Bên Dưới Những Đôi Cánh Sắt – Ngọc Tự

Bên Dưới Những Đôi Cánh Sắt – Ngọc Tự


Ông xuất thân khóa 1 Sĩ quan trừ bị Nam Định (SQTB), ra trường phục vụ ngành Công Binh một thời gian rồi mới xin chuyển sang KQ. Ngay sau đó đi du học tại trường Võ Bị Không Quân Salon de Provence bên Pháp, và tốt nghiệp hoa tiêu vận tải năm 1954. Về nước chính thức phục vụ trong KQ từ 1955, khi ấy quân chủng ở vào giai đoạn mới bắt đầu thành lập.

Từ hồi còn trẻ ngoài Hà Nội, tuy là người rất có năng khiếu về toán học, nhưng ông cũng say mê chữ nghĩa và từng viết bài cho tờ Thế Kỷ của giáo sư Bùi Xuân Uyên. Thời gian 1956-1957, ông cộng tác thường xuyên với hai tờ báo quân đội khi ấy là Phụng Sự và Chiến sĩ Cộng hòa.

Tác phẩm Đời Phi Công đã đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961. (Được tác giả sáng tác từ 1959 và đăng tải trên Nhật báo Tự Do, trước khi in thành sách, tái bản 4 lần). Lúc đó, tác giả mang cấp bậc Trung Tá, đương nhiệm Tư lệnh Không quân (1958-1962).

Đời Phi Công với những hình ảnh lãng mạn của một câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng, có tình yêu đất nước và lý tưởng cao đẹp của người thanh niên. Qua hình thức những lá thư trao gửi cho người tình từ phương xa, trong bối cảnh rất riêng, diễn tả tâm trạng và đời sống của nhân vật chính là người phi công, trải dài theo không gian, thời gian ở quê người, khi đi du học về phi hành, đan xen với những hình ảnh kỷ niệm năm tháng quê nhà. Chừng như trong nội dung cốt truyện của tác phẩm có phảng phất câu chuyện của chính tác giả.

Tác phẩm như là cột mốc đầu tiên, mở đường cho sinh hoạt văn học KQ sau này. Và tác phẩm cũng đã góp phần không nhỏ trong việc dẫn đưa rất nhiều con người tuổi trẻ đầy lý tưởng nhiệt huyết hăng say, tình nguyện gia nhập vào KQ để phục vụ tổ quốc thân yêu, với ước mơ được tung đôi cánh sắt, bay bổng vẫy vùng trên khắp vùng trời đất nước bao la.

Sau vụ hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom Dinh Độc Lập ngày 27.2.1962, Đại tá Nguyễn Xuân Vinh xin từ chức Tư lệnh Không quân, giải ngũ và sang Hoa Kỳ du học, để bước sang một chương mới của đời mình.

Chúng tôi không nói về quãng đời Quân ngũ của vị cựu Tư lệnh Không Quân đời thứ hai này(1958-1962), vì thuộc phạm vi quân sử KQ.

Ngoài Đời Phi Công, trước đó và thời gian sau này, ông cũng viết nhiều tác phẩm và những bài khảo cứu, tài liệu theo nhiều thể tài khác như Toán học, Khoa học không gian…,và cùng hoạt động trong các lãnh vực khác như Giáo dục, Nghiên cứu…, cũng không thuộc nội dung trình bầy ở đây.

Ngoài việc viết văn, ông cũng có làm thơ, nhưng không nhiều như khi ra hải ngoại. Nhiều người gọi ông là nhà khoa học có tâm hồn nghệ sĩ, nhưng trước hết, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh là một nhà văn KQ.

Xin nói đến bài thơ Tình hư ảo được ông sáng tác khoảng năm 1957, 1958. Ngoài chất toán vốn đã hằn sâu trong tâm thức, lại thêm thời gian đi dậy thêm môn Toán tại Nha Trang, khi ông còn phục vụ đơn vị ngoài đó, hồi mới về nước năm 1956, cũng như ở Trung học Petrus Ký Saigon, dù chỉ qua một niên khóa 1957-1958, đã tạo nên cảm hứng, đem đến sự thú vị cho bài thơ, vì ông sử dụng những chữ nghĩa riêng biệt của toán học để nói về tình yêu, có những câu như:

Anh tìm em trên vòng tròn lượng giác
Nét diễm kiều trong tọa độ không gian
Đôi trái tim theo nhịp độ tuần hoàn
Còn tất cả chỉ theo chiều hư ảo
Bao mơ ước phải chi là nghịch đảo
Bóng thời gian quy chiếu xuống giản đồ
Nghiệm số tìm giờ chỉ có hư vô
Đường hội tụ hay phân kỳ giải tích
Anh chờ đợi một lời em giải thích
Qua môi trường có vòng chuẩn chính phương
Hệ số đo cường độ của tình thương
Định lý đảo tìm ra vì giao hoán
Nếu mai đây tương quan thành gián đoạn
Tính không ra phương chính của cấp thang
Anh ra đi theo hàm số ẩn tàng
Em trọn vẹn thành phương trình vô nghiệm.

