Bên Này Ảo Vọng – Hồ Đình Ba (Phần 3)

Bên Này Ảo Vọng – Hồ Đình Ba (Phần 3)

Đêm dài lắm mộng

Sáng hôm ấy, đang lúc thèm canh chua, Xuân Lộc được một nông dân mời mua mấy con lươn mà anh ta bắt được. Buổi chiều đang lúc nấu món ăn, bất chợt cô nhớ đến Thành Muông, chồng cô: Một nỗi nhớ da diết cùng với sự rộn ràng của lửa dục tình. Cô nhớ Muông cũng thích món canh chua và cá trê chiên giầm nước mắm gừng. Ngẫu nhiên hôm nay cô chuẩn bị đúng hai món đó. Nấu nướng xong, cô định nghỉ ngơi một lát rồi đi tắm. Đang đi tìm khăn tắm, thằng Quít con cô đi học về, cô phải dọn cơm cho nó ăn trước. Nó thường đói bụng sau buổi học dài. Và được mấy miếng cơm, Quít tỏ vẻ thích thú vì thức ăn ngon. Bỗng nó đứng lên đến cái cặp da mà Mạnh Trung đã mua tặng nó sau một lần về tỉnh họp; nó lấy ra một miếng ngọc màu tím trái nho đưa cho Lộc và nói,

-« Hồi nãy, cô Xuyến đón con cô ấy, thằng Cam, ở cổng trường đã đưa con cái này bảo đưa lại cho má… » Sau khi và thêm vào miệng hai miếng cơm Quít nói tiếp, « Cô Xuyến nói trả lại cho má và không nói thêm điều gì nữa. Lộc cầm miếng ngọc với đối tay hơi run nói,

-« Má hiểu rồi. »

Cô cầm miếng ngọc lui ra sau vách nhà, thổn thức. Đó chỉ là nửa miếng ngọc hình con rồng đỏ mà Muông để lại cho cô trước khi vào bưng biền. Anh đã dùng nó để quy ước rằng anh sẽ về gặp cô trong đêm. Lúc đó họ sẽ ráp hai miếng ngọc lại, trước khi ‘ráp’ thân xác vào nhau. Cả hai động thái ấy đều cùng trong một nghi thức.

Khi Lộc tắm xong và Quít ăn xong, cô bảo nó đi ngủ sớm. Rồi cô lặng lẽ khoát thêm vào người một cái áo bà-ba đen, bước ra ngoài đêm đen, một tay cầm túi giấy dầu mang theo một gô cơm và hai lon gô đựng hai món ăn cô vừa nấu chiều nay. Tay kia xách một bao lác nhỏ trong đó có đủ xà-bông, đường, đậu đen, bột ngọt, cồn, băng keo, thuốc than, thuốc aspirin.

Xuyến đứng trước nhà ở xóm Sáu sát với bìa rừng tràm đợi Lộc. Thấy cô này đến, Xuyến nói nhỏ vào tai,

-« Anh Tư Nhíu đến rồi, ở nhà sau đó vô gặp ảnh đi. »

-« Cám ơn Xuyến… À có cái này cho Xuyến. » Nói rồi, Lộc lấy trong bao lác một cục xà-bông thơm hiệu Cô Ba và một phong kẹo đậu phọng đưa cho Xuyến. Xuyến đón lấy cười nói,

-« Em còn bày đặt khách sáo… vào đi. »

Trước đó nửa giờ, Tư Nhíu đến trong đêm, tay cầm một cành dâu lào là thứ dâu mọc trong rừng, vừa để đuổi rắn, vừa để đuổi ma vì Nhíu sợ ma lại mê tín rằng ma sợ cây dâu lào.

Trong gian nhà bếp, đôi vợ chồng trẻ gặp nhau mừng mừng tủi tủi, cô nói,

-« Lâu quá không nghe tin tức anh Tư, em lo quá».

-« Mày lo thật không vậy Lộc. Mày không nhớ khi vào bưng tao nói sẽ trở về nhà trong vinh quang chiến thắng hay sao, thằng này không dễ chết đâu ? » Tư Nhíu nói với vợ theo cách xưng hô từ ngày mới cưới là ‘mày-tao’, lâu ngày cô thấy cách gọi ấy hàm chứa một sự thân thương nào đó.

Lộc không nói nữa, cô mượn của Xuyến ít chén bát bằng sành, bày thức ăn ra cái bàn tre rồi nói với chồng,

-« Em có làm mấy món anh thích, anh ăn đi»

-« Mày ăn chưa, cùng ăn với tao luôn»

-« Dạ… »

Họ vừa ăn, vừa hỏi han về sức khỏe, gia cảnh và sinh hoạt trong thời gian họ xa nhau… Phần Tư Nhíu, anh đặc biệt hỏi cô về những đàn ông cô thường gặp. Khi gần cuối bữa ăn, Lộc kể lại câu chuyện cô bị Cảnh Sát Dã Chiến bắt hai lần nhưng chỉ nhốt mấy ngày rồi thả về, Nhíu đứng lên lấy cành dâu lào đập mạnh lên bàn nói lớn vừa đủ vì sợ có kẻ theo dõi bên ngoài nhà nghe thấy,

-«Chó đẻ mấy thằng Mỹ-Ngụy, có ngày tao sẽ ăn tươi nuốt sống tụi bay». Rồi anh uống một ngụm nước, bình tĩnh trở lại, ngắm nhìn cô một lúc và dịu dàng nói,

-« Tội nghiệp mày quá, tao sẽ bù đắp nỗi khổ cho mày, ra đây». Nói rồi Tư Nhíu nắm tay lôi Lộc ra ngoài vào cái chòi nơi Xuyến dùng để chứa củi nấu xôi vì cô này bán xôi vò hoặc bán bánh mì nướng phết mỡ hành ở các trường học. Bên trong chòi, ở khoảng trống kế bên chồng củi, Xuyến đã trải sẵn một cái chiếu với hai cái gối nhồi vải vụng khô cứng, Xuyến cũng đặt một cái đèn dầu hột vịt nằm khuất giữa hai khúc củi to. Họ bắt đầu vừa hôn hít vừa thoát y trước khi hành lạc. Nhíu nhập cuộc với tất cả sự ngạo nghễ, điên cuồng khi anh luôn giữ cái khăn rằn quanh cổ, trên thân thể trần trụi, nâu bóng của anh.

Bên ngoài Xuyến thu dọn chén bát từ bữa ăn của hai người bạn. Chỗ cô ngồi rửa chén cách chòi chưa đầy hai mét. Âm thanh vang ra cho cô biết cuộc «tương phùng» đang ở giai đoạn nào: Lúc đầu là giao chiến khi Nhíu nhét một đầu khăn rằn vào miệng Lộc rồi dùng cành dâu đánh tới tấp vào làn da mượt mà của cô (để trừ tà Mỹ-Ngụy, như lời Tư Nhíu nói) khiến người cô phải uốn éo như rắn múa. Xuyến nghe tiếng kêu của Lộc vừa đau đớn vừa pha lẫn một niềm hân hoan khó tả. Lúc đó Xuyến đã rửa xong chén bát, nhưng còn ngồi nán lại. Đến lúc giao hợp, tiếng kêu rên đứt quãng của Lộc không còn bị chiếc khăn ngăn lại nên Xuyến nghe rõ. Lúc này niềm hoan hỉ vừa lả lơi, dồn dập còn pha thêm chút gia vị của sự bi tráng. Xuyến ngồi ngoài tưởng tượng hai thân thể trần trụi kiêu hùng, quấn vào nhau, lăn lộn, tới lui, lên xuống và rên siết trong khoái lạc. Như đồng cảm với hai con thú giao cấu cuồng nhiệt, Xuyến cũng định đưa hai tay tự vầy vọc ngực mình với cặp ‘núi đôi’ đồ sộ, chợt có tiếng chó sủa to ngoài ngỏ, nên cô vội chạy ra xem động tĩnh. Quan sát một lúc, Xuyến thở phào nhẹ nhỏm. Đó chỉ là tiếng chó sủa ma; vậy mà cô nghĩ chắc mấy dân vệ trong làng đi tuần khiến cô sợ hão.

*&*

Gần hai giờ sáng, Lộc mới về đến nhà. Trên đường về cô gặp một toán dân vệ đi tuần tra, nhưng cô đã nhanh chân núp vào một lùm cây, đợi họ đi qua cô mới đi về tiếp. Cô rón rén vào nhà ngả lưng xuống giường, ít phút sau ngủ thiếp.

Xuyến cũng thế, khi Lộc và Nhíu ra khỏi nhà, cô vào giường ngủ ngay để ngày mai còn dậy sớm đi bán hàng. Trước khi vào giấc ngủ, cô còn để cho nỗi nhớ chồng của cô kêu lên, «Anh Ba ơi, về với Xuyến nghe anh. Em nhớ anh… Em cần anh». Rất ‘sến’ nhưng cũng rất chân tình. Chồng cô, Ba Vịnh là ‘đồng chí’ chỉ huy của Tư Nhíu. Một con người lạnh lùng và cũng lắm mưu mô.

Thoát hiểm trong gang tấc

Ba Vịnh lớn lên trong cô nhi viện. Số là sau khi cha anh bị Tây giết chết, mẹ anh giao anh cho gia đình chồng để đi lấy chồng khác. Lúc đó anh mới ba tuổi. Chú anh bận rộn với cuộc kháng chiến lúc bấy giờ sôi sục ở Miền Nam, tìm cách gởi anh vào cô nhi viện. Ở trong đó anh được nuôi dưỡng, được cho đi học. Anh chỉ thiếu tình thương và càng lớn lên khi biết được gốc tích lai lịch của mình, tâm hồn anh càng chai cứng và tiếp nhận nhanh chóng những thù hận vốn có trong lịch sử của đất nước này. Thái độ này khiến anh dễ bị đòn roi hoặc hình phạt của các nhân viên bảo mẫu hoặc dưỡng phụ trong cô nhi viện. Sau khi học xong trung học, anh vào Đại học Văn khoa. Lúc đó ông chú đến cô nhi viện gặp anh đưa anh về nhà, đào tạo anh thành một người con của Đảng. Sau thời gian đào tạo, anh vừa học trong trường đại học vừa làm công tác dân vận ngay trong trường, là tai mắt của Đảng cài vào các trường đại học. Anh xúi giục, hỗ trợ cho các sinh viên phản chiến nhân danh lòng nhân đạo hoặc quan điểm từ bi hỉ xả của Phật giáo. Đang hoạt động được một niên khóa, anh bị công an chìm phát hiện, nên đã nhanh chân rời khỏi Sài-gòn về Cần Thơ chờ lệnh. Chính trong thời gian này, anh gặp Xuyến cũng là trẻ mồ côi được một gia đình công giáo nhận làm con nuôi từ lúc còn sơ sinh. Chú anh nói, “Họ yêu cầu cháu theo đạo thì cứ theo đạo càng dễ hoạt động. Cháu không nghe chính mấy người trong đạo còn thú nhận cái đạo của họ là đạo hình thức… Họ nói gì nào… à phải rồi: Con quỳ lạy Chúa Ba Ngôi/ Con lấy được vợ, con thôi nhà thờ.” Thế là Ba Vịnh ghi tên học đạo đàng hoàng để cưới vợ. Nhưng sau khi cưới Xuyến về được một tháng, Định nói với vợ, “Em hãy quên cái đạo-Chúa-thực-dân của em đi mà hãy nhớ lịch sử oai hùng của dân tộc… ” Rồi Ba Vịnh gom hết các ảnh tượng trong đạo vứt hết xuống mương. Cô Xuyến cũng đồng thuận, vì nơi bản thân cô cũng vậy: đạo hình thức dễ theo thì cũng dễ bỏ.

Sau một thời gian chờ đợi, tổ chức làm cho anh một bộ giấy tờ tùy thân giả và cài anh vào một trường trong hệ thống Đại Học Cần Thơ. Trong trường này anh ghi danh khoa xã hội học, thường đến đọc sách lịch sử và văn hóa trong thư viện để trang bị tầm nhìn và trui rèn quan điểm. Sau vài tháng anh quen thân một giáo sư dạy môn văn chương và văn minh Pháp tên Uông Khánh Dương, đang tạm trú trong trường khi từ Pháp trở về Việt Nam. Ông này là một người tu xuất của dòng Phan Sinh. Trong thời gian học ở Paris ông gặp mấy sinh viên gốc Việt hoạt động trong Đảng Cộng Sản Pháp và sinh hoạt với họ. Một người trong số họ hiện đang dạy cùng trường với Khánh Dương. Việc Ba Vịnh lui tới, có khi còn ăn dầm, nằm dề ở chỗ Khánh Dương khiến Phòng Nhì tỉnh để ý. Sau cùng họ truy ra Ba Vịnh là Việt Cộng nằm vùng hai năm trước bị truy bắt ở Sài Gòn chạy thoát về đây. Cảnh Sát Dã Chiến lập kế hoạch vây bắt khi biết hắn đang có mặt trong trường. Sáng hôm cảnh sát tiến hành việc bắt Định, một phái đoàn dân biểu quốc hội từ Sài Gòn về Cần Thơ kinh lý ghé vào trường. Ba Vịnh biết mình bị lộ danh tính và bị bao vây nhưng không có cách nào thoát ra khỏi trường đại học. Cảnh Sát Dã Chiến đứng trước cổng trường chờ giấy cho phép vào trường khám xét của khoa trưởng; khoa trưởng lại bận tiếp các dân biểu. Vả lại cảnh sát cũng không dám tự tiện vào vì quy chế tự trị của các đại học trong các nước dân chủ. Lúc đó Ba Vịnh mặt tái xanh thú thật với thầy Khánh Dương đang ngồi dựa đầu giường đọc cuốn tiểu thuyết Madame Bovary của Flaubert là tác giả được chọn để giảng dạy trong chương trình.

-«Thầy ơi, cảnh sát đến bắt con đứng trước cổng trường rồi, thầy có cách gì giúp con không»

-« Sao tới bây giờ mới nói… Để tôi tìm cách ngăn cảnh sát lại»

Ba phút sau Khánh Dương có mặt tại hiện trường, kéo ông khoa trưởng ra khỏi đoàn khách mà ông này hướng dẫn xem cơ sở vật chất của trường, thầy Dương nói nhỏ vào tai ông,

-« Xin thầy đừng cho phép cảnh sát vào để tôi cho kiểm soát xem Việt Cộng có xâm nhập vào trường không, hay đó chỉ là lời vu khống. Vả lại với quy chế đại học tự trị, ta có thể ngăn không cho cảnh sát vào bao lâu cũng được»

-« Được rồi, nhưng thầy cho nói với bảo vệ phải kiểm tra kỹ khắp trường xem sự thể thế nào»

-« Vâng. »

Ra chỗ chiếc xe buýt chở dân biểu đậu, thấy tài xế và một vệ binh đang đứng trò chuyện, Khánh Dương đến nói:

-« Chào hai anh, tôi là phó viện trưởng của trường, mời hai anh vào nhà khách uống nước. »

-« Không cám ơn, tụi tôi đứng ngoài này để làm nhiệm vụ»

Khánh Dương vẫn mồm năm miệng mười nói qua chuyện khác. Sau cùng ông nhờ tài xế cho cháu ông đi nhờ xe đến Vĩnh Long trên tuyến đường về Sài Gòn của phái đoàn. Vệ binh và tài xế đồng ý trước những lời trơn như mỡ của Khánh Dương mà họ tưởng là phó viện trưởng thật. Ba mươi phút sau, ngồi ở hàng ghế sau cùng của chiếc xe buýt, giấu mặt sau màn che nắng ở ô cửa kính, Ba Vịnh đàng hoàng ra khỏi cổng trường. Cảnh Sát Dã Chiến chỉ thờ ơ nhìn theo vì biết đó là xe chở các dân biểu, bất khả xâm phạm nên họ không dám xét hỏi. Khi xe chạy còn cách Vĩnh Long hai mươi cây số, Ba Vịnh ra hiệu cho tài xế dừng lại, nhảy vội xuống xe, mấy phút sau mất dạng sau dãy nhà dân trên quốc lộ. Lần này Cảnh Sát Dã Chiến lại bắt hụt Ba Vịnh. Sau đó ít lâu, Ba Vịnh đưa Xuyến về nhà hiện nay ở Xóm Sáu mà chú anh đã bỏ lại khi vào bưng. Rồi vài tháng sau, Ba Vịnh cũng chuồn vào bưng nhận nhiệm vụ.

