà. Đặt các đội tuần phòng ở các tấn biển (cửa sông chảy ra biển): Cu Đê, Đại Chiêm (cửa Đại), Đại Áp… Đặt các nhà trạm từ Đà Nẵng về Kinh đô để thông tin nhanh chóng cho vua biết khi có biến. Vua Minh Mạng còn cho xây thêm loạt đồn trên đèo Hải Vân, đặt đội binh phòng thủ không cho quân xâm lăng vượt Hải Vân để đánh vào Huế. Nhưng dưới triều Minh Mạng, nước ta là cường quốc ở Á Châu nên quân Anh, Pháp không (dám) xâm chiếm. (sic)

Thành Đinh Hải tên gọi Hải Vân quan

bia đá khắc “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.

Từ Bắc xuống Nam Minh Mạng xây 23 thành trì:


Nhân dịp giáo sĩ Y Pha Nho Diaz bị hành hình, Pháp rủ thêm Y Pha Nho cùng đánh.


Rigault de Genouilly, nay đã lên chức Đô đốc, được giao chỉ huy liên quân Pháp-Y Pha Nho gồm 14 tầu chiến với khoảng từ 2.000 đến 3.000 quân, đánh vào Đà Nẵng. Vùng chiến tranh nằm hai bên bờ sông Hàn, ở bán đảo Sơn Trà, hữu ngạn và quận Hải Châu, tả ngạn (là trung tâm thành phố hiện nay). Ngày 31/8/1958, liên quân Pháp-Y Pha Nho tiến vào vịnh Đà Nẵng.


Sáng hôm sau, 1/9/1858 họ tấn công. Tài liệu sử Pháp Việt viết khác nhau: Thực Lục ghi hai thành An Hải và Điện Hải không giữ được. Thomazi trong cuốn Cuộc Chinh PhụcNước Nam (La conquête de l’Indochine) có lẽ viết đúng hơn, với bản đồ kèm theo: Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp-Y tiến đánh bốn pháo đài ở bán đảo Sơn Trà. Nhìn bản đồ của Thomazi, thì ta thấy đó là: Pháo đài Phòng Hải, do Minh Mạng xây năm 1840 và ba đồn Trấn Dương do Thiệu Trị xây năm 1847. Ngoài ra, ta còn biết: Quân Tây Dương đóng bản doanh ở chân núi Sơn Trà, điều đó chứng tỏ họ đã chiếm Sơn Trà.

Đà Nẵng lúc đó do Tổng Đốc Nam-Ngãi Trần Hoằng trấn giữ với khoảng 2.000 binh. Vua sai Chưởng dinh Hổ oai Đào Trí cấp tốc hội cùng Án sát Lê Văn Phổ và Bố chính Thân Văn Nhiếp, đem quân vào trợ lực. Đào Trí đến nơi, thì bốn đồn ở Sơn Trà đã mất, Trần Hoằng bị cách chức Tổng đốc, Đào Trí lên thay. Vua lại sai Hữu quan Đô Thống Lê Đình Lý làm Tổng Thống (Tổng tư lệnh) cùng Tham tri bộ Hộ Phan Khắc Thận làm Tham tán, đem thêm 2000 cấm binh vào họp cùng bọn Đào Trí. Nhiệm vụ: bảo vệ toàn bờ biển từ Cửa Hàn (tấn biển Đà Nẵng) vòng lên cửa Cu Đê đến núi Hải Vân, không cho quân địch lên bờ. Lê Đình Lý đóng ở Hoa Vinh, Đào Trí đóng ở Thị An. Quân Tây dương đổ bộ lên tả ngạn sông Hàn, chiếm làng Mỹ thị, Lê Đình Lý giao tranh một trận quyết liệt ở xã Cẩm Lệ, bị thương nặng, Hồ Đức Tú đóng ở Hoá Khuê không đến cứu. Vua sai bắt Hồ Đức Tú kiềng lại để điều tra. Lê Đình Lý được đưa về quê Bình Định điều trị, ít lâu sau mất. Các tướng thua trận bị giáng chức. Vua sai lấy xích sắt và dây sắt chắn ngang các cửa biển Thuận An và Tư Hiền.

Tình hình khẩn cấp, vua gọi Nguyễn Tri Phương đang làm Kinh lược sứ ở Nam Kỳ về, trao chức Tổng Thống (Tổng tư lệnh). Nguyễn Tri Phương sửa sang lại đồn lũy, đặt thêm lầu canh, thêm quân do thám, để các đồn có thể cứu ứng lẫn nhau. Quân Tây dương nhiều lấn tấn công các đồn Hoá Khuê, Nại Hiên, Thạc Giản, đều bị Chu Phước Minh, Phan Khắc Thận, Nguyễn Duy, đẩy lui, nhưng họ chiếm được thành An Hải. Nguyễn Tri Phương duyệt mặt trận để xem xét tình hình, tâu vua: “Giặc lấy chiến làm lợi, ta lấy thủ làm lợi. Xin lấy thủ làm chiến, đắp thêm đồn luỹ, để dần dần tiến đến gần giặc” (TL t. 583). Chiến lược này của Nguyễn Tri Phương sẽ làm cho liên quân Pháp-Y thất bại: đợi quân ta đến đánh mà ta không đến, nếu họ tiến đánh, thì họ thua. Tháng 1/1859, Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển đắp đồn Liên trì, quân Pháp lại tiến đánh đồn Thạc Giản, đồn Nại Hiên, sa vào phục binh của quân ta, thua trận. Nguyễn Tri Phương đắp lũy dài từ bãi Hải Châu đến các xã Phước Ninh, Thạc Giản, bên ngoài lũy đào hố hình chữ Phẩm, cắm chông, che cỏ và đổ cát lên trên, đặt quân mai phục sát đến thành Điện Hải. Quân Tây dương chia làm ba đạo tiến đánh, phục quân của ta đổ ra, quân địch phần rơi xuống hầm, phần bị trúng đạn, thua to. (2)

(2) Ghi chú của người góp nhặt: Theo bà Thụy Khuê, Minh Mạng vẫn giữ lại Vannier, Chaigneau từ thời Gia Long và bà không cho biết gì hơn. Từ “quân Tây Dương” thua to, người góp nhặt đào sâu chôn chặt qua Đại Nam sử ký vào thời Gia Long: Olivier de Paymanel giữ việc trấn thủ, còn Dayot thì giữ việc đi mua thuốc đạn ở Ma Ní và mua tàu bè ở Ma Cao. Ngoài ra lại có Lebrun, Vannier, Chaigneau, Forsant, Guillon, Guilloux, Magon de Médine, Barisy, Girard de l’Isle Sellé, người thì coi về bộ binh, người thì coi về thủy binh”.

Thuyền quân Tây dương đổ bộ vào bãi Hải Châu, các tướng Hồ Oai, Tôn Thất Thi, Nguyễn Nghiã bắn chìm được ba chiếc thuyền. Nhưng ngày hôm sau, quân Pháp-Y xung kích: vây đồn Hải Châu, Chu Phước Minh thua chạy về giữ đồn Phước Ninh, Nguyễn Duy đến cứu đẩy lui được quân địch, trận này quân ta bị thương và chết nhiều và cũng là trận sau cùng. Bởi vì liên quân Pháp-Y đánh đã sáu tháng mà không chiếm được Đà Nẵng, cũng không thể đánh ra Huế, vì đèo Hải Vân bị chặn, nên phải bỏ Đà Nẵng, đánh vào Sài Gòn.

Vì không đánh được nên nội bộ của họ có vấn đề: Rigault de Genouilly đổ tội cho Giám mục Pellerin “báo cáo láo”. Giám mục Pellerin muốn đánh thẳng vào Huế. Cuối cùng Giám Mục Pellerin giận, bỏ đi Penang. Sử gia Pháp hầu như không viết gì về giai đoạn này, vì họ không thích nói đếnnhững chiến bại. Thomazi chỉ mô tả ngày đầu tiên 1/9/1858, khi liên quan Pháp Y,bất thình lình câu đại bác vào bốn đồn ở bán đảo Sơn Trà, rồi “oai hùng đổ bộ, hô to khẩu hiệu “Hoàng đế [Napoléon III] muôn năm” trướckhi công phá và chiếm các đồn luỹ. Còn các trận đánh sau, ông chỉ “phân tích tình hình”, rồi chuyển qua mô tả những chiến thắng của Pháp ở Sài Gòn. Ông phân tích tình hình qua lời than của Đô đốc Rigault de Genouilly: đổ tội cho các giáo sĩ [ám chỉ Pellerin] đưa tin sai lầm về nước Nam: Sau khi chiếm được các đồn trên bán đảo Sơn Trà, Đô đốc chờ đợi sự nổi dậy của giáo dân, nhưng không thấy. Vịnh Đà Nẵng được bảo vệ bằng nhiều thành trì, một số xây từ thời Pigneau de Béhaine và Olivier de Puymanel”.

Không thể chiếm được Đà Nẵng, cũng không thể leo lên đèo Hải Vân để tiến đánh Huế vì đội ngũ phòng thủ và đại bác trên đèo không nhân nhượng. Rigault de Genouilly muốn đánh nơi khác. Giám Mục Pellerin khuyên ông nên đánh ra Bắc, vì ở đây có khoảng 400.000 giáo dân muốn giúp, chưa kể dư đảng nhà Lê [Lê Duy Cự] sẵn sàng tiếp tay với Pháp lật đổ triều Nguyễn, ông không tin. Rút cục ông để lại một lực lượng nhỏ giữ các thành đã chiếm ở Sơn Trà, rồi đem đại quân vào đánh Sài Gòn và ông đã thắng. Sau đó, Rigault de Genouilly trở ra Đà Nẵng, lại thất bại trước sự phòng thủ của Nguyễn Tri Phương, ông xin chính phủ Pháp cho viện binh hoặc chỉ giữ Sài Gòn Gia Định, không được, ông bèn từ chức. Phó đề đốc Page lên thay. Lại thua Nguyễn Tri Phương. Page rất mừng khi được lệnh vào giữ Sài Gòn, bao nhiêu binh thuyền phải dồn cho Charner hợp với quân Anh sang đánh Tầu. Ngày 23/3/1860, Page phá huỷ tất cả các đồn trại đã chiếm được ở Sơn Trà, trước khi vào Sài Gòn.

Nguyễn Tri Phương được chuyển vào Sài Gòn để đối đầu với địch. Trong suốt thời kỳ từ 1858 đến 1873, khi Hà Nội thất thủ, quyết định tuyệt thực mà chết.

VIII. Huế

Huế vô cùng quyến rũ về nhiều mặt, bởi vì Huế là kinh đô cuối cùng của thời đại tự chủ. Huế còn giữ được phong độ, qua nếp sống, kiến trúc, văn hoá. Huế vẫn lác đác những nhà cổ trên đường phố ngoại ô. Đi sâu vào thành nội, ta gặp muôn vàn quyến rũ khác, như thể tất cả vàng son và uy quyền của một thời còn đọng lại trong không gian, trong cỏ cây, cây kiểng, cái gì cũng nhuốm chất hoàng gia.

Về cái chết của vua Minh Mạng, tác giả Đạo Giáo ở nước Nam (La Cochinchine Religieuse) cuốn sách nổi tiếng nhất (sic – xem “Vài tuần sau đó…”) của Pháp về thời kỳ truyền giáo, linh mục Louvet viết: “Vài tuần sau đó, kẻ tàn sát cũng lên hầu toà án Thượng Đế: Ngày 20 tháng Giêng năm 1841, Minh Mạng bị ngã ngựa, chết bất thình lình” (Louis-Eugène Louvet, Đạo Giáo ở nước Nam (La Cochinchine Religieuse),1885, tập II, t. 115).
Khi xe leo lên đèo Hải Vân để về Huế, trời mưa tầm tã, tôi đã nhìn thấy vua Minh Mạng sừng sững đứng trên đỉnh núi, ở nóc đồn rêu phong, lệnh cho quân sĩ giữ vững Hải Vân Quan, chặn không cho liên quân Pháp-Y Pha Nho tiến lên chiếm Huế. Minh Mạng (1820-1841) là vị vua lớn của triều Nguyễn, đã nhìn thấy hiểm hoạ ngoại xâm bắt nguồn từ các giáo sĩ người Pháp. Vì thế, vua Minh Mạng cấm đạo, nên ông đã được các giáo sĩ “đặc biệt quan tâm”.