Bài thơ cũng đã là sự mở đường cho thể loại Thơ Tình Toán Học, ảnh hưởng đến sáng tác của nhiều tác giả trẻ sau này, trong số đó sớm nhất chắc có chàng thi sĩ học trò Lê Đình Điểu (1939-1999, nhân vật quen thuộc trong sinh hoạt hải ngoại một thời bên Cali), lớp đệ Nhất Ban C, trường Chu Văn An năm học 1958-1959 với bài Tình Toán Học: (Đời tổng hợp bởi muôn nghìn mặt phẳng. Mà tình ta là quỹ tích không gian. Kiếp nhân sinh những hàm số tuần hoàn. Quanh quẩn chỉ trong một vòng lượng giác…Nếu dòng đời hoàn toàn là thông số. Bài toán tình sẽ vô nghiệm em ơi. Tình đâu phải là tam thức bậc hai. Để có thể ngồi yên mà xét dấu…)

Các tác phẩm về văn của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã xuất bản:

– Gương Danh Tướng, Saigon 1956.
– Đời Phi Công, Saigon 1959.
– Theo Ánh Tinh Cầu (ký sự), 1960, tái bản ở Hải ngoại 1991.
– Sáng tác của ông có trong Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến (nhiều tác giả, nhà xuất bản Vàng Son Sài Gòn 1974).
Hiện ông sinh sống tại California.

. CUNG TRẦM TƯỞNG (1932-…). Cung Trầm Tưởng là bút hiệu của Trung tá Cung Thúc Cần. Rất nhiều những bài thơ tình như có chịu ảnh hưởng khuynh hướng lãng mạn văn chương Pháp, được ông sáng tác trong thời gian du học bên Pháp về ngành hàng không vào những năm 1956-1957. Một số bài (như Chưa Bao Giờ Buồn Thế, Mùa Thu Paris, Tương Phản, Về Đây, Kiếp Sau…)đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và trở thành những nhạc phẩm rất nổi tiếng. Khi nghe ca sĩ Thái Thanh hay các ca sĩ khác hát bài Tiễn Em (phổ từ bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế) hay Mùa Thu Paris, người ta nhớ ngay đến ông KQ Cung Trầm Tưởng và liên tưởng đến bao nhiêu điều chuyện của KQ. Có những người vì yêu thơ Cung Trầm Tưởng mà yêu thêm cả KQ.


Thi sĩ Cung Trầm Tưởng bắt đầu làm thơ rất sớm từ độ tuổi thiếu niên ở Hà Nội. Ông là một trong những khuôn mặt thi ca nổi bật của văn học nghệ thuật miền Nam.

Khởi đầu từ dòng thơ tình lãng mạn, về sau thơ ông đi vào hiện thực cuộc sống và những chủ đề mang tính tư tưởng.Nghe ca sĩ Anh Ngọc hát bài Bên Ni Bên Nớ do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ Tương Phản của Cung Trầm Tưởng, người ta sẽ cảm nhận thêm một góc cạnh khác trong thi ca của ông.

Ngoài thơ, ông còn sinh hoạt trong lãnh vực báo chí, từng chủ trương tờ Văn Nghệ Mới năm 1958, và cộng tác với các tạp chí ở Saigon thời đó như : Sáng Tạo, Hiện Đại, Nghệ Thuật, Văn, Khởi Hành. Trung tá Cung Thúc Cần phục vụ tại BTLKQ cho đến những ngày cuối cùng tháng 4 năm 1975.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, ông bị đi tù Cộng sản trong thời gian rất dài, khoảng mười năm. Khi ra hải ngoại, định cư tại Hoa Kỳ, ông lại tiếp tục sáng tác và ấn hành thêm vài thi phẩm.

Các tác phẩm đã xuất bản:
. Tình Ca, nhà xuất bản Công Đàn, Saigon 1959.
. Lục Bát Cung Trầm Tưởng, Saigon 1970.
. Có trong Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến (sách đã dẫn-sđd)
. Lời Viết Hai Tay (thơ tù cải tạo), Bonn_ Đức 1994, tái bản 1999.
. Bài Ca Níu Quan Tài (thơ tù cải tạo), Minesota _Hoa Kỳ 2001.
. Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định_Hoa Kỳ 2002
. Một Hành Trình Thơ, nhà xuất bản Tiếng Quê Hương Virginia 2012, tái bản 2019.

Ông hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ.

*
Và rồi tính từ thời điểm những năm 1964-1965 trở đi cho đến sau này, là thời kỳ nở rộ của sinh hoạt chữ nghĩa Không quân. Đây cũng là giai đoạn KQ đi vào bành trướng và hiện đại hóa. Có thể nói với sự hình thành của tờ báo Lý Tưởng hồi cuối 1964 đầu 1965, do ngành Chiến tranh Chính trị Bộ Tư lệnh Không quân (CTCT/BTLKQ) phụ trách, đã mở ra một giai đoạn mới cho Văn học Không quân. Bắt đầu xuất hiện rất nhiều người phi công, người lính Không quân viết văn, làm thơ; với những sáng tác phẩm nói về chuyện bay bổng, chuyện nhà lính Không quân, giới thiệu thêm sinh hoạt khác của quân chủng.

Tiếp theo nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh và thi sĩ Cung Trầm Tưởng, có các tác giả KQ và tác phẩm tiêu biểu (xin tạm xếp tương đối theo thứ tự thời gian, nhiều chỗ xin không ghi cấp bậc và chức vụ):

. DƯƠNG HÙNG CƯỜNG (1934-22.01.1988): được mọi người biết đến qua tác phẩm quen thuộc Buồn Vui Phi trường, đã tái bản nhiều lần. Tác phẩm này đậm chất KQ nhiều nhất, vì thế được bạn đọc trong và ngoài KQ đón nhận và yêu thích là điều dễ hiểu.

Ông vốn xuất thân ngành cơ khí kỹ thuật KQ, và được huấn luyện bên Pháp từ năm 1953-1954. Đời binh nghiệp của ông nhiều thăng trầm vì cá tính của mình. Thời gian làm việc ở Không Lưu Khí Tượng tại phi trường Biên Hòa là quãng ngày ông tiếp tục quan sát, ghi nhớ mọi thứ chung quanh, liên quan đến những sinh hoạt trong phi trường, cộng vào chiều dài ký ức đời quân ngũ của mình, để hình thành rồi hoàn tất Buồn Vui Phi Trường. Tác phẩm gây tiếng vang ngay khi xuất hiện, đánh dấu khúc quanh quan trọng cho đời quân ngũ của ông.