*&*

Một đêm gió mưa dai dẳng, các cánh đồng ngập nước tiếng ếch ồm oang như ca ca hát một lời cám ơn cơn mưa tưới tắm ruộng đồng tưởng như bị khô hạn. Ba Vịnh lẻn về gặp Xuyến; anh trùm một tấm ly-nông màu cứt ngựa. Khi nhận ra chồng trong ánh sáng tù mù của cái đèn hột vịt, Xuyến ôm chầm lấy chồng nức nở,

-« Sao lâu nay anh Ba không về thăm em»

-« Bọn Mỹ ngụy đánh phá làm sao anh về được…» Ba Vịnh gỡ tay của Xuyến ra nói tiếp, « Bỏ chuyện đó đi… Hôm nay anh về rồi, có gì đãi anh không ? »

-«Anh thay đồ cho đỡ lạnh, đợi em lấy rượu và làm món cho anh».

Mười phút sau, ngồi chễm chệ trên chiếc chiếu cũ, Ba Vịnh uống rượu với vài trái cóc, chờ Xuyến làm món. Cô này nhanh chóng bắt một con gà giò trong chuồng, nấu nước, nhổ lông và chỉ trong nửa giờ đã có món thịt gà xào rau. Lúc đó Ba Định mới ăn chưa hết một trái cóc. Ba Định vừa nhâm nhi rượu với món xào, vừa nói chuyện với Xuyến ngồi sát bên anh, một bàn tay để trên đùi anh, gần háng. Anh về lần này với công tác điều tra trưởng đồn Trần Thường và thiếu úy Mạnh Trung để lên kế hoạch ám sát họ. Trước để cảnh cáo bọn ‘ác ôn’ như lời Ba Vịnh, sau để phá nát đồn ấy, dọn đường cho các chiến dịch cuối năm lúc mùa mưa kết thúc. Khi món gà xào rau đã hết, và xị rượu thuốc mà Xuyến đã giấu rất kỹ trong đống củi đã cạn, Ba Vịnh lấy tay đè vào đầu gối của Xuyến, nghiêm mặt hỏi,

-«Những gì anh chỉ bảo em trong công tác, em đã nắm rõ chưa? Địa điểm hội ý lần cuối trước giờ hành động nhớ chưa?”

-«Dạ em nhớ rồi… »

-« Nhớ rồi thì dọn chén dĩa xuống, ta làm việc khác… »

Xuyến vâng dạ rối rít dọn chén dĩa xuống nhà bếp. Cô đã biết ‘việc khác’ là việc gì. Khi cô lên lại nhà trên, cô thấy Ba Vịnh đứng giữa chiếu trần trụi, trong tư thế ngạo nghễ, đỉnh đạc, với chiếc khăn rằn quanh cổ. Khi cô vào đúng tầm tay anh, anh chụp lấy cô lột trần và bắt đầu cuộc quần thảo, cô luôn miệng ỏn ẻn, «Em nhớ anh lắm…

» Ánh sáng đèn dầu trên da thịt họ tạo thành những vệt sáng tối chập chờn đan nhau, như hai con mực nan đang vờn nhau trong vũng nước cạn. Sau đó Ba Vịnh nhét khăn vào miệng cô, bắt đầu làm cô đau đớn bằng những cái tát, cái véo. Anh tái hiện những lần anh đã bị trừng phạt trong cô nhi viện xưa kia, những khi anh phạm lỗi. Cô quằn quại ngả người xuống chiếu và trong một tư thế thuận lợi, hớ hênh, anh đi vào sâu vào cô mạnh mẽ. Âm thanh từ miệng cô được thoát ra khi anh kéo khăn khỏi miệng cô, chùng xuống thành những rên rỉ dịu dàng theo từng động tác công kích của anh, cho tới chấn động sau cùng khi Xuyến bật to một tiếng gào man rợ.

Một giờ sau vũ điệu ma quái lại tái diễn. Hai giờ sáng khi trời còn mưa rả rít, Ba Vịnh ra khỏi nhà đi vào đêm tối, giữa tiếng ồm oang của ếch nhái.

Lập mưu sát hại

Công bằng mà nói, Ba Vịnh không chỉ khá thông minh mà còn khôn lỏi, với cái nghĩa thông dụng có thêm những mưu kế quỷ quyệt, những mẹo vặt láu cá. Thật vậy có lần, mật khu muốn biết quân số trong một đơn vị của quân đoàn địch đóng quân tại địa điểm nọ, nơi xuất phát những cuộc ruồng bố tiểu trừ phiến quân rất hiệu quả, nhưng không đặc công nào làm được vì quân số luôn được bổ sung và thuyên chuyển. Những cán bộ gộc trong mật khu giao cho Ba Vịnh tìm hiểu quân số của đơn vị ấy. Lúc đầu Ba Vịnh cho một nữ du kích làm giống như những người trước hắn nghĩa là đi dò hỏi và mua tin nơi các chị vợ lính trong trại gia binh và họ đều cho các con số giả chênh lệch nhau rất lớn, sau khi đã nhận ít tiền còm. Ba Vịnh vò đầu trước những con số trên trời dưới đất ấy, chưa biết giải quyết ra sao. Một hôm anh đi bộ ra chợ, còn cách chợ khoảng ba mươi mét, một chiếc xe đạp sau có ràng một giỏ tre to đựng đầy những trái bí xanh va vào người anh làm anh suýt ngả. Nhưng chiếc xe đạp không ngừng lại, anh thanh niên đạp xe chỉ quay lại nói,

-«Xin lỗi anh, tôi phải giao hàng gấp cho lính… »

Trong lúc phủi bụi dính vào áo, một tia sáng lóe ra trong đầu Ba Vịnh. Hắn tự nhủ, «Trước giờ mình ngu quá; chỉ cần biết số phần ăn và số lượng lương thực cung cấp cho đơn vị ấy là biết được quân số hàng ngày. Về đến chỗ trú ẩn, hắn kêu cô du kích nói phải tìm hiểu xem ai là nhà thầu cung cấp lương thực cho đơn vị đó và nếu người thầu là đàn ông phải dùng tình dục mua chuộc, nếu là đàn bà phải dùng tiền mua chuộc để nắm quân số qua số lượng của đơn hàng, con số mà mật khu cần biết. Dĩ nhiên tiền do Ba Vịnh cung cấp, còn những ngón nghề trong mỹ nhân kế, Ba Vịnh cũng trực tiếp dạy cụ thể cho cô du kích. Thế là vấn đề được giải quyết chu tất. Và người hài lòng nhất trong sự kiện này hẳn là Ba Vịnh và cô du kích.

Xuyến cũng được chồng mình chỉ vẽ mọi chuyện trong hoạt động. Ngay sau đêm mưa gió ái ân ấy, Xuyến đến nhà Lộc để tìm hiểu các thói quen của hai đối tượng Trần Thường và Mạnh Trung. Đại khái họ là Thường và Trung là đôi bạn thân nhưng chỉ có Trung hay đến quán để mua ít nhu yếu phẩm cho đồn. Xuyến hỏi Lộc:

-«Tên Trung ấy có cảm tình với Lộc không? Hắn có tán tỉnh cậu lần nào không?»

-«Không, mình chỉ coi anh ta là khách hàng… Vả lại anh ta biết mình có chồng theo Mặt Trận»

Thêm một vài câu hỏi nữa, sau cùng trước khi về, Xuyến hỏi,

-« Tiền vốn bạn mở quán ai giúp vậy, có phải mấy thằng già giàu có ở tỉnh hay mấy thằng Mỹ-Ngụy. »

-« Không. »

Xuyến không bằng lòng với một tiếng ‘không’ nên cứ vặn hỏi mãi, sau cùng Lộc nói, hơi cáu,

-« Của một bà dì giúp tôi, được không ?… Thôi Xuyến về đi đừng hỏi tôi nữa, tôi không trả lời đâu. »

Xuyến ra về cảm thấy bấy nhiêu thông tin cũng đủ. Lúc đi đường, cô chợt nhớ Bà Lại là bà dì gần nhất của Lộc ở Xóm Bảy. Thế nên nửa đường cô đổi hướng qua Xóm Bảy để hỏi cho ra lẽ bởi cô vẫn nghi ngờ rằng một anh lính giàu có nào đó trong đồn đã âm thầm giúp đỡ cho Lộc.

Thấy Xuyến tới, Bà Lại hỏi ngay,

-« Chà lâu quá, tao mới thấy mày đó Xuyến ? »

-« Dạ, con có việc này quan trọng muốn nói với dì ? »

Hai người bước vào hàng hiên, ngồi xuống hai cái ghế tre, bà Lại hỏi,

-« Chuyện gì quan trọng nói đi. »

Xuyến làm ra vẻ nghiêm trọng nói,

-« Con tìm được một cô gái tốt mà anh Duận có thể cưới về làm vợ ? » Xuyến phải dùng một câu nói dối để tiếp cận bà Lại và đi dần vào mục đích bí mật của cô. Bà này trố mắt nhìn Xuyến rồi nhổ miếng trầu đang ăn vào cái bô nhỏ xíu bằng nhôm đáp lại,

-« Mày định làm bà mai cho thằng Duận sao ? Nhưng cô gái đó thế nào, ở đâu làm nghề gì ? »

Xuyến nói đại, nói liều,

-« Dạ em đó đẹp và có duyên, chỉ hơi đen, nó bán nước đá nhận chế xi-rô ở cổng trường, gần chỗ con bán. »

-« Vậy cũng được, » rồi bà Lại cắn hai hàm răng lại, nghiêm mặt nói tiếp, « mày có biết con đó là dân thường hay Việt cộng không ? »

-« Tại sao vậy dì ? »

-« Còn tại sao nữa, nếu đêm tân hôn mà thằng Duận biết vợ mình là Việt cộng, nó sẽ giết chết vợ nó ngay… »

-« Nghiêm trọng vậy sao ? »

-« Sao không nghiêm trọng ? Tao hỏi mày ‘Ai lấy của nó mất một giò ?’ »

-« Vậy để con hỏi lại… » Xuyến vội vàng nói.

-« Thôi dẹp chuyện đó đi. Con nữ đó sẽ không nói thật đâu nếu nó là việt cộng, trừ khi nó điên. »

-« Dạ con hiểu. » Rồi Xuyến nói sang chuyện khác, sau vài câu, cô hỏi Bà Lại,

-« Dì biết ai cho con Lộc mượn tiền mở quán không ? »

-« Làm sao tao biết được ? Mày đi hỏi nó thì biết ngay khó gì ?

-« Có người nói dì cho Lộc mượn tiền vì Lộc là cháu của dì … »

-« Tao điên mới cho vợ phiến quân mượn tiền dù tao là dì nó, Bà Lại bình thản nói, vả lại tao còn đang thiếu tiền xây hai cái lò làm bún mới đây, mày biết chỗ nào cho mượn tiền chỉ tao với. »

Đến lúc này, Xuyến cảm thấy hụt hẫng. Cô ngồi nán lại mấy phút rồi về, trong lòng rất khó chịu vì kết quả không như cô mong đợi. Dù sao khi về đến nhà, cô nghĩ Mạnh Trung phải bị trừng phạt trước vì dễ tiếp cận hơn lại ngây thơ : miệng còn hôi sữa, cô nghĩ thế.

*&*

Trong cuộc họp tay ba – Ba Vịnh, Tư Nhíu, Xuân Lộc – trong một cái chòi chăn vịt của một nông dân có con theo phiến quân, Ba Vịnh cũng đưa ra quyết định : phải ám sát thiếu úy Mạnh Trung trước và người thi hành chính là Xuân Lộc. Ba Vịnh thao thao bất tuyệt trình bày phương án hành động, những lợi thế mà Xuân Lộc có trong khi hành động. Ba Vịnh cũng nói đến các khí cụ để đưa Trung xuống âm ty là thứ mà hắn đọc được trong sách vở Phương kiến : Tam ban triều điển. Đó là ba món triều đình xưa dùng để bức tử bề tôi : một đoạn lụa, một chén thuốc độc, và một đoản đao. Xuân Lộc im lặng gần như suốt buổi họp mặt tái xanh, lòng rối bời và sợ hãi. Gần cuối buổi họp, để yên tâm rằng quyết định sẽ được mọi người nhất trí và thi hành, Ba Vịnh hỏi Lộc,

-« Em thấy thế nào… em sẽ làm được chứ ? »

-« Em hơi sợ nhưng em sẽ cố gắng… » Xuân Lộc nói.

Ba Vịnh cau mày, bộ mặt với hai má dầy của hắn hơi méo đi, dị dạng. Sau mấy giây trấn tỉnh, hắn mượn những lời trong các truyện Tàu để động viên Lộc,

-« Này nhé tội ác đáng chết của tên Trung thì em rõ rồi : một hắn là việt gian, hai là ngụy quân, ba là hắn đã triệt phá và còn giết chết nhiều đồng chí của ta … , bốn là hắn xuất thân tả-đạo theo Chúa của Tây mà ngày xưa các vua Nguyễn cho tìm giết trong chính sách Bình Tây Sát Tả. Vả lại khi Chủ Tịch đảng ta được vị vua sau cùng nhà Nguyễn trao ấn tín cho, vì Người vốn có chân mạng đế vương thì đảng ta được chính danh thay-trời-hành-đạo, việc anh em mình sắp làm là thay vua trừ gian diệt bạo. Em hiểu chưa ? »

Lộc tuy không hiểu rõ nhưng phải đồng tình vì những từ ngữ như ‘đế vương’, ‘vua’, ‘thay trời hành đạo’ rất có sức thuyết phục. Chúng đánh động vào vô thức còn bị phong kiến khống chế của cô. Thấy có vẻ thuận lợi, Ba Vịnh nói tiếp,

-« Sao, em làm được chứ ? » Lộc chỉ đáp lại bằng cái gật đầu. Ba Vịnh nói tiếp,

– « Em yên tâm đi, bọn anh luôn ở bên cạnh em để hỗ trợ… Cứ thế nhé ! »

Ba Vịnh nói thêm vài câu rồi chuồn mất để Tư Nhíu và Xuân Lộc ở lại trong chòi, lúc đó khoảng chín giờ tối. Tư Nhíu không cần đợi lâu, nhào vào Lộc quần thảo với cành dâu lào quất vào tấm thân trần trụi của Lộc để trừ tà, sau đó anh ấn sâu vào cô và thúc mạnh liên hồi. Cô rên rỉ khá to nhưng tiếng kêu rên của cô chìm vào tiếng ồm oang của ếch nhái… Trong lúc nằm dài bên nhau nghỉ giữa hai lần hành lạc, Tư Nhíu nói,

-« Mày thật dũng cảm khi nhận việc này ? »

-« Thật ra lúc đầu em không muốn nhận, vì em thấy tội nghiệp tên Trung đó … »

-« Không nên tội nghiệp cho hắn khi đã quyết tâm làm đại-sự. Ngày xưa Gia Long còn giết cả con sơ sinh của mình khi bị Tây Sơn truy bắt, để hoàn thành đại sự đấy… »

Nghe Thành Muông nói đến việc giết con, Lộc rùng mình sợ hãi. Cô tưởng như không còn nhận ra Tư Nhíu hiền hòa ít nói khi họ mới kết hôn. Cô rụt rè hỏi,

-« Vậy Ba Vịnh sẽ làm gì nếu lúc nãy, em đã từ chối, không nhận làm việc anh Ba giao… »

-« Anh Ba sẽ giao việc ám sát cho tao và chắc hẳn tao sẽ gặp nhiều khó khăn nguy hiểm… »

-« Nếu anh cũng từ chối… ? »

-« Nếu tao từ chối, Ba Vịnh sẽ khai tâm cho Quít con mình để Quít sẽ lấy máu quân thù… »

Lộc chưa kịp sợ hãi trước việc dùng trẻ nhỏ làm việc sát nhân, Nhíu đã quay ngang ôm lấy Lộc, rút đầu vào đôi vú đầy vun với hai núm màu nâu tím của cô, một cánh tay kéo ghì bờ mông mẩy mượt đầy tròn … Đến khi Tư Nhíu chồm lên trên đầu vú cô và ấn sâu phần hạ bộ, cô kêu lên hốt hoảng, tưởng như thấy khuôn mặt của hắn mọc đầy lông muông thú trong rừng. Lần đầu tiên, cô thấy trong lòng có cái gì hụt hẫng và mất mát đối với chồng cô. Khi về đến nhà, Lộc chạy ngay vào chỗ Quít ngủ, lúc nghe thấy tiếng nó thở đều đặn, cô mới yên tâm về chỗ ngủ của mình.

