Bên Này Ảo Vọng – Hồ Đình Ba (Phần 1)

Bên Này Ảo Vọng – Hồ Đình Ba (Phần 1)

(dinhsong.net)

Tiểu thuyết luận đề

Gia cảnh bất thường

Sau khi ra khỏi phòng vé, Trung đi tìm số chiếc xe đò sẽ đưa anh về lại Tịnh Biên, Tây Ninh. Lúc anh sắp bước lên, xe đã gần đầy khách, một anh bán vé số chống nạng trờ tới, mời mua; sẵn còn ít tiền lẻ, Trung mua ba tấm rồi bước lên xe và ngồi xuống ghế; mười phút sau xe lăn bánh khởi hành.

Suốt cuộc hành trình từ ngã tư An Sương đi Tây Ninh, anh miên man nghĩ về năm ngày phép anh vừa trải qua với gia đình. Trung đã có bốn ngày tròn để ở bên vợ và con anh, thằng Phương sáu tuổi năm nay vào lớp năm trường tiểu học. Nhưng thật ra anh không được những giờ phút hạnh phúc trọn vẹn với gia đình: Vợ anh Tiên Phụng là chị bếp của cha xứ Giuse Cù Long Mạch và hai ngày nay cô rất bận rộn với việc nấu tiệc cho giáo xứ kỷ niệm 10 năm cha xứ được truyền chức linh mục, sau đó được điều về đây làm cha xứ. Những ngày này Tiên Phụng về rất khuya, mệt mỏi và lạnh lùng. Cô trò chuyện với Trung cho có lệ, sau đó họ làm tình nhưng rất thụ động, thờ ơ như một búp bê bằng sáp lạnh, không còn sự đáp ứng sôi nổi, nhịp nhàng như khi cô chưa sinh thằng Phương. Sau này anh khám phá được lý do của sự thụ động ấy: Cô sợ sự nồng nàn trong việc vợ chồng dễ dẫn cô phạm vào điều răn thứ sáu cấm sự dâm dục. Cô hiểu nhầm giáo lý và thường nghĩ rằng việc vợ chồng thường ăn nằm nhau là phạm vào sự trong trắng, trinh khiết quý báu của phụ nữ. Vả lại, như hầu hết phụ nữ gốc Bắc, sau khi sinh được con trai là thằng Phương, mọi tiêu điểm yêu thương và chăm sóc đều di chuyển từ chồng qua con trai là một mắt xích quan trọng của sự nối dõi tông đường. Lắm lúc Trung thấy mình như người ngoại cuộc.

Vả lại cô mệt mỏi vì cả ngày bận rộn với phần việc cô làm ở nhà thờ và cô vội vàng tìm đến giấc ngủ để dưỡng sức cho đám tiệc hôm sau. Phần Trung trước khi ngủ, anh còn thao thức hồi lâu: Anh ngắm Tiên Phụng với thân thể trải dài đường nét uốn lượn, hấp dẫn, khuôn mặt đẹp và sắc nét; cô nằm đó như một bức tượng hoa cương nằm trong bóng tối. Rồi Trung thở dài tự nhủ, «Cô ấy có vẻ đẹp khêu gợi… đàn ông ít người cưỡng nổi đây…»; anh lại thở dài, «Việc phục vụ cho đấng bậc có chức thánh chẳng phải là bổn phận thiêng liêng mà giáo dân phải thực hiện để vui lòng Chúa hay sao?… Quả thật mình về phép không đúng lúc…»

Sáng hôm sau, khi Trung thức dậy lúc sáu giờ, Tiên Phụng đã đi qua nhà thờ cắm hoa ở bàn thờ chính và các khám thờ, trước khi vào bếp chuẩn bị bữa tiệc cho ba trăm thực khách. Sau khi dẫn Phương ra vườn tưới cây, anh chợt nhớ chiều qua Sô, một bạn học ngày trước trong cùng giáo xứ mời anh đến ăn giỗ thân phụ Sô. Đúng mười một giờ trưa tiếng đàn hát trong thánh lễ tạ ơn từ nhà thờ vọng lại; Trung dắt thằng Phương qua nhà bà ngoại gởi cho dì Yến, em gái Phụng, rồi đi bộ thẳng đến nhà Sô.