Dương Hùng Cường


Khoảng cuối 1964, đầu năm 1965, ông được thuyên chuyển về Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Không quân (P.TLC/ BTLKQ), tham dự vào công việc của tờ Lý Tưởng giai đoạn khởi đầu, trong vai trò như một người phụ trách tòa soạn.

Từ đó, ông bắt đầu có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển văn nghiệp. Ngoài phần vụ trong đơn vị cũng như việc sáng tác văn chương, ông còn tham gia làng báo Sài gòn và nổi tiếng với bút danh Dê Húc Càn, phụ trách mục Cà Kê Dê Ngỗng của tuần báo trào phúng Con Ong. Công việc này đã gây ra cho ông nhiều hệ lụy phiền phức.

Sau ngày 30.4.1975, ông bị đi tù cải tạo Cộng sản ba năm.

Tháng 5/1984, ông bị chính quyền Cộng sản bắt giam lần nữa vì liên lạc và viết bài gửi ra hải ngoại cho Trung Tâm Văn bút Việt Nam Hải ngoại tại Paris, khi đó do nhà văn gốc KQ, cựu Trung tá Trần Tam Tiệp làm Tổng Thư ký.(Liên quan trong vụ án này, được biết đến và quen gọi là “Những tên biệt kích cầm bút”, ngoài Dương Hùng Cường, còn có các người khác như Doãn Quốc Sỹ, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự).

Nhà văn Dương Hùng Cường chết đột ngột trong trại giam Phan Đăng Lưu (Bà Chiểu) ngày 22.01.1988.

Tên ông được khắc trên bia đá lưu niệm tại Khu Đài Tưởng niệm Phóng viên ở thị trấn Bayeux vùng Normandie Pháp quốc.

Các tác phẩm đã xuất bản:
. Buồn Vui Phi Trường.
. Lính Thành Phố.
. Vĩnh Biệt Phượng.

Ông cũng có mặt trong hai tuyển tập gồm nhiều tác giả: Những Mảnh Trời Khác Biệt  Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến.

. NGUYỄN ĐÌNH THIỀU (1942-1975): Đây cũng là một nhà văn KQ tên tuổi. Cũng từ ngành kỹ thuật, sau thời gian phục vụ ở đơn vị, ông được thuyên chuyển về P.TLC. BTLKQ năm 1965 (tiếp theo sau Dương Hùng Cường) để có mặt trong Ban biên tập tờ Lý Tưởng. Cũng chính nhờ tháng ngày bắt đầu làm việc tại Sài gòn mà ông có thuận dịp cộng tác với hàng chục tờ nhật báo, tuần báo dân sự phát hành khi đó. Do vốn sống thực tế vô cùng dồi dào và phong phú nơi quãng đời tuổi trẻ nay đây mai đó, đã giúp ông có thật nhiều chất liệu để sáng tác. Ông viết rất khỏe, nhanh và nhiều, về đủ thể loại từ truyện ngắn, phóng sự, truyện dài. Mỗi ngày ông cung cấp cùng lúc các truyện dài phơi ơ tông, nội dung khác nhau cho ba bốn nhật báo.

Tiểu thuyết Đừng gọi anh bằng chú của ông đã được chuyển thể thành phim nhựa với tên Như giọt sương khuya do Bùi Sơn Duân làm đạo diễn.

Ông từ trần tại Phú Quốc vào tháng Giêng năm 1975.

Số lượng tác phẩm của Nguyễn Đình Thiều đã xuất bản lên đến vài chục quyển. Viết về Không quân và đời lính gồm có:

. Vỏ Đạn Cho Con Trai Đầu Lòng.
. Vào Vùng Giông Bão.
. Bay Vào Lửa Đạn.
. Bão Mùa Xuân.
. Đồ Chơi Trong Chiến Tranh.
. Trên Đó Từ Đây.

. TRẦN VĂN MINH (1932-1997): Trung tướng Trần Văn Minh là vị Tư lệnh KQ thứ 6, cũng là Tư lệnh sau cùng của Quân chủng và có thời gian nhiệm kỳ dài nhất. Ngoài cương vị chỉ huy, ông còn được biết đến là một người yêu thích văn chương, làm thơ và viết văn. Là một người tính tình tương đối phóng khoáng, nghệ sĩ tính nên ông rất quý mến anh em văn nghệ sĩ KQ. Giới thân cận ghi nhận nhiều giai thoại vui về ông.

Trung tướng Trần Văn Minh


Có những bài viết gửi cho tờ Lý Tưởng, ông ký bút hiệu Minh Đ. Khi hỏi chữ Đ. viết tắt này là chữ Đen hay Đù, ông chỉ cười không nói (cả hai đều là biệt danh của ông Tướng).

Sau này khi ra hải ngoại, mọi người hiểu thêm và cảm mến ông khi đọc tâm ký Sự thật đời tôi mà khi viết, ông đã bộc bạch những điều sâu kín vô cùng tâm huyết, trong một giai đoạn lịch sử của đất nước và của chính ông.

Các tác phẩm đã ấn hành:
. Chết Non 1967.
. Trong Đục 1971.
. Có mặt trong Tuyển Tập Thơ Văn Không Quân Thời Chiến (sđd)

Ông từ trần ngày 27.8.1997 ở Los Gatos, California.