Tình yêu và thù hận

Mười ngày sau, nhân lúc anh thượng sĩ Lâm đến quán cô Lộc nhận hàng, Trung đi theo vì anh nhớ cô nhiều. Một tình cảm thầm kín đã nảy sinh trong anh như tình yêu lý tưởng trong tiểu thuyết lãng mạn. Người ta yêu một hình bóng mà không thể cũng không hy vọng được gần. Trước khi Trung và anh thượng sĩ Lâm ra về, Lộc tiến lại gần Trung nói,

-« Thứ bảy tới nhà em có việc, em mời anh đến ăn cơm tối với gia đình em. »

-« Việc gì ? »

-« Đám giỗ của ba em. »

-« Em có mời ai khác không ? »

-« Không, em chỉ làm mâm cơm cúng để nhớ đến ba em thôi. »

-« Được, anh sẽ đến… » Nói xong anh nắm hai cánh tay cô, nhìn thẳng vào mắt cô như muốn chuyển đến một lời yêu thương thinh lặng. Sau đó Trung về.

Hai ngày sau vào ngày thứ tư, Trung nằm ngủ và mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ : Anh cùng vài người bạn đi vào rừng tìm mật ong, chưa kịp xông khói đuổi chúng đi thì bị chúng tấn công. Đó là những con ong to như ong bắp cày có bụng màu xanh, thân màu đỏ và đôi cánh màu vàng. Mọi người đều bỏ chạy, nhưng chúng không tha, vù vù đuổi theo. Chúng còn được ba con rắn hỗ trợ việc truy sát ấy với ba màu khác nhau : con rắn trắng như một dải lụa, con rắn nâu đen màu sắt thép, và con rắn màu xanh lá như rắn lục. Trung cắm đầu chạy, sau lưng anh trên không là bầy ong, dưới mặt đất là con rắn lục đuổi anh ra tận bờ sông. May mắn thay, ngay tại mép nước một chiếc thuyền hình trăng lưỡi liềm với cánh buồm màu trắng đang rời bến, Trung vội nhảy lên. Chủ thuyền là một phụ nữ trung niên khá đẹp, vẻ hiền hậu, đầu đội triều thiên gắn các ngôi sao, bà mặc áo dài màu xanh trời ngồi trên một bục gỗ, một bàn chân trần đạp đầu một con rắn xanh lục đã chết nhưng còn dính vào chân bà bởi hàm răng cắn chặt của nó. Khi còn cách thuyền ba mét các con ong rơi xuống lộp độp như bị cháy cánh, con rắn xanh dừng lại cong người quằn quại như bị một vật nặng bất ngờ đè xuống. Ngay sau đó, con thuyền ra đến giữa dòng, nhắm hướng đại dương thẳng tiến.

Cũng đêm hôm đó, Xuân Lộc trằn trọc mãi mới ngủ được, trong giấc ngủ cô mộng thấy một cảnh tượng hãi hùng : Một ông vua mặc cẩm bào đội vương miện, bên hông đeo gươm dài, vỏ gươm mạ vàng cẩn hồng ngọc. Mặt ông dữ tợn như mặt cọp hằn lên một nỗi lo âu nào đó. Khi thấy đứa con sơ sinh của ông khóc mãi, ông hét lớn, « Giết nó đi cho nó câm mồm lại… ». Có tiếng vệ binh nói lớn, « Tuân lệnh ! ». Mấy phút một vệ binh bưng vào một cái mâm tròn, trên có xác một bé sơ sinh đẫm máu. Lúc đó nhà vua ghé mặt nhìn vào xác chết, « Con hãy về trời, Phụ Hoàng hứa sẽ giết chết thằng Huệ để trả thù cho con, ngâm xương cốt nó bằng nước đái trẻ con… ». Trong lúc đó dàn đồng ca cất tiếng hát : Gió đưa cây Cải về trời/ Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.

*&*

Tối thứ bảy, Mạnh Trung đến lúc bảy giờ tối mặc thường phục. Lúc đó mẹ Lộc và thằng Quít đã ăn xong bữa trước. Cả hai vào giường ngủ sớm. Ở bàn ăn tróc vẹt-ni chỉ còn lại hai người. Lộc rót cho anh một ly rượu nhỏ và mời anh. Họ vừa ăn vừa nói chuyện. Sau khi ăn được một chén cơm, Lộc dừng lại nhìn anh đắm đuối như một ả si tình. Dĩ nhiên đây chỉ là một động tác giả phải có trong kịch bản ‘kế mỹ nhân’ của cô, trong lúc đóng vai kẻ si tình, cô thấy mình xúc động thật như một kẻ tình si. Vai tuồng cô sắm vai đã phá vỡ cái lăng kính ngày thường. Bây giờ không còn gì là Mỹ Ngụy, là tả đạo nữa. Phải chăng ngôn ngữ yêu thương trả lại cho cô sự tự do mà cô đã đem cầm cố cho một ý thức hệ vô thần và phi nhân bản. Lúc đó, cô nắm lấy hai bàn tay anh nói thật tình tứ,

-« Anh Trung ơi, anh thật đáng yêu… Vâng từ lâu em đã yêu anh nhưng không dám nói… »

-« Lộc yêu tôi ? Thù tôi thì có… »

-« Chưa bao giờ em thù anh… có thể có lúc em ghét. Em đã âm thầm yêu anh với tình yêu đơn phương vì em không dám nghĩ anh sẽ yêu em… »

Lộc dừng lại thấy mình lâng lâng trong sự tỏ tình vì cô đã nhập vai người yêu say đắm như thể tim cô đã bị trúng tên của thần Ái Tình Eros, – Vâng, ranh giới giữa thù hận và tình yêu có lúc rất mong manh dễ vỡ – trong lúc Trung đăm đắm nhìn vẻ e ấp của cô ; sau mấy giây anh nói,

-« Không phải đơn phương đâu … Anh cũng đã yêu em lâu rồi và cũng không dám… »

Bây giờ họ kéo ghế để ngồi sát bên nhau hôn nụ hôn đầu tiên, sau đó vai kề vai, vừa ăn vừa âu yếm. Sau chén cơm thứ hai, Lộc đứng lên bóp trán nói,

– « Em nhức đầu quá, phải đi nằm thôi… Anh dìu em vào giường đi… » Lộc đã giấu một dao găm dưới vạt giường và một chai rượu độc ở đầu giường.

Trung vừa dìu Lộc đi, vừa hôn vào tóc, gáy và vai cô thơm mùi trái bồ-kết, cùng lúc ấy Lộc đã cởi hết hàng nút của cái áo bà-ba và tháo cái lưng quần vì thế khi cô ngồi xuống giường, cô phơi bày trước mắt Trung bộ ngực vun đầy, với hai núm đỏ nâu giữa hai vành tròn nâu nhạt, bên dưới lưng quần lộ ra một túm chỉ rối đen bóng. Lộc kéo Trung ngồi xuống, cô ỏn ẻn nói,

-« Tối nay anh ở lại với em nghe… » Rồi cô rướn người lên, áp sát bộ ngực bề thế vào người anh, hôn lấy hôn để hai má anh… Sau một nụ hôn môi dài mê đắm, Trung đẩy cô ra nói,

-« Không được, vì em đã có chồng, như thế là anh ‘xấu’ với em mà Truyện Kiều có câu : Người yêu ta xấu với người/ yêu nhau thì cũng bằng mười phụ nhau. Vả lại khuya nay anh có giờ trực đêm. »

Một phút im lặng trôi qua trong khi Lộc cài lại vài cái nút áo rồi nói,

-« Em xin lỗi anh đã nói một lời thất thố làm anh khó xử… Chỉ tại em yêu anh quá nhiều.» Cô nói và cảm thấy mình nói rất thật.

-« Không sao đâu ! »

Bấy giờ Lộc rót rượu độc ra ly đưa cho Trung và nói,

-« Anh hãy uống ly rượu này để tha thứ sự thiếu suy nghĩ của em rồi hãy về ; lần sau mình lại gặp. »

Trước sự ngoan ngoản, dịu dàng của Lộc, Trung uống cạn ly rượu độc chỉ trong một hơi rồi bước ra khỏi nhà đi vào bóng tối.

Mười phút sau, một nỗi ân hận xâm chiếm lòng Lộc : cô gào khóc thảm thiết nói : « Mày xấu lắm Lộc ơi, mày đã đầu độc anh ấy, khi anh ấy rất yêu mày… »

*&*

Bên ngoài, trong đêm tối, đèn pin cầm tay, Trung bước đi trên lối cỏ được khoảng hai mươi mét thì đôi chân lạnh ngắt, run rẩy, bụng đau quặn, đầu nhức như búa bổ. Thêm mười mét loạng choạng nữa anh làm rơi đèn pin khỏi tay, nôn một cái thật mạnh, máu từ miệng và mũi trào ra. Anh ngả chúi xuống đất trên một vạt cỏ gần như bất tỉnh. Lúc đó một cặp vợ chồng già cầm đèn đi soi ếch vừa tới. Bà cụ cầm đèn đưa sát vào mặt Trung thấy rõ vết máu liền nói với ông cụ,

-« Đưa tôi viên thuốc của NGÀI.»

Ông cụ lấy viên thuốc từ túi áo ra đưa cho bà cụ, bà cụ nhét ngay vào giữa đôi môi tái tím sủi bọt mép của Trung. Sau đó bà lấy trong túi áo mình một cái khăn trắng lau máu ở mũi và miệng của Trung, rồi nhét cái khăn vào túi áo sơ mi của Trung, lúc đó cả hai cụ đứng sát vào nhau lâm râm cầu nguyện, chờ Trung hồi tỉnh. Mười phút sau Trung nôn thốc nôn tháo thức ăn mà anh đã dùng tại nhà Lộc. Ông cụ đỡ anh ngồi dậy trong lúc bà cụ hỏi,

-« Hồi nãy chúng tôi đi soi ếch thấy cậu nằm bất tỉnh, máu chảy ra ở mũi và miệng… Còn bây giờ, cậu thấy thế nào ? »

-« Dạ con thấy khỏe rồi, như không có gì xảy ra… » Trung đáp và nói chính xác thể trạng của mình lúc đó, rồi nói tiếp, « Có phải hai bác đã cứu cháu ? »

-« Phải, tôi đã cho cậu nuốt một viên thuốc của NGÀI… »

-« Thôi cậu về được rồi cho kịp giờ vào ca trực. » Ông cụ mỉm cười nói.

-« Dạ, nhưng xin cho cháu biết quý danh và chỗ ở để cháu đến tạ ơn. »

-« Cậu cứ đến Xóm Bốn, hỏi nhà ông Du Xa làm thợ mộc sẽ gặp chúng tôi. » Ông cụ nói.

Lúc đó bà cụ đưa cho Trung xâu chuỗi Mân Côi và nói,

-« Cậu đeo cái này để phòng thân. » Sau đó hai ông bà đi thẳng ra ruộng nơi có những ngọn đèn hắt hiu của dân đi soi ếch. Phần Trung, anh nhặt lại đèn pin đi thẳng về đồn, tắm rửa thay quân phục và đi vào phiên trực.

Đi xa chữa bệnh

Ngồi trực trong hầm gần một chòi canh, Trung tưởng mình vừa trải qua cơn ác mộng. Trong cơn ác mộng ấy, Lộc đã dùng kế mỹ nhân để đầu độc anh, nếu anh đã chết ngoài ruộng, cô ấy sẽ vô can. Vâng chỉ còn là ác mộng vì anh không hề hấn gì sau khi gặp hai ông bà cụ đi soi ếch. Cơn đau trước đó cũng chỉ là cơn đau trong mộng, và ông bà cụ kia cũng là những hình ảnh trong mộng mà thôi. Thế nhưng, đó không phải là giấc mộng vì trong túi áo anh cái khăn trắng dính máu và xâu chuỗi còn đó. Anh lấy ra xem thấy hai vệt máu đỏ bầm đã khô lại, còn xâu chuỗi làm bằng gỗ cây giá-tị với những hạt tròn nâu bóng. Hai vật này làm chứng rằng việc anh bị Lộc ám sát là một điều có thật : một âm mưu độc ác. Nên chăng sáng mai anh sẽ tố giác âm mưu này và Đại úy Trần Thường sẽ ký lệnh bắt giam Lộc đưa ra tòa quân sự của quân khu. Đêm yên ắng trôi qua, một sự yên tĩnh đáng sợ ở chốn tuyến đầu. Sau khi uống ly trà nóng từ cái bình tích nằm trong cái vỏ ủ nóng làm bằng vỏ phơi khô của một trái dừa, Trung lại tiếp tục dòng duy nghĩ của anh. Rõ ràng, cái khăn và xâu chuỗi không thể là vật chứng vì anh vẫn đang khỏe mạnh bình thường không hề bị thương tật nào dù nhỏ nhất. Sau cùng lời tố giác chỉ đúng và được chấp nhận, khi chính Lộc phải tự mình nhận tội và phải có sự xác nhận của ông bà cụ đi soi ếch. Nhưng nói cho cùng liệu anh có muốn Lộc, người anh thầm yêu lâm vào cảnh tù tội, bỏ lại mẹ già con dại hay không. Dù sao ngày mai anh cũng phải tìm gặp lại ông bà đi soi ếch đã cứu anh thoát chết.

Dĩ nhiên Xuân Lộc không hành động một mình, sau lưng cô là cả một thế lực đen tối lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện, cả khi phương tiện này vô cùng độc ác và bất nhân. Nghĩ đến điều này Trung cảm thấy rùng mình sợ hãi : lẽ ra anh đã chết nếu không được cứu kịp thời. Rồi còn mối tình chân thật mà anh vừa thổ lộ với Xuân Lộc trong bữa ăn mà anh tưởng là lãng mạn bỗng chốc đã trở thành mây khói. Bất chợt anh nhớ lại một câu trong Truyện Kiều mà anh rất thuộc từ hồi học lớp đệ tam : Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh. Vâng một nỗi kinh hoàng xao xuyến của cuộc hiện sinh.

Trưa hôm sau anh tranh thủ giờ nghỉ trưa, lấy chiếc xe mobylette chạy qua Xóm Bốn, chạy dọc chạy ngang tìm nhà ông Du Xa làm thợ mộc. Liên gia trưởng Xóm Bốn nói không có ai làm thợ mộc tên Du Xa, Du Xe nào cả. Ông ta còn nói,

-« Tôi e rằng thiếu úy gặp ma, có khi chúng đi có cặp như trong các truyện Liêu Trai… »

Tìm mãi không được Trung chán nản bỏ về. Dọc đường anh mới nghĩ ra Du Xa là âm đọc trại từ tiếng Giu-se và như thế hai vị thánh ấy đã hiện ra kịp lúc để cứu mạng anh với sự bình phục nhanh chóng, lạ lùng khiến anh tưởng mình đã gặp ác mộng trong đêm. Vả lại trước đó anh đã nằm mộng thấy Đức Mẹ cứu anh trên chiếc thuyền hình trăng liềm trước sự đuổi chích của đàn ông và con rắn lục. Và anh phải kết luận anh được cứu bởi phép lạ của các thánh. Về đến nhà anh vội vàng giặt sạch cái khăn trắng, các chỗ dính máu chỉ còn để lại vết nâu mờ nhạt, rồi anh treo cả hai, cái khăn và xâu chuỗi, lên cao ở một cây đinh đóng vào tường. Sau cùng Mạnh Trung, một kẻ yếu đức tin, quỳ xuống cầu nguyện thật lâu trước hai thánh tích ấy với tất cả sự ngưỡng mộ của một người sùng kính đến lúc kẻng trong đồn gõ báo hiệu phiên làm việc ban chiều.

Hai ngày sau, trước khi anh thượng sĩ Lâm ghé nhà cô Lộc lấy ít hàng hóa, Trung gặp anh và nói,

-« Nếu cô Lộc có hỏi tôi, thượng sĩ Lâm nói là tôi đau nặng đã phải đi xa, ra tận Miền Trung trị bệnh. »

-« Bệnh nặng ? » anh thượng sĩ Lâm trố mắt ngạc nhiên.

-« Cứ nói thế đi, tôi và cô ấy đã cãi nhau và tôi không muốn nhìn mặt cô ấy khi chưa nguôi giận… » Trung viện một lý do dễ chấp nhận.

-« Dạ, em hiểu. »

Đúng như Trung dự đoán, với đôi mắt đỏ vì hình như đã khóc nhiều, Lộc hỏi sao Trung không đến, anh thượng sĩ Lâm đáp lại câu mà Trung đã dặn trước, rồi còn nói thêm,

-« Thiếu úy còn nói : tội nghiệp Lộc quá, cô ấy thật đáng thương … »

Lộc muốn khóc ngay sau câu nói đó, nhưng cô kềm nén đợi đến khi anh thượng sĩ Lâm về cô quay vào ngồi trên giường, khóc nức nở, nói với chính mình,

-« Phải em rất đáng thương vì đã nghe theo chồng đầu phục một lý tưởng chính trị sai lầm. Bản thân anh ta thì hung bạo cả trong những lúc làm việc vợ chồng. Phẩm giá em bị coi thường, bị chà đạp thậm chí anh ta còn không biết liệu phụ nữ có phẩm giá không… Anh ta còn dùng em như công cụ làm điều ác… Đúng, em thật tội nghiệp, anh Trung ơi… ».