*&*

Trong đám giỗ ấy, Trung còn gặp một người bạn học khác cùng lớp tên Sân, hiện nay là chủ một cơ sở nhỏ sản xuất các tượng thờ kể cả các tượng thờ của Phật Giáo. Bộ ba Trung, Sô và Sân là ba bạn thân từ thủa học trò. Trung mất mẹ từ lúc ba tuổi sống với mẹ kế, tính tình nhút nhát, nhất là trước các bạn gái cùng xóm hay cùng trường. Chính Sô và Sân sau khi đã tán tỉnh không thành Tiên Phụng, đã chủ động ghép đôi Trung với Phụng trong khi gia đình Trung theo đạo Phật, đặc biệt bà mẹ quá cố của anh là một Phật tử thuần thành, thường hay đi chùa, ăn chay và tụng kinh niệm Phật. Trước đó Sô nói với Sân, «Ả Phụng chê bọn con trai trong giáo xứ, bọn mình kiếm chồng ngoại đạo cho nó». Kế hoạch ‘tìm vợ cho bạn’ của Sô và Sân hóa ra lại thành công bất ngờ. Sau vài lần gặp mặt, Trung và Phụng thấy thích nhau. Nhan sắc Phụng làm Trung hài lòng, còn trong mắt Phụng, vẻ hiền hậu, nhút nhát của Trung rõ ràng làm anh nổi bật giữa đám trai ngổ ngáo trong giáo xứ mà cô quen biết. Sau cùng họ nói yêu nhau và hứa cưới nhau.

Bước kế tiếp là Trung phải học đạo Chúa để cùng Phụng làm phép cưới tại nhà thờ. Khi hỏi ý kiến của cha Trung về việc theo đạo, ông không phản đối gì nhưng chỉ nói,

-«Ba không phản đối con theo đạo nhưng ba chỉ nhắc con phải luôn sống tốt đạo-làm-người. Con thấy đấy, cả đời ba cố gắng sống cái đạo-làm-người đó. Nếu không sống đạo-làm-người thì theo tôn giáo nào dù mình cho là cao siêu đến đâu cũng đều vô ích. Chẳng qua chỉ là sự giả hình lừa bịp thần linh và người khác mà thôi».

-«Vâng con xin lĩnh ý ba: Con sẽ sống đạo-làm-người như ba vừa nói…»

-«Vậy con có hiểu đạo-làm-người là gì không?» Cha Trung nghiêm sắc mặt hỏi.

Sau một phút bối rối vì bị hỏi bất ngờ, Trung chợt nhớ đến bài thơ Thương Người Như Thể Thương Thân của cụ Nguyễn Trãi trong Gia Huấn Ca mà Trung còn nhớ thuộc lòng, anh đọc thành văn xuôi bài thơ ấy cho cha anh nghe. Nghe xong, ông gật gù nói,

-«Đúng đấy, nhưng con phải nhớ kỹ một điều đạo-làm-người là để sống chứ không phải để nói vanh vách và trơn như mỡ như con vừa nói. Nói mà không làm con sẽ mang lấy nghiệp báo về sau đấy, con nhớ không?»

-«Vâng con sẽ nhớ mãi điều cha dạy bảo». Nói xong, Trung xin phép cha lui ra rồi anh chạy một mạch đến nhà xứ ghi tên học đạo.

Trong đám giỗ hôm đó, ngồi cạnh Sân, Trung nhắc lại câu chuyện ấy cùng các kỷ niệm thuở học trò của họ trong lúc Sô tiếp đãi từng bàn với tư cách là gia chủ. Phần Sân ăn nói tự nhiên, mạnh bạo, nâng ly mời uống liên tục như một kẻ phàm phu hơn là một nghệ nhân làm tượng thờ. Bất chợt Sân nói to không phải chỉ để cho một mình Trung nghe,

-«Hôm qua tao tức giận thằng đệ tử nó đắp tượng Phật Di Lặc mà làm cái vú của Phật chảy xệ như vú mấy bà già».

-«Tao biết mày không tha cho nó, đúng không?»