. PHÙNG NGỌC ẨN (1933-2013): bút danh và cũng là tên thật của Đại tá Trưởng phòng Hành quân Chiến cuộc BTLKQ. Ông là một trong số rất đông các sĩ quan cao cấp KQ say mê văn chương chữ nghĩa. Có thời gian ông làm Chỉ Huy trưởng Căn cứ 92 KQ ở Pleiku. Ông viết truyện ngắn, truyện dài và cộng tác thường xuyên với báo Lý Tưởng. Các sáng tác của ông nói về cuộc sống và sự chiến đấu của người lính KQ, qua hình ảnh người phi công thời chiến, cũng không thiếu việc thẳng thắn bầy tỏ tâm trạng của những con người ấy, giữa khi tham dự vào cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, và đối diện với hiện tình xã hội. Trong quân ngũ, ông giao tình thân mật và gần gũi với các nhà văn KQ cấp bậc và chức vụ thấp hơn.

Sau ngày 30.4.1975 ông bị kẹt lại quê nhà và đi tù Cộng sản nhiều năm. Ra tù, ông sang Hoa Kỳ định cư.

Các tác phẩm văn xuôi đã ấn hành:

. Bay Trong Hoàng Hôn 1968.
. Kẻ Lạc Ngũ 1972.
. Cánh Chim Ngoại Biên 1974.
. Ngoài Chân Mây (in chung với 6 tác giả khác).
. Những Mảnh Trời Khác Biệt (tuyển tập nhiều tác giả, nhà xuất bản Lý Tưởng 1971) (sđd).
.Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến (sđd).

Ông mất ngày 15.6.2013 tại San Diego, California.


. TỜ BÁO LÝ TƯỞNG VÀ NHỮNG CÂY BÚT KHÔNG QUÂN KHÁC:

Theo ý kiến chỉ đạo khởi xướng của Chuẩn tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc ấy còn là Tư lệnh KQ), tờ Lý Tưởng được hình thành và bắt đầu xuất hiện chính thức vào khoảng tháng 8 năm 1964, do Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư lệnh Không quân (P.TLC/BTLKQ) phụ trách. Và kể từ đó cho đến khi kết thúc theo ngày 30.4.1975, Lý Tưởng đã như một văn đàn của KQ, giới thiệu một dòng văn chương quân đội mới, với rất nhiều khuôn mặt những người KQ làm thơ, viết văn.


Thuở đầu tiên, dưới tên báo là dòng chữ Giai Phẩm Văn Nghệ. Về sau, có thời gian dài trở thành nguyệt san vì ra định kỳ hàng tháng đều đặn, và bên dưới tên báo Lý Tưởng, là những chữ Nguyệt san Không quân. Có giai đoạn, vì điều kiện khách quan, không giữ được sự liên tục. Tuy vậy vẫn thường được quen gọi ngắn gọn là báo Lý Tưởng, tập san Lý Tưởng KQ.

Riêng thời gian đầu, Lý Tưởng chú trọng về sáng tác thơ văn. Còn thường ra, mục đích và chủ trương, đường lối chính yếu vẫn luôn là để giới thiệu hoạt động mọi mặt của các đơn vị KQ, nhất là nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, yểm trợ quân bạn… qua các hình thức thông thường như phóng sự, tin tức. Bên cạnh đó, chiếm nhiều trang báo là các sáng tác thơ văn, nói lên nhiệm vụ của KQ và các góc cạnh sinh hoạt, cũng như tâm tư của người lính KQ khi tham dự cuộc chiến, trong mọi diễn biến, hoàn cảnh.

Diện mạo tờ Lý Tưởng (hình thức trình bầy, số trang, số lượng phát hành…) có lúc này lúc khác, tùy theo từng yếu tố chủ quan và khách quan ở từng thời điểm, như người phụ trách, các nguồn yểm trợ hay hoàn cảnh chung của đơn vị…Vì thế, có giai đoạn Lý Tưởng rất nổi trội, phát hành ra cả bên ngoài, mà cũng có khi chỉ ở tình trạng bình thường trong phạm vi một tờ báo của quân chủng.

Tổ chức và hoạt động, kể cả về nhân sự của tờ Lý Tưởng, chỉ là phụ trợ thêm cho công tác Tâm lý chiến, không có trong Bảng Cấp số và Tổ chức Nhân lực chính thức của đơn vị. Phụ trách thực hiện và điều hành thuộc về phần vụ của P.TLC/CTCT. (Ngành CTCT của KQ ở Bộ Tư lệnh về sau không còn gọi là Khối, và sau khi được nâng cấp, tên gọi mới là Văn phòng Tham mưu phó CTCT/BTLKQ (VP. TMP/CTCT).

Lý Tưởng với sự cộng tác thường xuyên của các cây bút tại Văn Phòng, như thành phần biên tập chính, cùng những cây bút KQ tại các đơn vị, trong đó có nhiều sĩ quan chỉ huy cao cấp, thuộc giới phi hành cũng như không phi hành. Cũng còn có sự cộng tác của các nhà văn quân đội thuộc Quân Binh chủng bạn và các nhà văn ngoài dân sự.

Trong số những người KQ làm thơ viết văn, có người mới cầm bút và cũng có nhiều người đã từng sinh hoạt báo chí văn chương từ trước ngày vào lính.

Từ lúc được hình thành đến khi chấm dứt hoạt động, qua từng giai đoạn, Lý Tưởng đã do nhiều người lần lượt phụ trách, trong vai trò Chủ bút và Thư ký tòa soạn, xin được tạm phân định theo thứ tự thời gian như sau:

.Từ 1964-1965: _ Thiếu tá Vũ Đức Vinh (1931-2005)_ Dương Hùng Cường (đã giới thiệu ở phần bên trên)

Thiếu tá Vũ Đức Vinh, bút hiệu Huy Quang. Ông xuất thân Khóa 1 SQTB Nam Định. Ông viết văn rất sớm từ ngày còn đi học ở Hà nội và đã có hai tác phẩm là hai truyện dài được xuất bản ngoài đó trước năm 1954: Hai mái tóc xanh và Đôi ngả. Ông cũng viết rất nhiều truyện ngắn.