Chiều hôm đó cô đi chùa cúng Phật và thành khẩn bày tỏ lòng sám hối. Từ hôm đó cùng với lòng sám hối, một nỗi nhớ nhung hướng về Trung tràn ngập lòng cô. Vâng cô đã yêu Trung từ cái đêm cô muốn giết chết anh theo lệnh của phiến cộng. Có thể nói rằng giờ đây tâm trạng Lộc giống với cô Thúy Kiều : « Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh/giật mình mình lại thương mình xót xa.

Cũng chiều hôm đó, Đại úy Trần Thường gọi Trung đến và nói,

-« Cậu chuẩn bị về Sàigòn học khóa ‘điều tra hình sự’ do ngành tổ chức. Tôi sẽ làm công văn cho cậu mai đi. »

-« Thời gian khóa học là bao lâu ? »

-« Thời gian học là bốn tháng, cậu sẽ học và ngủ nghỉ tại trại Lê Văn Duyệt… Tôi và cậu sẽ gặp lại nhau trước Tết. Rán học cho tốt… »

-« Vâng em sẽ cố ; cám ơn Đại úy. » Sau mấy phút im lặng đồng cảm, Trung nói tiếp, « Trước khi đi, em muốn nói với Đại úy phải cảnh giác giữ đồn, vì em thấy có những dấu hiệu địch sẽ tổng lực tấn công chúng ta. Đại úy cho gia cố hầm hào nhất là hầm thoát hiểm. Ngoài ra phải cho người theo dõi những thành phần khả nghi trà trộn trong dân… »

-« Tôi cũng có trực giác giống cậu, và sẽ cho anh em chuẩn bị sẵn sàng như cậu nói. Tôi cũng đã liên kết với đội pháo binh của sư đoàn, để khi cần họ sẽ yểm trợ chúng ta. »

-« Đại úy thật chu đáo … » Trung đáp.

-« Dĩ nhiên, gặp kẻ thù ác hiểm, mình không thể khinh suất ; với cậu tôi luôn rất tự hào, nhất là cậu có tài tiên liệu. » Trần Thường cười nói.

-« Cám ơn đại úy. » Nói xong Trung lui gót về phòng chuẩn bị hành trang để sáng sớm mai lên đường đi học nghiệp vụ.

*&*

Sau khi Trung rời khỏi đồn về Sài-gòn học nghiệp vụ được vài ngày, cô du kích mà Ba Vịnh đã ‘khai tâm’ kế mỹ nhân báo cáo vào khu cho Ba Vịnh biết cuộc mưu sát tên Thiếu úy Trung đã thắng lợi vẻ vang. Qua bản báo cáo chi tiết mà Ba Vịnh đưa cho Thành Muông xem, người ta không thể phủ nhận công đầu của Xuân Lộc. Tuy nhiên có vài điều mà Thành Muông rất bất mãn, rất khó chịu dù không dám nói ra với Ba Vịnh. Trước đó, Muông đã dặn Lộc phải dùng nhan sắc cô như mồi nhử để giết Trung ngay bằng dao hoặc bằng dải lụa, cắt rời dương vật hắn, rồi lôi xác hắn ra bìa rừng. Đàng này trong báo cáo, Lộc đã dâng hiến thân xác cho kẻ thù và còn tận hưởng lạc thú, sau cùng mới dùng rượu độc, để hắn chết lành lặn ngoài ruộng, không mất dù chỉ một giọt máu. Sau đó cái xác của Trung được ông bà già đi soi ếch đưa về đồn ; ở đây tên đại úy đồn trưởng đã âm thầm khâm liệm rồi kêu người nhà lên đưa xác về nhà mai táng. Cuối bản báo cáo, cô du kích còn ghi đã đi tìm tung tích cặp vợ chồng già đi soi ếch để xử lý và dạy cho họ biết « thế nào là lễ độ » với ‘kháng chiến’, nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm gặp họ. Có thể đó là hai người của tình báo CIA.

Khi Ba Vịnh đi rồi, Thành Muông vò đầu bứt tai vì Lộc đã không làm như lời anh dặn… lại còn tận hưởng, sướng quá mà… tận hưởng đi. Hắn gần như hóa điên chạy thẳng đến bụi chuối rừng gần đó đấm túi bụi vào một thân cây to nhất, luôn miệng chửi,

-« Lộc ơi, mày là con đĩ thập thành, mày là một đứa dâm bôn như Võ Tắc Thiên… Một con đại dâm phụ ; mày đã ‘tận hưởng’ phải không ? Rồi mày sẽ biết tay tao. »

Sau đó hắn đi tìm nhiều cây dâu lào, bó lại thành bó rồi nói một mình, « Lộc ơi, lần sau tao sẽ đánh mày, hành hạ mày, trừ tà cho mày không phải với một cây mà với cả bó để may ra mày bỏ cái thói dâm đãng của mày… ».

Cũng ngay thời điểm đó, Lộc đang lên chùa sám hối và vô tình cô đi ngang qua một bức tranh tường ở hậu điện vẽ cảnh âm ty trong đó một con quỷ dữ dùng một cái chỉa ba xiên vào một nữ nhân trần truồng để bỏ vào vạc dầu sôi. Lúc sinh thời, cô ta nổi tiếng là dâm bôn, tà vạy.

Tối hôm đó, Xuân Lộc nằm mộng thấy mình đang tắm trên một khúc sông vắng vẻ, nên chỉ giữ lại cái quần vải đen ướt sủng và dính sát vào phần dưới thân cô. Cô đang kỳ cọ phần thân trên xinh đẹp như tượng bán thân của một nữ thần, bỗng thấy Mạnh Trung xuất hiện, miệng mũi ứa máu, tay ôm bụng kêu cô lại. Quá sợ hãi, cô lên bờ, mặc lại áo rồi bỏ chạy. Nhưng không hiểu sao, cô không chạy nhanh được như thể cái quần ướt nước đã trở thành lớp keo làm vướng chân cô. Sau cùng Trung nắm được tay cô giận dữ hỏi,

-« Tại sao cô ác vậy… tại sao cô giết một người đã nói yêu cô ? »

Lúc đó biết không thể chạy thoát, Xuân Lộc quỳ xuống xin Mạnh Trung tha tội, cô hứa sẽ đi chùa cầu xin cho anh siêu thoát. Còn cô kiếp sau sẽ làm nô tỳ cho anh để chuộc tội v.v… Những lời đó làm Mạnh Trung cười to, anh nói,

-« Tôi đã tha thứ cho em rồi và không đòi hỏi sự đền bù nào hết. Và sự tha thứ này đã khiến tôi được ơn trên chữa lành. »

Và thật lạ lùng, khi Trung nói xong, những vết máu trên mặt anh biến mất, đồng thời anh buông cánh tay nãy giờ đã ôm bụng. Người anh sáng láng, sạch sẽ, chỉnh chu như một người sẵn sàng đi dự tiệc lớn. Rồi anh biến mất, sau đó Xuân Lộc cũng tỉnh mộng.

Hạnh phúc mong manh, giả ảo

Khi khóa học nghiệp vụ đã bắt đầu, việc ăn ở trong trại Lê Văn Duyệt đã ổn định, Trung tranh thủ mỗi cuối tuần để về thăm nhà. Anh dự định sẽ nhân những lúc gần nhau này để làm hòa với Tiên Phụng, vợ anh và hâm nóng tình yêu, đem tình yêu dường như phai nhạt về lại thủa ban đầu thắm thiết. Anh cũng sẽ dành thời gian cho thằng Phương, bù đắp tình phụ tử cho con anh phải luôn thiếu cha bên cạnh. Anh không quên mua cho Phương chiếc xe đồ chơi chạy bằng dây cót. Số tiền trúng số, anh chuyển về gởi tại ngân hàng gần nhà và cho cô em gái không lập gia đình cùng đứng tên để cô này dễ dàng rút ra lo việc thuốc men cho cha anh, đã già yếu còn bị bệnh phổi.

Nói chung mọi việc đều suôn sẻ, chiều hôm qua thứ bảy sau khi cùng dự thánh lễ, Trung đưa Tiên Phụng và thằng Phương đi ăn cơm tiệm, rồi đi dạo công viên một lượt cùng ăn chè trước khi về nhà. Trong đêm anh và Phụng làm tình cuồng nhiệt, Phụng rất hạnh phúc ngữa đầu, nhắm mắt đón nhận những dòng chảy lạc thú anh trao. Sau đó họ nằm bên nhau tâm sự. Phụng nói với anh,

-« Lúc này em hay gặp ác mộng anh ạ. Có anh bên cạnh thì ác mộng không còn chỉ có hạnh phúc tràn trề mà thôi. »

-« Có thể em lo nghĩ điều gì khiến đêm thấy ác mộng… » Trung nói, một bàn tay vẫn còn đặt ở đùi cô trên lớp da mịn màng trắng muốt.

-« Em không biết nữa… » Phụng đáp.

-« Vậy em thử kể cho anh nghe em thấy gì trong một ác mộng. »

Phụng im lặng mấy phút như để nhớ lại một ác mộng gần đây nhất rồi nói,

-« Em thấy một quái vật đầu cá sấu, mình tê giác, đuôi rồng cuộn tròn trên lưng đuổi theo sau em, tiếng chân của nó làm rung mặt đất. Em chạy thục mạng trước nó và bắt đầu kiệt sức. Đến bờ cao của một vực sâu, bên dưới nước xanh biếc, cách bờ vực khoảng mười mét, em nhảy xuống đại. Khi ngoi đầu lên em không thấy quái vật đâu, chỉ thấy một cô gái đẹp mới lớn trong giáo xứ như thể cô ta do quái vật biến hình. Cách đó mười mét bên trái cha xứ Long Mạch tay cầm một vật óng ánh như một chiếc nhẫn kim cương, tiến về phía cô gái. Lúc đó em choàng tỉnh dậy. »

Sau đó cả hai im lặng ; bàn tay của Trung đã tiến dần lên một gò nhũ của Phụng. Trung cố tìm ra ý nghĩa của cơn ác mộng nhưng không nghĩ ra mặc dù anh vừa đọc qua cuốn sách giải mộng mua tại chợ Long Hoa trong một lần về tỉnh công tác. Sau cùng anh nói,

-« Thôi em đừng nghĩ ngợi nữa, chuyện mộng mị giống như râu ông nọ cắm cằm bà kia chẳng có ý nghĩa gì cả. Hãy quên những ác mộng ấy đi và vui sống. »

-« Vâng em sẽ cố quên những gì thấy trong ác mộng, » rồi Phụng e ấp nói tiếp, « Bây giờ, anh giúp em quên chúng được không ? »

Sau gợi ý quá rõ ràng đó, cô chủ động chồm lên người anh, gắn vào anh khít khao rồi ngồi chễm chệ trên bụng anh, uốn éo như rắn múa vừa rên rỉ vừa ngửa đầu ra sau, đuôi tóc chạm vào đầu gối anh. Họ lại làm tình. Lúc đó trời gần sáng. Một giờ sau, cả hai có mặt tại nhà thờ để cùng dự thánh lễ ngày chủ nhật do một cha khách làm chủ tế. Một ngày hạnh phúc bên nhau.

*&*

Lúc chín giờ sáng, cha xứ Long Mạch đi ngang qua nhà họ thấy Trung, ông hỏi,

-« Anh Trung mới về đấy à ? »

-« Vâng, thưa cha con mới về hôm qua, cha vẫn khỏe chứ ? »

-« Cám ơn anh, tôi vẫn khỏe. » Long Mạch đáp.

Lâu rồi, Trung mới gặp lại linh mục Long Mạch, lúc này cha có vẻ gầy đi nhưng nước da ngăm đen làm ông thêm cường tráng. Gò má ông có vẻ cao hơn dưới cái trán rộng và cái đầu bằng, trên cái cằm nhọn. Đôi mắt ông sáng núp trong ổ mắt sâu dưới cặp chân mày rậm như mắt cú.

Lúc đó Tiên Phụng đon đả chạy ra,

-« Cha vào nhà chơi uống trà xanh… »

-« Không, tôi chỉ muốn hỏi cô có biết ca đoàn Ma-đa-lê-na sẽ tổ chức đi dã ngoại ở Vũng Tàu cuối tháng này không ? »

-« Dạ con biết… »

-« Vậy con có định đi không ? »

-« Dạ có, họ mời con hôm qua ? »

Lúc đó, Long Mạch hất cằm về phía Trung đang đứng thừa thãi, ông nói,

-« Con nhớ bảo anh Trung đi với để có người bơi thi với con đấy. »

-« Vâng, để con nói … anh ấy bận công tác liên tục… »

-« Thôi cha về. » Nói xong Long Mạch quay lưng, đủng đỉnh bỏ đi ; đã không chào Trung một tiếng, ông còn lẩm bẩm, « gặp thằng ngụy quân có vợ đẹp này chán thật. » Sở dĩ ông nói vậy vì trong gia tộc ông có hai ông chú bỏ đạo theo Việt Minh, dĩ nhiên họ không di cư vào Nam, và làm tới chức thứ trưởng ở Hà Nội. Riêng ông cố Long Mạch làm quan trong triều Nguyễn đến chức thượng thư. Nói chung gia tộc ông có cách-làm-quan : làm quan cho triều Nguyễn xưa kia, làm quan cho chính quyền Hà Nội hiện nay. Phần Long Mạch, chẳng phải ông cũng đang làm quan cho Vaticăn mà kinh đô là Rôma hay sao ; nói cho cùng, Long Mạch cũng là người bỏ đạo như các chú ông, nhưng theo cách của riêng mình. Cách giả hình. Có lần Trung nghe được một ông cụ từng học chữ nho để thi tú tài triều Nguyễn nhận xét về Long Mạch: Ông ấy thờ vua trần thế là chính, thờ Chúa Thiên Đàng là kế sách. Lần đó Trung quên không hỏi vua trần thế là vua nào vì anh không hiểu kịp cách nói khó hiểu của ông cụ.

Dĩ nhiên sau đó Tiên Phụng có mời Trung cùng đi dã ngoại với cô. Nhưng khi xem lại lịch công tác, chuyến đi Vũng Tàu lại trùng ngày bế mạc khóa học. Anh phải hẹn cô dịp khác có cả Phương cùng đi. Vả lại buổi chiều ngay sau khi bế giảng, anh sẽ nhận chứng chỉ và ngày hôm sau anh sẽ về đồn, theo sự hối thúc của Đại úy Trần Thường.

Lúc mười giờ rưỡi, Sân sai em trai mình là Lân đến đón Trung qua uống bia ăn tôm hùm mà vợ Sân mới mang về sau chuyến đi đưa tang một người trong thân tộc ở Phước Tĩnh, một làng chài công giáo. Thay đồ xong, Trung ra khỏi nhà ngồi trên yên sau chiếc xe gắn máy. Lân cho xe chạy qua các hẻm lát đá dăm của giáo xứ đi về nhà mình. Ở đây, Trung gặp lại Sô trong vườn tượng, cả hai cùng đi một vòng ngắm các bức tượng Chúa và tượng Phật mà bạn họ đã làm trong thời gian qua. Trung và Sô đều khen Sân có tài điêu khắc. Đặc biệt Trung dừng lại khá lâu trước tượng Đức Kitô Vua hai cánh tay dang thẳng như đang ban phước lành cho toàn nhân loại. Đôi mắt hiền từ, cái nhìn khiêm hạ, bộ râu gợn sóng thể hiện cái đẹp và sự thiện hảo của Đấng cứu đời. Vâng, mặc dù đời không đáng cứu và cũng không muốn được cứu, Ngài cũng không từ nan mọi đau khổ để đến với họ. Nhưng khi nhìn xuống đôi chân, Trung ngạc nhiên thấy một ống chân trong chiếc áo chùng bị gãy lìa. Chỗ gãy mất đi một vài mảnh đá hoa cương, được đắp lại bằng xi măng nham nhở. Xem ra Sân không có ý định sửa chữa hẳn hòi. Một cảm xúc tiếc xót dâng lên trong lòng Trung.

Trong bữa ăn, Trung nâng ly mời mọi người rồi nói với Sân,

-« Sao cậu không cho sửa chữa tượng Đức Kitô ở chỗ ống chân gãy để giao cho khách ? »

-« Mình không muốn sửa, vì bên mua biết mình làm gãy đã ra điều kiện, chỉ sẽ nhận tượng với nửa tiền công trong giao kèo… »

-« Khách hàng nào mà xấc láo thế ! » Sô nói chen vào.