-«Đúng, tao nổi nóng chửi và tát nó mấy cái. Khi nó lỉnh đi chỗ khác, tao vẫn chưa hết giận, tao quay ra tát vào tượng Phật ngồi thiền và thưởng Đức Ki Tô Vua mỗi vị ba cái tát, miệng tao lẩm bẩm, chẳng được cái tích sự gì. Lạ lắm, lúc đó tự nhiên tao hết tức giận.

Mấy cụ ngồi cùng bàn nhăn mặt, bụm tay che giấu một nụ cười méo mó. Sân nói tiếp vừa đủ cho Trung nghe,

-«Tao vừa quay ra, Sân kể tiếp, gặp ngay ông sư đặt hàng vừa đến, ông nói, ‘Mới rồi sư thấy anh tát vào mặt Chúa Phật, có đúng không? ’ Tao ấp úng nói, ‘Dạ đúng’. rồi tao cúi mặt xuống nhìn vào bàn tay đỏ ửng của mình vì đã đánh vào đá hoa cương; lúc đó ông sư nói, ‘Tốt đấy, muốn mau giác ngộ thì phùng Phật sát Phật, tát như em là còn nhẹ tay đấy’. Bị bắt quả tang tội bất kính với các đấng «thiêng liêng» tao chỉ còn biết xin lỗi rối rít và lắp bắp, «Dạ, con không dám», rồi ông sư nói,

-«Vậy cậu chưa biết một câu chuyện liên quan đến đạo thiền của chúng tôi. Thôi, để tôi kể lại cho cậu nghe …»

Câu chuyện nói về hai thầy trò tu thiền đi khất thực, gặp phải cơn bão tuyết phải vào nghỉ qua đêm trong một ngôi chùa hoang. Hai thầy trò vừa rét run vừa đói lả. Trong chùa không có gỗ vụn hay củi để đốt lò sưởi ấm ngoại trừ một tượng Phật xấu xí bằng gỗ. Thiền sư kêu lên nói với đệ tử, «Có củi rồi… trò hãy chẻ bức tượng kia ra mà chụm»; «Dạ con không dám bất kính», đệ tử nói; lúc đó thiền sư nghiêm mặt phán, «Trò hãy làm theo lời thầy và hãy nhớ: Phùng Phật sát Phật nghĩa là gặp Phật phải giết Phật, Phật giả càng phải giết cho nhanh…». Đó là điều mà ông sư, khách hàng đến mua tượng, muốn ám chỉ với Sân.

Sân còn muốn kể thêm một câu chuyện khác trong nghề thì một người phụ việc đến tìm anh, anh quay vào nói với Sô,

-«Tớ xin phép về trước đây vì có người đến giao đá hoa cương».

Rồi Sô ngưng mọi việc thù tiếp đến ngồi vào chỗ của Sân và giải thích với Trung việc Sân bỏ về,

-«Sân về trước để nhận giao đá làm điêu khắc…» Một lúc sau anh nói thêm với bạn.

-«Mày biết đấy, Sân hay có những cơn nổi nóng sau đó lại hiền như bụt. Mỗi lần giao sản phẩm cho các chùa nó đều ở lại dùng bữa ăn chay và nghe các sư thầy giảng Pháp.»

-«Thế hả, chuyện này hiếm thấy». Trung nói vẻ ngạc nhiên.

Gần cuối bữa tiệc, Trung đi vào toilette ở phía sau nhà bếp, nơi có mấy bà thái thịt và nhặt rau, tình cờ anh nghe được câu chuyện hai bà nói với nhau về vợ anh. Một bà nói,

-«Hình như cha xứ ngoài bữa ăn tối còn có bữa ăn khuya nên tôi thấy cô Phụng nhiều hôm về nhà khuya lắm».

-«Thì phải ở lại dọn dẹp cho xong mới về chứ sao».

-«Tôi nghe người ta nói có chuyện lẳng lơ đấy…»

-«Bà chỉ nghe nói bậy: Cô Phụng là con gái ngoan nhất của ông chánh trương khóa trước; còn cha xứ mình là người có chức thánh nên luôn luôn có năm thiên thần bản mệnh hầu hạ giữ gìn; làm sao có chuyện lẳng lơ hay cám dỗ ở đây». Bà kia vừa nói vừa giơ bàn tay năm ngón khi nói đến năm vị thiên thần.