Khi di cư vào Sài gòn, ông từng làm Trưởng ban Biên tập đài Phát thanh Quân đội.

Năm 1958, qua người bạn cùng khóa là Trung tá Nguyễn Xuân Vinh, Tư lệnh KQ khi đó, ông chuyển sang KQ và phụ trách công tác TLC, và là người phụ trách tờ Lý Tưởng đầu tiên.

Các truyện ngắn của ông đăng rải rác trên các báo thời gian ấy. Và mặc dù có rất nhiều truyện ngắn, nhưng ông chưa in thành một tuyển tập nào. Tuyển tập Thơ Truyện Không quân Thời Chiến (giới thiệu bên dưới) có chọn đăng một trong những truyện ngắn đặc sắc của ông.

Ông cũng còn cộng tác với thi sĩ Đinh Hùng trong chương trình Thơ văn Tao Đàn, phát thanh hàng tuần.

Năm 1965, ông được Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đưa ra phụ trách ngành Phát thanh như đã nêu nơi phần bên trên.

Ra hải ngoại, ông sinh hoạt báo chí và cùng với nhà văn Thanh Nam làm tờ Đất Mới, một tờ báo có mặt rất sớm trong Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ.

Ông từ trần tại Seattle, Washington Hoa Kỳ ngày 9.12.2005.

Vì thời gian đầu mang danh nghĩa một giai phẩm văn nghệ, nên Lý Tưởng chú trọng nhiều đến các sáng tác thơ văn. Nhờ giao tình thân hữu mà Th/tá Huy Quang Vũ Đức Vinh đã có sự cộng tác của nhiều nhà văn thời danh khi đó như: Hoàng Anh Tuấn, Văn Quang, Thanh Nam, Mai Thảo, Tạ Tỵ, Phạm Duy, Phan Lạc Phúc, Hoàng Ngọc Liên, Huy Phương, Song Hồ, Song Nam… bên cạnh sự ít ỏi của các cây bút KQ lúc ấy, ngoài Huy Quang, mới chỉ có Nguyễn Cao Kỳ (tác giả bài thơ Kinh sám hối, đăng trong một số báo, nói lên tâm tình của người con với mẹ đã khuất núi), Trần Văn Minh và Hoàng Song Liêm, Cung Trầm Tưởng, Nhân Hậu, Ngy Cao Uyên, Dương Hùng Cường, Nguyễn Đình Thiều, Phan Lạc Giang Đông, Trần Ngọc Ẩn.

Thời gian này, tờ Lý Tưởng do họa sĩ Ngy Cao Uyên phụ trách việc trình bầy, có Trần Ngọc Ẩn phụ giúp.

Lý Tưởng_Giai phẩm Văn Nghệ ra hàng tháng, số ra mắt có thể là vào tháng 8/1964 và số báo cuối của giai đoạn này có lẽ khoảng tháng 5/1965, tổng cộng được chừng 10 kỳ báo,vì sau đó Thiếu tá Huy Quang Vũ Đức Vinh biệt phái ra ngoài.

. Từ 1965-1966: _ Trung úy Bùi Hoàng Khải (1933-1993), cấp bậc cuối Tr/tá Tham mưu phó CTCT Sư đoàn 5 KQ.

Ông là bạn cùng khóa học về Cơ khí Kỹ thuật KQ với nhà văn Dương Hùng Cường bên Pháp những năm 1953-1954.

Ông là Trưởng phòng Chính Huấn Khối CTCT/BTLKQ và đảm trách để duy trì tờ Lý Tưởng trong giai đoạn chuyển tiếp, ngay sau khi Th/tá Vũ Đức Vinh biệt phái ra ngoài, với thành phần Ban biên tập có sẵn nhưng số cộng tác viên không còn nhiều như cũ. Hình thức và nội dung Lý Tưởng cũng thay đổi, thu hẹp bớt số trang.

Khi Đ/úy Hoàng Song Liêm về nhận P.TLC năm 1966, ông đã giao lại tờ Lý Tưởng.

Không phải người của sinh hoạt văn chương chữ nghĩa, nhưng ông có khả năng về tổ chức và điều hành. Ông là người lo việc in ấn và xuất bản các tác phẩm của Tướng Tư lệnh KQ.

Mấy năm sau, ngoài nhiệm vụ Trưởng phòng Kế hoạch & Chính huấn trong đơn vị, ông còn là Tổng thư ký Tổng cuộc Túc cầu Việt Nam, một tổ chức thể thao dân sự, qua mấy nhiệm kỳ liền.

30.4.1975, ông và gia đình di tản sang Hoa Kỳ. Ông mất năm 1993 tại Virginia.

. Từ 1966-1968: Đại úy Trần Như Huỳnh (1939- ).

Có bút hiệu Chu Tấn. Ông xuất thân khóa 7 SQTB Thủ Đức, ra trường phục vụ ở Pháo binh, đến năm 1963 thì xin chuyển sang KQ. Giai đoạn phụ trách công tác CTCT tại Không Đoàn (KĐ) 23 Biên Hòa, ông thực hiện tờ báo Gió Mới cho đơn vị rất thành công, gây tiếng vang, có thể nhờ vậy một phần nào từ đó, ông được thuyên chuyển về Sài Gòn.