-« Một ông linh mục chính xứ đấy… » Sân đáp.

-« Tớ nghĩ riêng bán thân của tượng với khuôn mặt Chúa mà cậu tạc rất sinh động có hồn cũng đáng giá hai tượng lành lặn bình thường. » Trung nói tiếp.

-« Dù sao cậu cũng phải sửa lại cho chỉnh chu chứ ! » Sô lại góp ý với Sân.

-« Ừ, cậu cứ sửa đi … rồi tớ sẽ mua lại với giá gấp rưỡi để tặng cho một giáo xứ nghèo. » Trung nghiêm sắc mặt, nói với Sân.

Sân trợn mắt nhìn Trung kinh ngạc, một lúc sau Sân nói,

-« Tớ nói rồi tớ không muốn sửa… tớ có lý do riêng… mình nói qua chuyện khác đi. »

Sau đó ba người bạn nói qua chuyện khác và món tôm càng rang muối ngon như mỹ vị trong cung đình làm họ quên ngay tượng Chúa gãy chân. Nhưng cái lý do riêng mà Sân nói đến là gì ? Số là sau khi hoàn thành bức tượng mà Sân rất ưng ý, vì anh tạc khuôn mặt Chúa trong một lúc xuất thần hiếm có, Sân lấy xe gắn máy chạy thẳng xuống Thủ Đức để báo với cha xứ đặt hàng cho người xuống nhận. Vừa ra khỏi nhà xứ để về nhà, anh thấy chiếc xe hơi của ông Long Mạch đang chạy trước anh quẹo vào làng đại học, Sân kéo sụp vành nón xuống đuổi theo và sau mười phút chạy lòng vòng, chiếc xe hơi dừng lại trước một khách sạn. Sân từ xa quan sát hai người từ xe bước xuống : Đó chính là ông Long Mạch và Tiên Phụng, cả hai đều đeo kính đen to bản ; Tiên Phụng mặc áo hoa đội nón rộng vành, Long Mạch đội nón kết thể thao. Sau khi làm thủ tục ở quầy tiếp tân, Sân thấy hai người khoát tay nhau như đôi vợ chồng đi lên phòng. Sân đứng gần cổng khách sạn mở rộng thêm mười lăm phút phân vân suy tính rồi về. Việc đầu tiên là anh hỏi chị bếp mới vào làm và anh thư ký để xin được gặp cha xứ. Cả hai đều nói cha xứ vắng mặt. Anh dúi vào tay chị bếp mới được thuê ít tiền lẻ rồi quay xe chạy đến nhà Trung, Tiên Phụng cũng không có nhà vì cửa đã khóa trái. Lúc anh đi ngang nhà bà mẹ của Phụng, anh thấy thằng Phương đang chơi đánh cù với vài đứa trẻ, trong nhà có tiếng cô Yến em gái Phụng quát tháo đứa cháu vọng ra. Sân biết ngay Phụng đã gởi con qua nhà bà ngoại nó để hẹn hò lén lút với Long Mạch. Anh nổi cơn điên, tiếc rằng đã mai mối cho Trung, bạn anh, một thiếu nữ đa dâm và phản trắc. Cầm cái búa trong tay anh đi vào vườn tượng đập vào chân tượng Chúa, mặt anh dí sát vào bộ râu của tượng, miệng làu bàu,

-« Ông để vậy mà coi được sao ? Ông dung túng cho đôi gian phu dâm phụ như thế… Tôi không phục ông… Tôi không phục… »

Quả thật, Sân đã nói « lý do riêng » để ám chỉ sự cố ấy khiến Sân bất bình nhưng khó nói ra với một ai khác, lại càng khó nói với Trung. Cả những điều sau đó anh đã nghe chị bếp mới kể lại cảnh làm tình của Long Mạch và Tiên Phụng mỗi khi anh cho chị ta ít tiền. Những lần đó Sân phải bảo cô ta không được nói lại với ai khác. Họ phải tuyệt đối giữ im lặng. Phải chăng sự im lặng của lòng bác ái ?

Biển to sóng cả

Việc Trung không đi cùng Phụng trong chuyến đi Vũng Tàu sau cùng cũng chỉ là một việc cỏn con đối với cô. Trong những chuyến đi chơi xa khác do các hội đoàn tổ chức quanh năm lúc Trung xa nhà, cô vẫn tham gia một mình. Và nếu có ông Long Mạch tham gia, chắc chắn trong vài đêm ở lại khách sạn, thời gian nửa đêm về sáng là thời gian cô và Long Mạch chung phòng. Vâng, thời gian và không gian ấy được hai người tình dành riêng cho họ : Phụng đã luôn chủ động đến phòng ông, đẩy cánh cửa khép hờ, bước vào phòng. Sau khi đã cẩn thận khóa trái cánh cửa, họ quần thảo thoát y trong cuộc truy hoan cuồng nhiệt.

Thế nhưng sự thể hôm nay đã khác. Khi theo đuổi các mối tình hờ, kẻ săn tình Long Mạch đã thay con ngựa đỏ nhàu nát là Phụng bằng con ngựa trắng mới lớn và háu đá là Vàng Y, thường hát sô-lô trong ca đoàn. Tối hôm đầu tiên sau khi dùng bữa cơm đặt tại khách sạn, những người trong đoàn du lịch đi dạo dọc bờ biển hoặc ngồi trên bờ kè nghe sóng vỗ nhịp nhàng, hoặc nhìn sao trời và ánh đèn pha quét qua trên vịnh. Khoảng chín giờ, theo lệnh của trưởng đoàn, mọi người vào phòng ngủ sớm để sáng mai đi tham quan núi Dinh.

Mười một giờ khuya, Phụng ra khỏi phòng mình và rón rén đến phòng Long Mạch, nhẹ nhàng mở cánh cửa khép hờ. Trước mắt cô dưới ánh đèn ngủ, không chỉ có một mình Long Mạch chờ giờ hợp hoan với cô. Cô thấy tấm lưng đẹp trần trụi của Long Mạch nhịp nhàng lên xuống trên cô bé Vàng Y lõa thể với bộ ngực ngồn ngộn và đôi chân dài co lại trên bờ mông chìm sâu trong nệm. Trong lúc Long Mạch ngạo nghễ và hoàng tráng công phá khu tam giác của Vàng Y, cô này ngây ngất, rên rỉ trong khoái cảm, « Ôi vua ơi, ôi cha ơi, ôi anh ơi… »

Phụng lùi lại, nghẹn ngào cắm đầu chạy vội về phòng, úp mặt vào gối khóc nức nở. Như vậy Long Mạch chưa từng yêu cô và nếu có, thì đó chỉ là tình yêu hạ cấp chỉ bởi xác thịt mà thôi. Than ôi, một người luôn giảng dạy về Chúa là Tinh Thần, nhưng trong tình yêu người ấy chỉ toàn là xác thịt. Tiếc là cô biết điều này quá muộn, cũng có thể, cô luôn bằng lòng với một tình yêu như thế, còn tự hào vì chức thánh của ông ta.

Nhưng Phụng không mất hy vọng mà trong đạo gọi là ‘trông-cậy’. Tối hôm sau, cô lại đến phòng Long Mạch. Lần này cô định sẽ lộ diện, sẽ nhẹ nhàng tống cổ con nhãi ranh Vàng Y mới lớn đã đĩ thỏa, để không gây ra sự huyên náo giữa đêm khuya, rồi giành lại vị trí của mình theo tiếng xác thịt cô khuyên bảo, nhưng khi đến nơi, cửa đã khóa trái. Vậy là họ đã biết cô đã đến và đã chứng kiến. Có lẽ tối hôm qua, Vàng Y đã quá vội vàng trước lạc thú như một yến tiệc đã dọn sẵn nên đã quên vặn chốt cửa bên trong. Phụng quay ra và cô đá phải một vật mềm dưới chân. Cô cuối xuống nhìn kỹ và nhận ra đôi dép kiểu bằng da hai màu của Vàng Y. Lại một lần nữa, họ cố tình giày xéo trái tim cô cho tan nát. Phụng lại chạy về phòng, rút đầu vào gối khóc như mưa. Bây giờ thì cô không còn gì để hy vọng, cả niềm hy vọng của tôn giáo. Cô hoàn toàn tuyệt vọng. Ý nghĩ cái chết hiện ra trong cô : cô ảo giác thấy ở góc phòng một bộ xương cách trí trắng hếu mặc áo choàng đen, tay cầm lưỡi hái. Trước đó cô tưởng đã trông thấy một thiên sứ trong bộ áo trắng tinh đến tìm cô an ủi.

Tối ngày thứ ba, lúc chín giờ mọi người trong đoàn đi ngủ sớm để ngày mai về lại Sàigòn. Khoảng một giờ sau, Phụng lặng lẽ uống hết thuốc ngủ trong chai cô mang theo, ra khỏi khách sạn một quãng ngắn rồi đi thẳng xuống bờ biển vắng người, chỉ có tiếng sóng vỗ đều đặn, cô đi mãi ngước đầu nhìn sao trời, hai tay cô giơ cao như muốn ôm lấy một mớ sao trời, mặc kệ cho nước đã ngập tới ngực, rồi tới cổ. Sau cùng nước biển ngập đầu cô. Mái tóc cô nổi lên dập dềnh trên mặt nước cùng một màu đen của nước và của đêm đen. Mọi sự đã kết thúc ; bóng đêm lớn dần : im lặng tuyệt đối và hư vô tuyệt đối.

*&*

Sau lễ tổng kết khóa nghiệp vụ, Trung về nhà ngủ với thằng Phương đêm cuối cùng trước khi trở về đơn vị cảnh sát dã chiến, hai cha con nằm bên nhau cùng chia sẻ giấc mơ hòa bình trên mảnh đất Việt Nam này. Anh nói khi đất nước hòa bình, anh sẽ luôn bên cạnh con mình, chỉ vẽ cho con các bài học khó hoặc chưa tiếp thu kịp trong nhà trường. Mỗi cuối tuần anh và Phụng sẽ dẫn con đi dã ngoại và ăn ngoài rồi về. Thỉnh thoảng gia đình anh sẽ cùng nhau đi du lịch Vũng Tàu hay Đà Lạt hoặc về Miền Tây quê anh chèo thuyền giữa một vùng mênh mông sông nước. Đến đây thằng Phương hỏi,

-« Mình lấy tiền đâu để đi chỗ này chỗ nọ vậy ba ? »

-« Ba sẽ đi làm trong hãng tư hay xí nghiệp con khỏi phải lo… Ba của con đâu có lười biếng phải không ? ».

-«Dạ phải, ba siêng năng còn tài giỏi nữa… » thằng Phương cười nói.

-« Chắc vậy… ba sẽ tài giỏi vì con. »

Mấy phút sau, thằng Phương đã ngủ. Trung nghiêng người hôn lên trán con, rồi nằm thao thức một lúc, trong một thoáng anh nhớ về Xuân Lộc thở dài, « Tội nghiệp cô ấy đang sống trong móng vuốt của loài dã thú… » Một lúc sau, Trung cũng đi vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, Trung gởi con qua nhà bà ngoại nó rồi ra ngã Tư An Sương đón xe đi Tây Ninh sau bốn tháng xa đồn. Đại úy Trần Thường cho anh nghỉ thêm nửa buổi sáng hôm sau trước khi giao anh công tác vây bắt mấy tay việt cộng gộc về làng bên hoạt động.

Trong ngày thứ hai nằm phục kích gần mục tiêu, chờ giờ hành động, có tin từ đồn báo thiếu úy Trung về gấp, sau khi chọn người khác thay anh chỉ huy. Anh vội vàng quay về đồn và nhận được hung tin Tiên Phụng đã bị chết đuối ở bãi biển Vũng Tàu, xác cô đã được đưa về nhà chờ ngày chôn cất. Một nỗi đau đớn xé lòng làm anh nghẹn ngào không nói được nhưng nước mắt đã trào ra. Trần Thường cũng im lặng không nói gì ngoài hai tiếng « Rất tiếc » và « Tội nghiệp chị ấy ». Một lúc sau đợi Trung đã nguôi ngoai đôi chút, Trần Thường nói,

-« Cậu chuẩn bị về Sàigòn ngay đi để lo tang lễ cho cô ấy. Ngày mai đồn sẽ cử thượng sĩ Lâm thường vụ đại diện đồn về Sàigòn phúng điếu. »

-« Vâng, cám ơn Đại úy. »

Trung về đến nhà, người ta đã cho xác Phụng vào quan tài vì đã bắt đầu có mùi. Người nhà hỏi anh có muốn nhìn mặt vợ lần cuối không. Anh gật đầu, mấy người bên nhà đòn nạy nắp quan tài ra rồi đưa cho Trung cái khăn tay có mùi dầu gió để anh bịt miệng khi nhìn vào tử thi. Khuôn mặt xinh đẹp của Phụng giờ đây như một cái mặt nạ màu xanh lá hơi phù lên. Bất chợt khi một giọt lệ của anh rơi xuống, một dòng máu đỏ tươi trong miệng cô trào ra. Phải chăng đó là một lời tạ từ… cũng có thể là một lời xin lỗi. Nào ai biết được. Khi nắp hòm đóng lại và khằn xi, ông trưởng khu hành giáo đưa cho Trung xem giấy khám nghiệm của cảnh sát Vũng Tàu với kết luận là tai nạn. Thật ra khi làm biên bản, cảnh sát đã định ghi là tự tử vì trong nước bọt Phụng còn sót lại nửa viên thuốc ngủ mà cô uống để ngăn mọi phản xạ bơi lội của cô bởi cô bơi lội giỏi ; vả lại khi cô trầm mình cô mặc đồ bộ chứ không phải là áo tắm. Thế nhưng Long Mạch đã điều đình và ‘lót tay’ cho pháp y một khoản tiền nên người ta đã ghi tai nạn thay vì tự tử và như thế khép lại mọi cuộc điều tra, vì người tự tử có thể bị bức tử do khủng bố tinh thần hoặc do áp lực của trách nhiệm đạo đức… Là người trong nghề, Trung biết có sự mờ ám trong biên bản pháp y, nhưng vì trách nhiệm của giáo dân với cha xứ và với cộng đồng giáo xứ, anh coi đó là một tai nạn đến với vợ mình. Như thế vợ anh được làm lễ cầu hồn trong nhà thờ và được chôn trong nghĩa trang, những quyền lợi mà người tự tử bị tước bỏ như một hình phạt để làm gương cho người sống. Trung cũng coi đó là tai nạn của chính mình lần thứ hai. Lần thứ nhất anh bị ám sát nhưng may mà không chết.

*&*

Trong thánh lễ an tang tại nhà thờ, ông Long Mạch giảng một bài hình như đã được sao chép từ các sách bài giảng nhiều lần. Đại khái ông nói Tiên Phụng có đủ đức hạnh vì đã lấy Đức Maria và Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng làm gương mẫu để đi theo Chúa. Cô là một giáo dân gương mẫu, một bông hoa đẹp trong vườn hoa của Giáo Hội nên Chúa đã sớm cất về trời để trồng vào vườn ngự uyển của Người cùng với những con cái ngoan hiền của Chúa v.v…

Ngồi dự thánh lễ bên dãy ghế các ông, nghe bài giảng của Long Mạch, Sân nhăn mặt lắc đầu trước những lời trơn như mỡ của ông. Anh khe khẻ đọc hai câu thơ mà anh cảm tác: Làm hoa sớm nở tối tàn/ Còn hơn hoa ngọc thiên đàng đỏ xanh. Rồi Sân bực tức anh tự nhủ : « Tại sao Phụng mà lúc mới lớn mình đã từng yêu lại đi yêu một người tầm thường hèn hạ và lưu manh đến thế. Lại còn chết vì yêu hắn giống như Chúa chết vì yêu nhân loại, trong đó có rất nhiều người ‘chẳng ra gì’. » Sân nắm bàn tay mặt lại đấm mạnh xuống mặt ghế khoảng giữa chỗ anh và chỗ Sô, làm Sô hơi bị giật mình. Cái nhìn thông cảm Sô làm Sân nguôi giận. Sân nghĩ bụng phải xin lỗi đã nặng lời chửi rủa Phụng. Anh cũng quyết định sửa lại cái chân gãy của tượng Đức Kitô Vua đồng thời xin lỗi Người đã sinh ra cho anh được gặp một bông hoa đẹp là Tiên Phụng.