-«Nhưng con quỷ dâm dục nó hung dữ lắm… ai dám nói mạnh được đây?»

Đi tiểu xong, Trung bước ra khỏi toa-lét ; hai bà ấy im thin thít. Trung đi lên nhà trước, ngồi nán lại thêm mười phút rồi về thẳng nhà.

Lúc đó anh không tin vào câu chuyện anh nghe thấy vì như mọi cộng đồng khác, giáo xứ Phú Thiện này có hàng tá chuyện ngồi lê đôi mách. Với Phụng, vợ anh, anh chỉ lo một điều là cô quá lành dễ bị người khác lợi dụng. Nhiều lần anh muốn góp ý cho Phụng nhưng lại ngại mình là người đạo theo mà còn muốn dạy bảo luân lý cho người đạo gốc, nên thôi. Ở đây người ta đo lường lòng đạo theo bề dày thời gian hành đạo dù chỉ là việc hành đạo hình thức.

Tối hôm qua, Phụng về nhà lúc gần mười một giờ tối. Cô ngà ngà say vì đã uống một ly rượu lễ mà cha xứ đã rót mời cô sau khi đã mời mọi thành viên trong ban hành giáo để chia vui ngày kỷ niệm mười năm chức thánh của ông. Vâng mùi rượu lễ quyến rũ cô, còn màu đỏ thắm của rượu như chứa đựng trong từng giọt như những viên hồng ngọc óng ả trong suốt vinh quang thiên quốc dành cho các đấng bậc và các con chiên ngoan đạo. Chiều nay sau khi dẫn Phương đi dạo đến hướng tây của giáo xứ nơi có đường rầy xe lửa chạy qua, Mạnh Trung đã quyết định về đồn cảnh sát ở Tịnh Biên trước một ngày, thế nên phần thời gian còn lại trong đêm anh tranh thủ bày tỏ sự âu yếm với cô và điều lạ thường là trong câu chuyện trước khi làm việc vợ chồng, Tiên Phụng đều nói về cha xứ: Cô khen ông lành thánh giỏi giang, khéo tổ chức giáo xứ và xoay xở mọi việc, tóm lại ông là bậc người trên thông thiên văn, dưới thông địa lý. Điều này làm Trung hụt hẫng… thế nên trong lúc làm tình ráo riết… có một khoảnh khắc thoáng qua nhưng gay gắt anh tưởng mình đang làm việc thủ dâm…, thủ dâm hai người… có đôi.

Bây giờ ngồi trong xe chạy qua địa phận Củ Chi, cái ấn tượng làm việc thủ dâm với thái độ lạnh lùng thụ động của Phụng như thể cô để tâm trí vào một nơi xa xôi nào đó, làm Trung thấy tâm hồn mình hụt hẫng, trống rỗng và xót xa. Anh tự hỏi: «Có gì không ổn với Phụng… còn mình đang có vấn đề gì?». Không tìm được lời đáp, anh ngả đầu vào lưng ghế, nhắm mắt lại. Anh không nhìn thấy các ngôi nhà, hàng quán, các dãy phố ngắn cũng như các cánh đồng xanh lúa, các vườn trái cây sum suê hiện ra chạy lùi lại rồi biến mất. Mọi vật giờ đây đối với anh đều là phù vân: Phù vân rồi lại phù vân, tất cả đều là phù vân. Kể cả mấy ngày phép, mấy lần ân ái với Tiên Phụng cũng đã hóa phù vân. Ý nghĩ này đem lại cho Trung một chút trấn an và rồi giữa những sự vô thường, những điều mau qua, chóng tàn ấy, anh hy vọng vào lòng chung thủy phải giữ của các đôi vợ chồng công giáo. Anh nhủ thầm: «Mình tin vào lòng chung thủy của Tiên Phụng… của cả mình nữa… Mình tín thác mọi sự trong tay Chúa». Sau đó anh mở mắt ra lại nhìn qua khung cửa xe cảnh xóm làng, ruộng nương. Được một lát, xe đến Gò Dầu. Khi xe chạy chậm qua một biệt thự có tường bao; trên các bờ tường những dây hoa vàng anh nở rộ khoe một màu vàng rực rỡ. Bất chợt, anh nhớ lại một bài thơ dịch mà năm đệ tứ (lớp chín) anh chép lại từ một tạp chí. Bài thơ tả một căn phòng đẹp có đặt một bình hoa to khoe sắc; chủ nhân xem ra rất yêu hoa, thay hoa theo mùa. Một hôm xuất hiện một người khách; sau khi ngắm hoa ông lấy cán quạt xếp gõ nhẹ vào bình. Không ngờ cái gõ ấy đã tạo ra một vết nứt khó thấy vì mảnh hơn sợi chỉ. Theo vết nứt nước cạn dần làm hoa héo úa; khi quay lại chủ nhân căn nhà xót xa thấy hoa đã tàn tạ. Đến hôm nay Trung mới thấy dụng ý tài tình của nhà thơ nào đó, khi thể hiện người khách quý cầm quạt như một kẻ vô danh, một người không có khuôn mặt để độc giả tha hồ tượng tượng loại người lạ theo ý mình : công chức hoặc thương nhân, quan lớn hay thư lại, nhà sư hay linh mục hay một bậc người siêu phàm nào đó. Điều này làm Trung bối rối không ít : anh cảm thấy tâm hồn anh có một vết nứt vô hình làm anh rỉ máu từ một trái tim mà tình yêu chưa chết, vẫn luôn khao khát sống. Và anh đã xuống xe ở bến Tây Ninh với tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến đó.