Nhưng Linh Mục Louvet chưa phải là người đầu tiên nguyền rủa Minh Mạng.

Người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã buộc tội và mạ lỵ Minh Mạng nặng nề, vô cố nhất là Trương Vĩnh Ký trong cuốn Giáo trình Lịch sử An Nam (Cours d’ Histoire Annamite) (Saigon Imprimerie du Gouvernement, 1875, bản điện tử). Đến năm 1897, ông lại “xác định” thêm rằng Olivier de Puymanel và Le Brun, hai người lính Pháp vô học đã “xây” thành Gia Định bằng câu: “Vua dạy [bảo] ông Olivier, ông Le Brun coi xây thành Gia Định”, mà Trương Vĩnh Ký không đưa ra bằng chứng nào.

Khi viết sử về giai đoạn Pháp thuộc, Trương Vĩnh Ký có giọng điệu thực dân hơn cả thực dân, ông dùng chữ “trừng trị” để chỉ việc Pháp đánh nước ta, ông hồ hỡi khi Pháp thắng trận. Những đoạn mạt sát Minh Mạng, đôi chỗ trở thành “phản quốc”, ông không ngừng buộc tội vua, bằng những sự kiện hoàn toàn bịa đặt:

1- Minh Mạng giết Nguyễn Văn Thiềng [Thành] vì Thiềng đã khuyên Gia Long nên để dòng chính (tức là con trai Hoàng tử Cảnh) kế vị (1), nên sau này Thiềng bị Minh Mạng thù. (1),

[Nguyễn Văn Thành có con trai làm thơ “phản kháng”, đại ý: ta bỏ triều này dựng triều khác hay hơn, Gia Long biết nhưng lờ đi; ba năm sau, bị một số quần thần ghét, tố cáo, thêm thắt, Gia Long không bênh còn luận tội, nên ông đã tự tử chết năm 1817, dưới thời Gia Long].

2- Ngôi báu mà Minh Mạng thừa hưởng của cha là nhờ công ơn của một số “sĩ quan” Pháp, có người đã hy sinh đến tính mệnh [Ai?]. Vậy mà sau này Minh Mạng cùng bọn quần thần bội bạc đã đối xử tồi tệ với các “sĩ quan” đã giúp Gia Long dựng nước, cố tình kéo Gia Long ra khỏi ảnh hưởng Pháp. Vì thế, trong suốt thời kỳ đối đầu giữa chế độ Cộng hoà và chế độ Đệ nhất đế chính [ở Pháp] không có mối liên lạc nào giữa Annam và Pháp, đó là lỗi Minh Mạng.

3- Sau khi lên ngôi, trong thời gian đầu, Minh Mạng dùng các giáo sĩ vào việc dịch sách, xong, thả họ sang Ai Lao (Lào) cho chết vì bệnh sốt rét rừng, để âm thầm thanh toán tất cả những người ngoại quốc này, nhưng các giáo sĩ đã can trì tranh đấu.

Trương Vĩnh Ký viết nguyên văn:

  • “Minh Mạng, dùng dụ để thoả mãn mức độ nóng nẩy kinh hồn và đầy hận thù, đạt tới sự độc ác vì mê đắm hay vì lòng ghen tuông mù quáng. Tham vọng thống trị của ông ta vô độ: chính trị của ông ta lạnh lùng, bất chính, tàn nhẫn” (trích dịch bản điện tử).

    4- “Minh Mạng lên ngôi, bằng cách tiếm vị của cháu, [con trai hoàng tử Cảnh], sợ một ngày nào đó nó có thể tranh ngôi của mình (…). Nghe đồn ông ta tư thông với vợ goá của Hoàng Tử Cảnh đến khi bà này có thai, bèn kết án loạn luân rồi sai giết cả mẹ lẫn hai con của hoàng tử Cảnh để phi tang.(trích dịch bản điện tử)

    [Hoàng tử Cảnh mất năm 1801, 22 tuổi, vì bệnh đậu mùa, có hai con trai là Mỹ Đường và Mỹ Thùy. Năm 1824, Tống Thị Quyên, vợ goá hoàng tử Cảnh tư thông với Mỹ Đường, bị Lê Văn Duyệt biết, tâu vua. Tống Thị phải tội: [Lê Văn Duyệt] dìm nước cho chết. Mỹ Đường tội nặng bị giáng xuống hàng thứ nhân, mất năm 1848, đời Tự Đức. Mỹ Thùy bị bệnh chết năm 1826, không có con. Các con của Mỹ Đường được giữ Tôn Thất, Lệ Chung trông nom việc thờ phụng dòng Hoàng Tử Cảnh. Những việc này ghi rõ trong Thực Lục và Liệt Truyện].
    Trương Vĩnh Ký viết tiếp:

    “Sau tội ác mà vô liêm sỉ và đạo đức giả đen tối nhất pha trộn với sự hiểm ác sâu sắc (2) nhất, ta còn ngạc nhiện làm gì trước thái độ của ông ta đối với các sĩ quan Pháp và các giáo sĩ? Không, dĩ nhiên là không. Minh Mạng, bẩm sinh tàn ác, lạnh lùng, đen tối, gian trá, từ nay có thể làm tất cả mà chắc chắn là không bao giờ thấy quá đáng.”(trích dịch bản điện tử)

(1) Ghi chú của người góp nhặt:

I – Không thấy bà Thụy Khuê nhắc tới Lê Văn Duyệt. Vì ông chống đối Minh Mạnh lên làm vua thay vì hòang tử Cảnh nên cũng bị Minh Mạng thù. Nhân vụ Lê Văn Khôi, con nuôi ông nổi lọan, mồ mả của ông bị Minh Mạng cho san bằng, xiềng lại bằng xích sắt, đánh trên mộ 100 roi, dựng bia khắc 8 chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (yểm là hoạn quan)


II – Thời cụ Trương Vĩnh Ký không có từ Việt Cộng như vô liêm sỉ hay sâu sắc. Từ vô liêm sỉ là chữ của Trần Huy Liệu hay dùng. Trong tập san Nghiên cứu Lịch sử của miền Bắc, năm 1963, Trần Huy Liệu viết bài… “chính quy” đầu tiên buộc tội Phan Thanh Giản đầu hàng Pháp cho 8 sử gia Hà Nội làm khuôn mầu. Cuối bài, Trần Huy Liệu viết nguyên văn: Sau khi đánh giá xong Phan-thanh-Giản, chúng ta sẽ chuyển sang một nhân vật lịch sử khác. Năm dày chày tháng, ông này mất, các sử gia Hà Nội mở mặt trận “xung kích” nhắm vào Trương Vĩnh Ký. Bà Thụy Khuê vì bênh vực nhà Nguyễn dựa dẫm vào sử gia Hà Nội nói vấy Trương Vĩnh Ký theo Pháp. Bà dùng từ y xì như Trần Huy Liệu bài bác Phan Thanh Giản, như “vô liêm sỉ”, v…v…
III – Bởi có một khúc bà búng ghét đuổi ruồi: “lịch sử không phải là miệt thị, mà là sự trung thực và sự thực”. Vì vậy dưới đây là một đọan văn của một nhà phê bình văn học như bà, ông cô vọng ngôn chi về sự trung thực và sự thực của bà:


“…Bà Thụy Khuê đầy cảm tính, hận oán chưa từng gặp ở bất cứ nhà sử học nào trước đây. Vì thế, những người viết sử từ Trương Vĩnh Ký với cuốn Cours d’histoire annamite, 1875. cũng được xếp loại sử quan thuộc địa. Đọc lại cuốn sử của Trương Vĩnh Ký người ta thấy ngay từ lời nói đầu cho thấy ông là một học giả dù uyên tham nhưng vẫn tỏ ra đầy lòng khiêm cung và từ tốn hết mực. Tuy nhiên, có một chi tiết là Trương Vĩnh Ký không ngần ngại kết án vua Minh Mạng trong vụ án giết vợ và hai con của hoàng tử Cảnh. Tuy nhiên, những lời kết án của bà Thụy Khuê không chỉ rõ Trương Vĩnh Ký là sử quan thuộc địa ở chỗ nào? Bà không đưa ra nhận xét nào đến độ tôi nghi ngờ rằng bà chưa hề có dịp đọc cuốn sách này. Bà chỉ viết: “Henri Cordier cho biết cuốn sử đầu tiên mà độc giả Pháp được biết đến về nước Nam là “Cours d’histoire annamite” (Giáo trình lịch sử An Nam) của Trương Vĩnh Ký in năm 1875…”


(nguồn : Tham vọng viết lại lịch sử Việt Nam: Trường hợp Thụy Khuê – Nguyễn Văn Lục)

Người góp nhặt nghĩ vụng bà Thụy Khuê ôm khư khư trong tay bộ sách của Tây: Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823 (Lịch sử truyền giáo ở Nam Hà 1658-1863) của linh mục Launay để dựng sử thì… Thì bà hóa thân là… “sử gia thuộc địa” hồi nào không hay! Thêm nữa bà ôm hai bộ Thực Lục và bộ Hội Điển, bà là… “sử quan của nhà Nguyễn” với Gia Long, Minh Mạng là minh quân. Lẽ dĩ nhiên bà còn thâm cứu nhiều sách Tây khác nữa: như Michel Đức với cuốn Souvenirs de Huế, Michel Đức tả Gia Long: “nói chuyện nhảm những lúc vắng người”, như “Cha ta đã làm như thế này…mẹ ta làm thế này… ” (làm sao…để có con).

IV – Thêm một lần, người góp nhặt học theo cụ Khuất Đẩu: Bà là người hay dậy khôn. Với một tác gỉa khác, ngay từ khi bà bắt đầu cầm bút: Bà là người thích dậy chữ


“… Cuối năm 2002, Thụy Khuê, nhà phê bình văn học, sang Wesminster, thuyết trình về ba nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn. trong đó có bài “Nhất Linh, Giòng Sông Thanh Thủy”. Trong bài bà đã đổi tên tác phẩm Giòng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh từ chữ Giòng thành chữ Dòng và bà viết trong lời chú thích nguyên văn như sau: “Nguyên tựa của Nhất Linh là Giòng Sông Thanh Thủy, chúng tôi sửa lại là Dòng Sông Thanh Thủy cho đúng chính tả”. Đọc lời chú thích đó chúng tôi phân vân tự hỏi Thụy Khuê theo chính tả nào và chính tả nào là đúng? Viết “Dòng” đúng chính tả vậy viết “Giòng” có coi là sai chính tả hay không? Tên một cuốn sách do tác giả đặt cho đứa con tinh thần của mình thì nó trở một danh từ riêng. Chúng ta phải tôn trọng danh từ riêng đó mà không thể nhân danh cá nhân mình, nhân danh chính tả hay… “tà tả” để sửa lại tên đó… ” (nguồn : Sửa tên tác phẩm của người quá cố? – Đặng Trần Huân)

Nếu Minh Mạng không chết vì ngã ngựa, chưa chắc quân Tây Dương đã dám dụng đến nước ta (sic). Bởi tất cả những thành trì kiên cố này đã ngăn chặn quân Pháp, gây khó khăn, nên họ không thể nhanh chóng mà chiếm được. Phải mất 20 năm.


Tháng 11/1839, Minh Mạng cho chế tạo một thuyền lớn chạy bằng máy hơi nước, tốn 11.000 quan tiền, các quan có ý tiếc, vua bảo: ta muốn thợ của ta học hỏi những kỹ thuật mới về máy móc tân tiến, tốn bao nhiêu cũng phải trả. Nhưng những điều mà học sinh được học về Minh Mạng, đã bị lọc qua lăng kính sử gia thuộc điạ (2) (kiểm duyệt), kể cả những người như Trần Trọng Kim và Phan Khoang cũng đều nhất loạt cho rằng: vì Minh Mạng giết đạo và bế quan toả cảng nên nước ta mới lạc hậu và sau này bị Pháp xâm chiếm, là hoàn toàn sai.