Thế nên khi hạ huyệt quan tài, Sân khóc tức tưởi hơn cả người trong tang gia, lúc đó Trung chỉ âm thầm nhỏ lệ. Khi mọi người ném hòn đất của mình vào huyệt, Sân ngồi thụp xuống đất úp mặt vào đầu gối khóc tiếp. Khi mọi người ra về, Trung phải kéo Sân đứng lên tránh chỗ cho mấy người nhà đòn làm phần việc cuối cùng của họ.

Về đến nhà Trung ôm thằng Phương khóc thổn thức trong căn nhà giờ đây đã vắng bóng một bà mẹ trẻ. Sự trống trải tràn ngập căn nhà và tràn ngập lòng anh. Anh ôm chặt di ảnh của Phụng vào lòng than thở, « Phụng ơi, hãy tha lỗi cho anh : anh đã không thường xuyên ở bên em an ủi, chăm sóc cho em, không mang lại cho em hạnh phúc mà em mong đợi. » Thằng Phương đứng kế bên anh mếu máo, lấy tay vuốt đầu tóc rối bời của cha nó. Bên ngoài một tiếng chim cu đang gáy buồn thảm vì mất chim bạn vào tay những kẻ săn chim cảnh. Mọi vật lặng thinh trong ánh nắng trưa vàng vọt.

Khi tiếng chuông nhà thờ đổ báo hiệu Kinh Truyền Tin, hai cha con Trung lếch thếch qua nhà bà ngoại Phương để ăn cơm. Trong bữa ăn, Trung xin được gởi con anh cho bà ngoại thay vì đưa cháu về bên nội cho cô út không chồng chăm sóc vì như anh nói, « ở với bà ngoại và các dì, Phương sẽ tiếp tục học giáo lý và giữ đạo tốt hơn, trong khi em gái anh dù sống độc thân nhưng là người lương lại thường đi chùa lễ Phật mấy ngày liền. » Còn về căn nhà, anh cũng giao cho bà ngoại hoặc bán hoặc cho thuê để lấy tiền lo cho Phương vì anh là lính sống nay chết mai lại luôn xa nhà không thể trực tiếp lo cho con mình được. Trung ở lại nhà mẹ vợ ba ngày cho nguôi ngoai nỗi buồn mất Phụng, và tập cho thằng Phương quen bầu khung cảnh mới. Ngày thứ tư anh lên đường về lại đơn vị ở Tây Ninh.

Chiến trường tan nát

Về đến đồn, Trung biết đội phục kích đã loại ra khỏi vòng chiến hai kẻ thù, trong khi truy đuổi vài tên còn lại, thượng sĩ Lâm thường vụ thấy dọc đường có một căn nhà mục nát, anh cầm súng lên đạn bước vào. Trước mắt anh dưới ánh đèn dầu, trên chiếc giường tre một ông lão ôm bụng vừa rên đau vừa nói với con gái, một cô gái quê mùa bẩn thỉu, đầu tóc bù xù, « Bao tử ba đau quá, con lấy cho ba ly nước muối để cầm đau ». Thấy một cảnh sát dã chiến bước vào, ông ta càng rên to, thảm thiết. Thượng sĩ Lâm chỉ ông lão trên giường hỏi, « ai đây ? còn cô nữa. » Cô gái nói, « Dạ ba em đau bao tử mấy bữa nay… em là con gái ổng » . « Còn ai nữa ? ». « Dạ, còn em trai em đi soi ếch ngoài ruộng. » « Lo cho ổng đi. » Nói xong thượng sĩ Lâm ra khỏi nhà tiếp tục việc truy kích. Năm phút sau, hai người trong nhà biến mất vào đêm trăng liềm. Đó chính là Ba Vịnh và nữ du kích, bị đuổi theo gắt quá, đã mượn căn nhà bỏ hoang làm ‘sân khấu’ để dựng tuồng ‘con gái chăm sóc cha đang bệnh’. Dĩ nhiên Ba Vịnh vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên. Hắn đã bị thương ở bụng, trong lúc ôm bụng rên đau, hắn ấn mạnh vào chỗ vết thương đang chảy máu. Đây là lần thứ hai hắn thoát khỏi bị bắt. Và nhờ việc dưỡng thương mà hắn không tham gia vào việc tấn công vào đồn sau đó cũng như trận đánh Tết Mậu Thân.

Việc tang gia trước đó và việc quân bận rộn gần đây đã làm Trung quên món tiền anh cho Bà Lại liên gia trưởng vay. Anh cũng quên anh có một con-nợ gián tiếp là Xuân Lộc dù đôi lúc anh bất chợt nhớ đến cô. Phần cô cũng thế, thỉnh thoảng cô nhớ đến anh như một người đi xa không trở lại, không loại trừ trường hợp đã chết.

*&*

Ngày X, giờ G, việt cộng tấn công đồn cảnh sát dã chiến để mở đường tiến về thị xã. Quân báo gọi về đồn cho Đại úy Trần Thường chưa đầy ba mươi phút, loạt đạn đầu tiên của địch đã bắn vào đồn từ cự ly 300 mét. Trong đồn mọi người đã vào vị trí. Ba cây trung liên trong đồn bắn vào quân địch ở hai cự ly cách nhau ba mươi mét. Xem ra địch đánh thí quân, hết lớp này tiến lên rồi đến lớp khác. Vả lại theo quân báo, quân số địch gấp bốn lần quân số trong đồn, trang bị vũ khí địch gấp tám lần trong đồn. Sau gần một giờ cầm cự, đại úy Trần Thường ra lệnh rút theo đường hầm ra sườn một gò đất sát bờ sông. Cùng lúc đó, ở lại với tốp người cuối cùng rút ra khỏi đồn qua đường hầm, ông gọi điện cho đơn vị pháo binh cách đó mười cây số, rằng mười phút sau hãy bắn pháo thẳng vào đồn, từ trên cao chụp xuống. Mười phút sau khi ra khỏi đường hầm lên tới bờ sông, ông cho bắn đạn lửa báo cho pháo binh biết, ông cũng hét lớn qua máy truyền tin, « Bắn đi, bắn đi, bắn thẳng vào đồn chúng tôi, địch bắt đầu tràn vào rồi đó… » Một phút sau tiếng đại pháo trong đồn liên tiếp nổ vang trời. Chỉ trong ba mươi phút, đồn đã thành bình địa với xác người ngổn ngang, máu me đỏ đất. Đại úy Trần Thường nhìn về đồn qua ống nhòm, ra lệnh cho một toán quân truy kích một vài tên còn sống sót bỏ chạy vào rừng.

Hai ngày sau khi gom xác chết địch chôn trong hố chôn tập thể, một dân vệ người địa phương nhận diện được Thành Muông, bí danh Tư Nhíu trong số các tử thi trên sáu mươi người. Trung không hiểu vì sao hắn còn giắt trong lưng một bó cây dâu lào. Hai ngày sau khi dọn dẹp tạm ổn bãi chiến trường, đơn vị của Trung rút về đóng trên một gò đất gần đơn vị pháo binh yểm trợ họ. Một vài lán trại sơ sài được dựng tạm lên. Trong lúc rào kín khu đất bằng dây kẽm gai và lưới B40, Trung nhận được tin báo trong đêm địch tấn công đồn, một du kích đã đến nhà bắt thằng Quít dẫn đi, nói với Xuân Lộc rằng ba nó cần gặp nó ít hôm sẽ đưa về nhưng đã hơn hai tuần vẫn Lộc vẫn chưa gặp lại con. Nhân dịp này, Trung cũng nhờ người đưa tin báo cho Lộc biết chồng cô đã tử vong. Trung cấm người đưa tin cho Lộc nhắc đến tên anh và cho Lộc biết anh đang ở đó.

Hai tháng sau ngày Đồn của Trung bị bình địa, nổ ra cuộc tổng tiến công của việt cộng vào các thành phố và tỉnh lị Miền Nam. Khoảng thời gian đó, Trung không ra khỏi đồn trừ vài lần công tác, buổi tối những ngày không có phiên trực anh lấy mấy cuốn sách mà anh tìm được dưới đống đổ nát của đồn cũ, trong đó có một cuốn viết về Phật giáo Hòa Hảo mà anh rất thích thú vì có thể nói đạo ấy là một thứ Phật giáo được đại chúng hóa để mọi người Phật tử có thể tu hành ngay tại nhà mình. Đời sống đạo hữu là thực hành tứ ân mà đạo hiếu đứng đầu. Nghi thức hành đạo gọn nhẹ, phát huy tính chất đơn giản, mộc mạc của người nông dân trong đó có nền dân chủ lâu đời của làng xã Việt Nam. Cuốn sách này làm anh thích thú đặc biệt với phương châm : học Phật, tu nhân (học Phật giáo để tu làm người thiện hảo).

Thật ra Trung mua cuốn sách này theo lời giới thiệu của đại úy Trần Thường, vì ông này là một người dân Nam bộ, cha mẹ ông trước đây từ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương sau theo Phật giáo Hòa Hảo. Bản thân đại úy là một đạo hữu đã vào chùa Phật tiểu thừa tu học một vài năm.

Một hôm một đạo hữu tên A-Xuân, bạn học của Trần Thường đến thăm ông, biết Trung là một Kitô hữu nên mời anh ra quán uống cà-phê trò chuyện, trước khi A-Xuân về lại làng Hòa Hảo. Lúc đầu A-Xuân hăng hái giới thiệu đạo mình rồi khuyên Trung tiếp tục nghiên cứu để khi có dịp A-Xuân giới thiệu Trung vào đạo. Trung ậm ờ cho qua chuyện, thấy vậy sau cùng A-Xuân nói,

-« Tôi phải công nhận tổ chức bên công giáo rất chặt chẽ, nhưng đó là sự chặt chẽ của độc tài và phong kiến. Nội chữ ‘hoàng’ là ‘vua’ trong từ ngữ ‘giáo hoàng’ cũng đủ nói lên cái tính chất quân chủ ấy. Và giáo quyền có uy quyền của hàng quan lại trong triều. Nên khi gặp lúc triều đại suy vi, thì hàng quan lại bị hủ hóa, trở thành những tham quan ô lại, bị tiền bạc và sắc dục sai khiến. »

Sau mấy phút suy nghĩ, Trung từ tốn đáp lại,

-« Công bằng mà nói, cái xu hướng trở thành độc tài, phong kiến không phải của riêng đạo nào mà của hết thảy các tôn giáo. Đúng hơn mọi tôn giáo đều có xu hướng trở thành một ý thức hệ, một bề tôi hoặc công cụ tinh thần cho chính trị của một minh quân thậm chí một ông vua độc tài, chẳng qua là điều kiện thuận lợi có khác nhau theo hoàn cảnh lịch sử của mỗi tôn giáo. Không phải thời nào cũng có một vua A-dục cho Phật giáo hoặc một vua Constantin cho Kitô giáo» Ngừng một lúc Trung nói tiếp, « Dù sao tôi cũng phải công nhận Phật giáo Hòa Hảo đã phát huy được tinh thần dân chủ trong các cộng đồng của họ mà các tôn giáo khác nên noi gương. Tôi rất chân thành mong ước Phật giáo Hòa Hảo sớm trở thành Việt-Phật bên cạnh nền Việt-Nho mà giáo sư Kim Định đề xuất. »

-« Thật chứ ? » A-Xuân trợn mắt, ngạc nhiên hỏi.

-« Tại sao lại không thật, khi tự bản chất tôi theo đạo-làm-người. » Trung mỉm cười nói lại.

-« Vậy thiếu úy là người phóng khoáng. » A-Xuân thán phục nói; rồi họ chia tay.

Phân ly và tái hợp

Ba tuần trước Tết Mậu Thân, Bà Lại đến gặp Xuân Lộc. Sau khi mời khách nước đun sôi để nguội, cô lo lắng hỏi.

-« Hôm nay dì đến gặp con có việc gì không ? »

-« Dĩ nhiên là có việc rồi. Tết sắp đến tôi không có rảnh để đi chơi. » Rồi bà Lại nói tiếp, « Hai tháng nay tao thấy mày không đến nhà tao trả tiền lãi vay và trả bớt một phần món nợ mà tao cho mày vay năm ngoái. Mày có vấn đề gì sao ? »

Xuân Lộc ôm mặt khóc và nói,

-« Từ ngày Tư Nhíu chết, con mua bán ế ẩm lắm. Vả lại từ khi đồn lính bị san bằng, con mất nhiều mối từ các anh lính và người nhà của họ. Khu này giờ đây đã xơ xác lắm rồi. »

-« Cũng tại bọn chồng mày muốn vậy mà, muốn giết hết người trong đồn không dè mình chết. Chiến tranh nghiệt ngã lắm Lộc ơi, hồi chồng tao bị mấy « ổng » giết chết, có ngày nào tao không đi buôn bán hoặc tìm chỗ ở đợ để lấy tiền nuôi con … » Ngừng một lúc lặng thinh để bày tỏ sự cảm thông, Bà Lại nói tiếp, « Bây giờ mày tính sao để tao còn nói với thiếu úy Trung… »

Nói chưa hết câu Bà Lại lấy tay bịt miệng mình. Bà đã định sau Tết mới nói cho Xuân Lộc biết Trung là chủ nợ chính, chứ không phải nói lúc này. Vả lại bà cũng mệt mỏi với cái việc bảo lãnh nợ cho Lộc. Đúng là chuyện bao đồng, ôm rơm chi cho nặng bụng. Nhưng lúc đó, Xuân Lộc đã hỏi ngay,

-« Dì nói thiếu úy Trung nào? Có phải thiếu úy Trung trong đồn không ? »

-« Còn Trung nào nữa… Tao nói lộn vào chuyện tiền bạc… Nhưng tại sao mày lại hỏi ? »

-« Thiếu úy ấy chết rồi mà ! »

-« Ai nói mày thiếu úy Trung chết rồi ? »

-« Con nghe nhiều người nói vậy, con đâu có biết. Vả lại hơn bốn tháng nay con không thấy thiếu úy ra mua hàng»

-« Nhiều cái đầu ngu như mày thì có. Trung còn sống sờ sờ trong đơn vị, chỉ có vợ cậu Trung vừa mới chết đuối hai tháng nay … Thôi, bỏ chuyện thiếu úy đi, mày tính sao vụ tiền nợ đây. »

Trong hoàn cảnh này, Lộc chỉ còn biết khất nợ số tiền vay đã trả hơn một nửa. Cô hứa sẽ xoay xở để tiếp tục trả góp cho Bà Lại sau Tết.

Khi Bà Lại đi rồi, Lộc vào nhà, thấy mẹ cô nằm quay lưng vào vách ngủ, cô nhảy cẫng lên như trẻ con được mẹ đi chợ cho bánh quà ngon miệng. Cô chắp hai tay lại nói,

-« Cám ơn Trời Phật đã cho anh ấy gặp thầy, gặp thuốc và cho anh ấy hết bệnh. » Rồi cô ứa nước mắt ra và nói tiếp với các Đấng vô hình, « Cám ơn các ngài đã nghe lời con cầu xin cho anh ấy và như thế các ngài đã tha thứ tội ác của con … bởi con đã xúc phạm đến anh ấy. »

Buổi tối sau khi dỗ dành cho mẹ cô ngủ, cô ngồi vào bàn viết tiếp những trang nhật ký. Cô đã bắt đầu cuốn nhật ký này một tuần lễ trước khi đồn lính quốc gia bị tấn công và bị san bằng.

*&*

Một tháng sau cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của phe đỏ hoàn toàn thất bại, cũng là lúc Xuân Lộc đi đến quyết định sang quán cho người khác để trả nợ cho Bà Lại. Còn thiếu bao nhiêu cô sẽ trả dần sau đó như câu phương ngữ: Công nợ trả dần, cháo húp quanh. Một buổi chiều trời mưa lất phất, cô tìm gặp Bà Lại và nói,

-« Con đến để nói với dì con không còn khả năng trả nợ cho dì nữa nên con sẽ nhờ dì tìm người sang quán cho con, còn thiếu bao nhiêu con sẽ đi bán hàng rau quả ở chợ để trả dần. »

Bà Lại ngồi cau mày suy nghĩ một lát rồi thở dài nói,

-« Tao biết, chiến tranh mỗi lúc một ác liệt thế này còn làm ăn cái nỗi gì. Tết vừa rồi tao bán bún và bánh hỏi chỉ bằng nửa năm ngoái mà lương thợ phải trả đủ. Buồn đứt ruột… »

-« Dì còn điêu đứng, làm sao con tránh khỏi. »

-« Việc sang quán cho mày tao lo được, còn việc trả hết nợ thì mày phải gặp thiếu úy Trung để cùng giải quyết. »

-« Sao con phải gặp thiếu úy Trung, khi mà ảnh luôn tránh mặt con. Vả lại chuyện này mắc mớ gì đến ảnh… »

-« Mày ngốc quá Lộc ơi. Số tiền tao cho mày mượn là của thiếu úy Trung. Lúc đó mày là việt cộng nên Trung không ra mặt dù rất thương hoàn cảnh của mày. Bây giờ mày muốn trả hoặc muốn khất nợ thì phải gặp Trung chớ còn sao nữa… »

Đến lúc đó cô mới vỡ lẽ cô vay nợ của Trung nên trong lần gặp trước tết, Bà Lại có đề cập đến Trung. Lúc đó cô quá vui mừng khi biết Trung còn sống nên không nghĩ sâu xa hơn. Bây giờ Bà Lại nói tiếp,

-« Thế này, ngày mốt tao dẫn người qua nhà mày ước tính số hàng hóa còn lại bao nhiêu để người ta thanh toán cho mày, rồi tao viết cho thiếu úy Trung ít chữ, mày đem tiền ra tỉnh gặp nó bàn tiếp những việc còn lại. Tao chỉ nhắc mày đừng có thái độ thù hận với Trung, ít nhất nó cũng là ân nhân của mày. »

-« Dì khỏi lo, bây giờ con không còn là việt cộng cũng không theo họ. » Cô ngập ngừng định nói thêm, « Con đã thầm yêu ảnh rồi dì ạ », nhưng lại thôi.