Miền đất lửa

Khi thấy Thiếu Úy Mạnh Trung về đồn trước một ngày, Đại Úy Trần Thường trưởng đồn cười nói với Trung trong bữa ăn trưa tập thể,

-«Sao ra sớm vậy, nhà không có việc làm hay nhớ anh em ngoài này?»

-«Nhớ anh em chiến hữu nên ra đây sớm, đại úy có việc gì giao cho em không?»

-«Cậu cứ nghỉ hết ngày hôm nay đã…»

Rồi Trần Thường tiếp tục ăn, trong lúc Trung vừa ăn vừa nhìn đại úy trưởng đồn lớn hơn Trung năm tuổi với cái nhìn thán phục. Trước khi vào ngành cảnh sát, Thường đã là lính dù chiến đấu trên nhiều chiến trường và suýt chết mấy lần. Mẹ anh rất lo sợ nên đã khuyên anh đổi ngành, bà thuyết phục khóc lóc mãi Thường mới nghe. Những năm lăn lộn trên chiến trường, Thường đã đúc kết cho mình một quan niệm sống đại khái là người ta sống chết đều có số, nên cách sống để lòng mình luôn nhẹ nhỏm là «Thuận Mệnh» nghĩa là thuận theo số mệnh, không bắt số mệnh phải theo ý mình, nhưng làm tròn bổn phận hiện tại mà hoàn cảnh đặt mình vào với tâm hồn an nhiên tự tại, không cần biết tương lai mang lại kết quả gì, vinh quang hay tủi nhục… Hơn một lần, Thường đã chia sẻ ý tưởng ấy với Trung và Trung phải thừa nhận, trưởng đồn đã sống tốt với quan niệm đó không thua gì một tín hữu sùng đạo. Lúc này Thường ngước lên nói,

-«Chiều nay, tôi nhờ thiếu úy đại diện anh em đến ăn đám giỗ nhà bà Lại liên gia trưởng Xóm Bảy, vì trưa nay tôi phải về tỉnh họp với ban quận vụ tỉnh, trưa mai mới về. Việc giữ đồn tôi sẽ giao cho thiếu úy và Thượng Sĩ Lâm Lâm… Ăn giỗ về, nếu khỏe, cậu ra chỗ cây Dái Ngựa coi anh em đào hầm thoát hiểm».

-«Vâng, em sẽ hoàn thành mọi việc đại úy giao. Đại úy cứ yên tâm đi họp».

-«Tôi biết cậu luôn làm tốt nhiệm vụ».

Trần Thường nói rồi ra khỏi phòng ăn. Sau đó mười phút khi đã hút xong điếu thuốc, Mạnh Trung cũng trở về phòng mình.