(2) Ghi chú của người góp nhặt: qua Phỏng vấn nhà nghiên cứu Thụy Khuê của Hà Thủy Nguyên có đọan: “…Khi vua Minh Mạng lập Quốc sử quán và lệnh cho các quan viết sử đi khắp các nơi trong nước để thu thập tài liệu, viết các bộ Thực Lục, Liệt Truyện…nhà vua đã tế nhị không đọc, tức là ông không kiểm duyệt bộ sử đồ sộ này…”.

Dựa vào đâu bà Thụy Khuê đùm đậu “.nhà vua đã tế nhị không đọc, tức là ông không kiểm duyệt bộ sử đồ sộ này”. Vì tập Ngự Phê Trên Châu Bản Triều Nguyễn (1802-1945) tập trung vào cách phê duyệt của các hoàng đế nhà Nguyễn trên văn bản do quan lại đệ trình. Sách gồm những bản chụp hình mầu rất rõ của 181 châu bản từ năm 1803 đến năm 1945, tức từ thời Gia Long cho đến thời Bảo Đại. Với Minh Mệnh, năm 1820 có bản tấu của Chu Phúc Năng dài 188 chữ thì ngự phê của Minh Mệnh dài 37 chữ (Ngự Phê trang 29). Cũng năm 1820, bản tấu của Đinh Nguyễn Phiên dài 5 trang thì ngự phê của Minh Mệnh có tới 32 lần, gồm 11 châu phê, 10 châu cải, và 11 châu mạt (Ngự Phê trang 31-33).


Những thí dụ vừa kể cho thấy cung cách làm việc của các hoàng đế triểu Nguyễn. Ấy là chưa kể sự phân tích nội dung các châu phê sẽ đem lại những khám phá mới mẻ mà sự sao chép lẫn nhau khi nghiên cứu Sử không bao giờ đạt được.


(nguồn : Không có tài liệu, không có lịch sử của sử gia Trần Anh Tuấn)

Người ta cũng trách vua Tự Đức đủ điều, nhất là không chịu canh tân đất nước, giết đạo, triều đình hủ lậu, khiến người Pháp có cớ để đánh. Xin thử nhìn lại: Tự Đức lên ngôi, sau vụ Pháp lén tiêu diệt 5 chiến hạm của ta, để lại thư giọng hách dịch, côn đồ, khiến vua Thiệu Trị tức mà chết. Làm sao Tự Đức có thể tin được quân Pháp? Năm 1857, liên quân Pháp-Y Pha Nho tấn công Đà Nẵng, do giám mục Pellerin dẫn đầu. Làm sao vua Tự Đức có thể tin được giáo sĩ để mở cửa cho họ tự do vào giảng đạo? Rồi vua Tự Đức phải đánh nhau với Pháp trong gần 20 năm. Thì giờ đâu “canh tân đất nước”?. Thử hỏi Việt Nam trong hai mươi năm chiến tranh (1954-1975) hai miền Nam Bắc có “canh tân” được gì không?


Hồi trẻ, tôi được học về Nguyễn Trường Tộ, họ tôn sùng ông một cách quá đáng, học rằng: ông đã đưa ra hơn 50 bản điều trần mà vua Tự Đức (3) và triều đình ngu muội không nghe (3).


Nay già rồi, tôi đọc lại những bản điều trần của ông không thấy gì đáng phục cả:


(3) Ghi chú của người góp nhặt: chữ Hán từ lỗ nẻ nào chui lên để bà Thụy Khuê đọc… “hơn 50 bản điều trần gửi Tự Đức“. Cũng thời Tự Đức, ngòai Nguyễn Trường Tộ, thêm Phan Thanh Giản sau khi đi sứ sang Pháp vào năm 1863 trở về nói không ai nghe, không ai tin, ông viết:


“…Kể từ cái ngày mà tôi được gửi đi làm chánh sứ tại thủ đô nước Pháp, Tôi đã được chứng kiến tận mắt nền văn minh Tây phương, tôi không thể nào tránh được cái tâm trạng khâm phục cộng với sự sợ hãi. Khi trở về xứ sở của tôi, tôi thúc giục các đồng liêu của tôi phải mở mắt ra, phải thức tỉnh sau những năm tháng mê muội. Than ôi, mặc những cố gắng của tôi muốn thuyết phục họ, không một người nào trong đám họ tin vào sự thực những lời nói của tôi…”

Về chuyện cải cách kỹ thuật và khoa học, vua Minh Mạng đã sai thám tử có hạng đi trinh thám kỹ nghệ tân tiến, về báo cho ông rồi. Minh Mạng cho thợ làm chiếc tầu đầu tiên chạy hơi nước và Tự Đúc có sáu chiếc. Ngoài việc gửi sứ giả đi các nuớc lân cận để học kỹ thuật của Anh, Pháp, Hoà Lan… Minh Mạng còn bắt con trai của Chaigneau, là Đức, khi anh ta từ Pháp theo cha về VN, phải kể cho ông nghe bên Pháp có những phát minh gì? (4)


Vậy người Việt thời đó không nhà quê, ngố rừng như người ta tưởng.

(4) Ghi chú của người góp nhặt: Bà…”sử gia” ăn xổi ở thì chuyện Minh Mạng hỏi Chaigneau Đức Pháp có những phát minh gì?. Thì đây Michel Đức trong Souvenirs de Huế cho hay: “…Minh Mệnh vời vào cung để hỏi chuyện nước Pháp và nhờ dịch những chữ ghi trên mấy bức họa vẽ cảnh nước Pháp. Minh Mệnh đặc biệt chú ý đến quân đội, nhung phục của Pháp, hỏi rất cặn kẽ và dựa theo Pháp chế tạo ra một loại gù đeo hai vai cho các võ quan. Những võ quan trong triều thường nói trộm sau lưng vua: “Chúng mình là sĩ quan của Pha lang cha?”. Minh Mệnh cũng tò mò sao người Pháp hay sưu tầm những con thú chết, lột da, nhồi trấu, cùng là những loài sâu bọ vô giá trị. Khi biết để đem về trưng bày tại Bảo tàng viện thì nhà vua lại càng kinh ngạc: “vì dùng lâu đài để chứa những con sâu ấy? Thật là điên rồ! Thật là trẻ con! Chẳng lẽ người Pháp hết việc làm rồi ư?”. Không thấy Minh Mạng hỏi Pháp có những phát minh gì?

Mộ Gia Long xa nhất, ở trên vùng núi đồi thơ mộng. Lăng vị vua sáng lập lại nhà Nguyễn đơn giản như một “nhà nghèo” (sic), bởi vua khi còn sống cũng rất giản dị, thủa ở Gia Định, ông xắn quần, đắp lũy cùng với thợ, ông tự lái thuyền đi thăm xưởng đóng tầu và ăn trưa với thợ. Gia Long yên nghỉ tại đây với hai người vợ quý.

Lăng Minh Mạng, không bề thế, nhưng khiêm cung, cao nhã, khắc kỷ, để lộ oai quyền và tinh thần bất khuất, với cái oai kín đáo của một vị thâm nho có tài cai trị và giữ nước. Vua coi xét tất cả mọi việc, quyết định tất cả mọi việc, xây dựng một mình, một nước giầu mạnh, hoàn toàn chuyên chế, không có quân xâm lăng, không ai dám xâm lăng.

IX. Trên đường ra Bắc


Rời Huế chúng tôi lên đường ra Bắc, nhưng hồn Huế vẫn còn đọng lại trong tôi suốt quãng đường dài. Bữa cơm Âm phủ tối qua, có món canh dưa chua và nhiều thứ bánh Huế tôi không nhớ hết tên, bánh nào cũng ngon, vừa ăn vừa tưởng đến Gia Long…

Ông vua hàng ngày ra công binh xưởng kiểm soát, tự lái thuyền đi thăm xuởng đóng tầu ở Thị Nghè, trưa ăn cơm cá kho dưa muối với thợ. Nhớ chuyện Barisy (một người lính Pháp theo vua) kể lại: ngày đầu tiên quân tiến vào kinh đô, tối đó vua về thuyền ngủ và ra lệnh cho quân sĩ cũng phải ngủ trên thuyền không được nhiễu dân. Sáng hôm sau, tám giờ ngày 15/6/1801, vua chính thức lên Tử cấm thành (1), ông cũng không đi thẳng vào cung điện mà đứng ở phòng ngoài (nơi dân chúng tụ họp để chờ xem mặt vua những ngày thiết triều), ông đứng đó “đấu láo” với quân lính. Tôi chắc khi đã lên ngôi tôn, thế nào cũng có lúc vua lẻn ra quán Âm phủ ăn cơm canh dưa chua cá khô tộ. Tâm hồn Gia Long gắn liền với hai thứ Huế: Huế cung đình và Huế dân dã, và cũng chính là tâm hồn Huế mà tôi cảm nhận được. Nhiều lần tự hỏi không biết mình yêu nước là yêu cái gì và tôi không nhận ra cái gì chính xác cả.

(1) Ghi chú của người góp nhặt


Năm 1801, Nguyễn Ánh chưa là vua. Mãi đến năm 1805, Gia Long và đại thần Nguyễn Văn Yến mới khởi sự xây dựng Huế ở Phú Xuân và hoàn tất năm1818. Minh Mạng tu bổ thêm từ năm 1818 đến năm 1832. Nên năm 1801 chưa có…Tử cấm thành.

Trên đường ra Bắc, chúng tôi qua cầu Hiền Lương, dừng lại chụp ảnh, nhưng tôi không thấy một cảm giác gì đặc biệt, nước sông cũng không làm tôi xúc động. Khi vào tới địa phận Đồng Hới, ngủ đêm ở cửa Nhật Lệ, tôi mới thấm thiá ám ảnh sông Gianh. Đêm đó tôi vừa nhắm mắt nó lại hiện ra, nhấp nhô trên sông, không làm thinh, không cầu cứu và cũng không một mình, nó đi cùng, thực ra nó kéo theo trên sông câu thơ đây sông Gianh đây biên cương thống khổ, đây sa trường đây nấm mộ trời Nam của Đằng Phương trong bài học thuộc lòng mà thủa bé chúng tôi cùng học. Rồi mảnh thành Đồng Hới đen ngòm hiện ra chắn ngang sông, gạt chúng tôi khỏi những dấu tích cuối cùng của trận Trấn Ninh-Nhật Lệ.


Quảng Bình tôi được thấy lần đầu trong mộng và trong đời, phong cảnh vô cùng ngoạn mục, núi non trùng điệp với các hang Sơn Đoòng, động Phong Nha, động Thiên Đường… những kỳ quan của đất nước ta. Chúng tôi theo quốc lộ số một, đi ngang tầm 99 ngọn Hồng Lĩnh về Vinh, cốt xem dấu vết Phượng Hoàng Trung Đô của Quang Trung. Tôi hơi thất vọng trước một Phượng Hoàng Trung Đô mới xây trên nền di tích xưa, trên núi Dũng Quyết, còn gọi là núi Quyết tức Phượng Hoàng, một trong những đỉnh cuối cùng của rặng Hồng Lĩnh. Đền đài mới xây chưa bắt được hồn cốt Quang Trung, giống đền Tam Kiệt ở Quy Nhơn, lớn mà trơ.

Từ biệt Vinh, chúng tôi đi Thanh Hoá.


Thanh Hoá có Sầm Sơn với hòn Trống Mái, đối với người khác có lẽ chỉ là một bãi biển thông thường, nhưng với tôi có một ý nghiã thiêng liêng: Sầm Sơn là bối cảnh tiểu thuyết Trống mái của Khái Hưng. Chiều hôm ấy, chúng tôi đi theo Vọi và thấy lại được thế giới thuyền chài, đúng như Khái Hưng mô tả tám mươi năm về trước, chúng tôi theo Vọi vào những ngõ ngách dẫn đến hòn Trống Mái.


Thanh Hoá còn sừng sững Thành Nhà Hồ, vết tích của một kiến thiết thời Trung Cổ, của một triều đại văn minh rất xa, mà chúng ta chưa thực sự khảo sát đến nơi đến chốn. Tôi không hiểu rõ về kiến trúc, nhưng đứng dưới chân Thành Nhà Hồ, tôi “dám chắc chắn” là những thành đất xây ở nước ta dưới thời Gia Long như Gia Định, Diên Khánh, đều chịu ảnh hưởng lối đắp Thành Nhà Hồ: tường đất dầy, toả ra như chân vại. Thành Nhà Hồ còn được đệm đá, vững chãi, bất di bất dịch, như đất nước tôi.