Khi về CTCT/BTLKQ tiếp nhận tờ Lý Tưởng, với kinh nghiệm khi làm tờ Gió Mới, ông có những cải tiến giúp Lý Tưởng mang một sắc diện mới.

Ông được biệt phái ra làm Giám đốc Quốc gia Ấn quán một thời gian rồi về lại KQ, đảm nhận chức vụ Tham mưu phó Chiến Tranh Chính trị (TMP/CTCT) Sư đoàn 4 KQ dưới Cần Thơ, cho đến những ngày sau cùng với cấp bậc Tr/tá.

Sau 30.4.1975, ông bị đi tù CS nhiều năm. Vượt biển sang Hoa Kỳ năm 1987. Hiện ông sinh sống tại San Jose, California và tham gia nhiều hoạt động trong Cộng đồng người Việt tại địa phương.

Tác phẩm đã xuất bản:

_Tiếng Hát Trên Cánh Đồng Xanh (tập truyện) 1972.
_ Tấc Lòng Non Nước (khảo luận) 2018.
_ có truyện ngắn trong Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến (sđd)
Cùng hai tác phẩm khác về Thơ văn (Thắp Sáng Quê Hương, Tuyển tập Thơ văn 1991, nhiều tác giả) và Biện luận chính trị (Vận Động Lịch Sử 1991, viết chung).

Thời gian này, Th/tá Hoàng Song Liêm đã là Trưởng phòng TLC/CTCT. BTLKQ, nhưng ông chưa trực tiếp tham dự nhiều vào Lý Tưởng như mấy năm sau. Lý Tưởng bị gián đoạn ít lâu vì tình hình chiến cuộc Tết Mậu Thân 1968 và những tháng tiếp theo.

.Từ 1968-1969: Đại úy Lê Văn Trước (1941- ).

Phụ trách điều hành tờ Lý Tưởng một thời kỳ chuyển tiếp nữa là Đ/úy Lê Văn Trước, sau khi Đ/úy Trần Như Huỳnh biệt phái ra ngoài, và tình hình chung vẫn còn nhiều khó khăn khi vừa qua khỏi những ngày chiến sự.

Đại úy Lê Văn Trước (sau lên Th/tá), sĩ quan gốc Pháo Binh, xuất thân Khóa 12 SQTB Thủ Đức. Ông chuyển sang KQ để theo học và trở thành phi công ngành Quan sát. Thuyên chuyển về P.TLC, phụ trách tờ Lý Tưởng trong thời gian ngắn, khoảng trên dưới một năm, rồi sang phục vụ bên Trại Khóa sinh KQ (Tent City). Chức vụ sau cùng của ông là TMP.CTCT Sư đoàn 6 KQ ngoài Pleiku.

Các tác phẩm đã ấn hành:
_Cẩm Xuân, Tháng Ba Cuộc Đời.
_Đường Mây (tập truyện nhiều tác giả, in chung với Đào Vũ Anh Hùng, Kiêm Thêm, Trần Viễn Phương).
_Ngoài Chân Mây (tập truyện nhiều tác giả, in chung với Phùng Ngọc Ẩn, Lê Bá Định, Kiêm Thêm, Trần Viễn Phương, Nguyễn Kim Long, Phạm Hồ, Hồ Phong).
_ Có truyện ngắn trong Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến (sđd).

Ông cũng có cộng tác với một vài tờ báo ngoài dân sự.

Sau thời gian định cư ở Hoa Kỳ, có tin nói ông đã quay về Sài gòn sinh sống.

. Từ 1969-1973: Th/tá Hoàng Song Liêm (1934- ) & Đ/úy Dương Quang Thuận (1936-14.10.2020).

Th/tá Hoàng Song Liêm (sau lên Tr/tá) là sĩ quan đồng hóa ngành kỹ thuật KQ. Ông làm thơ từ hồi còn trẻ và cộng tác với các báo ở Hà nội thời đó như Tia Sáng, Hồ Gươm, Giang Sơn, Giác Ngộ.

Ông có in chung một tập thơ với người bạn Nghiêm Huy Giao năm 1952.

Ông là một trong những cộng tác viên của Lý Tưởng thời kỳ đầu tiên mới hình thành.

Năm 1966, đang là Liên đoàn phó Liên đoàn 62 Kỹ thuật ở phi trường Pleiku, ông được thuyên chuyển về CTCT/BTL.KQ, làm Trưởng phòng Tâm lý chiến. Nhưng mãi đến giai đoạn này mới chính thức làm chủ bút tờ Lý Tưởng, cùng với Đ/úy Huy Sơn Dương Quang Thuận từ bên KĐ 33 chuyển sang, phụ trách tòa soạn.

Cuối năm 1973, ông là Sĩ quan Phụ tá TMP.CTCT Sư đoàn 1 KQ.

Sau thời gian dài ngưng sáng tác, ông có ấn hành hai tập thơ:

_ Thơ Hoàng Song Liêm, 2004 (gồm các bài thơ từ thập niên 1950 và những năm 2000).
_ Thơ Tình Hoàng Song Liêm, 2006 (gồm những bài thơ mới sáng tác sau năm
2000. Có nhiều bài đã được các nhạc sĩ Anh Bằng, Từ Công Phụng, Phạm Tuân, Lê Thụ phổ nhạc).

Hiện ông đang sống ở Fairfax, Virginia Hoa Kỳ.

Đ/úy Dương Quang Thuận, bút hiệu Huy Sơn (sau lên Th/tá). Ông cũng là một sĩ quan đồng hóa, phục vụ tại Nha Chiến tranh Tâm lý Bộ Quốc phòng. Ông được chuyển sang TLC/ BTLKQ vào thời kỳ Đại tá Nguyễn Xuân Vinh làm tư lệnh.