*&*

Chiều hôm đó, lúc 5 giờ Trung đến nhà Bà Lại liên gia trưởng Xóm Bảy để ăn giỗ. Đây là đám giỗ người chồng thứ hai của bà, bị Việt Minh ám sát. Bà Lại có hai đời chồng, chồng trước bị Tây đi ruồng giết chết; bà sinh cho ông này một trai là anh Duận; bà cũng sinh cho ông chồng sau một gái, cô Ngọc Chinh. Anh Duận què chân phải mang chân giả. Sau khi thắp nhang trước bàn thờ có khung ảnh của người quá cố, Trung đặt lên bàn thờ dĩa trái cây mà anh đã chuẩn bị trước. Phía trên bàn thờ có treo một cái khám nhỏ thờ Phật; sau đó anh vái mấy cái rồi ra ngồi chung bàn với con trai bà Lại. Trung không thấy ảnh của người chồng ‘đầu’, nhưng thay vào đó, có một bài vị viết bằng chữ nho. Chắc hẳn mấy bà hay ‘buôn chuyện’ trong xóm phải nói Bà Lại có tướng ‘sát phu’. Đã vậy họ còn thì thầm với nhau trước khi cô Chinh về nhà chồng, cô đã mang bầu do chính anh Duận cô gây ra. Thế gian này xem ra lộn xộn và rối tung không còn cái «tôn ti trật tự» mà trời đất đã định sẵn theo quan điểm của các nho sĩ hay triết gia mọi thời.

Trung ngồi trên ghế cách Duận ba người, gần như là đối diện và ra dấu chào anh. Duận gật đầu chào lại, cầm cái chân giả để sửa thế ngồi rồi hỏi Trung,

-«Đại Úy Thường đến được không anh Trung?»

-«Hôm nay đại úy xin kiếu, tôi đến đại diện cho anh em…»

Sau đó mọi người nhập tiệc; Duận vừa ăn vừa kể lại Trung nghe mấy năm làm lính Dù của anh, cả những lần anh hành quân chung với Trần Thường cùng một binh chủng trong vài chiến dịch lớn. Chính trong một chiến dịch lớn ấy mà anh bị pháo của địch tiện đứt một chân, trong khi Trần Thường điều khiển pháo đội suýt chết. Lúc đó hai bên đấu pháo dữ dội, bỗng Thường thấy hai pháo thủ bên trái và bên phải mình bị một xạ thủ địch trên một cao độ cách đó hơn hai trăm mét bắn gục, Thường vội vàng nhảy xuống hố cá nhân hét lớn với đồng đội, «Nhắm vào thằng xạ thủ bắn tỉa với ống nhòm Trung Cộng ở tọa độ XY… Bắn gục nó ngay…». Mấy mũi súng của lính dù hướng vào tọa độ đó. Xạ thủ địch tắt tiếng sau mấy giây. Kể xong, Duận nói,

-«Anh Thường đánh giặc giỏi lắm, em biết mà… Nhưng không hiểu sao bây giờ anh lại về làm trưởng đồn cảnh sát dã chiến ở đây».

Lúc đó vợ chồng cô Ngọc Chinh bước vào; thằng bé hai tuổi do bố bế theo sau cô vợ má hồng môi căng thân hình mẫy mượt. Ít phút sau Ngọc Chinh lại bàn anh cô, đôi vú to tròn dưới làn vải tím của cô dính hẳn vào lưng Duận, cô gật đầu chào cả bà rồi hỏi anh mình,

-«Hôm nay chị Lộc không đến được phải không anh?»

-«Mày biết rồi còn hỏi, nó không đến được, còn mày sao đến trễ vậy».

-«Tại ảnh mắc đi nhận việc xây nhà; em định đến một mình nhưng rồi ảnh cũng về tới».

-«Thôi đi ăn đi, bữa nào đến gặp riêng tao».

-«Dạ em biết,» nói xong Chinh xoay người, lắc mông bỏ đi.