Rời Thanh Hoá chúng tôi lên Ninh Bình. Ninh Binh thuộc miền trung du được thiên nhiên ưu đãi nhất: Ninh Bình có Tam Cốc, Bích Động, Hoa Lư, có vườn Cúc Phương, nhà thờ Phát Diệm…


Nhà thờ Phát Diệm (1) ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, là một kiệt tác.

(1) Ghi chú của người góp nhặt:


Bà Thụy Khuê ba điều bớn chuyện với cô Hà Thủy Nguyên: “Người viết chỉ có nhiệm vụ trình bày sự kiện . Việc đánh giá là của người đọc. Độc giả đọc một đoạn viết về một nhân vật (…), rồi tự rút ra những suy nghĩ hay đánh giá về nhân vật ấy (…), và đánh giá luôn cách viết của người viết”. Tuy nhiên dàng dênh với người đọc là ông Nguyễn Văn Lục: “Bà Thụy Khuê có lẽ cần xem lại mình trong việc trích dẫn và các dùng tài liệu vì bà để lộ ra thái độ khá chủ quan, thiên lệch, một chiều.. “.


Đúng ra bà Thụy Khuê trích dẫn ở bản tin điện tử để viết chuyến đi Về quê Bắc:


“…Nhà thờ Phát Diệm (…) là một kiệt tác. Nhưng oái oăm thay lại do một người phản quốc xây nên, đó là linh mục Trần Lục hay Cố Sáu. Năm 1883, ông giúp quân Pháp 150 tay súng chiếm thành Ninh Bình. Năm 1887, ông huy động 5.000 giáo dân giúp quân Pháp tiêu diệt chiến lũy Ba Đình của Đinh Công Tráng. Ông được Pháp tặng hai (sic) Bắc đẩu bội tinh. Nhà thờ Phát Diệm với sự góp công góp sức của bao ngàn giáo dân. Nhưng Cố Sáu hà hiếp con chiên, ông bị Phan Đình Phùng lúc còn làm quan, nọc ra đánh… “.
Thế là người góp nhặt xem lại Tác giả & Tác phẩm Đào Trinh Nhất vừa sọan xong năm ngóai. Bèn ăn như cũ, ngủ như xưa với ông Đào Trinh Nhất, ông là người đầu tiên dịch truyện Bồ Tùng Linh. Năm 1924, ông viết Việt sử giai thọai, nhưng trong giai thọai lịch sử Phan Đình Phùng, không có chuyện cố Sáu giúp quân Pháp 150 tay súng… Hay huy động 5.000 giáo dân giúp quân Pháp….Hoặc Pháp tặng…những 2 (hai) Bắc đẩu bội tinh. Người góp nhặt nghĩ nông chòen giai thọai đã là chuyện huyễn hoặc rồi. Ấy là chưa kể với ông Đào Trinh Nhất qua Bồ Tùng Linh: Nói láo mà chơi nghe láo chơi ấy thôi. (Tản Đà)


Lỗi không phải ông Đào Trinh Nhất, trăm sự ở bà Thụy Khuê mò vào bản tin điện tử để trích dẫn nguồn nào theo định kiến của mình. Nếu như vậy, bà đâu có cung cách của một sử gia đúng nghĩa! Vì bản tin điện tử đâu có khả tín, bởi bất cứ tiểu sử ai đó tên kèm theo chữ Hán, người góp nhặt chắc như cua đinh nguồn từ Hà Nội lấy từ Thực Lục nhà Nguyễn. Hay nói khác đi theo sử gia Tạ Chí Đại Trường với Sử Việt đọc một quyển, ông sử gia ngự sử văn đàn rằng nhiều sử gia chỉ đọc một quyển Đại Việt Sử Ký Tòan Thư để viết sử. Nào khác gì…“sử gia“ Thụy Khuê đọc một quyển Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823 (Lịch sử truyền giáo ở Nam Hà 1658-1863) của linh mục Launay để viết Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long. Thế nhưng nhắc đến ông này, “sử gia“ Thụy Khuê lại sốt tiết lên ngay!


Nhà thờ Phát Diệm xây năm 1883 toàn bằng đá, bên trong có 48 cột gỗ lim nguyên khối (người góp nhặt đã dòm thấy tận mắt: cột được nối với nhau bằng nhiều thân gỗ) lừng lững. Bên ngoài có ba khối kiến trúc như chùa nhở với mái cong, lợp ngói trông như đình làng.


Chùa Cổ Lễ ở huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, là một tuyệt tác khác. Về mỹ thuật có những điểm tương tự nhà thờ Phát Diệm. Chùa thật hoành tráng đối với khu làng nhỏ bé Cổ Lễ. Chùa lưu trữ lịch sử phật giáo. Tương truyền có từ thời Lý Thần Tông (1116-1138) do Khổng Minh Không (tên thật là Nguyễn Minh Không) tức Lý Quốc Sư, tức thiền sư Không Lộ xây. Năm 1902, chùa được hoà thượng Phạm Quang Tuyên trùng tu theo kiến trúc lương giáo hiện nay: trước chùa có tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao 32 mét, phong cách gô-tích, tháp đặt trên lưng rùa nằm ở giữa hồ, đầu rùa chầu chính điện. Chùa có thư viện đá, gồm các văn bia lịch sử mà tôi không đọc được một chữ, để biết nội dung. Sau lưng chùa, có hồ lớn, giữa hồ ngự trị Đại Hồng Chung, chuông nặng chín nghìn cân do hòa thượng Thích Thế Long cho đúc năm 1936.

Tháp Gô-tích chùa Cổ Lễ Rùa đội chân Tháp

Hai kiến trúc lương giáo Phát Diệm và Cổ Lễ, xuất xứ khác nhau, thể hiện tinh thần đạo giáo đồng quy hoà hợp, đứng vững với thời gian, vượt trên tranh chấp của con người.


Tôi sinh ra đời đã có ăn mày. Lúc nhỏ ở Hà Nội, bước ra khỏi cửa là thấy ăn mày. Nhưng tôi quen đi, vào Sài Gòn cũng thế, tôi cũng quen đi. Nhưng khi từ Pháp trở về nước lần đầu, tôi không quen nữa. Kỳ về năm 1984, gay go hơn nữa, tôi như con giun bị dẫm, quằn quại một mặc cảm phạm tội, nghĩ đến những bữa ăn mừa mứa bên Pháp. Khi ra Hà Nội, tôi không nuốt được nữa, bộ tiêu hoá quyết định đình công. Năm 1993 trở về tình hình đã khá hơn. Năm 1997, tình trạng đã khá hơn, tuy vẫn còn ăn mày. Tôi cũng đã đi vào các hang cùng ngõ hẻm, lên vùng núi đồi heo hút ở các bản Mường, Thổ, sâu, xa gần biên giới, chỗ núi tai mèo hiểm trở, ít ai đi tới, gặp hai chị em đứa trẻ bán hoa rừng, tôi cho nó mấy đồng, nó xua tay không lấy, nó bán hoa chứ không ăn xin.


Tôi mừng chảy nước mắt (sic)


Từ lúc tôi sinh ra đến bây giờ nước tôi mới không có ăn mày. Nước tôi không có ăn mày.

Nước tôi không còn ăn mày.

X. Về quê Bắc


Tôi là người Bắc thì miền Bắc nhất định là quê hương tôi rồi, nhưng tại sao, ngoài tên làng Hành Thiện nơi mẹ tôi sinh ra và làng Doanh Châu quê thầy tôi, là hai cái tên tôi thân lắm, như có thể mày tao với chúng được, tôi còn chơi thân cả với nhiều tên khác, như Gia Bình, Bất Bạt, Bạch Hạc, Tiêu Sơn, Long Giáng, Châu Mộc, Vụ Bản… chúng cũng làm tôi “rung động” không phải rung động kiểu tiểu thuyết diễm tình, mà khi nghe những tên này, tôi cảm thấy như ai gọi tên mình, một tý tên mình thôi, không phải tất cả, vì nào có phải tên mình. Tôi tìm hiểu mãi không ra manh mối. Chỉ biết rằng tôi ở Pháp đã hơn nửa thế kỷ, mà ai gọi tên Lyon, Marseille, tôi cũng tỉnh bơ như không dính dáng gì đến mình.


Nhưng chưa về đến Phú Thọ, tôi đã nghe bụng dạ báo động: sắp tới Đoan Hùng rồi đấy! Hơn hai mươi năm trước, khi cả nước còn luỹ tre xanh, xe còn đi đường quốc lộ, thường ghé Đoan Hùng. Bây giờ nước đã thành thị hoá, xe đi xa lộ cao tốc, tôi mất cả tre xanh, mất cả Đoan Hùng, mất cả đồi chè Phú Thọ vì chè đã dọn sang Thái Nguyên, nhưng tim tôi vẫn nhớ những địa chỉ cũ, dù có nơi tôi chưa đến bao giờ, bởi chúng là địa chỉ của những Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Cầm, Quang Dũng… truyền lại cho tôi. Như Đoan Hùng nơi Mai Hương và Lê Phong đặt phòng thám tử, hồi nhỏ đọc sách trinh thám Thế Lữ thích lắm, bây giờ đọc lại thấy hết hay. Như Long Giáng của Khái Hưng trong tưởng tượng. Như Vụ Bản nơi giam cầm Gia Trí, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Như Châu Mộc, nơi đoàn quân không mọc tóc của Quang Dũng đã đi qua… những điạ chỉ ấy nó dính vào mình, là không tẩy đi được.

Vì cần chụp một số ảnh các điạ chỉ toà soạn Phong Hoá và Ngày Nay thủa trước nên tôi nhờ anh bạn thân thổ công Hà Nội dẫn đi. Hôm ấy Thiệp chở tôi đi nhiều nơi nhưng có một nơi, bất ngờ để lại cho tôi ấn tượng mạnh và xúc động nhất, khi anh dẫn tôi đến nhà hát Tiếng Chuông vàng thủ đô. Cô Kim Chung, cô Bích Hợp… hồi đó tôi được theo thầy tôi đi coi hát mỗi lần có tuồng mới ở Hà Nội. Tôi nhớ cô Kim Chung oai phong trên sân khấu trong vai Lữ Bố, lẫm liệt hơn cả các kép Huỳnh Thái, Ngọc Toàn. Cô đội mũ có hai tai vểnh cắm con rắn giấy vươn cao tung quẫy theo bước chân đi. Cô hát giọng tiếng chuông vàng, cô cười một bên má lúm đồng tiền. Mắt cô to và sáng, khi cười nhắm tít lại rất lẳng, tôi ước mình lớn thật nhanh làm đàn ông ôm cô thoả thích. Cô Bích Hợp trái ngược với cô Kim Chung, dáng liễu yếu đào tơ, nhìn cô là tôi nhận ngay ra Kiều, mặc dù tôi chưa gặp cô Kiều bao giờ. Tôi yêu cô Bích Hợp vì cô ngâm thơ hay tuyệt, cô có bí quyết ngâm câu lục bát đến đúng chỗ đó là cô ợ lên một tiếng như tiếng nấc, ôi chao đứt ruột, đứa con nít là tôi còn thấy buồn rớt nước mắt huống chi người lớn. Tôi mê tiếng ợ của cô Bích Hợp cũng như mê tiếng chuông cô Kim Chung.

Chúng tôi ở ngõ Hà Hồi. Ngõ này đầy hàng quà, sáng nào chúng tôi cũng đi dạo một vòng thôi thì đủ những thứ quà ngày trước Vũ Bằng treo trong Miếng ngon Hà Nội để dứ bọn di cư nhớ nhà đọc thèm nhỏ rãi. Bây giờ cái ngõ Hà Hồi zic-zắc như chân bạch tuộc này không thiếu thứ gì, mỗi ngày một món, ăn cả tháng mới phải quay lại quà cũ. Nhưng cái khoái là bây giờ bạn ăn gì thì ăn, lê la thế nào, ăn rau sống không bị đau bụng nữa. Cái vụ đau bụng nó đeo theo từ hồi tôi về Sài Gòn lần đầu năm 1974 và sau đó lần nào cũng bị ít nhất một lần tào tháo đuổi Đã bị như thế, nhưng tôi vẫn không thể nhịn được những con cua đang bò, con tôm còn nhảy, luộc ngay trên bãi biển, con cá còn quẫy vớt lên rán giòn và những thứ nộm đủ loại rau sống xanh đỏ vô cùng hấp dẫn… nên chỉ vài hôm sau là tôi phá giới, và trong suốt dọc cuộc ta bà hai tháng trên “khắp nẻo đường đất nước” tôi ăn thả cửa tất cả những thứ mà Vũ Bằng chưa hề biết, chưa hề ngờ, vì tào tháo đã bị quan công đuổi bắt, đã giơ tay mỗ hàng, mỗ chịu.