Ông sinh hoạt thơ văn và báo chí rất sớm từ hồi còn trẻ đi học ở Hà Nội. Cộng tác với các tờ báo phát hành tại Hà Nội thời đó như Cải Tạo, Giác Ngộ, Quê Hương, Bông Lúa _ và các báo ở Sài gòn, sau khi di cư vào Nam năm 1954 như Thời Đại, Sáng Dội Miền Nam…

Ông là Tổng Thư ký Tòa soạn của Văn Nghệ Tập san 1955-1956 (chủ nhiệm GS. Nguyễn Đăng Thục) và Phụng Sự 1956-1958 (nguyệt san của Quân đội).

Từ P.TLC/BTLKQ ông có thời gian sang phục vụ bên TLC. KĐ33 rồi lại quay về đảm nhận chức vụ Trưởng Khối Cổ động Tuyên truyền P.TLC, VP.TMP.CTCT/ BTLKQ, kiêm nhiệm Thư ký Tòa soạn báo Lý Tưởng cuối năm 1969, đầu 1970.

Cuối năm 1973, ông thuyên chuyển ra Sư đoàn 6 KQ làm Phụ tá TMP.CTCT kiêm Trưởng phòng TLC.

Ông có nhiều tác phẩm tiểu thuyết đã xuất bản:

. Trước Mồ Trinh Nữ_ nxb Chính Ký Hà Nội 1953.
. Anh Đi…Ngày Duyên Thắm_nxb Hiến Nam Hà Nội 1953.
. Thương Em…Lạc Hướng Đời_ nxb Bốn Phương Sài Gòn 1955.
. Đợi Một Mùa Hoa_Sài Gòn 1955.
. Trường Ca_nxb Ban Mai Sài Gòn 1956.
. Hôm Nay Ngày Mai (tập truyện)_nxb Thống Nhất Sài Gòn 1957.
. Có truyện ngắn trong Tuyển tập Những Mảnh Trời Khác Biệt
. Gõ Cửa Ký Ức, tuyển tập văn thơ in tại Hoa Kỳ 2012.

Sau 30.4.1975, ông bị đi tù CS bẩy năm. Định cư tại Branford, Connecticut, Hoa Kỳ, và từ trần ngày 14.10.2020.

Giai đoạn 1970-1973 này là thời kỳ khởi sắc nhất của nguyệt san Lý Tưởng, được phát hành đều đặn mỗi tháng, nhờ khả năng chuyên nghiệp về báo chí của những người phụ trách. Nội dung bài vở, hình ảnh đa dạng và phong phú, lên đến hơn trăm trang mỗi số báo. Ngoài các tác giả KQ, thường có thêm những sáng tác của các nhà văn tên tuổi ngoài dân sự. Những sáng tác này thường là văn phong riêng của từng tác giả, nên đã tăng thêm chất văn học cho tờ báo.

Hình thức trình bầy đẹp và trang nhã, từ bìa cho đến trang trong.

Số lượng ấn hành mỗi kỳ cả mười ngàn số, được phát hành rộng rãi, không chỉ trong phạm vi Quân chủng mà còn ra đến bên ngoài dân sự, tại Sài gòn và tại các thành phố có đơn vị KQ trú đóng.

Điều này đã quảng bá thêm rất nhiều cho Quân chủng KQ.

Đạt được kết quả đó, ngoài yếu tố về tổ chức và điều hành của những người phụ trách, có lẽ phải kể đến nguồn yểm trợ tài chánh dồi dào, nhờ số lượng quảng cáo trong tờ Lý Tưởng cho rất nhiều cơ sở công kỹ nghệ, thương mại khắp nơi *. Nguồn tài chánh có được, dùng để thanh toán chi phí ấn loát cho các nhà in tư nhân, vì nhà in của KQ, của Tổng cục CTCT hay Quốc gia Ấn quán cũng chỉ yểm trợ một phần việc in ấn chứ không bao gồm tất cả, nhất là khi tờ Lý Tưởng phát triển, tăng số trang và sử dụng nhiều mầu nơi tranh bìa cũng như cách trình bầy các trang ruột bên trong. Tác giả có bài đăng trên Lý Tưởng đều nhận được tiền nhuận bút như các báo ngoài dân sự. Tòa soạn cũng có ngân khoản tiếp tân những khi có anh em văn nghệ KQ từ các đơn vị thuận dịp ghé về chơi thăm.

* Phụ trách việc đi lấy quảng cáo cho Lý Tưởng gồm có: Phúc Lai, Ba Hội, Tư Vững (Ba danh hài này thuộc đoàn cải lương nổi tiếng Kim Chung, vào KQ do đợt đồng hóa Hạ sĩ quan, Binh sĩ năm 1967, để phục vụ trong Ban Văn nghệ KQ, cũng trực thuộc P.TLC).

. Từ 1974-4/1975: Th/tá Đinh Sinh Long (1942- ) & Tr/úy Trần Ngọc Tự (1948- )

Sau lần thay chuyển nhiều nhân sự tại VP.TMP.CTCT vào cuối năm 1973, Th/tá Đinh Sinh Long từ dưới Phòng Thông Tin Báo Chí (P.TTBC) lên làm Trưởng khối Cổ động Tuyên truyền P.TLC, tiếp nhận tờ Lý Tưởng, cùng với Tr/úy Hà Minh Đức, cũng là sĩ quan P.TTBC. Tr/úy Trần Ngọc Tự, cộng tác viên của Lý Tưởng, được giao phụ trách tòa soạn, bên cạnh nhiệm vụ chính là Trưởng ban Biên Soạn Tài liệu & Thuyết trình thuộc Đoàn Công tác Chính huấn, P. Kế Hoạch & Chính Huấn như cũ.