Bây giờ muốn gặp Trung, cô phải ra thị xã vì trước tết, Trung được điều về bộ chỉ huy cảnh sát dã chiến tỉnh, không phải do đút lót mà nhờ cái bằng cấp nghiệp vụ, trong lúc anh không muốn rời xa đồng đội và khi giữa anh và đại úy Trần Thường đã nẩy sinh một tình bạn chân thành. Hôm Trung rời đi, Trần Thường có nhờ làm một bữa tiệc nhỏ tiễn đưa, trước khi chia tay, Thường ôm chặt Trung trong vòng tay hỏi, « Tụi mình sẽ còn gặp lại nhau nữa phải không Trung ? » Trung rưng rưng lệ nói, « Chắc chắn rồi, thế giới này bây giờ đã nhỏ rồi đại úy ơi. » Là bạn tâm giao, Trần Thường biết rõ những góc khuất của Trung, trừ việc Trung bị ám sát hụt. Vì thế Thường biết rõ mối tình u uẩn của Trung dành cho Xuân Lộc. Thượng sĩ Lâm đã từng kể lại cho Trần Thường nghe ánh mắt đắm đuối Trung nhìn Lộc, hoặc những lời nói bông đùa xa xôi của Trung chứa chan tình ý. Thế nên, trước khi Trung xách túi hành trang lên xe jeep từ Tịnh Biên đưa anh về thị xã, Trần Thường nói,

-« Tớ nói điều này để cậu suy nghĩ thêm nếu đúng ý cậu : cậu hãy quên quá khứ đau buồn của cậu để cưới cô Lộc, hoa khôi xã này làm vợ cậu đi. Cô ấy bây giờ đã hết mùi cộng sản rồi. Sau đó, cậu xin cho cô ấy đi dạy học lại. Tôi sẽ chứng hôn cho hai người… Như thế mà hay đấy. »

Trung ngẩn người trước câu nói của đại úy trưởng đồn, rất đúng tâm ý của anh. Sở dĩ anh vẫn còn e dè việc tiến tới với Lộc vì hình như còn chút gì sợ hãi vương vấn trong anh. Nhưng trước lời nói của Trần Thường như cởi tấm lòng ấy, Trung hân hoan đáp lại,

-« Cám ơn đại úy đã quan tâm. Hẳn tôi sẽ nhờ Bà Lại làm mai và nhờ đại úy chứng hôn ngay trong năm nay nếu mọi việc suôn sẻ.

*&*

Một sáng chủ nhật đẹp trời, sau khi đi dự thánh lễ trong thị xã, Trung đi dạo một vòng khu phố chính, trong bộ đồ dân sự. Anh luôn muốn sống niềm tin tôn giáo thật nghiêm chỉnh chí ít để đức tin còn mỏng dòn của anh được lớn lên, và sinh nhiều hoa trái. Hồi còn ở đồn, anh không đi lễ được vì nơi ấy không có giáo đường, cũng không có đồng đạo, nên nhũng ngày chủ nhật anh cầu nguyện nhiều sau khi đọc một đoạn Phúc Âm nào đó. Anh thường tâm nguyện dù sống giữa bùn nhơ, tâm hồn anh phải luôn trổ hoa sen thơm ngát… Sau khi ăn bánh cuốn tại một quán lề đường, anh ghé một hiệu sách mua vài cuốn mà anh được giới thiệu của tác giả Kim Định, rồi anh quay về trại.

Trước cổng vào, anh lính gác cổng báo,

– « Thiếu úy có người nhà đến thăm. »

-« Ai vậy ? »

-« Hình như là em gái thiếu úy. »

-« Cám ơn anh, » nói xong Trung đi thẳng đến phòng khách, trong lòng hơi sợ không biết cha anh ở nhà sức khỏe ra sao mà cô em gái phải đến đơn vị tìm anh.

Nhưng khi vào phòng khách của đơn vị, anh nhận ra ngay Xuân Lộc mặc dù cô rất khác, đẹp hơn với quần tây ống rộng, áo kiểu vải hoa xanh và tím nhạt. Y phục ấy làm những đường nét nơi cô thêm hoàn hảo. Khuôn mặt cô rạng rỡ, dưới chiếc nón rộng vành màu hồng mà cô chưa vội cởi ra, màu hồng của nón hắt xuống khuôn mặt cô thanh tú, đôi môi hình tái tim, cái mũi thẳng gọn một ánh sáng xinh tươi đằm thắm. Trung ngạc nhiên nói,

-« Xuân Lộc đó phải không… anh không nghĩ có ngày gặp lại em. »

-« Em cũng vậy… em còn có cảm tưởng anh trốn tránh em. »

Sau đó, Trung nắm tay cô kéo cô khỏi ghế và nói,

-« Về phòng anh nói chuyện cho thoải mái hơn… Hôm nay anh được nghỉ cả ngày, tha hồ mà tâm sự. »

Lộc ngoan ngoản đi theo. Căn phòng ngang ba mét dài sáu mét có phòng tắm riêng. Ngoài cái giường sắt trải chiếu còn có một bàn gỗ mộc và một cái ghế trên bàn có ấm nước hai cuốn sách và ít giấy tờ. Có lẽ anh thường đọc sách hoặc viết văn bản trên cái bàn này.

Bây giờ Lộc đã ngồi xuống trên giường, Trung kéo cái ghế duy nhất ngồi đối diện cô và nói,

-« Em có chuyện gì quan trọng mà đến tận đây thì nói trước đi. »

Cô ‘dạ’ rồi bắt đầu với lời xin Trung tha thứ đã theo lệnh của Ba Vịnh ám sát anh và nghĩ rằng anh đã chết hoặc mang thương tật rất nặng. Cô nói cô đã hối cải về hành vi ác độc đó và rất mong có ngày xin anh tha thứ và đó là ngày hôm nay. Trung liền nói,

-« Anh đã tha thứ cho em ngay ngày hôm sau khi anh thoát chết cách mầu nhiệm, nhưng sau đó anh không còn dịp gặp lại em nữa… »

-« Mầu nhiệm nghĩa là sao anh ? »

-« Có thể em không tin, nhưng ngay khi anh gục xuống ngoài đồng, anh được hai thánh nhân trong đạo Chúa cứu anh, vô hiệu hóa rượu độc và trả anh lại sức khỏe bình thường. »

-« Như vậy hai đấng ấy cũng đã tha tội cho em… » Nói rồi Lộc tuột xuống giường quỳ lạy Trung khiến Trung phải đỡ cô dậy ngồi lên giường.

Sau đó Lộc nói việc cô muốn trả nợ cho Trung, và xin anh thêm một thời gian để trả hết. Lúc đó cô vói tay cầm cái túi xách da, rút ra một cọc tiền, vô tình cô làm rơi cuốn nhật ký gần bàn chân trái của Trung. Cô đưa tiền cho Trung và nói,

-« Đây là số tiền mà em sang quán được, em đưa anh trước. »

Trung ngần ngừ một lúc cầm lấy, để trên bàn rồi nói,

-« Chính Bà Lại gợi ý cho anh giúp vốn cho em. Và anh đã thực hiện. Bây giờ em trả lại anh, anh nhận bấy nhiêu là đủ rồi. Em không cần trả thêm nữa. Có điều anh vẫn băn khoăn là sau này em sẽ sống như thế nào và lấy tiền đâu để lo cho mẹ già. »

-« Cám ơn anh đã xóa nợ cho em, còn công việc sau này anh khỏi lo, Dì Lại có kêu em đến phụ làm bánh hỏi và đậu hủ cho dì ấy. »

-« Nghĩa là em sẽ làm công cho Bà Lại. »

-« Có sao đâu anh, em còn lo sổ sách cho dì ấy, anh Duận đã lấy được vợ già ở Cà Mau đã về Cà Mau sống nên thiếu người làm sổ sách… »

Hai người ngồi im lặng không nói một lúc khiến Lôc phải đỏ mặt, còn trong lòng Trung rộn ràng bao kỷ niệm ngày xưa. Sau đó Lộc nói,

-« À em quên, hồi sáng này, em đã mua cơm và ít thức ăn cho anh, để em hâm lại cho nóng kẽo bị ôi… »

Hai người cùng đứng lên một lúc, vô tình họ chạm vào nhau, cô đỏ mặt còn Trung lí nhí hai tiếng ‘xin lỗi’. Trung cắm bếp điện vào ổ điện và chỉ vào cái xoong Trung hay dùng để rán trứng, rồi anh để cô làm bếp và nói anh sẽ ra hành lang hút thuốc. Thật ra Trung đã nhanh tay cầm cuốn nhật ký của Lộc ra ngoài để đọc vì anh tò mò muốn biết cô có những suy nghĩ và cảm xúc gì từ khi anh giấu mặt. Anh đọc thật nhanh các trang đầu rồi những trang cuối của những ngày gần đây. Anh không khỏi ngạc nhiên và cảm động khi nói về anh, cô đều nói, « Anh Trung đã khuất bóng yêu quý » hoặc như câu này « Tình yêu say đắm và muộn màng này của em có làm cho anh đã khuất nguôi giận mà tha thứ tội lỗi của em không ? ». Trong một trang cuối cô viết, « Anh Trung của tình yêu say đắm của em, gặp lại anh em sẽ quỳ xuống tạ tội cùng anh và xin được làm tôi tớ anh suốt đời, suốt kiếp… » Quả thật lúc nãy cô đã quỳ xuống tạ tội với anh. Phải nói rằng những dòng chữ Lộc viết trong nhật ký dù có hơi cách điệu, chịu ảnh hưởng các truyện phong tình trong cải lương Nam bộ, nhưng Trung cũng đọc ra sự chân thành trong việc hối cải và trong tình yêu cô dành cho anh, cả trước khi cô biết anh là người giúp vốn cho cô. Trung nhét vội cuốn nhật ký vào túi quần lính rộng thùng thình, đúng lúc Lộc mở cửa thò đầu ra gọi,

-« Anh Trung vào ăn cho nóng.”

Bây giờ họ ngồi đối diện nhau cùng thưởng thức món ngon mà Lộc chuẩn bị, thỉnh thoảng trao đổi một vài kỷ niệm về những ngày xưa trong ngôi làng hẻo lánh ấy. Anh hỏi cô,

-« Em để mẹ em ở nhà một mình như thế có sao không ? »

-« Không sao đâu ; em nhờ một cô giáo sống độc thân đến nhà chăm cho mẹ em. »

Một lúc sau cô hỏi,

-« Tại sao anh biết em có chồng việt cộng mà anh vẫn giúp vốn cho em ? »

-« Vì lòng nhân ái, tính hay thương người của anh hoặc anh muốn chứng tỏ mình như thế. »

-« Chỉ vậy thôi sao. »

-« Nếu có hơn thế, anh cũng đâu có quyền nghĩ đến và nói ra. »

Sau bữa ăn trong lúc Lộc rửa chén bát, Trung ngồi trên giường ngắm cô từ phía sau, anh nhìn đôi mông đầy tròn, mái tóc xỏa ngang vai, cái eo thanh mảnh của cô và tự nhủ,

-« Hôm nay mình phải ngỏ lời cùng cô ấy, sau đó sẽ tính tiếp việc khác… » Thế nên khi Lộc rửa chén xong, anh kêu cô lại ngồi bên anh. Anh nắm lấy hai bàn tay cô, nhìn thẳng vào mắt cô và nói,

-« Em còn một việc quan trọng mà em chưa nói với anh phải không ? »

Bị hỏi bất ngờ, cô chỉ lắc đầu. Anh im lặng một lúc, rồi nói,

-« Nhưng anh có một việc luôn canh cánh trong lòng chưa nói với em. Đó là anh đã yêu em từ lâu rồi có thể là trong lần đầu gặp nhau… » Rồi Trung kể lại mọi quyến luyến, nhớ nhung, cả những bồn chồn, lo lắng mà cô đã để lại trong lòng anh. Sau cùng anh hỏi,

-« Em có yêu anh không ? »

-« Em cũng đã yêu anh lâu rồi trước lúc em làm tổn thương anh… »

Sau khi cô ngừng nói, đôi môi họ tìm nhau gắn kết, rồi họ cởi áo cho nhau để hai thân thể ngời ngời quấn quyện. Họ cùng nằm xuống và bàn tay Trung nhẩn nha lướt trên da thịt ngồn ngộn của cô theo đường cong uốn lượn của thân xác qua núi cao, bình nguyên hay gò nổi… Bàn tay anh tẩn mẩn vuốt ve xoa bóp, kế đó đôi môi hôn hít như muốn chữa lành những vết thương cũ do đòn roi còn để lại trên da thịt mượt mà và cả trong tâm hồn cô nữa. Một lúc sau anh xâm nhập cô vừa mạnh mẽ vừa từ tốn ở chỗ anh vừa mới hôn xong, làm cô kêu lên hoan hỉ. Bất chợt lúc đó, tiếng ve sầu bên ngoài trong vườn cây rộn ràng vang lên và theo điệu nhạc ve sầu râm ran ấy, anh nhịp nhàng trên cô với động tác ngựa phi gợn sóng trong lúc cô rên khẽ những lời yêu đương cho từng động tác. Cứ thế, họ miệt mài trao nhau lạc thú mạnh dần lên cho đến khi Lộc kêu to trong chấn động sau cùng làm cả hai cùng cong người tận hưởng. Rồi trong tiếng râm ran của ve sầu, họ trần truồng ôm nhau ngủ nghỉ.

Khi hai người thức dậy đã bốn giờ chiều. Trung hối hả lấy xe gắn máy chở cô về vì hằng đêm mẹ cô chỉ ngủ yên sau khi được cô vỗ về an ủi.

Khi đến nhà Lộc trời đã bắt đầu tối, Lộc nói,

-« Anh ở lại nhà em tối nay đi, vì quay về thị xã trong lúc tối trời như vầy em thấy không yên tâm. »

-« Ừ cũng được, sáng mai anh về đơn vị sớm. »

Sau đó Lộc vào bếp nấu bữa cơm chiều cho hai người và hâm lại cháo cho mẹ cô. Bà cụ còn nhớ anh và nói đúng tên anh khi anh đến chào bà. Trong bữa ăn Trưng nói sẽ cưới Lộc làm vợ. Đám cưới sẽ là bữa tiệc nhỏ nhưng tươm tất trong đon vị mới của anh. Anh sẽ dùng số tiền Lộc đã trả lại, thêm một khoản nữa để mua một căn nhà nhỏ trong khu nhà dân phía sau bộ chỉ huy. Rồi Lộc sẽ đi dạy học lại với bằng cấp cô đã có và một tờ lý lịch mới nay không còn dính dáng đến phiến quân. Mẹ cô sẽ được đưa về sống chung với họ cho đến hết đời.