Từ ngõ Hà Hồi ra Bờ Hồ rất gần nên chiều nào rảnh chúng tôi cũng đi Bờ Hồ. Bờ Hồ vẫn đẹp. Sang đông còn sót lại vài bông phượng đỏ trên cành rủ xuống mặt hồ như món quà đặc biệt dành cho người về. Cuối tuần, đường quanh hồ có những giàn nhạc sống, ca hát đủ loại. Đêm ấy, tôi mê nhất giàn quan họ Bắc Ninh, có một anh kép đóng vai ông Hoàng Mười tuyệt vời. Ông Hoàng Mười vốn gốc Nghệ An, con vua và liên hệ đến thánh Mẫu. Người diễn viên này có giọng nam đã nữ hoá. Tôi không biết tên anh, nhưng anh có một giọng lạ lùng, độc nhất vô nhị. Sau màn ca trù bất hủ, anh bắt sang chầu văn, vừa múa vừa hát như đồng cô chính hiệu.


Từ hôm đó, tối tối tôi tìm xem chỗ nào ở Hà Nội có chương trình ca trù, đến nghe, nghe nổi da gà, bởi vì trong đó có thầy tôi, hồi còn sống, người thường đi hát cô đầu. Hồi nhỏ tôi không bao giờ để ý đến ca trù, bởi thấy cái giọng ê a bất tận, nghe buồn ngủ. Từ khi đọc Chùa đàn của Nguyễn Tuân, tôi mới bắt đầu nghe, nhưng tôi thật sự yêu ca trù từ khi “quen” với vợ chồng kép Tư Chản-Đào Khuê trong Mộ Phách của Phùng Cung; cả đời gắn bó với cây đàn đáy và cỗ phách, tưởng con mình sẽ nối tiếp nghề tổ. Cách mạng vùng lên, ca trù bị kết án “đồi trụy” rồi bị cấm. Tư Chản để đàn đáy lên bàn thờ chỗ khuất. Một lần, đêm khuya, hai vợ chồng đóng kín cửa, vụng trộm đàn hát với nhau. Nhưng đứa con trai của họ đi bộ đội cầm súng thay đàn. Một ngày nó trở về đánh đàn nay đã trở thành địch, nó lôi cây đàn trên bàn thờ xuống giẫm nát, ném vào đống lửa. Tư Chản không sống sót sau đàn. Đào Khuê liệm cỗ phách trong miếng lụa và chôn phách trong ngôi mộ bên cạnh bờ ao. Mộ Phách, từ Phùng Cung, đã làm tôi hiểu từng nhịp thở, từng hơi ngân trong Tỳ bà hành, và hiểu được thầy tôi, thì người đã mất lâu rồi. Hôm đó, anh kép đóng vai ông Hoàng Mười bên Bờ Hồ đã hồi sinh cho tôi cả một thời xưa cũ.


Sau đó tôi lên Sơn Tây lễ đền Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, thăm làng Đường Lâm, tôi đã thấy đất tổ của chúng ta và ông tổ của Phùng Cung, con người đa tài, khẳng khái, có số phận nghiệt ngã nhất trong Nhân Văn Giai Phẩm.

Vùng Sơn Tây, Bắc Ninh di tích lịch sử nhiều không kể hết, bạn có thể dành đến ba tháng mới đi hết các chùa, đền, lăng, mộ, vì đây là vùng đất cổ nhất của nước ta. Tôi chỉ nói sơ về Bắc Ninh. Bắc Ninh có nhiều chùa đẹp lắm. Hôm ấy chúng tôi đi chùa Tiêu Sơn. Chùa Tiêu Sơn nằm trên ngọn núi nhỏ thuộc phủ Từ Sơn, có dòng Tiêu Tương chảy phía trước chân núi. Bà mẹ Lý Công Uẩn, người làng Cổ Pháp, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, tương truyền, đi chơi chùa Tiêu Sơn nằm mộng thấy thần nhân, sinh ra ông. Ba tuổi được mẹ gửi vào chùa Cổ Pháp cho sư Lý Khánh Văn nuôi, đặt tên là Lý Công Uẩn. Nhưng chùa Tiêu Sơn lại còn thêm một dấu tích khác: năm 2014, khai quật được pho tượng táng, gần 300 năm trước, và xác định đó là nhục thân của Hoà thượng Như Trí, viên tịch năm 1723, vẫn còn giữ nguyên hình thể. Thượng tọa Như Trí lại là người đã cho khắc in Thiền Uyển Tập Anh, bộ sách về Phật học lâu đời nhất của chúng ta. Nhưng điều đáng tiếc nhất ở đây, cũng như ở nhiều nơi khác trên đất Bắc, là sự “trùng tu” đã làm mất dấu tích ba trăm năm, vì đã mặc lên người hoà thượng Như Trí chiếc áo cà sa vàng và tạc cho hoà thượng một bộ mặt mạ vàng mới toanh, thay vì để nguyên hình hài nhục thể cũ, hoặc làm một bản sao nếu bản chính phải đưa bảo tàng lưu giữ.


Nhiều chùa cổ ở miền Bắc cũng bị trùng tu như vậy, nghiã là sơn lại, thay cột kèo, làm nóc mới, xây thêm nhiều gian mới, tiêu biểu là chùa Trấn Quốc và Tháp Rùa Hà Nội. Khi tôi về năm 1984, Tháp Rùa còn nguyên vẹn rêu phong. Năm 1993, Tháp Rùa đã được trùng tu, trát lên lớp vôi vữa trắng hếu. Tôi nhìn muốn xỉu. Năm 1984, chùa Trấn Quốc còn là ngôi chùa thời Lý, mộc mạc hương thiền, với những cột gỗ gụ lâu đời, có chiều sâu của vĩnh cửu. Năm 1997 chùa Trấn Quốc đã đổi khác, được sơn lại màu mè, đến ngày nay các gian mới xây khin khít nhau, giống như khu Quốc Tử Giám. Bị nạn trùng tu như vậy mà Hà Nội vẫn đẹp, thì phải hiểu.

Chùa Tiêu Sơn còn có một lịch sử thứ ba mà người dân miền Bắc phần đông không biết, đó địa chỉ thần tiên trong tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ vì Khái Hưng không còn được đọc sau cách mạng tháng tám. Khái Hưng mà tả cái gì, khi mình đến nơi là “nhận ra” ngay, dù tám mươi năm sau. Khái Hưng đã tạo ra không khí thần bí Tiêu Sơn, mô tả nhũng ngõ ngách trong chùa, những chỗ họp kín, những hầm bí mật có lối thoát ra những chùa khác trong vùng đồi núi Từ Sơn. Bóng Quang Ngọc, Nhị Nương ẩn hiện, xuất quỷ nhập thần, qua lời thơ truyệt vời của Phạm Thái và tình yêu diễm lệ của Trương Quỳnh Như. Đó cũng là không khí Kinh Bắc khi Hoàng Cầm về cáo tổ tiên ác mộng Nhân Văn Giai Phẩm. Chừng như người con gái Bắc Ninh nào cũng thấm nhuần lịch sử, thi ca của vùng Luy Lâu đất tổ, nên ai cũng biết hát quan họ. Bạn ra khỏi chùa, vào quán nước chè bên, là có thể được cô chủ quán thưởng cho một điệu quan họ, một khúc hát xẩm, thượng thừa.


Nghỉ ở Hà Nội với bà con họ hàng, bạn văn, rồi chúng tôi tiếp tục hành trình trên cực Bắc. Chuyến đi bắt đầu từ Hà Nội lên Lào Cai rồi về Sapa, thăm Bãi đá cổ, bản Lao Chải, bản Tả Van trong thung lũng Mường Hoa. Ngủ đêm tại Sapa, hôm sau đi thăm bản Cát Cát cực kỳ thơ mộng. Rồi tôi phải trở lại Lào Cai, vì đã có một cái hẹn ở Hồ Kiều, chiếc cầu bắc ngang sông Nậm Thi, gần ngã ba Sông Hồng, nối liền Lào Cai-Hà Khẩu: bên này đất Việt, bên kia đất Tầu. Bởi Hồ Kiều, 71 năm trước Nguyễn Tường Bách đã đi qua và đã viết: “Thế rồi một buổi sáng tháng 7/1946, tôi cùng với toán anh em bẩy người xuống đầu cầu sang Hà Khẩu. Đứng ở đầu cầu, nhìn lại giang sơn, núi rừng, phố xá, sông Hồng và sông Nậm Khê, dãy núi Fansipan ở xa xa. Đất nước ta rộng mênh mông như thế nhưng tại sao không một chỗ dung thân?” (Việt Nam những ngày lịch sử). Câu này đã ám ảnh tôi lâu dài: Người em út Nhất Linh hôm ấy dẫn bảy Quốc dân đảng còn sống (sót) sang Tàu. Hồ Kiều, cây cầu lịch sử bắc ngang sông Nậm Thi (hay Nậm Khê) đã bao lần chở kháng chiến quân Việt Quốc trở về đất Việt, nay thất bại, họ phải triệt thoái sang Trung Hoa. Thương đau. Buồn bã. Không còn chỗ dung thân.


Từ Lào Cai, chúng tôi đi Hà Giang để đến phần địa đầu cao nhất đất Bắc: Đồng Văn hiểm trở, kỳ thú: Quản Bạ – Mèo Vạc – Mã Pí Lèng. Biên khu hùng vĩ và thơ mộng đã trở thành sào huyệt của “phỉ”. Giọng Hoàng Cầm sang sảng bên tai: Em không biết chứ Phỉ nó tàn ác lắm, đi hành quân mà bị nó bắt thì chỉ có chết, mà không chết tử tế đâu nhá, chết kinh hoàng, chết ghê gớm, chết khủng khiếp lắm, nó trói chân tay, nó chặt ra từng khúc… Giọng anh rùng rợn qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội. Mỗi lần tôi phỏng vấn, tiếng anh sang sảng, anh luôn luôn nói ra ngoài đề, thao thao bất tuyệt, như đang ở giữa ba quân. Tôi biết Phỉ, từ anh, Hoàng Cầm. Phỉ làm Vệ quốc quân sợ hết hồn: Phỉ chuyển động trong khung cảnh ma quái của những ngọn núi đá đen tai mèo nhọn hoắt, rồi chuyền sang triền những ngọn núi xanh dốc ngược, đổ thẳng xuống vực sâu, ai trèo là mất xác. Tôi chưa từng thấy phong cảnh nào mà trời, nước, đất, đá, giao nhau trong một chuyển động quỷ quái dữ dằn, rồi những bản xa của người Mèo (Hmong) lác đác treo trên đỉnh núi, những chiếc nhà sàn cheo leo như sắp rời đỉnh núi đi nơi khác… Ánh sáng bây giờ chiếu vào những thửa ruộng ngoằn ngoèo, bao trùm hết núi này sang núi nọ, như những con giun khổng lồ, thích thú nằm cạnh nhau phơi nắng, thường trực và miên viễn.

Chúng tôi kết thúc chuyến đi thượng du bằng cuộc du thuyền trên hồ Ba Bể âm u, huyền bí. Chúng tôi một mình trên thuyền, trong buổi sớm đầy sương. Màn sương mở dần, bên bờ lộ ra những rừng cây nguyên sinh, với những hình thù kỳ quặc giống như ma khoác áo người: trùng trùng điệp điệp hàng trăm loại ma khác nhau, đứng sừng sững bên bờ hồ làm tôi rờn rợn. Giác quan bị động, tưởng tới cảnh Pháp bỏ bom Bắc Kạn năm xưa: đoàn Vệ quốc quân bỏ chạy, rơi hết hành lý, người lính Hoàng Cầm phải ném cả bản thảo kịch thơ Kiều Loan xuống hồ, học giả Nguyễn Văn Tố trúng bom, tử nạn (1).