Mười lăm phút sau, Khởi, chồng của Chinh tay bế thằng bé đến chào anh chồng. Trung giật nảy mình khi nhìn thằng bé tuy mới hai tuổi nhưng giống Duận như hai giọt nước, từ khuôn mặt, nước da và ánh mắt. Rồi Trung tự hỏi, «Liệu Khởi có nhìn thấy sự giống nhau xấc xược ấy không hoặc phải chăng với một tấm lòng chất phác, Khởi luôn thấy mình rất hạnh phúc giữa một gia đình êm ấm?»

Trong phần cuối bữa tiệc, Trung biết thêm một vài chi tiết về gia đình bà Lại: Bà này có một cháu gái con của người chị họ bà, tên Lộc gọi bà bằng dì mà bà rất thương. Bà có một cơ sở làm bún tươi, bánh hỏi và bún tàu. Khởi và Chinh đang làm trong xưởng bún ấy để có thu nhập cho gia đình. Nói chung gia đình bà Lại thuộc loại khá giả trong vùng.

Tối hôm đó, sau khi tắm rửa, nghỉ ngơi một lúc, Mạnh Trung ra coi thuộc cấp đào một đường hầm thoát hiểm từ trong đồn ra một gò đất gần bờ sông. Họ phải đào gấp đường hầm này vì đồn cảnh sát này ngày càng rơi vào tầm bắn của súng cối địch nếu địch không coi đồn là một lực lượng nội an của địa phương và tấn công trực diện, hoặc chiếm nơi này để làm bàn đạp tấn công vào thị xã. Dù công việc gấp gáp, nhưng họ chỉ làm ban đêm sau khi đã đóng kín cửa hai phòng tạm giam Lý do đơn giản là họ không muốn đối phương biết những chuẩn bị trước của họ. Do đó đất đào lên đổ trên mặt bằng của đồn và san bằng ngay trong đêm cao lên một tấc. Sau đó nếu vẫn còn đất dư họ phải chuyển ra khỏi đồn trong đêm đổ trên rìa quốc lộ.

Sáng hôm sau khi mở cửa hai phòng giam, Trung thấy bên phòng giam phụ nữ bóng một thiếu nữ, dáng người thon thả có nét, đầu xù tóc rối, nhưng khuôn mặt dễ coi, mắt lá răm, môi hồng nhạt. Thì ra cô ta bị bắt trong lúc Trung đi phép chưa về, nghe nói về tội bán ma túy.

Buổi trưa sau khi Đại Úy Thường về, ông gặp riêng Trung và nói,

-«Tôi giao cậu làm thủ tục để thả cô Lộc về; cô ta bị cảnh sát quận bắt giao cho mình về tội bán ma túy cho thanh niên và học sinh. Mình không thể đưa cô ta ra tòa vì vật chứng quá ít, vài gói ma túy dạng bột trắng như bột ngọt, với lại hoàn cảnh cô ta cũng đáng thương, phải nuôi một con trai năm tuổi và một mẹ già.»

-«Đại úy có hồ sơ ở đó không?» Trung hỏi.

-«Đây, cậu cầm lấy, nhưng sáng mai hãy làm. Chiều nay cậu với hai anh em xuống Xóm Tám bắt một vụ đánh bạc mà chúng ta đã theo dõi lâu nay».

-«Vâng, đại úy cứ yên tâm, sáng mốt em sẽ thả cô Lộc về, còn việc chiều nay em luôn sẵn sàng.»

Nói xong Mạnh Trung chào đại úy theo kiểu chào quân đội và lui gót, đại úy nói theo thật nhanh,

-«Này, cô Lộc ấy bị tình nghi là có chồng là Việt Cộng trong bưng đấy.»

Trung khựng lại mấy giây rồi nói, «Vâng em sẽ lưu ý việc này…».