Th/tá Đinh Sinh Long gốc Hoa tiêu ngành Quan sát, từ Phi đoàn về phục vụ P.TTBC/B.TLKQ. Ông sinh hoạt Báo chí và Văn nghệ thời đi học tại Cư xá Đắc Lộ (Trung tâm bảo trợ các sinh viên Công giáo, do các linh mục Dòng Tên phụ trách, tọa lạc trên đường Yên Đỗ Sài gòn).

Ông hiện sinh sống ở Huntington Beach, California; và thường tham gia các sinh hoạt Báo chí, Truyền hình và Văn học Nghệ thuật tại địa phương.

Tr/úy Trần Ngọc Tự được chuyển sang CTCT/BTLKQ sau khi mãn khóa Khóa 3/69 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Có làm thơ viết văn thời sinh viên. (Trong thành phần chủ trương biên tập Bán nguyệt san Văn học Thời đàm Quần Chúng, bộ cũ lẫn bộ mới 1966-1971, tờ báo do cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương bảo trợ sáng lập_ Chủ bút là nhà văn giáo sư Cao Thế Dung 1933-2017. Cộng tác với Tuần báo Diễn Đàn Chính đảng 1971 Chủ nhiệm Trương Vĩnh Lễ_Chủ bút Nhị Lang. Ký các bút hiệu Ngọc Tự, Trần Ninh Bình).

Có bốn tác phẩm về Thơ, in ấn và phổ biến hạn hẹp trong phạm vi thân hữu: Quê Hương_Tôi_Và Em 1968. Điệp Khúc Đời 1969, Những Mảnh Tình Rời 1970, Ở Cuộc Tình Này 1971.

Ngọc Tự


Sau ngày Cộng sản chiếm miền Nam, bị đi tù cải tạo gần 6 năm. Tháng 5/1984 bị bắt giam lần nữa rồi bị đưa ra tòa trong cùng vụ án với nhà văn Dương Hùng Cường (có nói ở phần trên).

Hiện ở thành phố Richmond, Fort Bend Texas. Cộng tác với trang mạng Thơ văn của thân hữu nhưng không thường xuyên.

Ở giai đọan này cho đến ngày 30.4.1975, sau lần thay chuyển nhân sự, cùng với việc quân chủng KQ bắt đầu lâm vào tình trạng đình động (từ khi có Hiệp định Paris 27.01.1973, phải giới hạn khả năng hoạt động vì quân viện bị cắt giảm), tờ Lý Tưởng thu hẹp lại trong phạm vi một tờ báo quân chủng như thời gian trước.

Số báo cuối cùng đang chuẩn bị lên khuôn, dự trù phát hành trong tháng 5/1975, với chủ đề Không Quân Giữa Những Ngày Quê Hương Thương Khó, không thể thực hiện được như mong muốn, đã khép lại sự có mặt của tờ Lý Tưởng, bên cạnh quân chủng trong một quãng thời gian đầy ghi nhớ.

Nội dung số báo cuối cùng này gồm nhiều bài vở, phóng sự và 16 trang hình ảnh nói về cuộc triệt thoái của các đơn vị KQ từ các phi trường Pleiku, Đà Nẵng, Nha Trang, Phù Cát và những sinh hoạt bận rộn, sôi động tại phi trường Phan Rang, Tân Sơn Nhất trong tháng 3/1975. Diễn tả tâm trạng của các cấp chỉ huy và nhất là các phi công, giữa một hoàn cảnh khó hiểu, vô cùng hoang mang hỗn loạn khi ấy. Dẫu vậy, họ vẫn không quên nhiệm vụ, tiếp tục chiến đấu cùng với quân bạn tại các mặt trận. Bên cạnh đó là công tác tiếp tế lương thực, thực phẩm, nước uống và phụ giúp vận chuyển đồng bào đang trên đường chạy trốn Cộng sản. Ngoài tin tức, phóng sự về hoạt động của các phi tuần, phi vụ, rất nhiều câu chuyện và hình ảnh cảm động đầy đau thương nước mắt tại khu vực phi trường Đông Tác (Tuy Hòa), vùng Củng Sơn hay dọc theo Liên tỉnh lộ số 7B.

*
Khi nói về tờ Lý Tưởng qua các thời kỳ, ngoài những người phụ trách chính, không thể không nhắc đến những người đảm nhận phần trình bầy, kỹ thuật in ấn…và thành phần đông đảo các cộng tác viên ở các Phòng, Ban khác, cùng trực thuộc VP.TMP.CTCT BTLKQ, cũng như ở khắp các đơn vị KQ. Bên cạnh đó còn có sự góp mặt của những cây bút Quân Binh chủng bạn và các nhà văn, nhà thơ thời danh ngoài dân sự.

Làm việc trực tiếp bên cạnh những người phụ trách, không kém phần quan trọng tạo nên bản sắc cho báo, gồm có các nhóm như:
. Họa sĩ vẽ tranh bìa và minh họa trang trong có họa sĩ Hoàng Thụy Kha (Hoàng Bá Thủy), Đặng Ngọc Tộ, về sau có thêm Nguyễn Lục Phú. Thời gian đầu tiên trước đấy do họa sĩ Ngy Cao Uyên và Trần Ngọc Ẩn phụ giúp.

. Kỹ thuật dàn trang và sửa chữa bản vỗ, liên lạc với nhà in gồm: Trần Kim Nho, Hoàng Bá Thủy, Thanh Chương, Đặng Ngọc Tộ.

. Hình ảnh có Đặng Văn Khuyến, Nguyễn Đình Bảng, Nguyễn Văn Thơ, sau thêm Trang Cẩm Văn, Hứa Trung Lập.

Share this post