(1) Ghi chú của người góp nhặt Qua Ký ức gặp cụ Nguyễn Văn Tố năm 1947 của cố học giả Nguyễn Thiệu Lâu: Ông gặp cụ Nguyễn Văn Tố và trò chuyện. Hôm sau cụ Nguyễn Văn Tố bị Tây nhảy dù xuống bìa rừng bản Nà Pèn, Việt Bắc cụ bắt và bị xử bắn.

Quê nội tôi ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thầy tôi được các anh bộ đội mật báo cho biết phải rời quê ngay trước khi có lệnh cải cách. Khi tôi bỏ nhà đi xa, ra Hà Nội, vào Nam, rồi gia đình tôi di cư. Tôi có ông bác, lúc còn sống ông luôn luôn giơ tay lên trời thề: Khi nào còn cộng sản là tao không về (2). Tôi thầm nghĩ cộng sản là một lý thuyết, nó có đầu mình chân tay gì đâu mà bác thề với nó làm chi mất công, làm sao nó nghe được lời thề lũng nhai của bác, nhưng tôi không dám nói. Năm tháng trôi qua, ông vẫn triệt để giữ vững lời thề… Khi trút hơi thở cuối cùng, ông thều thào hai tiếng Ngõ Trạm, Ngõ Trạm… nơi ông ở Hà Nội ngày xưa.

(2) Ghi chú của người góp nhặt:


Trần Nhuệ Tâm phỏng vấn Nguyễn Trọng Tạo năm 2005

TNT: Ông gặp thi sĩ/văn sĩ Việt kiều nào lần đầu ở: phi trường quán…?
NTT: Hồi đầu năm 90, tôi sống ở Huế và đã gặp ở đó khá nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại về thăm đất nước. Hầu hết những người tôi được gặp thì trước đó tôi đã được đọc, được biết tên họ trên sách báo hải ngoại hoặc trong nước. Có người tôi đã được đọc họ từ trước 1975. Những người tôi gặp thường là những tên tuổi quen thuộc.


Thuỵ Khuê cùng chồng con xuống ga tàu hoả Huế được tôi và Hoàng Phủ Ngọc Tường đón về khách sạn và đưa đi thăm di tích danh thắng và gặp nhiều văn nghệ sĩ Huế.


(trích lược Ba mươi năm: Khỏang cách và dấu nối – Nguyễn Trọng Tạo)
Quê hương tôi, cuối cùng, là tất cả những vui buồn còn đọng lại, là tiếng hát Bắc Ninh quan họ, là giọng ngâm sa mạc cô Bích Hợp, là dãy núi tai mèo đầy thổ phỉ, là tiếng hồ Ba Bể thì thầm trong rừng ma, là giọng nói ngọng e lờ, e nờ… tôi đã về lại “làng Đại Từ” của tôi trước khi trí nhớ xa dần, xa dần…, không còn tìm được lối về đâu nữa.

Paris 23/4/2019
Les Issambres, Yên Cơ, 16/7/2019


Phụ đính

Tham vọng viết lại lịch sử Việt Nam: Trường hợp Thụy Khuê

Nguyễn Văn Lục

Những sử gia đáng kính vẫn là những gương soi cho thế hệ sau như trường hợp sử gia Trần Trọng Kim. Sau này ở hải ngoại vẫn cần được đánh giá lại đúng mức như những người cầm bút viết sử như Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương và Nguyễn Khắc Ngữ. Trong thời gian gần đây, nhiều tác giả khác cũng đã lên tiếng!


Cùng với sự xuất hiện của ông Nguyễn Quốc Trị và bà Thụy Khuê.


Như vậy sử Việt là có vấn đề? Chẳng những cần nhìn lại mà viết lại nữa! Thụy Khuê sau nhiều năm cũng nhận thấy có một nhu cầu viết lại sử nên bà đã viết một biên khảo nhan đề Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long, viết năm 2015 Theo bà, sở dĩ có nhu cầu cầu ấy vì các sử gia như Louis Eugène Louvet (1838-1900) với cuốn La Cochinchine Religieuse, Paris, 1885 cũng như cuốn L’Empire d’Annam của Charles Gosselin, Paris, 1904 là những tác giả người thực dân Pháp nên có quan điểm bênh vực cho chính sách của Pháp và cực lực lên án các vua quan triều Nguyễn.


Ngoài ra bà còn liệt kê các sử gia Việt Nam kể từ Trương Vĩnh Ký đến Trần Trọng Kim rồi Phan Khoang, Nguyễn Thế Anh, Tạ Chí Đại Trường

(1), Nguyễn Khắc Ngữ. Bà cho rằng những vị này đều sử dụng tài liệu của Pháp nên bà xếp họ vào loại “sử gia thuộc địa”.


(1) Ghi chú của người góp nhặt: “sử gia” Thụy Khuê dều người ra với cố sử gia Tạ Chí Đại Trường vì ông cho hay chuyện Bá Đa Lộc cứu Nguyễn Ánh qua giáo sĩ Julien Faulet.

Giáo sĩ Julien Faulet được chuyển đến Hà Tiên làm trợ tá cho giám mục Bá Đa Lộc. Trong một bức thư gửi ông Descouvrières, giáo sĩ Faulet tiết lộ ai cứu thoát Nguyễn Ánh: “…Chính cha Paul [Paul Nghị] đã nuôi ăn và giấu ông vua trẻ trong chiếc thuyền nhỏ của ông và báo cho Đức thánh cha [Bá Đa Lộc] biết…” . Từ giáo sĩ Faulet, ông Tạ Chí Đại Trường viết lại theo văn cách… “muốn hiểu thế nào thì hiểu“ của ông: “Lúc bấy giờ Nguyễn Ánh ở đâu mà lại thoát khỏi cái vạ diệt tộc này? Sử quan nhà Nguyễn không lưu ý nhiều đến việc chạy trốn không lấy gì làm vẻ vang cho chúa của họ nên không xét đến nơi chốn lưu lạc của ông. Họ thay thế cái nhục lẩn tránh Tây Sơn bằng câu chuyện cá sấu đưa qua sông, một bằng chứng mang số đế vương của ông hoàng này…“. (Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, tr. 91)


Đặc biệt, chương 2, bà Thụy Khuê dành để giới thiệu bộ sử Nguyễn Văn Tường (2) của ông Nguyễn Quốc Trị mà bà trân trọng viết: “Bộ sử Nguyễn Văn Tường của Nguyễn Quốc Trị là một công trình nghiên cứu thận trọng và chi tiết, mở đầu cho một khuynh hướng tìm lại và đọc lại lịch sử Việt Nam.”. Cảm tưởng của tôi là bộ sử của Nguyễn Quốc Trị (1) như một chỉ dẫn hay một cảm hứng cho bà Thuỵ Khuê khi viết tài liệu này.

Ghi chú của người góp nhặt:


(2) Nguyễn Quốc Trị là người đầu tiên tố cáo những gian lận của các sử gia thuộc địa khi họ viết về Việt Nam, về ông Nguyễn Văn Tường. Ông là ông cố của Nguyễn Quốc Trị, một người yêu nước. Bà Thụy Khuê…“rất hoàn cảnh“ ông bị thực dân bôi nhọ như một nhân vật bán nước.


Ông Nguyễn Văn Tường là ai? Người góp nhặt sưu tầm được dưới đây :
Ông tên thật là Nguyễn “Phước” Tường thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Qua Đại Nam thực lục chính biên và Quốc triều hương khoa lục: Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), tại trường thi Thừa Thiên, có một sĩ tử người Quảng Trị, đã thi đỗ tú tài, nhưng bị phát hiện tên trùng với quốc tính. Dưới triều Minh Mạng đã có sắc dụ, ai mang họ Nguyễn mà tên kép có lót chữ Phước (Phúc), thì phải đổi chữ lót ấy. Nhưng sĩ tử họ Nguyễn, tên Phước Tường này lại không chịu đổi. Do đó, người tú tài tân khoa phải bị gạch tên trong danh sách trúng tuyển và đồng thời bị tội đồ (đày nơi gần) một năm.


Sau khi đậu cử nhân (1850), đậu thi hội, ông nhận chức huấn đạo (phụ trách việc dạy và học) huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Chức vụ cuối cùng của ông là Thượng thư Bộ Hình kiêm Thương bạc đại thần tại kinh đô Huế.
Ngày 5 tháng 7 năm 1885, ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết rước vua Hàm Nghi ra khỏi kinh thành; đưa lên Tân Sở, Cam Lộ, đồng thời phát Dụ Cần vương. Nguyễn Văn Tường được lệnh của bà Từ Dũ thực hiện cách ngăn cản Pháp truy kích xa giá, với kế sách đàm và đánh, nên ông được lệnh quay lại điều đình với Pháp.


Trong hai tháng đó, Nguyễn Văn Tường bị Pháp quản thúc ngay tại Sở Thương bạc. Sau đấy ông bị lưu đày, khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng.


Sau một vài tháng quàn giữ, di thể ông được đưa về Đại Nam.


Như bà Thụy Khuê, người góp nhặt cũng…“rất hoàn cảnh“ cho ông, nhưng ngẫm nguội nghĩ không ra ông đàm phán với Pháp, sao lại bị bắt đi đày ở Tahiti, khi mất lại được Pháp đưa thi hài về nước. Trong khi thời Tự Đức, có Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm vì theo Đề Thám cũng bị đưa đi đày tại ở làng Atuona trên quần đảo Tahiti. Năm 1911, ông Nguyễn Văn Cẩm rời qua làng Papeete cùng làng với ông Nguyễn Văn Tường và Kỳ Đồng mất tại làng này, mồ hoa cở lục chẳng ai hay biết.

Vấn đề sử quan và cảm tưởng của một người đọc


Sử quan của người viết sử thường là cớ sự cho sự bất đồng. Tránh được sự bất đồng này là điều khó khăn nhất trong việc nghiên cứu sử học. Nguyên tắc này tỏ ra thích hợp trong trường hợp bà Thụy Khuê. Nhưng người ta lại không thể viết sử mà lại không có quan điểm? Viết không thể không có một lối nhìn. Viết là một dự phóng, cho nên viết luôn luôn bao hàm cái dụng ý của người viết. Muốn viết gì và viết cái gì. Tại sao viết và tại sao không viết.

Tôi viết bài này với tư cách một người đọc, cảm thức đầu tiên khi đọc tập tài liệu này là khả năng thuyết phục của tác giả Thuỵ Khuê là yếu. Tác giả để lộ ra nhiều sơ xuất, kẽ hở có thể tránh được và không tránh được. Tác giả có lẽ cần xem lại mình trong việc trích dẫn và các dùng tài liệu. Tác giả để lộ ra thái độ khá chủ quan, thiên lệch, một chiều.


Người ta không tìm thấy tính cách tương đối, trung dung, tính cách nhiều mặt của một sự kiện lịch sử để đạt tới một kết luận khách quan hơn. Chính vì thế, tác giả không kiềm chế được mình, dằn vặt với các nhân vật lịch sử như thể họ còn đang sống, như thể trút hận oán lên họ. Đồng thời, đối với người sống, sử học trở thành cớ sự cho những lời nguyền rủa ác ý. Cảm tưởng của một người đọc là tác giả dùng sử học để trút hận, để dằn vặt người khác.


Người chết và nhất là người sống trở thành nạn nhân về những điều họ không làm, hoặc không biết đến. Nếu nói theo truyền thống văn hóa chửi của người miền Bắc thì đây là cơ hội “đào mả” người khác lên!


Trút hận lên những nhân chứng lịch sử thì ích gì và ta được gì? Một cách nào đó gián tiếp, tác giả hành người đọc. Nhiều lúc chán nản không muốn tiếp tục đọc để tự làm khổ mình, thú thực, nhiều lúc tôi đã muốn “buông”. Buông được là tự giải phóng mình ra khỏi sự phiền hà, sự khó chịu, sự bực mình không cần thiết. Chắc rằng nhiều bạn đọc khác khi đọc tác giả cũng bắt gặp những cảm giác khó chịu tương tự. Hy vọng như vậy. Tham vọng viết lại sử của tác giả vì thế không thể thực hiện nổi với lối viết như thế. Nó sẽ trở thành những tiếng kêu trên sa mạc!