Tới giờ đi ngủ, Trung cầm cuốn nhật ký trả lại cho Xuân Lộc, cô kinh ngạc nói,

-« Vậy mà nãy giờ, em không nhớ mình để nó ở chỗ nào, anh không nói sớm…ghét anh quá, giận anh ghê ! »

Cô cầm cuốn nhật ký hờn dỗi, đập liên tục vào người anh, anh vờ bỏ chạy ra sân vườn xung quanh nhà. Ánh trăng rằm vằng vặc chảy dòng mật thanh khiết, mát rượi trên hai người đang đuổi nhau. Tới cuối vườn anh đứng lại trêu cô,

-« Em viết hay lắm như một nhà văn nữ… Cho anh giữ nó để mỗi ngày anh đọc lại và mãi mãi yêu em. »

Cô cũng dừng lại, tiếp tục đập cuốn nhật ký vào người anh, giọng ỏn ẻn, « ghét anh quá… giận anh ghê… anh đọc lén của em… » Nhưng vòng tay anh đã giữ chặt cô và nụ hôn của anh đậu lại trên môi cô và cuốn nhật ký rơi khỏi tay cô. Trung dịu dàng nói,

-« Anh nói thật mà… Anh không viết được như em… »

Lúc này, cô đã nghiêng người dựa lưng vào một cành to của cây xoài, ngửa mặt nhìn trăng vì nụ hôn của anh cùng với ánh trăng đã chạy xuống vùng dốc thoai thoải của ngực cô. Sau đó cả hai cùng nắm tay đi dưới ánh trăng, âu yếm trò chuyện giữa những khúc nhạc tình miên man của côn trùng trong các bụi cỏ.

Tối hôm đó, giữa những cái kệ trống trơn không hàng hóa mà người chủ mới chưa vội chuyển đi, trên chiếc chiếu trải xuống nền nhà, cặp đôi Trung-Lộc lại quần thảo, quấn quyện, tận hưởng thân xác của nhau, rên siết trong lạc thú mà họ trao cho nhau cách cuồng nhiệt, đắm say. Trong ánh sáng vàng vọt của cái đèn hột vịt, thân thể hai người như hai ngọn lửa theo nhau: khi bốc lên, khi hạ xuống, khi tạt sang trái, khi qua bên phải, cuốn quít hỉ hoan. Tất cả như để diễn tả trước niềm hoan lạc vợ chồng và hạnh phúc gia đình mà họ cùng nhau gầy dựng từ hôm nay. Cái ngày hôm nay mà họ đã chờ đợi qua những tháng dài lo âu và trăn trở.

Những ngày sau đó mọi sự diễn tiến theo đúng dự tính của họ. Sau ba năm, Lộc đã sinh thêm cho Trung hai đứa con, một trai tên Đức Minh, một gái là Gia Hân. Trong các kỳ nghỉ hè Trung đưa Phương, con của anh với Tiên Phụng về chơi với hai em nó. Dù là kế mẫu nhưng Lộc rất thương Phương, nó thay cho hình ảnh của thằng Quít. Theo một cán binh hồi chánh, thằng Quít bị chết chìm trong một cuộc truy lùng của lính quốc gia có hải quân yểm trợ, hưởng dương mười bảy tuổi.

Thằng Phương không muốn ở lại Tây Ninh với Trung, nó thích sống với dì Yến không chồng mà nói coi như mẹ. Vả lại nó có nhiều bạn cùng lứa trong giáo xứ mà nó không muốn rời xa. Sau bốn năm chung sống, nhờ sự giúp đỡ và động viên của một linh mục, Lộc và hai con nhỏ cũng đã trở thành các tín hữu đạo Chúa. Âu đó cũng là sự sắp đặt của Chúa trong ý định quan phòng mầu nhiệm của Người và cũng nhờ lòng trung tín đơn sơ mà Trung luôn gìn giữ bất chấp những điều xấu mà người ta có thể gặp thấy ở mọi nơi, kể cả trong các giáo hội.

Đạo làm người theo Đấng Ecce Homo

Bảy năm hạnh phúc của gia đình Trung-Lộc sau khi họ cưới nhau, bị biến cố 30-4-1975 làm chao đảo. Tuy nhiên niềm hạnh phúc bao la ấy cùng với tình yêu chung thủy đã cho họ đủ nghị lực vượt qua cảnh chia ly mười năm dài sau biến cố tồi tệ ấy. Và hạnh phúc càng lớn hơn khi họ tái hợp ở cuối tuổi trung niên. Dù sao những năm tháng bên nhau như hình với bóng đã tạo nên ý nghĩa cho cuộc đời họ mà không thử thách nào phá bỏ được. Trung và Lộc coi đó là thắng lợi của kẻ thua như anh và thất bại của những kẻ hung dữ gặp thời. Và mười năm Trung bị nhốt trong trại cải tạo anh coi như câu chuyện kể đầy âm thanh và cuồng nộ của những thằng điên. Lịch sử có lẽ là thế.

Một ngẫu nhiên thú vị là Trung và đại úy Trần Thường được đưa vào cùng trại cải tạo và cùng buồng giam. Tình bạn tâm giao này cũng là một sức mạnh tinh thần nâng đỡ họ trước cách đối xử man rợ và tàn bạo của các cán bộ giám thị và quản giáo.

Năm thứ ba của hai người trong trại, một biến cố chẳng hay ho gì xảy đến, đại tá Ba Vịnh được điều về làm giám đốc trại. Oan gia lại gặp oan gia. Một tuần sau khi nhận nhiệm vụ, Ba Vịnh đưa mắt coi qua danh sách các tù nhân. Ở vần chữ T, Ba Vịnh dừng lại ở ba người cùng tên Mạnh Trung và hai người cùng tên Thường. Ba Vịnh cau mày suy nghĩ và nhớ lại có một thiếu úy Mạnh Trung đã bị hắn mượn tay Xuân Lộc giết chết. Sau tết Mậu Thân ít lâu, Xuân Lộc đưa mẹ già nó đi đâu mất tăm, ngay cả vợ hắn nay là bà đại tá Xuyến cũng không biết họ trôi giạt nơi nào. Lúc đó Xuyến chỉ chắc một điều là sau khi Tư Nhíu đã tử trận, hẳn phe-đỏ không còn muốn ‘xài’ hoặc sai sử Lộc nữa. Và đương nhiên Lộc bị loại ra ngoài cuộc chiến. Còn Trần Thường dưới cái nhìn của Ba Vịnh là một tên tín đồ Hòa Hảo phản động. Nghĩ đến đây Ba Vịnh cười lớn một mình, ngạo nghễ và đắc thắng độc thoại trước cuốn sổ mở rộng, « Thường ơi, Phật Giáo Hòa Hảo như mày mà giáo chủ là một nông dân cuồng tưởng không đáng sợ bằng thằng Trung tả đạo, may mà con Lộc đã giết nó…. » Dù sao để chắc chắn việc Trung đã chết, Ba Vịnh quyết định phải gặp tù nhân Mạnh Trung, cựu thiếu úy ngụy.

Một sáng chủ nhật, ngồi bên ly cà-phê sữa nóng, và một ấm sứ nước trà nóng thơm ngát, Tâm hồn Ba Vịnh lâng lâng thư thái sau một đêm ‘mần’ tình rất oai phong ngạo nghễ với Xuyến, nghĩa là đủ chiêu trò : đấm, véo, giao cấu kiểu cọ v.v… đến nỗi Xuyến phải kêu lớn trong đêm, «Ối anh Ba ơi, anh làm em chết trong dục lạc mất… ».

Uống cạn ly cà phê sữa và qua tuần trà, Ba Vịnh ra lệnh cho một quản giáo đưa Mạnh Trung lên gặp hắn. Mười lăm phút sau Trung ngồi trong phòng Ba Vịnh đối diện với hắn và cách hắn ba mét, hai tay bị quản giáo trói quặt ra sau trước khi anh ta ra khỏi phòng. Lúc đó, Ba Vịnh bắt đầu hỏi,

-« Có phải anh là Mạnh Trung, thiếu úy cảnh sát dã chiến ? »

-« Dạ phải. »

-« Trước đây thuộc đơn vị nào, đóng ở đâu ? »

-« Trước đây ở đồn Chí Linh, Tịnh Biên cho đến khi mất đồn, về thị xã. »

Ba Vịnh cau mày trên khuôn mặt dầy của hắn. Xem ra mọi chi tiết đều đúng. Một lúc sau hắn hỏi thêm,

-« Hồi đóng quân nơi ấy có biết cô Lộc xinh nhất làng không ?»

Trung muốn che giấu thân phận của vợ anh hiện nay, có thể bị coi là điệp viên của tình báo CIA và sẽ bị trả thù nên anh áp dụng cách của Alibaba trong truyện Nghìn lẻ một đêm lấy số nhiều giấu số ít, anh nói,

-« Ở đó có tới bốn cô Lộc, cô xinh nhất làng tôi không biết, tôi chỉ quen biết sơ sơ một cô hơi xấu đi cấy lúa thuê. »

-« Anh có nghe nói một anh có tên giống anh bị một cô Lộc giết chết, có phải người chết cùng đơn vị anh ? »

-« Tôi có nghe một người bị trúng thuốc độc chết ngoài ruộng mặc đồ dân sự, sau đó người nhà đưa về an táng, không khởi tố ai cả vì có thể anh ta uống lầm thuốc rầy khi say rượu. » Trung đã khai theo đúng bài bản mà anh đã chuẩn bị trước. Dù Ba Vịnh có khôn lỏi cũng không thể tìm ra vì không bao giờ hắn tin có một phép lạ cứu sống người ta trong thế giới duy vật này.

Sau cùng, Ba Vịnh đứng lên nói,

-« Vậy anh chỉ trùng tên với một người đã chết và không quen biết cô Lộc, bạn cùng làng với bà xã tôi. Nhưng trước khi anh về, tôi khuyên anh một điều : hãy gột bỏ cái ‘tả đạo’ còn dính trên người anh vì nó là một tôn giáo vô cùng mê tín và cũng cực kỳ phản động. »

-« Dạ, để tôi coi lại. »

Khi ra khỏi văn phòng, một quản giáo chờ đưa Trung về lại phòng giam. Anh bước đi trước người quản giáo, người quản giáo cầm súng theo sau. Trung bực tức Ba Vịnh vừa đi vừa lẩm bẩm, « Đồ điên ! » Lúc đó, trong văn phòng, Ba Vịnh cũng làu bàu, « Mày tả đạo hả, đồ điên ! ».

Khi về đến phòng giam, Trung kể lại cuộc hỏi cung anh cho Trần Thường nghe, phòng khi Bảy Vịnh kêu Trần Thường lên đối chứng. Trần Thường nói,

-« Hắn sẽ không gọi tôi lên đâu, vì hắn nghĩ thiếu úy Trung đã chết như vẫn nghĩ thế. Vả lại đó chẳng phải là một thành tích máu-lửa của hắn hay sao ? Cậu yên chí đi và coi như hồ sơ đã xếp. »

*&*

Bây giờ họ ngồi bên lon gô trà nóng với vài cái bánh ngọt của Lộc hoặc của vợ Thường mang vào khi họ đi thăm nuôi chồng. Những lần như thế này, trong câu chuyện hai người bạn đều đề cập đến tôn giáo ; chẳng phải tôn giáo có chức năng an ủi ta khi ta lâm vào cảnh gian nan, khốn khổ sao ? Có lần Trung nói với Trần Thường,

-« Trong này, có những lúc mình khát khao một thánh lễ trang nghiêm và hoành tráng bên ngoài, trong một xứ đạo. »

-« Cậu vẫn đọc kinh để thay thế cho việc lễ lạy hình thức đấy chứ. » Thường vặn lại.

-« Tôi vẫn đọc kinh cầu nguyện luôn nhưng dù sao đó cũng là sự thay thế miễn cưỡng cho các lễ nghi tập thể… »

-« Vậy thì trong này cậu hãy quên đi cách sống đạo tập thể hình thức và đồng bộ để sống đạo theo cách tâm linh như tớ mới ổn. Và hình ảnh cách sống đạo tâm linh là một người thoát ly mọi sự thế gian, áo quần lôi thôi, lếch thếch, lặng lẽ độc hành trong gió mưa, bão táp trên con đường hẹp dẫn về cứu cánh hoặc chân lý sau cùng và tuyệt đối. »

-« Vậy hôm nào đại úy chỉ tôi một cách sống đạo tâm linh như điều đại úy đang thực hành. » Trung nghiêm trang nói.

-« Để tôi suy nghĩ thêm và vận dụng vốn liếng tinh thần mà đạo Kitô đã trao cho cậu. Dù sao vốn liếng ấy cũng có giá trị của nó. Tôi nghĩ có thể chỉ ra cho cậu sự thực hành tâm linh vì tôn giáo lớn nào bao hàm một cách sống tâm linh của riêng mình, dù người ta không trân trọng khi gạt bỏ hoặc giấu kín nó đi. »

Từ hôm đó, Trần Thường mượn một cuốn Phúc Âm đã cũ nát và bắt đầu nghiền ngẫm như anh đã từng nghiền ngẫm những bài thơ hoằng pháp của Đức Huỳnh Phú Sổ. Sau ba tuần, Thường nói với Trung khi cùng ngồi uống trà ăn bánh với bạn một sáng chủ nhật,

– « Thế này nhé, mọi cách sống đạo tâm linh đều phải có người đồng hành, vị này cũng là tôn sư của mình như câu của Khổng tử : Ba người cùng đi phải có thầy mình (Tam nhân đồng hành tất hữu ngã Sư). Theo phả hệ đạo Chúa, cậu nên chọn Đức Giêsu Nadarét làm bạn đồng hành, một con người có thật trong lịch sử mà bạn phải noi gương và nối bước. Vả lại theo cách hiểu của tôi, chính Ngài làm chủ quản tài Nhân trong Tam Tài: Thiên-Địa-Nhân. Như thế với câu châm ngôn của tôi, một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo: Học Phật tu nhân, bạn sẽ có câu tương tự Học Chúa tu nhân. Rồi mỗi ngày, bạn tập sống đồng hình đồng dạng với Ngài. Bạn càng đạt được bản thể Ngài, bạn càng trở thành hữu thể bạn vì Ngài chính là cái « Bản lai diện mục » của bạn. Và khi bạn càng trở thành chính mình, bạn càng gần thần linh nếu không nói là hóa-thần như lời thánh Irênê đã nói : Thiên Chúa xuống làm người để con người trở thành Thiên Chúa. Việc sống đạo nằm trong chữ ‘để’ ở giữa câu vừa đơn giản, vừa rất gian nan. Đó là đời sống tâm linh hay cái đạo làm người-rất-người mà tôi muốn đề nghị với bạn. »

Lúc đó, Mạnh Trung trố mắt, ngạc nhiên nhìn bạn nói,

-« Sống tâm linh chỉ đơn giản vậy sao : không kinh kệ, không hình thức thờ tự, không giáo đường nguy nga tráng lệ, không tu sĩ nhưng người tu hành giống giới cư sĩ tu tại gia của đạo bạn ? Dường như con người sống trực diện với cứu cánh tối hậu.»

-« Đúng chân lý càng cao cả thì lại càng đơn giản và cận nhân tình, nên Lão Tử đã ví nó như hài nhi đỏ hỏn (xích tử). Phật nói học kinh không chữ. Nho nói ý tại ngôn ngoại v.v… Vả lại hoàn cảnh trong tù của chúng ta luôn thiếu những điều kiện ngoại tại ấy làm chỗ sở chấp cho chúng ta. Chúng có lợi ở một trình độ nào đó, nhưng làm hại sự đơn phác của tâm hồn không nhỏ vì chúng sinh ra lắm cơ-tâm. »

Sau khi uống cạn một ly nhỏ nước trà, Trung nói,

-« Tôi xin nghe theo chiến hữu và xin phép đặt cho lộ trình đó cái tên là ‘Đạo làm người theo Đấng Ecce Homo’ được không, Ecce Homo để chỉ con người Giêsu trong Phúc Âm thứ tư ? »

-« Dĩ nhiên là được vì đó là tâm-đạo của bạn. Tâm đạo là của riêng mỗi người trong vô số các pháp môn và con số tám vạn bốn ngàn là con số tượng trưng mà Đức Phật đã đưa ra. Tóm lại tuy có nhiều con đường nhưng tất cả đều đồng quy trong Chân lý tối thượng. »

Và nhờ đời sống tâm linh, hai người bạn ấy đã vượt qua mọi cảnh khổ trong tù để mười năm sau, Trung sẽ được thả về sum họp cùng Xuân Lộc và các con anh rồi hơn một thập kỷ sau anh qua đời trong đôi tay âu yếm của vợ mình. Anh ra đi dĩ nhiên với hai bàn tay trắng, nhưng cùng với hạnh phúc bao la mà vợ con trao tặng và đặc biệt với « đạo làm người theo Đấng Ecce Homo » mà anh đã trang bị cho linh hồn anh từ ngày còn trong cải tạo. Vâng, cái đạo làm người vượt trên con người ấy là một ân sủng tuyệt vời trong cuộc đời lắm nỗi thăng trầm, lắm điều vinh nhục của thiếu úy Mạnh Trung.

Share this post

One thought on “Bên Này Ảo Vọng – Hồ Đình Ba (Phần 3)