Buổi tối trước ngọn đèn dầu dù đồn cảnh sát có máy phát điện nhưng chỉ dùng đến khi cần thiết, Trung đọc sơ qua hồ sơ của phạm nhân Vũ thị Xuân Lộc. Thì ra cô này là cháu gái, gọi bà Lại bằng dì. Lộc đã hai lần bị nhốt trong đồn: Lần đầu cô bị bắt vì trong nhà có hầm bí mật, qua điều tra cô chối không phải là hầm chứa Việt Cộng mà chỉ để tránh đạn pháo kích. Vả lại trong hầm ngoài một con dao găm và một ống nhòm Trung Cộng mà cô nói tình cờ mua làm đồ chơi cho thằng Quýt con cô, nên cô không rõ xuất xứ. Cảnh sát tha cô về vì không đủ cơ sở buộc tội, chỉ buộc cô phải nộp dao găm, ống nhòm và lấp hầm bí mật. Nhưng qua lần điều tra ấy, người ta biết chồng cô không chết, như lời cô thường khai, vì bệnh sốt rét khi đi làm rừng mà là một chiến sĩ đỏ trong bưng trên núi Gò Đen với bí danh Tư Nhíu. Phòng Giáo Dục biết được chi tiết này, đã cho cô nghỉ việc dạy học lớp ba trường làng. Sau đó để mưu sinh nuôi thằng Quít và mẹ già, cô đạp xe bán bánh tiêu, bánh da lợn, bánh cam, bánh vòng trước cổng các xí nghiệp và trường học. Mười ngày trước, sau lần bị bắt đầu tiên ba tháng, cô bị Cảnh Sát Đặc Biệt bắt đưa về đồn, vì dưới đáy thúng đựng bánh có mấy gói nhỏ ma túy dạng bột. Lúc đầu cô chối tội nói đó là bột ngọt mua về nấu ăn, nhưng khi cảnh sát thấy rất mịn như cát và có mùi vị đặc trưng nên cô phải nhận tội.

Khi đã đọc xong hồ sơ, Trung bỏ ra hành lang nhìn về hướng núi: Ánh trăng thượng huyền phủ trên các ruộng lúa, trên rừng cây và trên sườn núi một ánh sáng huyền ảo và u buồn, khiến trong lòng anh dâng lên một nỗi sầu muộn. Mấy ngày qua, công việc dồn dập khiến anh không nhớ mình đã buồn. Chắc hẳn một người nhạy cảm như anh phải có lắm nỗi buồn: Chiến tranh, hận thù, chia rẽ… Hơn mười năm nội chiến vì ý thức hệ khiến cho lòng thù hận đã trở thành lương thực hàng ngày cho hai bên giao chiến và cho cả người dân… Rồi gia đình anh vì thời cuộc nên vợ chồng anh phải mỗi người, một nơi trong lúc tuổi xuân của anh nhất là của Tiên Phụng, phơi phới đấy mà cũng sẽ chóng lụi tàn, nguội lạnh … May mắn cho Phương, con anh, được ở gần ông bà ngoại chất phác trong một giáo xứ yên bình, thuần hậu, ngoại trừ vài phần tử xấu, hoặc chỉ giả hình lợi dụng tôn giáo và việc tu hành… Nếu anh không thi rớt tú tài hai, hẳn anh đã không vào cảnh sát và cũng không có mặt nơi này… Anh bất chợt thấy đời sống mong manh và vô thường quá. Giả như anh ở chỗ khác, liệu anh sẽ sướng hay khổ; nào ai biết được. Dù sao khó mà thoát được khổ đau bởi như lời Phật dạy đời là bể khổ. Rồi anh chợt khám phá một điều mà từ trước đến nay anh chưa từng biết. Đơn giản anh biết mình là một người giữ đạo Chúa khá tốt, nhưng cái khá tốt này không do tôn giáo hình thức tập trung vào nghi lễ phụng tự của nhà thờ mà lại do cái vốn đạo đức của gia đình anh, đặc biệt là tâm hồn ngay thẳng của người cha và đạo đức tự nhiên của người mẹ Phật tử. Cái vốn liếng đạo đức này trước đây cha anh thường gọi là đạo-làm-người, và cũng là một ơn lành của Thiên Chúa.

Bỗng nhiên trong bầu trời mờ ảo bởi ánh trăng vàng nhạt, tiếng một đàn quạ kêu khi chúng bay qua kéo anh về thực tại. Tiếng quạ kêu sương nhắc anh nhớ lại trời đã khuya lắm rồi. Anh quay về phòng, đọc một kinh Lạy Cha sau đó đi vào giấc ngủ.

Xem tiếp https://www.tvvn.org/ben-nay-ao-vong-ho-dinh-ba-phan-2/

Share this post