Sau đây là một số nhận xét về nội dung cuốn sách.

Sự phê phán các nhà sử học Việt Nam


Hầu như phần lớn các sử gia đều trở thành đối tượng phê phán của tác giả mà bà gọi chung là “Sử quan thuộc địa”. Sự phê phán ấy bao gồm hầu như bất cứ sử gia Việt Nam nào có tiếng tăm! Chỉ bốn chữ này thôi tự nó đã là bản án, đã gây tranh cãi ồn ào rồi. Nhưng thế nào thì được gọi là sử quan thuộc địa? Theo bà Thuỵ Khuê, gọi là sử quan thuộc địa tất cả “những sử đã chép lại những thông tin bịa đặt của giáo sĩ La Bissachère mà không đặt vấn đề”. (Thuỵ Khuê, chương trước khi vào sách).


Bà viết tiếp,


“Để hoàn tất những nhiệm vụ này, một số giáo sĩ đôi khi chỉ viết một nửa sự thật: ví dụ mô tả việc xử tử giáo sĩ một cách cực kỳ dã man, nhưng không nói đến nguyên nhân tại sao họ bị xử tử; không nói đến luật hình ở Việt Nam; giúp phe nổi loạn chống lại triều đình với tham vọng một nhà nước thiên đạo hoặc nhà nước Thiên Chúa giáo (Lê Văn Khôi, Lê Duy Lương) Thậm chí giáo sĩ Louvet còn “dịch” một đoạn dụ rất tàn ác bảo là của vua Tự Đức, trong có câu ‘Những thầy tu người Việt, dù có chịu bước qua thánh giá hay không cũng bị chém làm đôi (…) Những kẻ tàng trữ người Âu trong nhà cũng bị chém ngang thân vứt xuống sông. Những giáo sĩ này, dường như cố tình đưa bộ mặt “dã man” diệt đạo của vua quan nhà Nguyễn, để Pháp có “chính nghĩa” đưa quân vào đánh. Nhiệm vụ của họ là vinh thăng sứ mệnh truyền giáo.”

Người viết có cảm tưởng có sự gán ghép sử quan thuộc địa vào công việc truyền giáo, công việc giết hại giáo dân. Đây là một đoạn văn đầy cảm tính, hận oán chưa từng gặp ở bất cứ nhà sử học nào trước đây. Chính vì thế, những người viết sử từ Trương Vĩnh Ký với cuốn Cours d’histoire annamite, 1875. cũng được xếp loại sử quan thuộc địa. Đọc lại cuốn sử của Trương Vĩnh Ký người ta thấy ngay ông là một học giả dù uyên tham nhưng vẫn tỏ ra đầy lòng khiêm cung và từ tốn hết mực. Tuy nhiên, có một chi tiết là Trương Vĩnh Ký không ngần ngại kết án vua Minh Mạng trong vụ án giết vợ và hai con của Hoàng Tử Cảnh. Tuy nhiên, những lời kết án của bà Thụy Khuê không chỉ rõ Trương Vĩnh Ký là sử quan thuộc địa ở chỗ nào? Bà không đưa ra nhận xét nào đến độ tôi nghi ngờ rằng bà chưa hề có dịp đọc cuốn sách này. Bà chỉ viết: “Henri Cordier cho biết cuốn sử đầu tiên mà độc giả Pháp được biết đến về nước Nam là “Cours d’histoire annamite” (Giáo trình lịch sử An Nam) của Trương Vĩnh Ký in năm 1875.”

Người được trích dẫn và nói tới nhiều nhất là Tạ Chí Đại Trường. Từ khi Thuỵ Khuê cho đăng tải tác phẩm “Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long” cho đến cuối đời, sử gia Tạ Chí Đại Trường không hề nhắc đến nó (Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long). Dẫn chứng trên đây không đủ cho phép bà Thụy Khuê gán ghép cho Tạ Chí Đại Trường cóp nhặt và chịu ảnh hưởng của một số sử gia Tây phương trên toàn bộ cuốn sách của ông. Việc truy tìm sự kiện lịch sử trở thành khó khăn, bởi vì sự kiện lịch sử không phải bao giờ cũng là cái xuất hiện mà là cái không lộ diện, cái che dấu, cái động lực ngầm. Người viết sử đôi khi phải đi con đường vòng, tìm cái nẻo khuất để hiểu tại sao sự việc nó lại như thế, tại sao tác giả lại viết như thế và tại sao không viết như thế.

Lịch sử là đi tìm cái tại sao, cái nguyên do, cái không lộ diện.


Về điểm này, tôi có những nhận định trái với bà Thụy Khuê về cách viết của ông Tạ Chí Đại Trường. Tạ Chí Đại Trường có thói quen biện giải quanh co (theo ông Nguyễn Văn Lục), chi ly sự việc, lôi kéo sự chú ý của người đọc vào một chi tiết tầm thường nào đó bị bỏ quên. Đọc ông không dễ. Và nhiều khi phải nhẹ tay với phần sử liệu qua ông đã bị nhào nặn, biến một vật thô ở nguyên trạng thành nghệ phẩm. Ông rất chú trọng đến tài liệu. Nhưng cái mâu thuẫn nơi ông là xử dụng tài liệu mà như thể không xử dụng, ông thường không trích dẫn nguồn mà đôi khi chính độc giả phải tìm lấy. Chẳng hạn, ông đã trích dẫn 14 lá thư của Nguyễn Ánh gửi Bá Đa Lộc lúc còn lưu vong. Dưới mắt ông, phải đọc thư của chính Nguyễn Ánh mới hiểu con người thực của Nguyễn Ánh. Vì thế, khi bà Thụy Khuê cho rằng Bá Đa Lộc ít khi gặp Nguyến Ánh, mỗi năm gặp đôi ba lần nên chẳng giúp gi thực sự Nguyễn Ánh cả.

Trở lại những lá thư của Nguyễn Ánh viết bày tỏ tâm sự với Bá Đa Lộc. Những lá thư ấy với lối hành văn cổ không mấy dễ đọc. Những lá thư ấy đã được cố đạo Cadière sưu tập được và chú giải. Công thu tập tài liệu đứng về mặt sử liệu là công khó nhất, không dễ mấy ai cũng làm được! Tạ Chí Đại Trường viết: “Đáng chú ý hơn, chính là thư của Nguyễn Ánh viết ra trong lúc còn lưu vong hoặc mới tái tạo cơ đồ, chưa vững vàng bề thế, khiến chúng ta thấy rõ con người ông hơn, con người mà các sử quan tả bằng những sáo ngữ với những hình ảnh ý niệm dành cho các bậc vua chúa Đông phương “thông duệ túc thành” “phước mạng đế vương” đến qua sông có cá sấu đưa đi, giặc đuổi có cây ngã chặn đường phía sau”.


Theo Tạ Chí Đại Trường, mối quan hệ giữa họ phải như thế nào, phải đặc biệt để Nguyễn Ánh bày tỏ tâm sự của mình, những tâm sự thầm kín nhất. Cho nên đánh giá cái công của Bá Đa Lộc đối với Nguyễn Ánh không phải chỉ vỏn vẹn là mấy chiếc tầu đồng, mấy khẩu đại bác. Nhưng chỉ nghĩ đến sự giúp đỡ vật chất giữa Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh thì hạn hẹp quá. Công lớn nhất của Bá Đa Lộc là biết đưa ý kiến, biết can đảm có lời khuyên can, biết mở mắt cho Nguyễn Ánh ngay cả cách sử sự ở đời, biết sử dụng kỹ thuật trong việc đóng tầu đồng, biết việc xây thành kiên cố, biết việc huấn luyện binh sĩ, biết dùng các loại thuốc nổ.


Nhưng điều này đã được Borrow diễn tả đầy đủ.

Đã có một Bá Đa Lộc thì phải có một Nguyễn Ánh. Thiếu một trong hai là chuyện không thành. Nguyễn Ánh chịu học hỏi, mua tàu cũ của Tây Ban Nha, mang về, tháo ra từng mânh, học cách lắp ráp, cách thiết kế, cách vận hành. Có hàng trăm chi tiết kỹ thuật phải nhờ đến sự chỉ dẫn của người Pháp. Đã có nhiều đoạn văn mô tả lại chân dung Gia Long như trong Sử Ký Đại Nam Việt, của Shinoken Seishi, của Chaigneau, của Le Labousse và của Barrow. Tất cả được bà Thụy Khuê trích dẫn đầy đủ. Các tài liệu ấy đều đưa ra những lời khen ngợi về tài trí, đức độ, sự khôn ngoan của Nguyễn Ánh. Một người lãnh đạo đất nước chắc cần nhiều đức tính hơn thế nữa. Một trong đức tính tôi cho là rất quan trọng: Nguyễn Ánh là người biết nghe theo lời khuyên của Bá Đa Lộc. Ông bớt tàn bạo, hẳn là do lời khuyên của Bá Đa Lộc?


Như Labousse viết: “Ông có đủ tất cả các đức tính của anh hùng trong nghịch cảnh, chịu đựng thất bại với lòng can đảm xứng đáng với vị hiền nhân [chỉ Bá Đa Lộc] đã rèn luyện ông.” (Thụy Khuê, Ibid., Chương 6, Chân dung Gia Long). Đoạn văn Barrow tả chân dung Nguyễn Ánh, theo tôi, được coi là đầy đủ, chi tiết và có thể là xác thực hơn cả. Về điểm này cũng cần nhìn nhận, chương 6, viết về chân dung vua Gia Long của bà Thụy Khuê là được hơn cả. Lý do rất đơn giản. Khen Gia Long thì bà để yên. Nhưng khen Bá Đa Lộc thì ráng mà nghe bà chửi. (3)

(3) Ghi chú của người góp nhặt:


Được thể người góp nhặt lụi đụi theo ông Nguyễn Văn Lục với ngẫu sự: Chửi.


Năm 1940, ông Hồ chỉ thị cho Trưởng Ban Tuyên Truyền Trần Huy Liệu làm cách nào ngăn chặn trí thức tiểu tư sản… “đánh mất lập trường” chao đảo theo Pháp. Thế là Trần Huy Liệu chửi người chết (cụ Phan Thanh Giản) mắng người sống (trí thức tiểu tư sản đi kháng chiến ở Việt Bắc). Năm 1959, khi này Trần Huy Liệu là viện trưởng Viện Sử Học, lại mang cụ Phan Thanh Giản ra hành tiếp. Số ruồi, trí thức và sử gia miền Nam bị vạ lây: “Tất nhiên khi chép về sử kiện Phan Thanh Giản cắt đất dâng cho xâm lược Pháp thì trí thức và sử gia miền Nam đã vô liêm sỉ coi đó không phải là chuyện phản quốc”.

“Sử gia” Thụy Khuê vô tình hay cố ý dẵm chân lên lối mòn xưa cũ của đồng ngiệp Trần Huy Liệu của bà. Bà cũng chửi người chết (cố sử gia Tạ Chí Đại Trường, v…v…) mắng người sống (sử gia nào đấy… “đánh mất lập trường” theo Bá Đa Lộc).


Ngay từ khi mới cầm bút viết phê bình văn học, bà đã…hung hăng với cố nhà văn Nhất Linh với chữ nghĩa qua Giòng Sông Thanh Thủy mà bà sửa lại là Dòng Sông Thanh Thủy cho…đúng chính tả. Bà mới chân ướt chân ráo viết quyển sử đầu tay, bà…hung hãn đạp đổ những sử gia đi trước: Trần Trọng Kim, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Thế Anh, Phan Khoang, Nguyễn Khắc Ngữ. Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối, người góp nhặt năng nhặt chặt bị cụ Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, sử gia Phan Khoang qua Việt sử xứ Đàng Trong. Cả hai vị có thể vì cẩn trọng và trung thực nên không viết…một chữ về Linh mục Bá Đa Lộc, vậy mà bà…“sử gia” Thụy Khuê gào tóang lên là…sử gia thuộc địa.


Người mang mang cái vạ vịt là cố sử gia Tạ Chí Đại Trường. Bà khởi công viết Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long năm 2015, chỉ vì ông không nhắc đến tác phẩm có trọng lượng của bà (theo nguồn nhà phê bình văn học Nguyễn Văn Lục). Thế nên năm 2016 Tạ Chí Đại Trường mất, bà dẵm lên quan tài của ông đang quàn ở nhà quàn để bước vào làng sử học. Hay nói khác đi nói theo Nguyễn Khải: Cái thói xấu ấy cũng rất “người” là đôi khi tôi thản nhiên dẵm lên xác chết bạn bè, đồng ngiệp để kiếm cái danh hão.


Trở lại với ông Nguyễn Văn Lục: Bà Thụy Khuê chỉ sốc nổi chăm chăm tìm tòi xem trong sách vở do sử quan nhà Nguyễn viết để lại chứng minh được rằng việc đóng tầu thuyền từ A tới Z đều do quan lại nhà Nguyễn đóng cả. Cụ thể hơn bà có thể nào phân biệt được một chiếc thuyền buồm và một chiếc tầu đồng (4) với hàng trăm chi tiết kỹ thuật khác nhau?

(4) Ghi chú của người góp nhặt: Đại Nam thực lục chép thời Minh Mạng nước ta đóng được 5 thuyền bọc đồng. Nguyễn Trường Tộ đề nghị ta tự mua sắm tàu máy bằng sắt, có trang bị vũ khí của Pháp. Ban đầu phải thuê người Pháp lái tàu và huấn luyện cho ta cách dùng v.v.


Nguyễn Trường Tộ biết rõ là thời Minh Mạng nước ta chưa chế tạo được tàu bọc đồng. Ai nói gì thì nói… Sử là sử! Thực lục chép hẳn phải đúng chứ! Chả ai dám bênh Nguyễn Trường Tộ, cãi lại sử. (Thời Minh Mạng nước ta chế tạo được “thuyền bọc đồng”? – Nguyễn Dư)

Ghi chú của người góp nhặt: Tác giả Nguyễn Dư chả dây mơ rễ má đến bà Thụy Khuê cũng cho hay: Chả ai dám (…) cãi lại sử (Đại Nam thực lục). Tác giả viết: “Trên Chương đỉnh (một trong Cửu đỉnh) có vẽ hình Mông đồng thuyền mà Sogny chú thích là thuyền : (bateau). Mông đồng thuyền Đại Nam thực lục gọi là thuyền bịt đồng, thuyền lớn bọc đồng. Theo Nguyễn Dư ; Nguyễn Trường Tộ có lý. Thời Minh Mạng nước ta chưa chế tạo được thuyền bọc đồng.


Đó là lý do tại sao bà Thụy Khuê không nhân sinh quý thích chí Nguyễn Trường Tộ cho mấy.


Và nếu một ai đó chỉ cho bà biết mọi chi tiết kỹ thuật giữa hai loại thuyền, bà hẳn sẽ đỏ mặt vì thấy mình hung hăng quá, chủ quan và hãnh tiến dân tộc! Từ tầu buồm sang tầu đồng là một khoảng cách kỹ thuật chẳng khác gì từ trái đất lên mặt trăng bà Thụy Khuê ạ. Bà có thể dám cả quyết rằng không có Bá Đa Lộc (5) thì Nguyễn Ánh cũng vẫn làm nên sự nghiệp hay không?

(5) Ghi chú của người góp nhặt:

Đến đây, người góp nhặt len chân vào chuyện về Bá Đa Lộc qua cuộc bút chiến giữa Trần Huy Liệu và cụ Phan Khôi, khi ấy cụ lấy bút danh là CD. Khi đó, Trần Huy Liệu đang sống ở Sài Gòn, sau mới ra Hà Nội. Sau đó ông đảm nhiệm chức vụ viện trưởng đầu tiên của Viện Sử Học (mặc dù không được đào tạo ở trường sở sử học nào). Ông để lại 290 công trình nghiên cứu trong đó có “di sản” vào năm 1940, ông dựng đứng lên nhân vật Lê Văn Tám. Sử gia Phan Huy Lê cho hay Trần Huy Liệu đã nói với ông và hai người khác trong một cuộc gặp: Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa

Mặc dù ông Trần Huy Liệu là người Bắc, trong bài viết, mạch văn ông dùng rặt tiếng Nam, vì theo tiểu sử ông: Từ năm 1924, ông vào Nam công tác với các báo Nông cổ mín đàm, Rạng đông, làm chủ bút tờ Đông Pháp thời báo. Tháng 6 năm 1927 ông bị Pháp bắt, kết án tù vì có chân trong tổ chức yêu nước. Năm 1935, ông ra tù, bị trục xuất về miền Bắc.

Trong cuộc bút chiến, ông viết những gì bà… “sử gia” Thụy Khuê không tâm đắc cho lắm:

“… Đọc Đông Pháp thời báo số 714 ra ngày 1er Mai vừa rồi, về mục Câu Chuyện Hằng Ngày, thấy ông (C.D. – Phan Khôi) có để lời bình phẩm đến một đoạn sách Một Bầu Tâm Sự của tôi, trước khi trả lời ông, tôi hãy cảm ơn ông đã chú ý tới cuốn sách ấy mà ngày nay nhơn tiện nói ra đây, ông đã tặng cho là “một cái quái”. Tôi chỉ xin cùng ông nói chuyện quốc sử.

Ông hỏi tôi đến hai lần rằng: “Chuyện ấy cứ vào đâu? Thấy ra ở sách nào? “.
Tôi xin mạnh bạo mà trả lời rằng: “Chuyện ấy cứ ở sách, mà sách ấy có lẽ ông chưa đọc nên mới hỏi làm vậy”. Nếu nói không thì không lấy gì làm bằng, vậy tôi xin trích một đoạn ở trong cuốn Đại Nam Sử Ký trang 106 để hiến cùng ông:

“Ngày 24 tháng 7 năm 1789, Đức Cha Bá Đa Lộc ở tàu Méduse lên, lại có hai chiếc tàu nữa cùng sang, chở đầy những thuốc đạn súng ống và các thứ khác. Đức Nguyễn Ánh khi bấy giờ mới vừa đánh xong được miền hạ du xứ Nam Kỳ, thì thấy con và bạn về, lấy làm mừng lắm. Chiếc Méduse có bắn mấy phát súng mừng ngài, rồi thì đi sang Ma-ní và Áo Môn để lại chở những súng ống khí giới.”

Sau khi ông đã đọc giùm mấy hàng chữ trên đây, thì chắc ông cũng nhận cho rằng những lời tôi đã nói đó không phải là nói liều mà không có chứng. Còn những lời khắt khe khác mà ông đã hạ cho tôi, như là “nhiều người Pháp đã kể công với ta rằng nước Pháp đã giúp cho nước Nam trước đây một trăm năm, song họ nói vậy chớ không có bằng cớ gì cả. Bây giờ có ông Trần Huy Liệu viết rõ chuyện ấy để dựng chứng lên!” cùng là “nếu sách của ông Trần mà không bị cấm, được lưu hành tự do, chắc sau này sẽ có người khác viện chứng ở sách của ông mà cho sự nước Pháp giúp nước Nam là có thật, làm cho lịch sử Việt Nam rối loạn là ngần nào! Cho nên sách ông bị cấm mà chúng ta cực chẳng đã phải lấy làm hân hạnh”. Những câu ấy tôi không cần phải trả lời, ai đã có đọc cuốn Một bầu tâm sự của tôi đều thấy rằng: tôi chẳng phải khoe tốt khoe công cho ai !

Nhưng vì quốc sử là câu chuyện chung, nên tôi xin phép ông mà trả lời những điều tôi biết.

Trong sử có chép rõ ràng rằng: “cuối năm 1784, Gia Long giao Hoàng tử Cảnh và quốc ấn cho Cố đạo Bá Đa Lộc sang cầu cứu bên Pháp, ngày 15 tháng 9 năm 1789 thì Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh đi tàu Dryade tới đảo Côn Nôn (Poulo Condor). Tháng 9 năm 1788, chiến tàu Dryade chở lên tại Côn Nôn 1000 khẩu súng, mấy tháng sau thì tàu Garonne tải súng lớn đến, tàu Capitaine Cook và tàu Moyse thì đem những thuốc đạn, tàu Robuste thì đậu tại Vũng Tàu.

Các quan Pháp sang giúp Gia Long thì có Olivier de Paymanel giữ việc trấn thủ, còn Dayot thì giữ việc đi mua thuốc đạn ở Ma Ní và mua tàu bè ở Ma Cao, ngoài ra lại có Lebrun, Vannier, Chaigneau, Forsant, Guillon, Guilloux, Magon de Médine, Barisy, Girard de l’Isle Sellé, người thì coi về bộ binh, người thì coi về thủy binh.”

Ông C.D. nói rằng: Khi Bá Đa Lộc ở Pháp về có ghé qua ấn Độ, bàn với viên Tổng đốc ở đấy, nhưng viên ấy không rút quân ở Ấn Độ sang được. Vì khi Bá Đa Lộc về Pháp có ghé qua ấn Độ nói chuyện, vì viên Tổng đốc ở đấy không thấy nhà vua hạ chỉ nên không cấp binh cứu viện, Bá Đa Lộc bèn phải về thẳng Pháp quốc yết kiến vua Louis 16 và các quan Thượng thơ, nhà vua và các quan đều bằng lòng, giấy giao hiếu ký tại Versailless ngày 28 Novembre 1787.

Trở lên trên tôi dẫn một đoạn sử vô đó là có ý làm chứng cho lời ông C.D. bắt bẻ là không đúng, chớ còn câu chuyện công ân của người ta có hay không, tôi cũng không muốn nói đến làm gì. Ông C.D. đã có lòng yêu mà khuyên chúng tôi nên thận trọng trong khi viết một chút, chúng tôi rất lấy làm cám ơn.

Bộ Việt Nam sử lược mà ông C.D. đã giới thiệu cho chúng tôi đó, chúng tôi đã có đọc rồi, vì cái lòng ham mến quốc sử nên bao lâu nay đã cố công tìm cho được nhiều sách để đọc, không cứ gì một bộ Việt Nam sử lược kia. Ông C.D. nếu có thì giờ rảnh xin mời ông quá bộ lên nhà tôi (143 Bd Albert 1er Sài Gòn) chơi, chúng ta sẽ cùng nhau xem lại các sách quốc sử, há chẳng bổ ích thêm cho đường học vấn của chúng ta lắm ư…“.

Trần Huy Liệu lai cảo
Đông Pháp thời báo, Sài Gòn,
s.719 (12.5.1928)


Trở lại với tác giả Nguyễn Văn Lục

Bà có thể dám cả quyết rằng không có Bá Đa Lộc thì Nguyễn Ánh cũng vẫn làm nên sự nghiệp hay không? Cho nên, tôi không thể nào chia sẻ với quan điểm của bà coi bộ sử “Nguyễn Văn Tường” của Nguyễn Quốc Trị là: “Một công trình nghiên cứu thận trọng và chi tiết, mở đầu cho một khuynh hướng tìm lại, viết lại, đọc lại lịch sử Việt Nam” để bà viết lại sử Việt.

Kết luận

Người viết đã có cơ hội đọc hầu hết các sử gia nêu trên. Mỗi vị cũng có những khuyết điểm không tránh được khi viết sử. Nhưng cứ công tâm mà nói, không có vị nào có một thái độ “theo Tây”, “về hùa” như trường hợp Phạm Quỳnh. Mà bà Thụy Khuê gọi là “sử quan thuộc địa”. Dùng tài liệu của Pháp là một lẽ. Phê phán chính sách sai lầm của triều đình Huế trong việc cấm đạo và chính sách không mở cửa với Tây Phương là một lẽ khác. Nhưng cho dù họ có phê phán triều đình Huế đi nữa thì cũng không đủ lý do xếp họ là sử gia thực dân.

Việc xếp loại của bà Thụy Khuê vì thế thật hồ đồ và tôi tin chắc sẽ có những người khác phản bác quan điểm của bà. Nhưng về mặt con người, ai cũng có một quê hương, nơi chốn mà họ đã sinh ra với xóm làng và những kỷ niệm đầu đời làm sao quên dược. Tôi đọc lại hành trình sang Pháp của Bá Đa Lộc với bao nhiêu tâm tư và ước vọng. Sau khi hoàn tất công việc, ông đã dành khoảng một tuần lễ về thăm mẹ ông ở một vùng quê. Họ chỉ biết ôm nhau mà khóc.

Thạch trúc gia trang
Canh Tý 2020
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Share this post